Tông Môn Cũng Cần Sống
Phong thư niêm phong sáp đỏ đặt trên chiếc bàn gỗ cập kênh, mang theo mùi hương đàn hương quý phái hoàn toàn xa lạ với khói tro nghèo nàn của xóm giếng.
Lớp sáp đỏ thẫm in hình vân mây ba nhánh sắc nét của Chấp sự phòng Thanh Lộ Tông, lạnh lẽo và cứng ngắc, đối nghịch trần trụi với những thớ gỗ nứt nẻ bám đầy bụi quặng của trạm dịch ven Bến Tro. Gió từ mặt sông thổi thốc vào gian nhà trạm nửa bỏ hoang, mang theo mùi tanh nồng của bùn phế thải và hơi ẩm lạnh buốt của buổi sớm sau mưa. Những thanh xà gồ trên mái đã mục rỗng phân nửa, để lộ từng mảng trời xám xịt như chì, thỉnh thoảng lại rỏ xuống sàn đất nện vài giọt nước đục ngầu, gõ nhịp lách tách vào góc vách nứa xiêu vẹo.
Bên chiếc bàn dài ghép từ ván chở hàng cũ kỹ, Tống Khuê ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế bọc nệm gấm mang theo từ núi. Y mặc đạo bào màu lam nhạt thêu chỉ bạc tinh xảo quanh cổ áo và mép tay, vạt áo sạch bong không dính lấy một hạt bụi đất của lòng chảo. Hai bên y, hai đệ tử chấp sự mặt lạnh như tiền, lưng đeo kiếm dài vỏ bọc da cá nhám, tay đặt hờ lên đốc bội kiếm, mắt nhìn chằm chằm vào hai anh em Mộc gia như thể đang canh chừng lũ trộm vặt ngoài bến bãi. Hơi thở của hai kẻ hộ vệ đều đặn, phát ra luồng nhiệt lực nhè nhẹ của kẻ đã đả thông kinh lạc tầng Dẫn Khí trung kỳ, tạo nên một bức tường áp bức vô hình trong gian phòng chật hẹp.
Mộc Tầm ngồi đối diện, hai bàn tay thô ráp chai sần đặt trên đùi. Những vết nứt nẻ ăn sâu vào khóe móng tay anh còn đọng lại vệt bùn đen của cánh đồng Thạch Nê, không tài nào cọ rửa sạch. Bên cạnh anh, Mộc An ngồi thẳng lưng, hai bờ vai gầy nhưng vững chãi, tay ghì chặt mép chiếc hòm gỗ con đựng sổ sách ghi chép của Hội. Dưới chân hai người, một chậu gốm nhỏ phủ bao tải ướt đặt im lìm, thoang thoảng mùi đất mùn ngai ngái pha lẫn mùi rễ cỏ tươi — thứ mùi duy nhất nhắc họ nhớ về sự sống mong manh đang chật vật bám trụ tại Hạ Khê giữa bốn bề chết chóc.
"Bản trát hôm nay không phải để thương lượng xem các ngươi có nhận hay không," Tống Khuê cất giọng, âm điệu trầm ổn, hòa nhã nhưng mang theo áp lực nặng nề của một tu sĩ Trúc Cơ cảnh giới. Y đưa ngón tay thon dài, sạch sẽ đẩy nhẹ tờ văn khế bằng giấy xuyến chỉ dày cộp về phía trước. "Đây là 'Dự thảo Khế ước Bảo hộ Mạch khí và Điều phối Nguồn nước'. Các ngươi nên đọc cho kỹ từng chữ, từng dòng, để hiểu rõ ân điển mà tông môn dành cho các hộ dân dưới chân núi."
Mộc An không chần chừ, vươn bàn tay mảnh dẻ nhưng cứng cáp kéo tờ giấy về phía mình. Đôi mắt nàng lướt nhanh qua từng dòng chữ mực đen bóng loáng, nét chữ phượng múa rồng bay mang đầy vẻ quyền uy của bậc bề trên. Càng đọc, khóe môi nàng càng khẽ giật giật, gân xanh trên mu bàn tay ghì chặt mép giấy dần nổi rõ khi đọc đến những điều khoản cốt lõi. Nàng ngẩng phắt dậy, cất giọng rành rọt, từng âm sắc đanh thép vang vọng giữa gian trạm dịch ẩm mốc:
"Điều thứ ba: Thanh Lộ Tông cam kết mở van cung cấp ba phần mười lưu lượng nước ngọt từ hồ điều tiết trên núi cho các mương nhánh Hạ Khê, đồng thời cắt cử ba đệ tử ngoại môn thường trực tuần tra bảo vệ khu vực canh tác. Đổi lại... điều thứ bảy: toàn bộ mạng rễ Tức Căn dưới Giếng Cạn và cánh đồng Thạch Nê phải đặt dưới quyền điều phối tuyệt đối của Chấp sự phòng. Mọi phương pháp chiết tách, gieo cấy, và trên hết, toàn bộ lượng linh khí trích xuất được từ mạng rễ non phải nộp đủ tám phần mười về kho của sơn môn vào mùng một mỗi tháng?"
Mộc An đặt mạnh tờ giấy xuống mặt bàn. Tiếng đập khô khốc dội vào tai hai tên đệ tử chấp sự khiến hàng chân mày của họ khẽ nhíu lại, bàn tay đặt trên đốc kiếm siết nhẹ.
"Tống chấp sự, ngài gọi đây là khế ước bảo hộ sao?" Ánh mắt Mộc An bừng bừng ngọn lửa giận dữ. "Nước ngầm ở Hạ Khê vốn dĩ thuộc về dân bản xứ từ hàng trăm năm trước, khi rặng núi này còn chưa bị đục khoét bởi các giếng quặng. Chính các đợt xả quặng từ trên núi đổ xuống lòng sông, thấm qua vỉa cát, đã biến toàn bộ mạch nước ngầm của chúng tôi thành tử địa nhiễm độc. Nay ngài lấy lại chút nước thừa thãi lẽ ra thuộc về chúng tôi, đổi lấy quyền kiểm soát toàn bộ sinh mạng của xóm làng, tước đoạt thứ mà chúng tôi vừa dùng máu, mồ hôi và tính mạng gầy dựng nên từ tro tàn?"
Tống Khuê không hề nổi giận trước sự gay gắt của cô gái phàm nhân. Y khẽ nâng chén trà bằng sứ hoa lam mang theo từ sơn môn, nhấp một ngụm nhỏ chất nước trà thơm ngát mùi linh thảo, rồi thở dài một tiếng rất khẽ. Cái thở dài ấy không có vẻ kiêu ngạo của kẻ quyền quý coi thường tiện dân, mà trĩu nặng một sự bức bách thật sự của kẻ gánh vác việc chung.
"Tiểu cô nương, ngươi nói không sai về khế ước và luật lệ thông thường của phàm nhân dưới đồng bằng. Nhưng các ngươi nhìn lòng chảo này, chỉ thấy được cái đói của mười hai nóc nhà, thấy được vài sọt rau cải và khoảnh ruộng Thạch Nê vừa nứt váng phù sa. Các ngươi không nhìn thấy những gì đang diễn ra trên đỉnh núi Thanh Lộ."
Y ngước mắt lên, ánh nhìn xuyên qua khung cửa sổ trạm dịch mục nát, hướng về rặng núi mờ mịt trong màn sương mù xám đục:
"Linh mạch Thanh Lộ đã cạn kiệt từ ba năm trước. Các đợt bòn rút quặng sâu của các đời tiền bối để duy trì sự hưng thịnh giả tạo đã để lại những hang rỗng khổng lồ dưới lòng núi, khiến địa khí sụp lún từng ngày. Hồ điều tiết thượng nguồn hiện giờ cạn đến đáy bùn, không phải vì tông môn keo kiệt giấu nước, mà vì không còn linh khí thuần tịnh để ngưng tụ mây mưa, giữ cho mạch nước không chảy tuột vào các kẽ nứt địa tầng. Trận hộ sơn — bức bình phong duy nhất bảo vệ cả vùng đất này khỏi sự dòm ngó của các thế lực tà tu phương bắc và lũ yêu thú cuồng loạn từ đầm lầy hoang dã — đã phải giảm tải đến ba phần tư công suất. Các mắt trận đã bắt đầu xuất hiện vết nứt."
Tống Khuê hạ chén trà xuống, giọng nói trầm xuống, mang theo một vẻ nghiêm trọng khó tả:
"Hàng trăm đệ tử ngoại môn đang đối mặt với nguy cơ tắc nghẽn kinh mạch, tẩu hỏa nhập ma vì thiếu thấu linh khí thuần tịnh để tu luyện. Họ phải hít thở thứ khí xỉ quặng pha tạp ngày này qua ngày khác. Nếu trận hộ sơn sụp đổ, nếu Thanh Lộ Tông tan rã thành tro bụi, các ngươi nghĩ mười hai hộ dân của cái Hội giữ đất này có thể an ổn cắm từng nhánh cỏ, gieo từng hạt lúa xuống cánh đồng hay sao? Hay là chỉ trong một đêm, tà tu sẽ tràn xuống huyết tế toàn bộ lòng chảo, biến nơi này thành mồ chôn tập thể?"
Tống Khuê gõ ngón tay trỏ xuống mặt bàn, từng nhịp gõ đều đặn, khô khốc như tiếng búa điểm giờ hành hình:
"Thanh Lộ Tông cũng cần phải sống. Khế ước Khai thác Địa Mạch ngàn năm do phủ Bình Xuyên phê chuẩn đã xác lập rõ ràng từ thời lập quốc: mọi nguồn linh mạch phát sinh trong phạm vi mười dặm quanh chân núi đều thuộc quyền quản hạt của sơn môn. Việc quy nạp mạng lưới mới xuất hiện dưới đáy Giếng Cạn vào phạm vi khế ước cũ không phải là tước đoạt, mà là điều tất yếu để cứu vãn cả một tông phái. Có linh khí trích xuất nộp lên, trận hộ sơn mới duy trì được; trận hộ sơn còn thì xóm làng dưới chân núi mới còn cội rễ nương tựa. Đạo lý ấy, các ngươi là kẻ làm đất, chẳng lẽ không hiểu việc che chở cho gốc rễ quan trọng hơn việc tiếc rẻ vài chiếc lá non?"
Gian phòng rơi vào tĩnh lặng. Tiếng gió luồn qua khe cửa vách rít lên từng hồi tê buốt. Hai đệ tử chấp sự đứng thẳng người hơn, cằm hơi nhếch lên, ánh mắt lộ rõ sự kiêu hãnh pha lẫn bi tráng của những kẻ mang trên vai sự tồn vong của một tông phái lớn, nhìn hai kẻ áo vải đối diện bằng nửa con mắt thương hại.
Nhưng Mộc Tầm vẫn ngồi bất động. Lưng anh không hề cong xuống trước khí thế áp đảo của người đối diện. Anh nhìn sâu vào mắt Tống Khuê, đôi mắt của một người cả đời vùi tay trong bùn đất, quen nếm từng vị mặn chát của rỉ quặng, quen ngửi từng mùi chua thối của tầng địa chất rữa nát dưới đáy vực.
"Tống chấp sự trần tình rất thấu đáo," Tầm chậm rãi mở lời, giọng nói khàn khàn vì khói bụi nhưng dứt khoát lạ thường. "Ngài nói về đại cục, nói về sự tồn vong của tông phái, nói về trận hộ sơn che chở trăm họ. Nghe qua thì hợp tình hợp lý, không chê vào đâu được. Nhưng toàn bộ dự thảo này của ngài được xây dựng trên một tiền đề hoàn toàn sai lầm."
Tống Khuê khẽ nhướn mày, đôi đồng tử co lại: "Sai lầm chỗ nào?"
"Tức Căn không phải là một mỏ quặng linh thạch," Mộc Tầm nói, từng chữ rành rọt như búa gõ vào đe. "Nó không tích tụ linh khí dồi dào để các ngài đặt trận thu trích xuất như cách các ngài đục khoét các mạch đá cũ. Nó là một sinh vật sống cộng sinh."
Tống Khuê khẽ mỉm cười, một nụ cười khoan dung nhưng đầy vẻ trịch thượng của kẻ bề trên nghe đứa trẻ lên ba giải thích chuyện thiên văn: "Mộc Tầm, la bàn của Ty Địa sư đã ghi nhận dao động khí mạch rõ ràng khi rễ cây vận hành. Các đệ tử trinh trắc đo được ba động ba lần một ngày. Đất mềm ra, nước ngọt trở lại, rau mọc xanh tốt trong tro tàn. Không có linh khí nuôi dưỡng, làm sao bùn đất chết chóc có thể hồi sinh? Ngươi là người chăm vườn, ngươi hiểu công việc cày xới của mình, nhưng về bản chất của linh mạch và cấu trúc năng lượng, ngươi làm sao am tường bằng các đan sư và trận pháp sư trên núi?"
"Tôi không am tường đạo pháp cao siêu của các vị," Mộc Tầm không hề tranh cãi về mặt lý thuyết. Anh cúi xuống, cẩn thận hai tay nhấc chậu gốm phủ bao tải ướt đặt lên giữa mặt bàn gỗ. "Nhưng tôi biết đất và rễ cây phản ứng thế nào khi bị cưỡng bức."
Mộc An lập tức đưa tay kéo tấm bao tải rách ra.
Bên trong chậu gốm là một vầng đất xốp màu nâu sẫm, ẩm ướt và tỏa ra hơi lạnh dịu dàng. Ở chính giữa cắm một nhánh rễ non của Tức Căn to bằng ngón tay út, bề mặt phủ một lớp lông tơ mịn màng, tỏa ra ánh sáng lam mờ nhạt như làn sương mỏng lơ lửng trong đêm tối. Ở hai nhánh rễ con tủa ra hai bên, hai nốt sần nhỏ màu xám chì nhú lên, bóng bẩy và tròn trĩnh, tựa như hai hạt đậu kim loại được đính khéo léo vào thân gỗ mềm.
Tống Khuê và hai tên đệ tử chấp sự bất giác chồm người tới phía trước. Đôi mắt Tống Khuê lóe lên tia sáng thèm thuồng xen lẫn kinh ngạc trước thứ thực vật dị chủng mà bấy lâu y chỉ thấy ghi chép mơ hồ trong các cuộn báo cáo sơ sài của ngoại môn. Ánh lam quang kia tuy mỏng manh, nhưng lại mang một sự tinh khiết lạ lùng, hoàn toàn không có mùi vị tanh nồng của xỉ quặng hay trọc tức u ám dưới lòng đất.
"Ngài bảo Tức Căn sinh ra linh khí," Mộc Tầm rút từ trong túi áo chẽn ra một mẩu pháp thạch thu khí loại nhỏ — thứ đồ phế phẩm rẻ tiền, xám xịt mà các đệ tử ngoại môn nghèo túng thường dùng để gom góp chút linh khí tản mác ngoài đồng hoang. "Nhưng thực tế, nó chỉ hút trọc tức, cặn xỉ và độc tố kim loại nặng trong đất, cô đặc chúng lại thành các nốt rễ xơ cứng này để tự bảo vệ màng tế bào. Trong quá trình đó, nhờ sự chuyển hóa nội tại, nó hoàn lại cho đất một lượng sinh cơ cực kỳ yếu ớt, chỉ vừa đủ để vi sinh và cỏ rác bám rễ, tạo thành một vòng tuần hoàn lọc độc khép kín. Nó không tích trữ dư thừa. Nó chỉ sống sót qua ngày bằng cách chịu đựng chất độc thay cho mặt đất. Nếu ngài dùng trận pháp cưỡng bức rút linh lực ra khỏi mạng rễ..."
"Ngươi muốn chứng minh điều gì bằng mẩu đá vỡ này?" Tống Khuê lạnh lùng ngắt lời, mắt vẫn dán chặt vào nhánh rễ phát sáng.
"Hãy nhìn cho kỹ," Mộc Tầm không giải thích thêm một lời nào nữa. Anh đặt mẩu pháp thạch thu khí áp sát vào đầu nhánh rễ non, chỉ cách lớp lông tơ chưa đầy nửa đốt ngón tay.
Tầm hít một hơi sâu, vận một tia linh lực Dẫn Khí tầng ba mong manh, cằn cỗi trong đan điền vào viên đá. Trận phù thu khí thô thiển khắc trên bề mặt đá lóe lên một đốm sáng trắng nhợt nhạt. Một lực hút vô hình cực nhỏ, chỉ bằng một phần mười lực kéo của một trận bàn cấp thấp, bắt đầu tác động, kéo giọt linh khí lam nhạt từ thân rễ vào viên đá.
Chỉ trong một cái chớp mắt, biến đổi kinh hoàng lập tức diễn ra ngay trước mắt bốn người.
Ánh lam quang trên nhánh rễ non vụt tắt lịm như ngọn nến gặp bão. Ngay tại cuống nốt rễ xám chì, lớp mô xơ mềm mại bỗng co giật dữ dội rồi phồng rộp lên như một vết bỏng nước sôi tấy đỏ. Bề mặt nhẵn bóng của nốt sần nứt toác ra thành từng khe rãnh chằng chịt, phát ra những tiếng tanh tách ghê rợn.
Một giọt dịch đen quánh, đặc sệt như nhựa đường và bốc mùi tanh nồng cay xè rỉ ra từ vết nứt. Giọt độc vừa chạm vào vách đất mùn trong chậu đã sôi xèo xèo, bốc lên một làn khói xám mỏng manh nồng nặc mùi lưu huỳnh và kim loại cháy, khét lẹt đến tức thở.
Đầu rễ non lập tức teo tóp lại. Màu xanh ngọc chuyển sang màu tro tàn, khô khốc và đen sì như vừa bị một thanh sắt nung đỏ đâm xuyên qua. Toàn bộ sự sống vừa chớm nở trong chậu gốm biến thành một mẩu rác cháy xém, gãy vụn thành tro bụi chỉ trong chưa đầy ba nhịp thở ngắn ngủi. Mùi trọc tức cô đặc nồng nặc xộc thẳng vào mũi, mang theo khí vị rữa nát của lòng đất chết khiến hai đệ tử chấp sự giật nảy mình, lùi phắt lại một bước về phía sau, một tay bịt chặt mũi họng, mặt mày biến sắc xanh mét.
"Các ngài thấy chưa?" Mộc Tầm buông mẩu pháp thạch đã nhuốm một vệt đen xỉn xuống bàn, ngẩng đầu nhìn thẳng vào Tống Khuê bằng ánh mắt rực lửa căm hờn pha lẫn xót xa. "Rút linh khí cưỡng bức sẽ phá vỡ cân bằng sinh hóa, kích nổ toàn bộ túi độc bên trong rễ! Tức Căn không có linh khí dư thừa để nộp tô cho sơn môn! Nếu các ngài đem trận bàn đặt lên cánh đồng Thạch Nê hay đáy Giếng Cạn, toàn bộ mạng rễ sẽ tự thiêu rụi theo phản ứng dây chuyền, giải phóng toàn bộ trọc tức mà nó đã tích tụ, chôn vùi hàng chục năm qua trở lại mặt đất. Khi đó, Hạ Khê không chỉ mất đi một vụ mùa, mà sẽ vĩnh viễn biến thành một hố độc chết chóc, không một cọng cỏ nào mọc nổi, không một sinh linh nào có thể sống sót bước qua!"
Gian phòng chìm vào sự im lặng ngột ngạt đến ngạt thở. Mùi khét lẹt của nhánh rễ cháy vẫn lảng vảng trong không khí ẩm, hòa lẫn với mùi bùn tanh từ mép sông trôi vào, như một minh chứng trần trụi, tàn nhẫn nhất cho lời cảnh báo vừa phát ra. Đống tro đen trong chậu gốm vẫn còn bốc lên sợi khói mỏng manh, lạnh lẽo.
Thế nhưng, Tống Khuê chỉ nhìn chậu đất một lát, ánh mắt thoáng dao động rồi nhanh chóng lấy lại vẻ trơ tráo thường ngày. Y chậm rãi ngả lưng vào thành ghế bọc gấm, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên bụng. Gương mặt y lạnh tanh, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười lãnh đạm, không hề có chút rung động nào trước thảm cảnh vừa hiện hữu.
"Một trò diễn khéo léo đấy, Mộc Tầm."
Mộc An tức tối đập mạnh tay xuống bàn, đứng bật dậy: "Đó không phải là trò diễn! Tận mắt ngài đã thấy phản ứng của nó..."
"Ta thấy một mẩu rễ con còi cọc cắm trong một nắm đất chậu!" Tống Khuê lạnh lùng gạt phắt đi, giọng nói đều đều nhưng sắc nhọn như dao cạo, hoàn toàn không lay chuyển. "Các ngươi lấy một mẩu rễ bị đào xới, tách rời khỏi đất mẹ, sức sống đã suy kiệt phân nửa, rồi dùng một mẩu đá tạp nham để kích động hỗn loạn dòng khí của nó, sau đó vội vã tuyên bố rằng toàn bộ cánh đồng ngoài kia cũng sẽ như vậy? Đó là lối suy nghĩ thiển cận của kẻ phàm phu!"
Y chỉ tay ra ngoài cửa sổ, hướng về phía cánh đồng xám xa xa:
"Cánh đồng Thạch Nê rộng hàng chục mẫu, tầng ngầm thông suốt với các mạch nước sâu, mạng rễ ăn sâu vào vỉa đá vôi dày hàng trượng. Một cái ao nhỏ cạn nước thì dăm con cá chết phơi bụng, nhưng biển lớn ngoài kia há lại sợ cạn một gàu nước hay sao? Quy mô lớn sẽ có sức chịu tải lớn, có khả năng tự cân bằng và điều tiết sinh lực. Khi các trận bàn thu khí cấp cao của sơn môn được các trận pháp sư Trúc Cơ bố trí đồng bộ, dòng khí lưu chuyển điều hòa, có cương có nhu, mạng rễ tự khắc sẽ thích nghi dưới áp lực quy củ và sản sinh ra lượng linh khí vượt trội để sinh tồn. Các ngươi không hiểu đạo lý 'ép cây ra quả, luyện sắt thành thép' của tu hành giới, đừng đem cái nhìn hạn hẹp của kẻ làm vườn ra mà dọa dẫm Chấp sự phòng!"
"Đó là ảo tưởng chết người!" Mộc Tầm siết chặt nắm đấm, các khớp ngón tay kêu răng rắc dưới lớp da thô ráp. Lồng ngực anh phập phồng dữ dội. "Các ngài từng có ba mươi mẫu dược viên thượng đẳng trên sườn nam của ngọn núi! Hai năm trước, các ngài cũng từng tin vào lý lẽ ấy! Các ngài cũng tin rằng đại trận có thể ép đất ra linh dược, cưỡng bức dược thảo sinh sôi bất kể mùa màng thời tiết, và kết quả là gì? Kết quả là ba mươi mẫu đất thượng đẳng ấy giờ đã biến thành bãi đá xỉ hoang tàn, đất đai trơ trọi như tro lò thiêu, đến cỏ dại cũng không mọc nổi! Các ngài không hề hiểu quy luật của đất! Các ngài chỉ biết bòn rút, bòn rút cho đến giọt tủy cuối cùng, rồi phủi tay bỏ mặc khi nó biến thành tử địa!"
Bầu không khí trong trạm dịch bỗng chốc đông cứng lại như một tảng băng khổng lồ.
Nhắc đến ba mươi mẫu dược viên bị thiêu rụi là chạm thẳng vào vết sẹo nhức nhối nhất, một nỗi sỉ nhục to lớn trong việc điều hành tài nguyên của Chấp sự phòng Thanh Lộ Tông trong suốt mười năm qua. Đó là sai lầm đã khiến vị Chấp sự trưởng tiền nhiệm bị phế truất, đẩy tông môn vào cuộc khủng hoảng linh dược trầm trọng hiện tại.
Khuôn mặt hòa nhã, ung dung của Tống Khuê hoàn toàn biến mất trong chớp mắt. Lớp mặt nạ điềm tĩnh rơi xuống, để lộ vẻ uy nghiêm lạnh lẽo, tàn nhẫn của một cường giả tu tiên bị xúc phạm danh dự.
"Rầm!"
Chiếc chén sứ hoa lam trên bàn nứt toác ra thành trăm mảnh vụn dù không hề có bàn tay nào chạm vào. Trà nước bắn tung tóe lên mặt giấy khế ước.
Khí thế Trúc Cơ vô hình từ cơ thể Tống Khuê bùng nổ, tỏa ra xung quanh như một luồng gió lốc vô hình đè nặng lên cả gian phòng. Những thanh xà gồ mục nát trên trần nhà kêu răng rắc như sắp gãy sụp. Ngọn đèn dầu cạn bấc đặt ở góc bàn chao đảo dữ dội rồi vụt tắt. Không khí trong phòng đặc quánh lại như vũng bùn lầy, đè nặng lên lồng ngực hai anh em họ Mộc khiến họ nghẹt thở, xương cốt toàn thân phát ra những tiếng ma sát rợn người dưới áp lực linh áp tuyệt đối. Hai tên đệ tử chấp sự lùi lại nửa bước, rút kiếm ra khỏi vỏ một tấc, ánh thép sắc lạnh lóe lên trong bóng tối lờ mờ.
"Mộc Tầm, ngươi cả gan dám chất vấn quyết sách của sơn môn?" Tống Khuê gằn từng giọng, đôi mắt y lóe lên tia sát khí lạnh buốt thấu xương. Ngón tay trỏ của y điểm thẳng xuống tờ văn khế sũng nước trà trên bàn. "Ngươi nghĩ mình là ai? Một tên phàm nhân Dẫn Khí tầng ba sống nhờ chút đất mọn mà dám đem thất bại của tông môn ra để răn dạy ta? Ta nhắc lại lần cuối cùng: bản dự thảo hợp đồng này giữ nguyên toàn bộ điều khoản, không bớt một chữ, không giảm một phân! Tông môn sẽ phái trận pháp sư xuống tiếp quản toàn bộ mạng rễ Thạch Nê theo đúng trình tự định sẵn. Các ngươi chỉ có một nhiệm vụ duy nhất: ký tên, điểm chỉ, và làm theo sự chỉ đạo kỹ thuật của Chấp sự phòng để chuộc tội cho những lời càn rỡ hôm nay!"
"Chúng tôi không ký!"
Giữa áp lực đè nặng ngàn cân của tu sĩ Trúc Cơ, tiếng thét của Mộc An vang lên đanh gọn, không một chút run sợ. Nàng vươn tay chộp lấy bản khế ước ướt đẫm nước trà, vung mạnh tay ném ngược lại trước mặt Tống Khuê.
Tờ giấy xuyến chỉ bay lượn trong không khí rồi rơi bộp xuống vạt áo lam nhạt của y, mép giấy trượt dài trên mặt gỗ, chạm vào đống mảnh sứ vỡ vụn.
"Hội giữ đất Hạ Khê được thành lập để bảo vệ mảnh đất này cho những người đang đổ mồ hôi sống trên nó, chứ không phải để dâng nộp mạng sống cho lòng tham không đáy của các ngài!" Mộc An nhìn thẳng vào mắt Tống Khuê, lồng ngực nàng dù đau nhói vì áp lực linh khí nhưng ánh mắt vẫn sắc lẹm như gươm tuốt trần. "Chúng tôi thà chết đói vì tự canh tác trên đất nghèo, còn hơn ký vào bản án tử hình biến quê hương mình thành một hố chôn tro độc!"
Cuộc thương lượng chính thức đổ vỡ hoàn toàn. Giữa căn phòng nát ven Bến Tro, không còn sót lại lấy một kẽ hở nào để có thể thỏa hiệp hay nhân nhượng. Một bên là sự sống còn của những người bám rễ vào bùn đất; một bên là sự sinh tồn tuyệt vọng của một cỗ máy tu tiên đang rệu rã.
Tống Khuê nhìn tờ giấy nằm chỏng chơ dưới chân mình, vệt nước trà ố vàng loang lổ trên nền chữ mực đen. Ánh mắt y lạnh như băng tuyết trên đỉnh núi cao vào mùa đông khắc nghiệt. Y không rút kiếm, không nổi trận lôi đình gầm thét, cũng không ra lệnh cho đệ tử chém giết tại chỗ — sự tàn nhẫn của những kẻ nắm giữ quyền lực thể chế tối cao chưa bao giờ cần đến đao gươm trần trụi hay những giọt máu đổ vô ích trong căn nhà trạm hoang.
Khí thế Trúc Cơ cuồn cuộn bỗng nhiên thu hồi lại sạch sẽ, như thể chưa từng xuất hiện. Căn phòng trở lại vẻ ẩm thấp, ngột ngạt vốn có.
Y thong thả đứng dậy, đưa tay phủi nhẹ vạt áo bào màu lam không hề vướng lấy một hạt bụi trần. Hai đệ tử chấp sự lập tức tra kiếm vào vỏ cái "cạch", bước nhanh lên thu dọn khay trà gỗ mun và những mảnh sứ vỡ trên bàn cho vào hộp gấm mang theo.
"Rất tốt," Tống Khuê buông thõng một câu, giọng nói bình thản, trơn tru đến rợn người. "Các ngươi nghĩ rằng từ chối khế ước này là các ngươi giữ được khí tiết sao? Các ngươi nghĩ rằng quay lưng lại với sơn môn là các ngươi giữ được quyền tự quyết cho mảnh đất dưới chân mình?"
Y bước chậm rãi về phía cửa trạm dịch, đôi ủng da cao cấp nện đều đặn trên nền đất nện ẩm ướt:
"Các ngươi quên mất rằng con mương dẫn nước ngọt duy nhất từ trên núi chảy xuống Hạ Khê phải đi qua ba tầng trạm kiểm soát kiên cố của Thanh Lộ Tông. Các ngươi quên mất rằng để đưa một sọt rau cải, một gánh khoai hay một bao ngũ cốc qua trạm gác Bến Tro này để đem lên huyện đổi lấy hạt muối cắn đôi, các ngươi phải bước qua thanh chắn bằng gỗ nghiến của ai."
Y dừng lại ngay trước ngưỡng cửa trạm dịch, nơi ánh sáng ban ngày xám xịt hắt vào thân hình cao lớn của y. Tống Khuê quay đầu lại, nhìn hai anh em Mộc gia bằng nửa con mắt khinh miệt và tàn nhẫn:
"Nếu Tức Căn không thể đem lại linh khí thuần tịnh để bù đắp cho sự tồn vong của sơn môn, thì tông môn việc gì phải hao tổn tài nguyên, hao tổn nhân lực để duy trì dòng nước ngọt cho các ngươi sinh sống? Việc gì chúng ta phải nhọc công ngăn cặn lò luyện đan xả xuống lòng lạch? Việc gì chúng ta phải bảo vệ một lũ nông phu cứng đầu, không biết phân biệt thời thế và đại cục? Hãy nhớ lấy lời ta nói hôm nay: trong vòng ba ngày, nếu bản khế ước này không có đủ mười hai dấu điểm chỉ bằng máu của mười hai hộ dân Hạ Khê nộp lên Chấp sự phòng..."
Tống Khuê nhếch môi, nụ cười lạnh buốt như ngọn gió mùa đông thổi qua bãi tha ma:
"...các ngươi sẽ biết thế nào là một vùng đất bị bỏ rơi thực sự. Các ngươi sẽ biết mùi vị của tro độc và bùn quặng khi không còn một giọt nước ngọt nào chảy qua bến bãi này."
Dứt lời, Tống Khuê không thèm nhìn lại một lần nào nữa, sải bước dứt khoát ra khỏi trạm dịch. Hai tên đệ tử chấp sự xách hòm đồ theo sát phía sau.
Bên ngoài, tiếng roi da quất mạnh vào không khí vang lên giòn giã. Tiếng vó ngựa nện dồn dập trên nền đường rải đá dăm ven sông, tiếng bánh xe nghiến rào rạo rồi xa dần, nhỏ dần, cuối cùng chìm hẳn vào màn sương mù xám đục của buổi sớm ven sông. Gian nhà trạm hoang vắng trở lại với sự cô tịch tuyệt đối, chỉ còn tiếng gió rít qua những khe nứa mục nát và tiếng nước sông vỗ ì ọp vào bờ đá bám đầy váng quặng rỉ sét.
Trong phòng, mùi trọc tức khét lẹt từ mẩu rễ cháy đen vẫn quẩn quanh không chịu tan đi.
Mộc Tầm đứng sững bên chiếc bàn gỗ, hai tay chống chặt lên mặt ván xù xì, ngực phập phồng từng cơn dồn dập. Những giọt mồ hôi lạnh toát ra trên trán anh, chảy dài xuống gò má gầy guộc cháy nắng. Anh biết rõ, hơn ai hết, lời đe dọa của Tống Khuê không phải là một lời hù dọa suông của kẻ thua cuộc trong tranh biện. Đó là một bản án đã được định sẵn ngày thi hành.
Đợt xả cặn đáy kinh hoàng từ các lò luyện đan trên đỉnh núi mà Lâm Diệp liều mình cảnh báo chỉ còn cách họ chưa đầy bốn mươi tám canh giờ nữa. Chất độc tích tụ cả năm trời của sơn môn sẽ theo dòng nước cuốn phăng mọi thứ. Và giờ đây, nguồn nước ngọt duy nhất nuôi sống xóm làng sắp sửa bị khóa chặt bởi ba tầng cổng van; trạm gác Bến Tro sẽ hạ thanh chắn xuống, siết nghẹt hoàn toàn con đường giao thương buôn bán nuôi sống mười hai gia đình; và những trận bàn thu khí cưỡng chế tàn bạo có thể ập xuống đồng ruộng bất cứ lúc nào dưới danh nghĩa thi hành khế ước địa mạch ngàn năm của phủ Bình Xuyên.
Họ không còn đường lùi. Phía sau lưng họ là vực thẳm của sự tuyệt diệt.
Nếu chỉ dựa vào luật lệ miệng của làng xóm nghèo nàn, nếu chỉ bấu víu vào sức lực cơ bắp của mười hai hộ dân đói ăn quanh năm suốt tháng, họ sẽ bị cỗ máy khổng lồ, lạnh lùng của sơn môn nghiền nát thành tro bụi mà không để lại một tiếng vang nào giữa cõi đời này. Những người có quyền lực trên núi sẽ không bao giờ nhìn xuống để thấy những nốt rễ đang rỉ máu trong bùn đất.
"Anh hai," Mộc An khẽ gọi.
Giọng nàng run rẩy vì cơn giận chưa nguôi và sự mệt mỏi sau khi gồng mình chống lại áp lực Trúc Cơ, nhưng khi Tầm ngẩng đầu lên nhìn, anh thấy đôi mắt nàng lại sáng quắc một sự quyết tâm lạnh lùng, sắc sảo đến kỳ lạ. Đó là ánh mắt của người con gái đã từng thức thâu đêm bên ngọn đèn dầu để đọc hết từng pho sách luật cũ rích, từng cuốn địa chí phủ huyện để tìm đường sống cho gia đình.
"Chúng ta phải đi thôi. Ở đây thêm một khắc cũng vô ích."
Mộc Tầm nuốt khan một ngụm nước bọt đắng chát trong cổ họng, gật đầu chậm rãi. Anh vươn tay phủ lại tấm bao tải ướt lên miệng chậu gốm, che đi mẩu tro tàn của nhánh rễ Tức Căn vừa bị thiêu rụi. Mộc An cẩn thận nhặt cuốn sổ ghi chép bìa da cừu lấm lem trên bàn, đặt lại vào trong chiếc hòm gỗ nhỏ của Hội, rồi tra khóa đồng bấm chặt lại.
Hai anh em lặng lẽ bước ra khỏi trạm dịch Bến Tro.
Gió sông vẫn thổi rát mặt. Họ bước đi bên nhau dưới bầu trời xám xịt nặng trĩu những đám mây mù mang theo hơi nước độc hại của vùng lòng chảo. Con đường đất đắp dẫn về xóm Giếng Cạn dường như dài hơn, gập ghềnh hơn mọi ngày gấp mười lần. Từng bước chân lún sâu vào lớp bùn dẻo quánh, trĩu nặng như đeo đá.
Xa xa, những mái nhà tranh xiêu vẹo, vách đất tróc lở của mười hai hộ dân hiện ra mờ ảo trong làn sương ẩm ướt, trông cằn cỗi và thê lương như những nấm mồ chực chờ bị đất trời vùi lấp vĩnh viễn. Đâu đó trong xóm, tiếng một đứa trẻ đói ăn khóc ngặt nghẽo vọng lại, tiếng kim loại gõ lách cách của người thợ rèn sửa lại chiếc cuốc cùn, tiếng ho khan dai dẳng của những người già bị khí độc ngấm vào phổi từ thuở ấu thơ. Nguy cơ bị tước đoạt đất đai, nguy cơ mất trắng nguồn sống và một thảm họa bùn độc sắp ập xuống đang treo lơ lửng như một lưỡi rìu sắc bén ngay trên đầu từng gia đình khốn khổ nơi đây.
Về đến gian nhà vách đất ọp ẹp của hai anh em ở đầu xóm Giếng Cạn, không khí bên trong lạnh lẽo và ẩm ướt chẳng khác gì ngoài đồng. Mộc An không buồn tháo chiếc khăn vải thô trùm đầu đang sũng nước sương. Nàng đẩy cánh liếp tre khép hờ, bước thẳng vào gian buồng trong tăm tối và nồng nặc mùi thuốc sắc dở.
Nơi chiếc giường tre ọp ẹp kê sát vách đất nứt nẻ, mẹ của hai người đang nằm co quắp dưới tấm chăn vá chằng vá đụp, vừa thiếp đi sau một cơn ho rút ruột rút gan kéo dài suốt từ nửa đêm. Tiếng thở của bà khò khè, nặng nhọc, từng hơi thở phập phồng yếu ớt như ngọn đèn cạn dầu trước gió lùa qua khe liếp.
Mộc Tầm đứng tựa lưng vào mép cửa gỗ, hai tay buông thõng, ánh mắt lặng lẽ nhìn vào góc buồng tối tăm. Lòng anh thắt lại từng cơn cay đắng. Mẹ anh đã thở thứ khí độc này suốt bốn mươi năm, phổi của bà đã biến thành đá xỉ, và nếu ba ngày nữa dòng nước ngọt bị cắt, nếu tro độc từ lò đan tràn về, bà sẽ là người đầu tiên không thể qua khỏi.
Mộc An không chần chừ một khắc nào. Nàng quỳ thụp xuống nền đất nện ẩm ướt bên mép giường, vén gấu áo chẽn lên rồi thò tay sâu vào khoảng tối mịt mùng dưới gầm chiếc giường tre cũ kỹ.
Bàn tay nàng lần mò trong góc kẹt, chạm vào lớp rơm khô phủ dày để chống ẩm, rồi lôi ra một chiếc hòm gỗ nhỏ chỉ dài chừng một gang tay, to bằng bắp tay người lớn. Chiếc hòm phủ đầy bụi tro xám và những mảng mạng nhện giăng bám dày đặc qua nhiều năm tháng không đụng tới.
Nàng đưa tay áo lau vội lớp bụi bám trên mặt gỗ long não đã xỉn màu. Bằng một động tác dứt khoát, Mộc An bật chốt khóa bằng đồng thau đã han gỉ xanh rì. Nắp hòm bật mở với một tiếng "tách" khô khốc vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch.
Dưới đáy hòm, nằm gọn gàng bên cạnh một mảnh giấy biên nhận thuế đất cũ nát, là một bọc vải bố thô ráp đã sờn rách hết các góc mép. Mộc An cẩn thận nâng bọc vải lên bằng cả hai tay, đặt lên đùi rồi mở từng lớp vải gói chặt chẽ.
Bên trong bọc vải là vài chục đồng tiền đồng xỉn màu, mép đồng đã mòn vẹt qua bao bàn tay trao đổi, và một nắm bạc vụn nhỏ xíu — những mẩu bạc cắt vụn to nhỏ không đều, xám xịt nhưng nặng trịch.
Đó là toàn bộ số tiền mà Mộc An đã chắt bóp, dành dụm kiệt cùng trong suốt ba năm ròng rã. Từng đồng tiền công còm cõi từ những đêm thức trắng chép thuê văn bản, khế ước cho các thương lái qua bến sông; từng mẩu bạc vụn đổi được từ những sọt rau cải dại, những bó cỏ thuốc nàng cùng anh trai lặn lội hái trộm từ các hốc đá hiểm trở ven chân núi. Số tiền ấy vốn dĩ được giấu kín như một bí mật sinh tử, một lối thoát cuối cùng được cất giữ để làm lộ phí đưa mẹ và hai anh em rời bỏ quê hương, trốn chạy vào sâu trong đất liền nếu một ngày kia đất đai Hạ Khê hoàn toàn chết hẳn, biến thành vùng đất cấm không còn đường dung thân.
Nàng nhìn những mẩu bạc lấp lánh mờ nhạt trong ánh sáng yếu ớt của gian buồng, hít một hơi thật sâu rồi túm chặt các góc bọc vải lại, thắt nút thật chắc quanh miệng túi.
Mộc An mở hòm gỗ nhỏ dưới gầm giường, lấy ra túi bạc vụn dành dụm bấy lâu để chuẩn bị lộ phí lên huyện.