Nhật Ký Dân Công SởC.10 / 40
Chương 10

Cuộc hẹn không phải cuộc hẹn

Khoảng cách xa nhất trong một văn phòng startup không phải là quãng đường mười lăm mét nối từ cụm bàn marketing sang căn phòng kính dán decal mờ của sếp, cũng chẳng phải độ trễ nghẹt thở giữa một tin nhắn réo deadline trên Slack với biểu tượng ba dấu chấm lập lòe vô tận. Khoảng cách xa nhất, cay đắng và trớ trêu hơn nhiều, chính là khoảng cách giữa hai con người ngồi đối diện nhau qua mặt bàn gỗ tròn chưa đầy một mét vuông của quán cà phê dưới sảnh, nhưng cả hai đều phải căng cứng từng thớ cơ trên mặt để vờ như đang dốc cạn tâm can cho một chiến lược kinh doanh sống còn.

Đúng mười lăm giờ, tôi có mặt tại quán cà phê Tầng Trệt của tòa nhà văn phòng mười tầng nằm nép mình trong một con hẻm lớn đường Điện Biên Phủ. Tôi bước vào quán với phong thái dặt dẹo nhưng đầy vẻ cảnh giác của một kẻ vừa lách qua khe cửa hẹp của tử thần. Cú hoàn ứng hóa đơn đỏ trị giá hơn ba triệu đồng hồi trưa—nhờ sự trợ giúp đầy mùi thuốc súng của Vy trước cửa ải phòng Kế toán—vẫn còn khiến lồng ngực tôi đập thong thả hơn bình thường một nhịp. Cái cảm giác tài khoản ngân hàng tạm thời không còn bị đe dọa rơi xuống con số âm trước ngày hai mươi lăm mang lại một sự tự tin mong manh, tựa như một tấm áo giáp bằng bìa carton dựng lên giữa mùa mưa bão. Thế nhưng, sự háo hức xen lẫn nỗi bất an mơ hồ trước lời rủ rê đầy mờ ám của Vy đã nhanh chóng quét sạch mọi dư chấn tài chính còn sót lại.

Theo đúng kịch bản tác chiến được Vy hùng hồn phác thảo ngay trên bàn làm việc lúc mười ba giờ trưa, chúng tôi cần một “cuộc họp ba bên khẩn cấp và mang tính chiến lược sống còn” ngay tại không gian mở dưới sảnh. Mục tiêu: khóa chết toàn bộ định hướng mỹ thuật với một chuyên viên vẽ 3D tự do kỳ cựu cho gói thầu bán lẻ chuỗi cửa hàng tiện lợi sắp tới—dự án mà Khải bên nhóm nội dung thương hiệu đang lăm le nẫng tay trên. Vy đã nói với vẻ mặt nghiêm trọng đến mức suýt làm rơi cả chiếc kẹp tóc: *“Dự án này là nồi cơm của team mình, ông không được lơ là. Bạn 3D này khó tính lắm, dân freelance xịn sò, phải đích thân ông ra mặt giải thích cái tinh thần cốt lõi của concept thì người ta mới nhận làm với giá hữu nghị.”*

Nhưng khi tôi đẩy cánh cửa kính dày cộp gắn tay nắm inox mát lạnh của quán Tầng Trệt, người ngồi ở chiếc bàn gỗ nép sát khung cửa kính nhìn ra khoảng sân rợp bóng cây bàng Đài Loan lại không hề có vẻ gì là một gã vẽ phối cảnh 3D râu ria xồm xoàm hay một đối tác tự do bận rộn.

Đó là Linh.

Cô đã ngồi đó tự lúc nào, tĩnh lặng và tách biệt hoàn toàn khỏi sự xô bồ của những nhóm nhân viên văn phòng xung quanh đang oang oang bàn về tiền số và biến động thị trường. Linh mặc chiếc áo sơ mi lụa màu be nhạt, chất vải mềm rủ khẽ lay động theo từng luồng gió mát từ chiếc máy lạnh công nghiệp phả xuống. Mái tóc đen dày được gom lại, buộc lơi sau gáy bằng một chiếc kẹp kim loại mảnh, để lộ chiếc cổ cao thanh mảnh và bờ vai thon thả thẳng thớm. Trước mặt cô, chiếc máy tính bảng chuyên dụng dùng để phác thảo kỹ thuật số được dựng nghiêng trên chân đế, bên cạnh là cuốn sổ tay bìa da màu ghi xám đã sờn mép—vật bất ly thân mà tôi từng thấy cô mang theo trong mọi cuộc họp căng thẳng trên tầng bốn. Một ly trà đào cam sả đầy ắp đá vụn đặt ngay ngắn trên chiếc đế lót bằng gỗ ép, lớp sương lạnh ngưng tụ thành từng vệt nước trong veo, chầm chậm lăn dài trên thành thủy tinh dày.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng bỗng khô khốc như vừa nuốt phải một vốc cát. Bàn chân mang đôi giày lười sờn gót bỗng trở nên nặng trịch. Tôi hít một hơi thật sâu, kéo chiếc ghế gỗ đối diện ra, cố gắng tạo cho mình một nụ cười chuyên nghiệp và đĩnh đạc nhất có thể—loại nụ cười mà tôi vẫn thường tập trước gương mỗi khi chuẩn bị đi gặp khách hàng khó tính:

“Chào Linh. Xuống sớm thế? Vy với bạn đối tác dựng hình kia chưa tới à?”

“Chưa.”

Linh ngước mắt lên khỏi màn hình vẽ. Đôi mắt đen láy, trong vắt và sâu thẳm nhìn thẳng vào tôi, phẳng lặng như mặt hồ không gợn một chút tăm hơi. Cô hơi nghiêng đầu, chiếc hoa tai bạc hình khối học khẽ đung đưa:

“Nghe bảo bạn đối tác đang trên đường qua, kẹt xe ở đoạn ngã tư Hàng Xanh. Còn Vy thì vừa nhắn bảo bận ghé nhà vệ sinh năm phút để dặm lại phấn.”

“À… ừ, con nhỏ đó lúc nào cũng lỉnh kỉnh ba cái chuyện son phấn.”

Tôi gật gù ra vẻ thông cảm, kéo ghế ngồi xuống. Chiếc ghế gỗ kêu một tiếng *két* khẽ khàng trên nền gạch bông cổ điển. Tôi giơ tay vẫy bạn nhân viên phục vụ mặc đồng phục tạp dề đen đang đứng gần quầy bar, gọi nhanh một ly bạc xỉu ít đường nhiều sữa tươi—thứ thức uống quen thuộc của những kẻ ví tiền luôn eo hẹp nhưng vẫn cố bám víu vào chút phong vị ngọt ngào giữa lòng đô thị.

Nhân viên mang ly cà phê ra rất nhanh. Hai đứa ngồi nhìn nhau qua khoảng cách một mặt bàn nhỏ. Không gian quán buổi chiều muộn đặc quánh mùi hạt Arabica rang mộc quyện với mùi siro đào ngọt lịm. Tiếng máy xay cà phê rào rào giòn giã ở quầy pha chế, tiếng vòi đánh sữa rít lên từng hồi chói gắt, hòa cùng giai điệu một bản lofi êm dịu trôi ra từ hệ thống loa âm trần. Nó tạo nên một sự tương phản tĩnh mịch đến kỳ quặc nếu so với bầu không khí ngột ngạt, sặc mùi cạnh tranh và tiếng gõ bàn phím cơ lách cách điên cuồng như gõ mõ cầu kinh trên tầng bốn.

Năm phút trôi qua trong im lặng. Tôi vờ chăm chú ngắm nhìn bọt sữa màu nâu nhạt đang tan dần trong ly của mình, thỉnh thoảng liếc nhìn ra vỉa hè nơi những vạt nắng chiều gay gắt đang bắt đầu nhạt màu. Linh cũng không nói gì, những ngón tay thon dài cầm chiếc bút cảm ứng gõ nhè nhẹ lên mép máy tính bảng theo nhịp điệu của bài hát đang phát.

Đúng mười lăm giờ mười lăm phút.

*Rung… Rung… Rung!*

Chiếc điện thoại đặt úp trên mặt bàn của tôi nảy lên bần bật. Gần như cùng một tích tắc, màn hình chiếc điện thoại của Linh đặt cạnh cuốn sổ tay cũng sáng rực lên.

Thông báo từ nhóm chat nội bộ ba người có cái tên sặc mùi sinh tồn: *“Biệt đội Gánh thầu Bán lẻ”*.

Tin nhắn của Lê Thảo Vy hiển thị rõ mồn một từng chữ:

*Lê Thảo Vy: “Toang rồi hai bồ ơi! Sếp Dũng bất ngờ ngoắc tao vào phòng họp Sao Hỏa duyệt lại toàn bộ content tuần sau cho bên nhãn hàng tiêu dùng, ổng dí dữ quá tao không tài nào dứt ra được! Với lại… ừm… bạn vẽ 3D vừa nhắn tin báo bị đứt xích xe giữa cầu Sài Gòn, nắng nôi vỡ đầu nên bể lịch rồi. Hai người cứ ngồi cà phê trao đổi trước sườn ý tưởng với moodboard nhé, tao chuộc lỗi sau bằng trà sữa full topping! Chúc may mắn! Cố lên vì giải thưởng cuối năm!”*

Phía dưới dòng chữ là một chiếc sticker hình con mèo trắng béo ú đang quỳ rạp hai chân, chắp tay vái lạy lia lịa với vẻ mặt giả tạo không thể tả xiết.

Tôi chết sững. Mắt tôi dán chặt vào màn hình điện thoại, từng tế bào thần kinh như bị đóng băng trong giây lát. Đứt xích xe giữa cầu Sài Gòn? Bị sếp Dũng túm cổ đột xuất vào phòng Sao Hỏa ngay sau khi vừa hẹn hò họp hành năm phút? Kịch bản vụng về, cẩu thả và sặc mùi sắp đặt này thậm chí còn tệ hơn cả những bài mẫu quảng cáo thực phẩm chức năng rẻ tiền mà nhóm của Khải vẫn hay xào xáo lại. Đến một đứa thực tập sinh ngày đầu tiên bước chân qua cửa văn phòng cũng có thể ngửi thấy mùi mưu mô mai mối lộ liễu đến mức thô thiển của bà cô phòng nội dung.

Một luồng nhiệt nóng rực lập tức bốc thẳng từ cuống họng, lan nhanh qua hai gò má rồi xông thẳng lên tận vành tai tôi. Tôi ngượng ngùng đến mức chỉ muốn biến thành một hạt bụi mịn rồi tan biến vào đường ống thông gió của tòa nhà.

Linh khẽ thở dài. Một tiếng thở thật êm, nhẹ như một chiếc lá khô rụng xuống mặt nước. Cô ngẩng đầu lên, ánh mắt lấp lánh một tia cười tinh quái nhưng cơ mặt vẫn giữ nguyên nét bình thản, điềm đạm như không có gì lay chuyển nổi:

“Đối tác tự do bị đứt xích xe đúng mười lăm phút sau giờ hẹn. Kịch bản của Vy dạo này ngày càng thiếu tính thuyết phục, anh nhỉ?”

“À… ờ…” Lưỡi tôi như líu lại, hai bàn tay bỗng dưng trở nên thừa thãi một cách thảm hại. Tôi hết đặt tay lên đùi lại rút lên để lên mép bàn, không biết nên nhìn vào đâu. “Chắc… chắc là trùng hợp thật thôi. Con nhỏ này tính tình vốn hấp tấp, làm việc hay bốc đồng từ xưa đến giờ.”

“Vâng, trùng hợp đến từng phút.” Linh khẽ nhếch mép, buông chiếc bút cảm ứng xuống mặt bàn da.

Bây giờ thì xong thật rồi.

Tấm khiên chắn an toàn nhất—chiếc vỏ bọc mang tên “công việc khẩn cấp vì sự sống còn của dự án”—thứ duy nhất cho phép một thằng nhân viên viết nội dung quèn, nhút nhát và đầy mặc cảm như tôi có thể đàng hoàng, ngay ngắn ngồi đối diện người con gái mà mình đã thầm thương trộm nhớ suốt sáu tháng qua, đã hoàn toàn tan biến thành mây khói. Không có đối tác khó tính nào cần thuyết phục. Không có bản vẽ 3D nào cần điều chỉnh góc nhìn. Không có yêu cầu sửa slide thuyết trình lúc nửa đêm, cũng chẳng có một tờ brief nhăn nhúm nào cần ký nháy xác nhận.

Chỉ còn lại tôi và Linh. Hai con người bằng xương bằng thịt, ngồi đối mặt nhau qua khoảng cách chật hẹp của một chiếc bàn cà phê nhỏ bé, trần trụi và không còn bất kỳ lý do công vụ nào để bấu víu.

Cơn lúng túng ập đến nhanh và dữ dội như một đợt triều cường buổi hoàng hôn. Sự im lặng giữa hai người bỗng chốc trở nên đặc quánh, nặng nề đến nghẹt thở. Để khỏa lấp cái khoảng trống vô hình đang nuốt chửng lấy sự tự chủ cuối cùng của mình, tôi vội vã đưa tay về phía trước, định bụng với lấy chiếc ống hút bằng bã mía đặt trong ống đựng bằng inox sáng loáng ở giữa bàn.

Nhưng sự bối rối đã biến tôi thành một kẻ vụng về hết thuốc chữa.

*Xoảng! Cạch cạch cạch!*

Cái cùi chỏ áo sơ mi thô kệch của tôi quẹt mạnh vào mép trên của ống đựng inox. Chiếc ống kim loại ngã lăn kềnh trên mặt bàn gỗ, kéo theo toàn bộ số ống hút bọc giấy bên trong bung tung tóe. Chúng lăn lông lốc khắp mặt bàn, một chiếc văng trúng mép máy tính bảng của Linh, hai chiếc khác rơi thẳng tắp vào chiếc đĩa sứ lót ly trà đào của cô.

“Tôi xin lỗi! Tôi… tôi vụng về quá…”

Tôi hoảng hốt chồm cả người tới trước, hai tay quơ quào loạn xạ trên mặt bàn để gom đống ống hút lại như một con gà đang mổ thóc trong sân. Cảm giác nhục nhã dâng lên tột cùng. Mặt tôi lúc này chắc chắn đã đỏ rực không khác gì màu của con dấu trên tờ hóa đơn thuế VAT mà tôi vừa hoàn ứng trưa nay. Ở quầy bar, cậu nhân viên phục vụ khẽ liếc mắt sang với vẻ ái ngại, còn tôi chỉ ước gì sàn gạch bông dưới chân mình có thể nứt toác ra một cái hố sâu hoắm để tôi nhảy tọt xuống trốn cho khuất mắt trần gian.

Trái ngược hoàn toàn với sự cuống cuồng của tôi, Linh không hề giật mình thảng thốt.

Cô vẫn ngồi yên, lưng thẳng tắp, bình thản nhìn những cử động lúng túng của tôi. Rồi thật chậm rãi, cô đưa những ngón tay trắng ngần nhặt hai chiếc ống hút rơi trên đĩa lót của mình lên. Cô cẩn thận xếp chúng lại ngay ngắn, đặt nhẹ nhàng vào lòng bàn tay đang run rẩy của tôi, rồi đẩy chiếc ống inox đứng thẳng trở lại vị trí cũ.

“Anh không cần phải căng thẳng đến mức run cả tay như thế đâu,” Linh cất giọng. Âm thanh của cô trong trẻo, êm ái và mát lành như dòng suối nhỏ chảy luồn qua những tảng đá rêu phong giữa rừng sâu. “Ở đây đâu phải phòng họp Sao Hỏa. Không có sếp Dũng ngồi lườm, cũng chẳng có anh Khải đòi chèn số hotline đỏ chót to tướng vào giữa gương mặt người mẫu nữa.”

“Ờ… thật ra anh có căng thẳng gì đâu,” tôi gượng gạo chữa thẹn, cầm ly bạc xỉu lên hớp một ngụm lớn. Vị cà phê đắng ngắt xộc lên cuống họng dù tôi đã dặn cho ít sữa đặc, cái ngọt béo thường ngày dường như biến đi đâu mất sạch. “Chỉ là… dạo này thời tiết Sài Gòn kỳ cục ghê ha? Mới trưa nắng vỡ đầu ba mươi tám độ, không khí hầm hập như cái lò bánh mì, thế mà nhìn mấy đám mây xám xịt đằng kia, lát nữa thế nào cũng đổ mưa ngập đường cho coi.”

“Vâng. Ứng dụng thời tiết báo xác suất mưa chiều nay là tám mươi phần trăm.”

Linh chống cằm bằng một tay, nghiêng đầu nhìn tôi. Trong đôi mắt đen láy của cô ánh lên một sự thích thú kín đáo, khóe môi hơi cong lên thành một nụ cười mỏng manh:

“Rồi sao nữa anh Hoàng? Ngoài nhiệt độ với khả năng ngập đường ra, thì độ ẩm không khí hôm nay thế nào? Có đạt tiêu chuẩn cho một buổi brainstorm ý tưởng không?”

Cú chọc ngoáy nhẹ nhàng bằng chất giọng hài khô đặc trưng của dân thiết kế khiến tôi sững lại một giây, rồi bất giác bật cười thành tiếng. Cái cười ngượng ngùng nhưng giải tỏa được biết bao nhiêu áp lực. Tảng đá vô hình nặng cả tấn đè trĩu lồng ngực tôi suốt mười lăm phút qua dường như vừa nứt toác ra một kẽ hở lớn.

“Thôi được rồi, anh đầu hàng,” tôi thở hắt ra một hơi dài, buông hai tay xuống đùi trong tư thế chịu trói. “Kỹ năng bắt chuyện ngoài đời thực của anh đạt điểm âm vô cực, anh tự nhận. Bình thường ngồi sau bàn phím, chat trên Slack hay viết bài định hướng thương hiệu thì chữ nghĩa tuôn ra như suối, chẳng hiểu sao cứ mỗi lần ngồi đối diện em là hai cái dây thanh quản của anh nó tự động thắt nút lại, đầu óc rỗng tuếch không nghĩ ra nổi một câu cho đàng hoàng.”

“Em biết mà.” Nụ cười của Linh lúc này đã rõ ràng hơn, để lộ lúm đồng tiền mờ mờ bên má trái—một chi tiết mà suốt nửa năm trời nhìn cô qua màn hình máy tính tôi chưa từng có cơ hội quan sát rõ. “Từ hồi anh mới vào thử việc em đã thấy rồi. Người gì đâu mà mỗi lần mang biên bản brief qua phòng thiết kế nhờ ký là mặt mày nghiêm trọng như thể chuẩn bị đi ký hiệp định hòa bình.”

Cô chỉ tay về phía chiếc ba lô chống sốc màu đen của tôi:

“Anh mở máy tính ra đi. Dù sao thì cũng lỡ mang tiếng trốn việc xuống đây họp hành rồi, em với anh xem qua mấy cái tài liệu tham khảo cho gói thầu chuỗi bán lẻ luôn. Đỡ mất công lát nữa lên lầu lại phải ngồi còng lưng nhắn tin qua lại trên Slack, vừa chậm vừa dễ sót ý.”

Như một kẻ sắp chết đuối vớ được cọc gỗ giữa dòng nước xiết, tôi vội vàng kéo khóa ba lô, lôi chiếc laptop cá nhân đã dán chằng chịt các hình sticker lập trình cũ kỹ đặt lên mặt bàn. Tôi ấn nút nguồn. Màn hình sáng bừng lên. Tôi định mở ngay trình duyệt Chrome để tìm thư mục dữ liệu dùng chung của phòng marketing, nhưng vì lúc nãy ở trên lầu, cuộc gọi giục giã của Vy khiến tôi gập máy quá vội vàng, toàn bộ các cửa sổ ứng dụng làm việc dang dở trước đó vẫn chưa kịp tắt.

Khi một tab tài liệu dự án vừa được tôi rê chuột thu nhỏ xuống góc thanh công cụ, giao diện của một bảng tính Excel cá nhân bất ngờ đập thẳng vào mắt hai đứa.

Đó hoàn toàn không phải là bảng theo dõi tiến độ tổng thể *Master_Tracking_Q3_Final* của công ty, cũng chẳng phải bảng tính ngầm ghi lại những giờ công bị Khải cướp trắng mà tôi âm thầm lập ra để đối chất khi cần.

Đó là một bảng tính dự toán chi tiêu cá nhân chi tiết đến từng đồng bạc lẻ, được tôi cặm cụi thức trắng ba đêm liền để vạch ra trên căn gác trọ chật chội, ẩm thấp ở tít sâu trong một con hẻm ngoằn ngoèo bên quận Gò Vấp.

Từng dòng, từng cột hiện lên rõ mồn một: *Tiền phòng trọ: 2.200.000đ; Tiền điện nước: 450.000đ; Tiền ăn sáng (mì gói + trứng): 450.000đ; Xăng xe: 300.000đ; Trừ lùi tiền phạt chấm công muộn: 100.000đ…*

Và kinh khủng hơn cả, ở ngay góc trên cùng bên tay phải của trang tính, một ô ghi chú khổng lồ được tôi cẩn thận gộp ô, đổ màu nền đỏ tươi chói lọi với khung viền nét đôi đậm đặc, sừng sững hiện ra giữa những con số lương bổng còm cõi của một nhân viên cấp thấp:

**“MỤC TIÊU QUÝ 4: TÍCH LŨY THƯỞNG CUỐI NĂM GỬI VỀ QUÊ SỬA MÁI NHÀ CHO MẸ. (Tuyệt đối không tiêu hoang, hạn chế tối đa cà phê bên ngoài, ráng cày KPI lấy danh hiệu Nhân viên Xuất sắc!).”**

Thời gian như ngưng đọng lại tại chiếc bàn gỗ. Trái tim tôi hẫng đi một nhịp lớn rồi đập dồn dập như gõ trống trận. Bàn tay đang đặt trên con chuột quang bỗng đông cứng lại thành đá.

Một phản xạ sinh tồn trỗi dậy, tôi hoảng loạn đưa ngón tay run rẩy định bấm tổ hợp phím tắt để dập tắt cửa sổ chết tiệt ấy đi. Nhưng đã quá muộn.

Ánh mắt của Linh đã dừng lại ở góc trên bên phải màn hình từ hai giây trước. Với thị lực cực kỳ tinh tường cùng thói quen quan sát bố cục chi tiết đến từng điểm ảnh của một chuyên viên thiết kế đồ họa hàng đầu, cô chắc chắn đã đọc không sót một chữ nào trên cái khung viền đỏ lòm, thô thiển và vụng về ấy.

Máu trong toàn bộ cơ thể tôi như dồn hết lên đỉnh đầu, nóng bừng và rát buốt. Cảm giác xấu hổ, trần trụi và một nỗi tự ti hèn mọn bỗng chốc bóp nghẹt lấy khí quản của tôi.

Trong mắt những đồng nghiệp cùng trang lứa ở chốn công sở hào nhoáng này, đặc biệt là trước mặt một cô gái chỉn chu, có gu thẩm mỹ tinh tế, tự lập và tài năng như Linh, việc để lộ một bảng kế hoạch tài chính chắt bóp từng đồng bạc lẻ kèm theo cái mục tiêu sửa sang mái nhà tranh quê mùa chẳng khác nào tự mình lột sạch quần áo giữa chốn đông người. Tôi sợ cô sẽ nhìn thấy toàn bộ sự chật vật, nghèo nàn và thấp kém của tôi đằng sau cái mác nhân viên marketing năng động. Tôi sợ cô sẽ cười thầm, sợ cô nghĩ tôi là một kẻ thực dụng chỉ biết cắm đầu vào tiền, hay cay đắng hơn cả, là nhìn tôi bằng ánh mắt thương hại trịch thượng của một người ở tầng lớp khác.

“Cái này… cái này là… mấy cái file nháp linh tinh của anh hồi trước…”

Tôi lắp bắp, giọng méo mó đến mức chính tai mình nghe còn thấy thảm hại. Ngón tay tôi giật cục bấm liên tiếp vào dấu chéo đỏ trên góc màn hình.

Cửa sổ tắt ngấm. Màn hình máy tính trở về hình nền mặc định màu xám xịt buồn tẻ.

Không gian quán lại rơi vào một khoảng lặng sâu hoắm, kéo dài đến nghẹt thở. Tiếng nhạc lofi vẫn trôi nổi vô tình, tiếng hạt cà phê rơi vào cối xay ràn rạt nghe như tiếng những mảnh tự tôn cuối cùng của tôi đang bị nghiền nát vụn. Tôi cúi gằm mặt, hai mắt dán chặt vào đáy ly bạc xỉu đã tan gần hết đá, hai bàn tay siết chặt lại dưới gầm bàn, chuẩn bị tinh thần đón nhận một câu nói đùa lảng tránh hay một tiếng cười trừ đầy gượng gạo để xua tan không khí ngột ngạt.

Nhưng Linh không hề cười.

Cô không hề nở một nụ cười mỉa mai, không buông một lời trêu chọc bâng quơ, và tuyệt nhiên không có cái đảo mắt kín đáo đầy vẻ xem thường mà tôi vẫn thường thấy ở những kẻ sành sỏi trên tầng bốn.

Khi tôi đánh bạo ngước mắt nhìn lên, tôi sững sờ nhận ra trong đôi mắt đen láy của Linh hoàn toàn không có sự khinh miệt hay thương hại. Ở nơi đáy mắt ấy chỉ có một sự dịu dàng, ấm áp và thấu hiểu đến kỳ lạ—thứ ánh sáng thuần khiết mà tôi chưa từng một lần bắt gặp trong những cuộc họp giao ban ngột ngạt hay những đêm hai đứa cắm mặt gánh deadline sửa thiết kế đến tận sáng trắng.

Linh khẽ vươn tay, dùng chiếc muỗng kim loại cán dài khuấy nhẹ ly trà đào cam sả của mình. Những viên đá lạnh va vào thành thủy tinh phát ra những tiếng *lách cách* thanh mảnh, trong trẻo. Cô quay mặt nhìn ra ngoài khung cửa kính lớn của quán, nơi những giọt mưa đầu mùa bắt đầu rơi lộp bộp, nặng hạt xuống mặt đường nhựa bốc lên mùi ngai ngái của đất khô gặp nước.

“Nhà mẹ anh ở miền Trung đúng không?” Linh hỏi, giọng cô trầm xuống, mềm mại và nhẹ bẫng như một làn sương chiều.

“Ừ… ở một huyện nghèo bên Quảng Trị,” tôi lí nhí trả lời, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh. Đã lỡ để lộ ra rồi, tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc thú thật, giọng nói run rẩy như của một đứa trẻ vừa bị bắt quả tang làm điều sai trái. “Mùa bão năm ngoái gió giật dữ quá, bay mất nguyên một mảng tôn lớn phía trên chái bếp với gian nhà sau. Mẹ anh ở quê một mình, cứ tiếc tiền chắt chiu không chịu cho thợ tới lợp lại, toàn nhờ mấy chú hàng xóm kéo bạt nhựa che tạm bợ qua ngày. Mùa mưa năm nay sắp tới rồi, anh tính ráng gom góp toàn bộ tiền thưởng cuối năm, nếu may mắn giật được cái giải Nhân viên Xuất sắc của khối kinh doanh thì đủ tiền gọi thợ về lợp lại mái tôn lạnh kiên cố, đóng thêm cái trần thạch cao cho mẹ ở cho yên tâm.”

Linh im lặng lắng nghe. Đôi mắt cô dõi theo những dòng xe cộ bắt đầu hối hả bật đèn vàng, nối đuôi nhau di chuyển chậm chạp dưới màn mưa xối xả ngoài phố.

“Mái nhà quan trọng lắm anh à,” Linh nói chậm rãi, từng lời như rút ra từ chính những ký ức sâu kín mà cô chưa bao giờ thổ lộ với bất kỳ ai trong bốn bức tường văn phòng Sao Chổi. “Năm ngoái, đúng vào thời điểm này, em cũng phải cày ngày cày đêm không dám nghỉ một ngày cuối tuần nào. Vừa làm việc công ty, em vừa nhận thêm ba dự án thiết kế bộ nhận diện thương hiệu ngoài giờ để gom tiền trả nốt khoản nợ ngân hàng hồi vay đi học đại học. Có những hôm ngồi vẽ phối cảnh xong, nhìn đồng hồ đã là ba giờ sáng, hai mắt cay xè, các khớp ngón tay co cứng lại đến mức run rẩy, không cầm nổi đôi đũa để gắp sợi mì tôm trong bát.”

Cô quay lại nhìn tôi, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười buồn nhưng thanh thản:

“Ở cái đất Sài Gòn này, nhìn ai bước vào thang máy cũng thơm tho, quần là áo lượt, miệng nói toàn chuyện vĩ mô với chiến lược số hóa… nhưng thật ra ai cũng có những gánh nặng oằn cả vai mà không bao giờ dám nói ra trên bàn làm việc cả.”

Tôi ngây người nhìn Linh. Trong tâm trí tôi suốt nửa năm qua, và trong mắt của toàn bộ nhân viên công ty Sao Chổi, Linh luôn là hình mẫu lý tưởng của một chuyên viên thiết kế đồ họa thế hệ mới: tài năng xuất chúng, gu thẩm mỹ sắc sảo, tính cách độc lập, lạnh lùng và dường như luôn đứng ngoài mọi sự bon chen, vụn vặt của chốn văn phòng. Tôi chưa từng một lần tưởng tượng được rằng, đằng sau những bản vẽ trau chuốt đến từng pixel, đằng sau phong thái tự tin và chiếc túi vải đắt tiền kia, cũng là một tâm hồn từng phải thức trắng những đêm dài lạnh lẽo, vật lộn với bài toán mưu sinh và gánh nặng nợ nần không kém gì tôi.

“Anh đừng có ngại hay thấy xấu hổ vì chuyện đó,” Linh nhìn thẳng vào mắt tôi, ánh nhìn chân thành, kiên định và ấm áp đến mức khiến tim tôi run lên khe khẽ. “Thật ra, sau cái đợt cả nhóm thức trắng hai đêm liền để chạy dự án chuỗi bán lẻ đợt một, rồi cái lần anh Khải vin cớ khách hàng đòi sửa nát bét toàn bộ thiết kế, chính anh là người đã đứng ra ký vào biên bản khóa brief, chịu ăn đòn thay để bảo vệ concept cho em… em đã thấy anh rất khác những người khác trong cái văn phòng này rồi.”

Cô ngừng lại một nhịp, nhấp một ngụm trà đào:

“Ở công ty này, những kẻ biết nói lời hay ý đẹp, biết vẽ hươu vẽ vượn trên slide để lấy lòng sếp Dũng thì đếm không xuể. Nhưng những người chịu thực sự ngồi xuống gánh vác việc khó, làm việc có trách nhiệm đến cùng, kiên trì, tử tế và biết nghĩ cho đồng đội như anh… hiếm hoi lắm.”

Từng lời nói của Linh như một dòng nước ấm rót thẳng vào lồng ngực đang khô héo của tôi. Cảm giác ấm áp, dễ chịu lan tỏa khắp các mạch máu, xua tan đi toàn bộ những mặc cảm tự ti, những nỗi lo sợ vụn vặt về bảng xếp hạng KPI hay vị trí thứ 48 nhục nhã mà tôi đang phải mang trên lưng.

Lời công nhận của cô—mộc mạc, thẳng thắn, không chút đãi bôi công sở—đối với tôi lúc này có sức nặng và giá trị gấp vạn lần những bài diễn văn truyền cảm hứng sáo rỗng, sặc mùi khẩu hiệu của sếp Dũng trong căn phòng Sao Hỏa nồng nặc mùi cà phê hòa tan.

“Cảm ơn em nhiều lắm, Linh…” Tôi đưa tay gãi đầu, cảm thấy hai tai mình lại nóng lên, nhưng lần này không phải vì xấu hổ, mà là vì một niềm vui sướng râm ran, ngọt ngào đang dâng trào trong huyết quản. “Nghe em nói câu này, anh thấy mấy cái đêm thức trắng tăng ca, rồi mấy lần bị sếp mắng te tua đợt trước… tự nhiên nó đáng giá ghê gớm.”

“Đáng giá thì ráng mà giật lấy cái giải thưởng cuối năm đi,” Linh nháy mắt, vẻ tinh nghịch lém lỉnh thường ngày bỗng chốc quay trở lại trên gương mặt thanh tú, nhưng ánh mắt vẫn đong đầy sự khích lệ chân thành. “Em nói trước là em sẽ không bao giờ để anh Khải một mình một ngựa ẵm trọn cái danh hiệu đó đâu. Dự án bán lẻ sắp tới, phòng thiết kế bọn em nhất định sẽ đứng về phía anh.”

Chúng tôi ngồi lại quán thêm gần một tiếng đồng hồ nữa.

Lần đầu tiên sau hơn một trăm tám mươi ngày làm việc chung dưới một mái nhà, khoảng cách vô hình giữa một chuyên viên nội dung vụng về và một cô nàng thiết kế cá tính dường như đã biến mất hoàn toàn. Chúng tôi không còn nhắc đến những yêu cầu chỉnh sửa tai quái lúc 17:58 chiều thứ Sáu, không bàn về thói quen họp hành tùy hứng của ban giám đốc hay những trò nhận vơ công trạng bẩn thỉu chốn công sở. Chúng tôi nói về những quán hủ tiếu gõ bình dân ngon nức tiếng mà giá chỉ hai mươi lăm nghìn một tô ở Bình Thạnh, về những ước mơ nhỏ bé sau khi trả hết nợ nần và lo toan xong xuôi cho gia đình ở quê, và về cảm giác nhẹ nhõm đến nghẹt thở mỗi khi một dự án cam go được nghiệm thu trót lọt.

Bên ngoài cửa kính, cơn mưa rào nhiệt đới trút xuống xối xả, gột rửa sạch sẽ lớp bụi bặm bám trên những tán lá bàng, làm dịu đi cái nóng hầm hập tích tụ suốt cả ngày của thành phố.

Khoảng mười sáu giờ mười lăm phút, một bạn nhân viên phục vụ cầm chiếc khay da nhỏ đựng tờ hóa đơn thanh toán bước nhẹ nhàng lại gần bàn:

“Dạ, em xin phép gửi hóa đơn bàn mình ạ. Tổng cộng của anh chị là một trăm hai mươi nghìn đồng.”

“Để anh!”

Tôi nhanh nhảu cất tiếng, người hơi rướn lên, bàn tay thoăn thoắt thò ra túi sau của chiếc quần tây định bụng rút chiếc ví da sờn góc. Sau vụ hoàn ứng tiền mặt trưa nay, tôi đã hoàn toàn có thể tự tin ngẩng cao đầu thanh toán một chầu cà phê đàng hoàng mà không cần phải nơm nớp lo sợ chiếc thẻ ghi nợ báo lỗi giao dịch không thành công.

Thế nhưng, ngón tay tôi còn chưa kịp chạm vào mép ví thì một bàn tay thon nhỏ, trắng trẻo đã nhanh hơn một bước.

*Bẹp.*

Linh dứt khoát đặt hai tờ tiền giấy mệnh giá sáu mươi nghìn đồng—một tờ năm mươi nghìn và một tờ mười nghìn phẳng phiu—xuống chiếc khay da trước sự ngỡ ngàng của cả tôi lẫn cậu nhân viên phục vụ. Cậu bạn khẽ cúi đầu mỉm cười cảm ơn rồi cầm khay bước nhanh về phía quầy thu ngân.

“Ơ kìa Linh! Sao lại thế? Để anh trả chứ!” Tôi bối rối chồm người tới, giọng đầy vẻ phản đối. “Kèo này rõ ràng là con Vy nó gài bẫy, anh là người chủ động hẹn… à không, anh là người ngồi đây với em, đáng lẽ anh phải mời em mới đúng phép lịch sự chứ!”

Linh không thèm đáp lại sự lúng túng của tôi. Cô thong thả rút chiếc bút bi mực xanh cài ở túi áo sơ mi ra, kéo tờ hóa đơn in nhiệt dài bằng ngón tay vừa được đặt lại trên bàn về phía mình.

Bằng vài nét bút thanh thoát, dứt khoát và vô cùng điêu luyện của một người đã quen với việc điều khiển từng đường nét mỹ thuật, cô nắn nót viết một dòng chữ ngắn ngủn lên mặt sau còn trắng tinh của tờ giấy in nhiệt. Đoạn, cô dùng hai đầu ngón tay kẹp lấy mép giấy, đẩy nhẹ cho nó trượt một đường êm ái qua mặt bàn gỗ, dừng lại ngay sát cạnh chân ly bạc xỉu của tôi.

“Không cãi,” Linh mỉm cười. Đó là một nụ cười rạng rỡ, tươi tắn và tinh nghịch nhất mà tôi từng được nhìn thấy kể từ ngày bước chân vào công ty này—nụ cười khiến trái tim tôi hẫng đi một nhịp lớn, lồng ngực bỗng chốc đập loạn xạ như muốn nhảy ra ngoài. “Hôm nay em trả.”

Tôi run run cúi xuống, cầm tờ hóa đơn mỏng manh lên xem.

Mặt sau tờ giấy, nét mực bi màu xanh dương hãy còn chưa khô hẳn, uốn lượn thành bốn chữ viết hoa ngay ngắn, tròn trịa và rõ ràng:

*“LẦN TỚI ANH MỜI.”*

Một lời hẹn ước.

Đó không phải là một lời từ chối khéo léo đầy xa cách của những kẻ làm việc cùng văn phòng, không phải là sự sòng phẳng rạch ròi đến lạnh lùng của những mối quan hệ xã giao công sở. Đó là một chiếc chìa khóa vạn năng, mở toang cánh cửa cho một cuộc hẹn hò tiếp theo—một cuộc hẹn chỉ có riêng hai người, không có công việc, không có kịch bản dối trá của Vy, và hoàn toàn danh chính ngôn thuận.

Tôi ngước nhìn lên. Linh đã đứng dậy tự lúc nào. Cô khoác chiếc túi vải lên vai, thu dọn máy tính bảng và cuốn sổ tay vào trong túi xách. Ánh mắt cô long lanh nhìn tôi, vừa giục giã vừa đong đầy những ẩn ý dịu dàng:

“Lên lầu thôi anh Hoàng, mười sáu giờ ba mươi rồi đấy. Không về bàn làm việc ngay là sếp Dũng lại tưởng hai đứa mình rủ nhau trốn việc đi chơi riêng rồi trừ hết điểm chuyên cần bây giờ.”

“Ừ… ừ, lên thôi!”

Tôi cuống cuồng nhét tờ hóa đơn có dòng chữ mực xanh vào sâu trong ngăn kéo khóa trong cùng của chiếc ví da—nơi an toàn nhất mà tôi thường cất giữ những giấy tờ quan trọng nhất đời mình. Tôi gập máy tính, nhét vội vào ba lô rồi thoăn thoắt bước theo sau từng bước chân thanh thoát của cô.

Hai đứa sóng bước bên nhau bước vào sảnh thang máy của tòa nhà. Cảm giác lâng lâng, ngọt ngào và phấn chấn như một kẻ vừa trúng số độc đắc khiến bước chân tôi nhẹ bẫng, tựa như đang lướt đi trên một thảm mây bồng bềnh. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, tôi thầm cảm ơn sự mưu mẹo quái chiêu của Vy, cảm ơn cơn mưa rào bất chợt của buổi chiều Sài Gòn, và thậm chí cảm ơn cả sự bần cùng, chật vật của cái bảng tính Excel chết tiệt đã vô tình giúp tôi mở được cánh cửa bước thẳng vào thế giới nội tâm sâu kín của Linh.

*Ting!*

Cửa thang máy trượt mở ở tầng bốn. Bầu không khí ngột ngạt, khô khốc của máy lạnh công nghiệp và mùi giấy in quen thuộc của văn phòng Sao Chổi lập tức ùa vào mặt. Bên trong, các đồng nghiệp vẫn đang cắm mặt vào màn hình máy tính, tiếng gõ phím rào rào như tằm ăn rỗi.

Tôi bước lại gần góc tường cạnh cửa ra vào, nơi đặt chiếc máy chấm công vân tay màu xám đen quen thuộc, để quét vân tay xác nhận việc quay trở lại văn phòng sau giờ giải lao theo đúng quy định ngặt nghèo của phòng Nhân sự.

Lòng tràn đầy một niềm vui sướng và yêu đời chưa từng có, tôi mỉm cười, đưa ngón tay trỏ phải đặt nhẹ nhàng lên mắt đọc quang học đang phát ra ánh sáng màu xanh lá cây êm dịu.

*Tít… Tít… Tèeeeeee!*

Âm thanh phát ra không phải là tiếng *“Xin cảm ơn”* ngọt ngào, dịu dàng của cô gái ghi âm sẵn như mọi ngày.

Thay vào đó, một hồi chuông cảnh báo chói tai, the thé vang lên đinh tai nhức óc. Chiếc đèn led nhỏ xíu trên đỉnh máy lập tức chuyển từ màu xanh thân thiện sang màu đỏ rực đầy đe dọa, nhấp nháy liên hồi. Và rồi, từ chiếc loa nhỏ phía sau thân máy, một giọng đọc máy móc khô khốc, vô cảm vang vọng khắp hành lang tầng bốn:

*“Xin thử lại! Lỗi xác thực dữ liệu! Thiết bị đã bị khóa quyền truy cập!”*

Tiếng máy chấm công vang lên một hồi “Xin thử lại” kèm đèn đỏ báo hiệu một rắc rối hành chính mới.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn