Cuối năm, người làm vườn của An Hải
Gió chướng cuối năm thổi những làn hơi biển mằn mặn qua rặng phi lao, mang theo hương thơm ngai ngái của đất ải, mùi lá chuối hơ lửa gói bánh tét sớm và sắc vàng rực rỡ của những chậu cúc vạn thọ trổ hoa đều tăm tắp trước hiên nhà.
Thị trấn An Hải những ngày hăm tám, hăm chín tháng Chạp khoác lên mình một diện mạo khác hẳn vẻ trầm mặc, khắc khoải thường nhật của một dải đất bãi ngang quanh năm cằn cỗi vì nắng hạn và bão muối. Con đường đất đỏ chạy dọc bờ đê xóm Cát nay rộn rã bước chân người qua lại, bụi cát mịn cuốn theo từng vòng bánh xe lôi chở đầy những trái dưa hấu vỏ xanh sẫm ruột đỏ au, bóng lưỡng dưới nắng trưa. Tiếng cười nói sang sảng của những bà má đi chợ sớm về, tiếng lũ trẻ í ới khoe manh áo mới, cùng tiếng loa truyền thanh mắc trên ngọn dừa đầu xóm rộn rã phát những điệu dân ca bài chòi đón xuân khiến không gian như bừng tỉnh sau một năm dài oằn mình gánh chịu bao phen thử thách khốc liệt của đất trời.
Nằm ngay góc ngã ba dẫn ra Bãi Sau, gian nhà kho trước kia vốn bề bộn sắt rỉ, ngổn ngang những xác máy nông nghiệp bỏ xó và bốc mùi dầu cháy nay đã được dựng lại khang trang. Mái tôn fibro xi-măng cũ đã được thay bằng ngói lợp kiên cố, xà gồ gỗ tràm quét dầu rái chống mối mọt, phía trước hiên treo ngay ngắn một tấm biển gỗ sao mộc mạc khắc chìm bốn chữ sơn son: *Tổ hợp Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp An Hải*.
Đây là thành quả chung sau bao tháng ngày chắt chiu mồ hôi, trí lực của chàng kỹ sư trẻ Tạ Hoàng Minh và người thợ cơ khí già Nguyễn Văn Phước. Suốt từ tờ mờ sáng, khi sương mù biển còn bảng lảng vương trên các ngọn cọc tiêu bờ đê, gian xưởng đã rộn rã một chuỗi âm thanh đan xen kỳ lạ giữa cái xưa cũ mộc mạc và cái tối tân chuẩn xác: tiếng búa gõ đanh thép trên đe gang, tiếng máy tiện gọt phoi thép rào rào hòa cùng tiếng rè rè êm ái của thiết bị quét xung chẩn đoán điện tử.
Bác Bảy Phước quấn chiếc khăn rằn sọc xanh đen ngang trán, để lộ đôi chân mày rậm bạc hoa râm đang nhíu chặt lại. Đôi cánh tay gân guốc đen sạm vì gió muối biển và chi chít những vết sẹo bỏng xỉ hàn đang ghì chặt lấy một trục cánh quạt máy bơm chìm ba pha. Ngọn lửa hàn xì màu xanh lè le lói hắt lên gương mặt góc cạnh đầy nếp nhăn của ông những vệt sáng chập chờn, ma mị. Vừa dập que hàn cháy dở xuống chậu nước làm bốc lên một làn khói trắng kèm tiếng *xèo* giòn tan, ông vừa ngẩng đầu càu nhàu với vẻ xởi lởi, hào sảng vốn có của một lão thợ già đất biển:
— Thằng Minh! Đo lại cho tao con lắc của cái mô-tơ bơm nước mặn nhà ông Tám coi. Tao đắp thêm hai ly đồng thau chống mòn vô ngay cổ trục rồi đó. Mi xem thử coi khe hở bạc thau có ôm khít chưa, hay lại đòi vặn tới vặn lui bằng ba cái thuật toán đồ họa trên máy tính của mi mới chịu?
Bên chiếc bàn làm việc bằng gỗ thau lau chùi sạch bóng kê sát cửa sổ lộng gió biển, Minh ngẩng lên mỉm cười. Không gian làm việc của anh là sự giao thoa kỳ lạ giữa cơ xưởng truyền thống và phòng thí nghiệm hiện đại: bên cạnh những chiếc cờ-lê số 17, số 19 mòn vẹt đầu, những mỏ-lết răng dính dầu luyn đen nhánh là chiếc máy hiện sóng cầm tay hai kênh, hộp nạp vi điều khiển và màn hình chẩn đoán hiển thị sơ đồ mạch logic của các dòng máy nông nghiệp thế hệ mới.
Minh cầm đầu dò cảm biến quang học quét chầm chậm dọc theo thân trục máy bơm. Trên màn hình máy hiện sóng, một dải xung nhịp màu xanh lục dao động đều đặn, đường cong biên độ mượt mà không hề xuất hiện bất kỳ một gai nhiễu hay độ lệch nào. Anh quay sang nhìn bác thợ già, ánh mắt tràn đầy sự khâm phục:
— Khít rịt tới từng phần mười mi-li-mét luôn bác Bảy ơi. Tay nghề tiện rãnh thoát nước và đắp hợp kim đồng thau của bác thì ngay cả máy quét quang học tối tân của tụi cháu cũng phải chịu thua, tìm mỏi mắt chẳng ra nổi nửa điểm lệch chuẩn. Bạc thau ôm vừa khít thế này thì máy bơm của ông Tám có chạy liên tục ba vụ muối nữa cũng không lo cát lọt vào làm xước cốt.
— Rõ khỉ! — Bác Bảy Phước bật cười khà khà, đưa mu bàn tay cáu bẩn mỡ bò quẹt vội giọt mồ hôi đang rịn ra nơi cánh mũi. — Máy với móc! Dẫu có tinh vi tới đâu thì cái gốc của nó vẫn là sắt, là thép, là đồng. Cứ phải có con mắt người từng trải ngó vô, có bàn tay người thợ rờ nắn từng thớ kim loại thì máy nó mới chịu nghe lời, mới có cái hồn của nghề được. Mà này, cái máy bơm tõm của bà Tư Chắt mi xử lý xong chưa? Chiều nay con nước ròng kiệt nhất tháng, bả phải tranh thủ tát cạn nốt vạt mương xả phèn bên bãi trũng để kịp đón nước ngọt từ kênh dẫn vô ngâm ruộng mạ đấy. Trễ con nước là lỡ cả vụ đông xuân của người ta.
— Cháu thay xong tụ kích điện áp cao và hàn kín zoăng cao su lưu hóa chống nước biển xâm nhập rồi bác. — Minh chỉ tay về phía chiếc máy bơm sơn màu xanh lá cây nằm ngay ngắn cạnh ngõ ra vào, trên vỏ máy dán một tấm nhãn kiểm định bằng nhựa mica trong suốt ghi rõ ngày bảo trì. — Nhà bà Tư neo đơn, con cái đi làm ăn xa mãi trong miền Tây chưa về, theo đúng quy chế đã thông qua của tổ hợp mình, cháu gạch chéo sổ, miễn toàn bộ một trăm phần trăm cả tiền công lẫn tiền phụ tùng thay thế. Bác cứ yên tâm, lát nữa trên đường qua bên trường tiểu học kiểm tra lại đường ống tưới, cháu sẽ chở ngang giao tận hiên nhà cho bà, cắm điện thử tải đàng hoàng mới về.
Bác Bảy Phước nghe vậy thì khẽ gật gù, ánh mắt người thợ già dừng lại trên cuốn sổ tay kỹ thuật bìa da dày cộm nằm ngay ngắn ở góc bàn Minh. Cuốn sổ ấy ghi chép cẩn thận từng chiếc máy nổ, từng máy xới tay, từng mô-tơ bơm chìm của từng hộ nông dân trong xã Hải Bình và thị trấn An Hải. Nhưng điều làm ông Bảy tự hào nhất không phải là những con số doanh thu, mà là một cột thu chi riêng biệt được đóng khung cẩn thận: *Quỹ bảo trợ kỹ thuật Gió và hỗ trợ cơ giới hóa cộng đồng*. Ba mươi phần trăm lợi nhuận thu được từ các hợp đồng sửa chữa máy lớn của các chủ đầm tôm khá giả đều được trích thẳng vào quỹ này, dùng để mua linh kiện thay thế miễn phí cho các hộ nghèo và chế tạo các cụm nông cụ tự chế phù hợp với thổ nhưỡng bãi cát.
Đáy mắt bác Bảy ánh lên một niềm hài lòng sâu kín, pha lẫn chút xúc động bùi ngùi. Mới hơn một năm trước thôi, người làng An Hải còn chứng kiến một Tạ Hoàng Minh thất thểu từ phố thị trở về, mang theo nỗi chán chường cay đắng của một kỹ sư công nghệ bị sa thải, giam mình trong căn phòng tối với những hoài bão tan vỡ. Còn người thợ già như ông thì bất lực nhìn những chiếc máy nông nghiệp hiện đại bị khóa mã điện tử, trở thành những đống sắt vụn vô tri khi các tập đoàn lớn từ chối bảo hành vùng sâu vùng xa.
Thế mà giờ đây, khi kiến thức phần mềm nhạy bén của Minh kết hợp với kinh nghiệm cơ khí nửa thế kỷ của ông, thị trấn nghèo này như được tháo bỏ một chiếc gông cùm vô hình. Người nông dân không còn phải thấp thỏm lo máy móc hỏng hóc ngay giữa mùa thu hoạch, cũng chẳng còn cảnh bị các hãng thiết bị chèn ép bằng những gói dịch vụ độc quyền với giá cắt cổ. Đất xóm Cát đã có người thợ giữ máy, người kỹ sư giữ hồn.
— Thôi, mi lo đi sang trường đi kẻo cô giáo Vân chờ. — Bác Bảy Phước xua xua tay, nheo mắt cười đầy ngụ ý. — Cơm nước trưa nay cứ để tao với thằng Cu Em lo dọn dẹp xưởng. Đi đứng cho cẩn thận, mang theo mấy cái đầu nối ống nhỏ giọt dự phòng, hôm qua tao thấy con bé Vân nói giàn cà chua bên hông lớp học có mấy nhánh bị nghẹt cặn vôi đấy.
— Dạ, cháu nhớ rồi bác. Cháu đi một lát rồi về phụ bác dọn đe búa ăn Tết.
Rời khỏi xưởng máy rộn rã than lửa và nồng nặc mùi dầu mỡ công nghiệp, Minh xách túi đồ nghề bằng vải bạt bước thong thả trên con đường liên thôn dẫn về phía Trường Tiểu học Hải Bình. Nắng tháng Chạp không còn cái gay gắt thiêu đốt của mùa hè, mà rót xuống một màu vàng sánh như mật ong non, rải đều lên những rặng phi lao đang khẽ nghiêng mình theo từng đợt gió biển rì rào.
Ngôi trường làng từng có thời điểm đối mặt với nguy cơ bị xóa sổ hoàn toàn vì thiếu sĩ số, nay như vừa được hồi sinh với một luồng sinh khí mới mẻ. Dọc theo lối đi lát gạch dẫn vào dãy phòng học cấp bốn mới được sơn lại màu vàng nhạt, những chậu hoa mào gà đỏ thắm, hoa cúc vạn thọ vàng rực rỡ và những khóm hoa mười giờ tím biếc đang đua nhau khoe sắc trong làn gió bấc se lạnh.
Thế nhưng, điểm cuốn hút nhất, nơi tập trung toàn bộ niềm tự hào và công sức của thầy trò trường Hải Bình suốt mấy mùa vụ qua, lại nằm ở phía sau sân trường: khu vườn sinh học thực nghiệm rộng hơn hai trăm mét vuông.
Mảnh đất này vốn trước kia là một bãi cát lẫn san hô chết cằn cỗi, nơi cỏ dại cũng khó lòng bén rễ vì nhiễm mặn sâu. Vậy mà giờ đây, hiện ra trước mắt Minh là những luống cải bẹ xanh mướt mát, những hàng đậu cô ve đang trổ từng chùm hoa tim tím e ấp dưới vòm lá, và đặc biệt là giàn cà chua chịu mặn quả trĩu trịt, từng chùm ba chùm bốn đang chuyển sang sắc đỏ au căng mọng.
Dưới giàn tre vững chãi, cô giáo Trần Ngọc Vân đang cẩn thận dùng những sợi dây chuối khô buộc lại một vài nhánh cà chua bị gió chướng lay nghiêng. Cô mặc chiếc áo sơ mi màu lam giản dị, ống tay áo xắn cao để lộ đôi cẳng tay trắng trẻo lấm tấm vài vệt bùn đất ẩm, mái tóc đen mượt buộc gọn sau gáy, gương mặt ửng hồng dưới ánh nắng sớm mai.
Nghe tiếng bước chân lạo xạo trên lối rải sỏi biển, Vân quay đầu lại. Khi nhận ra dáng người quen thuộc của Minh, nụ cười dịu dàng, trong trẻo như sương sớm lập tức bừng nở trên môi cô:
— Anh Minh! Em cứ tưởng sáng nay xưởng cơ khí bận ngập đầu ngập cổ với mớ máy bơm của các hợp tác xã cơ mà? Sao anh bảo trưa muộn mới ghé qua được?
— Bận thì bận thật, nhưng lịch hẹn kiểm tra lại toàn bộ van áp suất của hệ thống tưới nhỏ giọt với cô giáo Vân thì làm sao trễ được. — Minh dừng bước bên mép luống rau, nhẹ nhàng đặt chiếc túi đồ nghề nặng trịch xuống bờ gạch, ánh mắt dừng lại trên gương mặt cô với một vẻ ấm áp, trìu mến không hề giấu giếm. — Vả lại, anh phải mang tập đề cương chi tiết của môn Nông nghiệp thực nghiệm sang để em duyệt lần cuối, chỉnh sửa câu chữ cho đúng chuẩn sư phạm trước khi nộp lên Phòng Giáo dục huyện vào đầu tuần tới chứ.
Hai người sóng bước đi dạo chậm rãi giữa những luống rau xanh ngút ngàn, tiếng lá cải non khẽ cọ vào ống quần phát ra những âm thanh êm dịu. Không khí quanh họ thoảng mùi đất ẩm được ủ hoai kỹ lưỡng từ phân trùn quế quyện với mùi tro trấu và vị nồng cay the the của tinh dầu lá cải.
Khoảng cách ngập ngừng, e ấp và đầy mặc cảm của những ngày đầu tiên khi Minh mới thất thểu rời thành phố trở về — mang theo vết thương lòng của một kẻ tự coi mình là thất bại — nay đã hoàn toàn tan biến. Thay vào đó là một sự thấu hiểu sâu sắc, bền chặt và tự nhiên như hơi thở, được tôi luyện qua những mùa hạn cháy da người, những ngày dầm mình trong mưa giông để che chắn từng vạt rau, và những đêm cùng nhau thức trắng bên màn hình máy tính để giải bài toán giải mặn cho đất xóm Cát.
— Anh xem này, — Vân cúi người nâng niu một chùm cà chua mọng nước, đôi mắt lấp lánh niềm vui thuần khiết của một người gieo hạt — nhờ quy trình thau chua đón lũ và cách ủ đất với tro bếp vỏ đậu mà Gió đã hướng dẫn hồi đầu vụ, đợt này năng suất của vườn trường vượt ngoài mọi dự tính. Hôm qua họp phụ huynh cuối năm, bố mẹ các em mừng lắm. Bác Hội trưởng hội phụ huynh còn đứng lên phát biểu giữa sân trường, bảo rằng nhờ có khu vườn này mà bọn trẻ con trong xóm biết quý từng hạt lúa, củ khoai. Đi học về là đứa nào đứa nấy rủ nhau chạy ùa ra vườn bắt sâu, nhổ cỏ, tưới cây, chẳng còn đứa nào mè nheo đòi dán mắt vào màn hình điện thoại nữa.
Minh mở chiếc túi bạt, lấy ra tập tài liệu dày dặn được bấm ghim phẳng phiu, lật từng trang giáo án được đánh máy và vẽ sơ đồ cẩn thận:
— Sang học kỳ hai, mình sẽ chính thức đưa thêm hai chuyên đề mới vào chương trình thực nghiệm: "Vòng tuần hoàn nước mặn - nước ngọt" và "Cơ chế tự thích ứng của thực vật vùng bãi ngang duyên hải". Anh đã lập trình xong một giao diện mô phỏng trực quan dạng đồ họa đơn giản, cài sẵn vào năm chiếc máy tính bảng cũ mà thư viện huyện mới cấp về. Bọn trẻ có thể tự tay cầm đầu dò cắm xuống đất đo độ ẩm, nhập số liệu thực tế rồi đối chiếu với biểu đồ sinh trưởng của cây trên máy. Bác Bảy Phước cũng đã gật đầu đồng ý, mỗi tháng bác sẽ dành trọn hai buổi chiều thứ Bảy để sang đây hướng dẫn các cháu kỹ năng cơ khí nông cụ căn bản: từ cách mài chiếc lưỡi cuốc sao cho bén, cách tra dầu mỡ vào trục xe rùa, cho đến nguyên lý hoạt động của một chiếc đòn bẩy.
Vân chăm chú nhìn từng dòng chữ ngay ngắn, những nét vẽ phác thảo mô hình tuần hoàn nước được Minh chú thích tỉ mỉ bằng mực xanh mực đỏ. Cô ngước nhìn người kỹ sư trẻ, một cơn gió chướng thổi qua làm bay lòa xòa vài lọn tóc mai trước trán, ánh mắt cô lung linh một niềm cảm kích sâu xa:
— Biết ơn anh nhiều lắm, Minh à. Nếu như ngày đó anh không kiên quyết ở lại mảnh đất này, nếu không có bàn tay tài hoa của anh và bác Bảy Phước, và nhất là nếu không có sự tận tụy không mệt mỏi của Gió... có lẽ ngôi trường Hải Bình này đã vĩnh viễn bị xóa tên trên bản đồ giáo dục của huyện rồi. Tháng trước, Phòng Giáo dục đã chính thức ký quyết định hủy bỏ hoàn toàn kế hoạch sáp nhập trường mình về trường thị trấn. Năm tới, trường Hải Bình còn được chọn làm mô hình điểm sáng của toàn tỉnh về giáo dục sinh thái gắn liền với sinh kế cộng đồng đấy anh.
— Đừng nói lời cảm ơn với một mình anh. — Minh khẽ lắc đầu, giọng anh trầm lắng xuống, chất chứa những rung động tự đáy lòng. — Chính sự kiên định không chịu buông tay của em với từng đứa trẻ nghèo nơi đây, sự bao dung vô bờ bến của bà nội, và cả tinh thần quật cường không bao giờ chịu khuất phục sương muối của bà con xóm Cát mới là thứ neo giữ anh lại. Ngày trước ở thành phố, ngồi trong những tòa cao ốc máy lạnh kín bưng, anh cứ ngây thơ ảo tưởng rằng phải viết ra được những dòng mã thuật toán triệu đô, phục vụ cho những tập đoàn đa quốc gia thì mới gọi là tạo ra giá trị to lớn cho xã hội. Mãi đến khi trở về đây, cùng em, cùng bà nội và cỗ máy Gió gieo từng hạt mầm trên dải cát mặn mòi này, anh mới vỡ lẽ ra một điều giản dị: công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa tối thượng khi nó biết cúi mình xuống, chạm thật sâu vào lòng đất mẹ cằn cỗi và chở che, nâng niu sự sống của những con người bình dị nhất.
Vân khẽ mỉm cười, đôi má ửng hồng dưới ánh nắng ban trưa. Giữa làn gió biển mằn mặn xào xạc thổi qua những luống đậu đang đung đưa cành lá, hai bàn tay họ khẽ chạm vào nhau trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Không còn chút ngập ngừng hay e ngại nào của những ngày xưa cũ, chỉ còn lại sự ấm áp, tin cậy và bình yên vô bờ của hai tâm hồn đã tìm thấy chung một lý tưởng sống, cùng nhìn về một hướng đi trên dải đất quê hương.
***
Trong khi đó, tại khoảng sân gạch bát tràng đã nhuốm màu rêu phong cổ kính trước gian nhà ba gian của bà Lành, không gian lại lắng đọng trong một vẻ êm đềm, tĩnh tại rất riêng của buổi chiều cuối năm.
Ánh nắng chiều nghiêng nghiêng dát một lớp vàng mỏng manh xuyên qua những tán lá xanh um của cây khế cổ thụ bốn mươi năm tuổi nằm sừng sững bên góc sân. Cây khế già từng bị cơn bão số bốn hung hãn quật gãy ngang cành cái, thân cây từng nghiêng ngả tưởng chừng như sắp bật gốc năm nào, nay đã hồi sinh một cách kỳ diệu. Từ những vết sẹo vỏ xù xì được đắp đất bùn và quấn rơm giữ ẩm, hàng chục nhánh non mập mạp đã vươn lên đón nắng, trổ ra muôn vàn chùm hoa li ti màu tím hồng kết thành từng dải rực rỡ, báo hiệu một mùa quả ngọt trĩu cành sắp sửa đơm bông trong năm mới.
Ngay dưới bóng râm xanh mát rượi của cây khế cổ thụ ấy, cỗ máy G-7 — người bạn thân thương mà cả làng An Hải quen gọi bằng cái tên "Gió" — đang cặm cụi, tỉ mẩn làm việc.
Thân hình đồ sộ bằng hợp kim của cỗ máy nay đã mang một diện mạo độc nhất vô nhị, khác xa với bất kỳ mẫu người máy nông nghiệp công nghiệp tiêu chuẩn nào xuất xưởng từ các dây chuyền lắp ráp tự động. Khớp gối chân trái làm bằng thép không gỉ mác SUS 316 — loại thép chuyên dùng cho chân vịt tàu biển — được bọc ngoài bằng lớp cao su lưu hóa đen bóng, vận hành êm ru tuyệt đối mà không còn phát ra một tiếng rít ken két khó chịu nào do cát thạch anh chui vào ổ bi như những ngày đầu. Khoang bảo vệ vi xử lý trung tâm và khối pin nguồn được gia công, gò đúc từ lốc máy của một con tàu cá Nhật bãi ánh lên sắc xám bạc lầm lì, phong trần và vững chãi trước gió mặn.
Và nổi bật nhất, ngay chính giữa lồng ngực bọc giáp hợp kim của cỗ máy, một tấm biển đồng thau dày dặn được chính tay bác Bảy Phước dùng đục sắt chạm trổ thủ công đang phản chiếu ánh nắng lấp lánh dòng chữ khắc sâu: *G-7 GIÓ - NGƯỜI LÀM VƯỜN CỦA THỊ TRẤN AN HẢI (Giấy phép đặc cách số 318/QĐ-UBND)*.
Gió đang dùng chiếc cào sắt ba răng nhỏ được gắn tinh tế ở đầu ngón tay máy tỉ mỉ xới từng vụn đất cát quanh những gốc cúc vạn thọ trồng trong những chiếc chậu sành tráng men da lươn. Thao tác của cỗ máy chậm rãi, nhịp nhàng và đạt tới độ chuẩn xác tuyệt đối. Cánh tay cơ khí nặng nề hạ xuống nhẹ nhàng với một lực nén được tính toán vừa đủ đến từng gam, làm tơi xốp lớp đất mặt khô cằn để rễ cây dễ thở mà tuyệt nhiên không chạm xước hay làm đứt dù chỉ một sợi rễ tơ mong manh của hoa cúc.
Bên cạnh cỗ máy, cậu bé Lê Gia Bảo mười tuổi đang nhảy chân sáo lon ton quanh những viên gạch viền bồn hoa. Bảo mặc chiếc áo thun màu xanh biển mới tinh mà mẹ cậu vừa mua sắm ở phiên chợ Tết thị trấn chiều hôm qua, trên tay ôm khư khư một cuốn sổ bìa cứng bọc giấy báo cũ đã sờn rách bốn góc mép — cuốn "Từ điển của Gió" mà cậu bé coi như báu vật bất ly thân.
Kế hoạch đưa con vào khu công nghiệp Bình Dương làm công nhân may của mẹ Bảo đã vĩnh viễn bị hủy bỏ từ nhiều tháng trước. Nhờ những vụ mùa rau sạch bội thu ở vùng bãi cát trũng Bãi Sau và xưởng cơ khí công nghệ cao của chú Minh đi vào hoạt động ổn định, xóm Cát đã có thêm nhiều việc làm mới với thu nhập ổn định cho người dân địa phương. Mẹ Bảo quyết định ở lại quê nhà, đảm nhận khâu sơ chế, phân loại và đóng gói nông sản đạt chuẩn an toàn cho Hợp tác xã rau sạch An Hải.
Nhờ thế, Bảo được tiếp tục cắp sách tới ngôi trường tiểu học Hải Bình thân yêu, được ngày ngày chạy nhảy trên con đường đê lộng gió, và quan trọng nhất là được tiếp tục làm chân "trợ lý đo độ ẩm đất bằng ngón tay" cho người bạn máy móc khổng lồ của mình.
Cậu bé ngồi xổm xuống một viên gạch thẻ kê sát gốc khế, đặt cuốn sổ lên đầu gối rồi lật lật từng trang giấy trắng chi chít những nét chữ viết tay nắn nót xen lẫn những hình vẽ ngộ nghĩnh mô tả các bộ phận của Gió. Bảo ngước đôi mắt tròn xoe, đen láy và trong veo lên nhìn cỗ máy, cất tiếng hỏi giòn tan phá tan bầu không khí tĩnh mịch của buổi chiều:
— Gió ơi! Cậu có còn nhớ đúng ngày này năm ngoái không?
Cỗ máy dừng nhẹ chiếc cào sắt giữa không trung. Khớp cổ máy khẽ xoay một góc hai mươi độ phát ra tiếng rù rì êm ái của bánh răng truyền động siêu nhỏ, hệ thống camera quang học đa quang phổ quét qua gương mặt rạng rỡ của cậu bé. Từ khối loa thoại chống nước gắn bên dưới lồng ngực hợp kim, âm thanh điện tử trầm ấm, tròn vành rõ chữ vang lên:
— *Tôi nhớ rất rõ, Gia Bảo. Hôm nay là ngày 28 tháng Chạp năm 2058. Đúng 365 ngày trước, bà Lành đã dùng chiếc xe kéo ba gác cũ đưa tôi từ bãi phế liệu của chú Chín về gian sân này. Khi ấy, tổng dung lượng pin của tôi chỉ còn 12%, khớp gối kẹt 78% cát thạch anh, và bộ nhớ chỉ có nhiệm vụ duy nhất: nhổ cỏ và bơm nước.*
Bảo cười tít mắt, để lộ hai chiếc răng sún ngộ nghĩnh. Ngón tay nhỏ nhắn của cậu bé lướt qua từng dòng chữ đã hơi nhòe mực trong cuốn sổ tay:
— Thế mà bây giờ cậu nhìn xem, cậu đã có cả một cuốn từ điển dày cộp toàn những từ ngữ đặc biệt nè! Này nhé: "Mỏi chân" không phải là đau cơ bắp như người ta, mà là khi ổ bi bị cát biển nêm chặt làm động cơ bước bị quá tải nhiệt; "Cô đơn" là khi cảm biến quang học quét liên tục ba mươi sáu chu kỳ mà chỉ trả về kết quả rỗng, không tìm thấy bóng áo bà ba của bà Lành đâu cả; còn "Nỗi nhớ" là khi các khối dữ liệu hình ảnh về một người cứ tự động chạy lặp đi lặp lại trong bộ nhớ đệm dù chẳng có tác vụ nông nghiệp nào yêu cầu tới... Toàn là những định nghĩa do chính miệng cậu nói ra để tớ chép lại đấy nhé!
Hàng đèn LED tín hiệu xếp thành dải ngang trên trán Gió khẽ chớp tắt nhịp nhàng ba lần, phát ra một luồng sáng màu xanh ngọc bích dịu mát — một biểu hiện quen thuộc mà Minh đã lập trình riêng, chỉ xuất hiện mỗi khi cỗ máy rơi vào trạng thái xử lý dữ liệu sâu mang tính cảm xúc xã hội.
Bảo chống hai tay lên cằm, nghiêng đầu ngước nhìn tấm biển đồng sáng bóng trên ngực cỗ máy một lúc lâu. Đôi mắt cậu bé bỗng nhiên chùng xuống một thoáng suy tư, rồi em hạ giọng, hỏi một câu bằng tất cả vẻ tò mò ngây thơ nhưng đầy nghiêm túc của con trẻ:
— Nhưng mà Gió này... Hôm nọ tớ đọc trong cuốn sách "Đạo đức và Cuộc sống" của cô giáo Vân, người ta có viết rằng: người làm vườn giỏi nhất trên đời không phải là người trồng được những cái cây to lớn nhất, mà là người biết "chăm sóc" tốt nhất. Cậu đã ở bên bà Lành trọn vẹn một năm rồi, đã cùng bà con xóm Cát trải qua đợt hạn mặn cháy cả đáy giếng khơi, qua trận dông muối làm táp trắng bãi rau muống biển, rồi cả cơn bão số bốn hung dữ suýt quật ngã cây khế này nữa... Sau ngần ấy chuyện xảy ra, cậu đã thực sự hiểu được hai chữ "chăm sóc" nghĩa là gì chưa?
Câu hỏi bất ngờ, trong trẻo của đứa trẻ mười tuổi cất lên giữa buổi chiều muộn khiến không gian quanh gốc khế dường như ngưng đọng lại hoàn toàn.
Gió hoàn toàn dừng hẳn mọi cử động của chiếc cào sắt. Cánh tay máy từ từ rút về, thu gọn sát mạn sườn và khóa nhẹ khớp cổ tay theo trục thăng bằng cơ học. Bên trong lồng ngực hợp kim dày dặn, chiếc quạt tản nhiệt siêu tĩnh âm của khối vi điều khiển 32-bit khẽ rù rì tăng tốc độ vòng quay theo một nhịp điệu êm ái.
Sâu thẳm bên trong phân vùng nhớ vĩnh cửu dung lượng 128 megabyte của con chip Khôi-Nguyên 7X — nơi từng giọt điện áp chuẩn 3.29 volt luôn được mạch bảo vệ duy trì cẩn mật qua bao biến cố bão giông và chập điện — hàng triệu chuỗi dữ liệu lịch sử được ghi nhận trong suốt 365 ngày qua đồng loạt được kích hoạt, tải lên bộ nhớ đệm để tiến hành đối chiếu logic.
Những khối ký ức tái hiện tuần tự, sắc nét và sống động như những thước phim quay chậm hiển thị trên màn hình quang học nội tại của cỗ máy:
Đó là một buổi chiều đông năm trước, khi một cành cải bẹ cỗi cằn trổ những bông hoa vàng nhỏ li ti bên góc giếng đá rêu phong rung rinh trong gió lạnh. Khi ấy, thuật toán nông nghiệp chuẩn hóa công nghiệp lạnh lùng trong lõi điều hành từng phát ra lệnh cưỡng bức nhổ bỏ ngay lập tức vì giá trị dinh dưỡng và thương phẩm của nó bằng không; thế nhưng, tiếng thở dài nhè nhẹ, bàn tay gầy guộc run rẩy vuốt ve cánh hoa và ánh mắt rưng rưng hoài niệm về người chồng liệt sĩ của bà Lành đã buộc hệ điều hành của nó phải tạo ra dòng ngoại lệ logic đầu tiên trong đời tồn tại máy móc: giữ lại một nhành hoa vô dụng để chở che cho một niềm an ủi tinh thần.
Đó là buổi trưa hè tháng Năm nắng như đổ lửa trên đầu, khi bể nước mưa ngọt tích trữ của cả gia đình cạn dần xuống mức báo động đỏ nguy cấp, trong khi bà cụ Tám hàng xóm bị tai biến nằm mê man bên kia hàng rào dâm bụt vì thiếu nước uống. Khi ấy, bài học mộc mạc của bà Lành về "sự trơ trọi độc ác của màu xanh đơn độc" đã dạy cho cỗ máy hiểu rằng: trong một cộng đồng sinh thái bãi ngang, tài nguyên không phải là thứ để chiếm đoạt tích trữ, bởi nếu cả xóm làng xung quanh đều chết khô vì hạn mặn, thì mảnh vườn nhỏ của riêng nhà mình cũng chẳng thể nào sống sót đơn độc trước sự tàn phá của thiên nhiên.
Đó là buổi sáng mùa thu cậu bé Bảo đứng khóc nức nở bên bờ rào, run rẩy nhận lỗi vì vô tình làm vỡ cụm cảm biến độ ẩm đất đắt tiền mà Minh vừa gắn thử nghiệm; và bà Lành đã không hề mắng mỏ một lời, chỉ dịu dàng ôm đứa trẻ vào lòng xoa đầu tha thứ. Để rồi từ ánh mắt ấm áp ấy, cỗ máy đã tự ghi vào tập lệnh của mình một chân lý: sự chuẩn xác cơ khí và những cỗ máy tối tân không bao giờ có thể thay thế được sự kết nối thiêng liêng giữa bàn tay con người với lòng đất mẹ.
Đó là đêm bão số bốn gầm thét dữ dội kinh hoàng, gió giật cấp mười hai rít từng cơn điên cuồng trên mái tôn, cành cái của cây khế cổ thụ rạn nứt phát ra những tiếng răng rắc tử thần sắp đổ sụp xuống gian buồng ngủ; cỗ máy đã không ngần ngại lao mình ra giữa tâm bão, dùng cả khung thân thép làm trụ néo, chấp nhận để lực vặn xoắn bẻ gãy then chốt cơ khí và pin cạn kiệt xuống mức sập nguồn nhằm bảo vệ tấm thân còm cõi của người bà đang run rẩy dưới mưa giông.
Và đó là buổi chiều nắng gắt trên bờ đê cát Bãi Sau, khi khối pin dự phòng của nó bị quá nhiệt phải tự ngắt bảo vệ, ngã quỵ xuống mặt cát nóng bỏng; thế nhưng cả dân làng An Hải — từ những ông già râu tóc bạc phơ như bác Bảy Phước, những phụ nữ như mẹ thằng Bảo, cho đến lũ trẻ nhỏ — đã đồng loạt cầm cuốc, cầm xẻng bước tiếp những bước chân cày xới kiên cường, cùng nhau hoàn thành con mương xả phèn theo đúng từng cọc tiêu định vị mà cỗ máy đã vạch sẵn trên bản đồ số.
Dải đèn hiển thị trên trán Gió chầm chậm chuyển đổi màu sắc, từ sắc hổ phách trầm mặc sang một sắc xanh lục biếc rực rỡ, lung linh — sắc màu của chồi non vươn lên sau chuỗi ngày giông bão khắc nghiệt. Cỗ máy nghiêng nhẹ đầu, hướng góc quét của camera quang học về phía cậu bé Bảo, rồi cất giọng trầm ấm, nhịp nhàng nhưng chan chứa một sự thấu triệt sâu xa vượt lên trên mọi ranh giới của kim loại và da thịt:
— *Gia Bảo, hệ thống của tôi đã phân tích lại toàn bộ các chu kỳ sinh trưởng, các biến cố thời tiết và hành vi của con người tại thị trấn An Hải trong suốt một năm qua. Định nghĩa về "chăm sóc" không nằm trong bất kỳ cuốn cẩm nang nông nghiệp chuẩn hóa nào của nhà máy chế tạo. Đến hôm nay, tôi mới có thể trả lời cậu một cách trọn vẹn nhất.*
Bảo nín thở, hai mắt mở to không dám chớp, vội vàng mở sang một trang giấy trắng tinh mới toanh, lăm lăm chiếc bút chì gỗ trong tay sẵn sàng ghi chép:
— Cậu nói đi, Gió! Tớ lắng nghe đây, tớ sẽ ghi lại từng chữ một không sót từ nào đâu!
Gió chầm chậm nói từng câu, từng chữ, âm thanh vang lên rành rọt, như thể cỗ máy đang khắc sâu vĩnh viễn định nghĩa này vào tận cùng các cổng logic silicon của khối điều khiển trung tâm:
— *Thứ nhất: Chăm sóc là nhớ những gì người khác trân trọng, ngay cả khi điều đó không mang lại bất kỳ một đồng giá trị kinh tế nào.*
Bảo cặm cụi lia ngòi chì trên mặt giấy sột soạt, gật đầu lia lịa:
— Nhớ bông hoa cải của bà Lành... Tớ ghi rồi!
Cỗ máy tiếp tục, thanh âm càng lúc càng trở nên ấm áp:
— *Thứ hai: Chăm sóc là phải biết hỏi ý kiến trước khi giúp đỡ, tôn trọng lựa chọn và nhịp điệu sống của con người, chứ không phải dùng sức mạnh của mình để áp đặt hay tối ưu hóa họ.*
Bảo vừa nắn nót viết vừa mỉm cười nhớ lại những ngày đầu cỗ máy tự tiện dọn dẹp vườn tược theo ý mình. Cậu bé ngước lên:
— Tiếp đi Gió, điều thứ ba là gì?
— *Thứ ba: Chăm sóc là kề vai sát cánh khi giông bão ập tới, sẵn sàng biến bản thân thành điểm tựa vững vàng để bảo vệ những người mình yêu quý và những ký ức mà họ tôn thờ.*
— Giống như lúc cậu chống đỡ cây khế cứu bà Lành giữa đêm bão số bốn! — Giọng Bảo run run xúc động.
Gió dừng lại một nhịp dài, hệ thống làm mát thở ra một làn gió nhẹ thoảng mùi kim loại sạch sẽ, trước khi cất lên điều cốt lõi nhất:
— *Và điều quan trọng nhất: Chăm sóc thực sự không phải là làm thay tất cả để họ trở nên yếu đuối và ỷ lại; mà là kiên nhẫn đồng hành, trao đi tri thức và tình yêu thương, để chuẩn bị cho họ vẫn có thể tự đứng vững, sống tốt và tiếp tục làm cho mảnh đất này xanh tươi, ngay cả khi... mình không còn ở bên cạnh họ nữa.*
Ngòi bút chì của Bảo khẽ dừng lại trên dòng chữ cuối cùng. Cậu bé mười tuổi sững người, ngước nhìn cỗ máy sắt thép sừng sững trước mặt mình. Lời định nghĩa sâu sắc ấy dường như vượt qua tầm hiểu biết thơ ngây của một đứa trẻ học tiểu học, nhưng lại chạm thẳng vào trái tim non nớt của em bằng một sự ấm áp vô bờ, khiến khóe mắt em rưng rưng cay xè.
Bảo buông cuốn sổ xuống đùi, chầm chậm vươn hai bàn tay nhỏ bé ấm nóng của mình ra, áp chặt lấy phần đầu gối bọc cao su lưu hóa dày dặn của Gió. Giọng cậu bé nghẹn ngào nhưng tràn đầy vẻ quả quyết, rắn rỏi:
— Tớ hiểu rồi, Gió à! Giống như việc bà Lành kiên nhẫn dạy tớ cách ươm từng hạt đậu hạt bắp, giống như việc chú Minh ngày ngày dạy dân làng cách sửa chữa từng cái máy bơm, và giống như cách cậu đã dạy tụi tớ xới từng tấc đất trên đê Bãi Sau vậy... Nhưng mà Gió ơi, cậu sẽ không đi đâu hết, đúng không? Cậu đã có tấm biển tên bằng đồng sáng choang do bác Bảy Phước làm riêng cho cậu rồi, cậu có giấy phép đặc cách của xã rồi, cậu là người của làng mình rồi mà!
— *Đúng vậy, Gia Bảo.* — Giọng Gió vang lên êm ái như tiếng gió biển chiều hôm lướt qua những rặng phi lao xanh ngắt ngoài bờ bãi. — *Địa chỉ vật lý và tọa độ thường trú của tôi đã được khóa cố định tại: Vườn nhà bà Lành, Thị trấn An Hải. Tôi sẽ ở lại đây, cùng khu vườn của chúng ta.*
Đúng lúc ấy, cánh cửa gỗ ba gian của gian nhà chính khẽ kêu lên một tiếng *két* thân thuộc.
Một mùi hương ngào ngạt, nồng đượm quen thuộc của ngày Tết cổ truyền lập tức ùa ra, bao trùm khắp khoảng sân gạch rêu phong: mùi măng khô hầm giò heo béo ngậy đang sôi sùng sục, mùi thịt kho củ cải đậm đà vị nước mắm cá cơm truyền thống, mùi kiệu chua ngâm đường phèn giòn tan quyện với hương thơm thanh tao, tinh khôi của chõ xôi gấc đỏ tươi vừa mới được dỡ ra khỏi bếp củi.
Bà Lành bước chậm rãi qua ngưỡng cửa hiên sâu. Chiếc áo bà ba dệt bằng lụa màu hạt dẻ mới tinh được bà là phẳng phiu từng nếp gấp, mái tóc bạc trắng như cước được búi gọn gàng sau gáy bằng chiếc trâm làm từ gỗ trắc đen bóng — kỷ vật duy nhất mà ông Tư để lại trước ngày ra trận năm xưa.
Nét mặt của bà cụ bảy mươi tám tuổi hồng hào, rạng rỡ lạ thường. Khóe mắt hằn sâu những nếp nhăn của một đời sương gió, gian truân và mất mát, nhưng giờ đây tất cả những nhọc nhằn dường như đã lùi xa, nhường chỗ cho những nụ cười hiền hậu, thanh thản và an nhiên tự tại.
Bà cụ dừng lại, đặt một bàn tay nhăn nheo lên cột hiên gỗ lim đã bóng nước thời gian, đưa mắt nhìn khoảng sân ngập tràn sắc vàng tươi thắm của những chậu hoa cúc và bóng hình cỗ máy hợp kim đang đứng bên cạnh đứa cháu nhỏ dưới gốc khế xanh um. Bà cất tiếng gọi, tiếng gọi trầm bổng, ấm áp đậm đà chất giọng miền Trung duyên hải, vang vọng khắp khu vườn trong buổi chiều cuối năm:
— Bảo ơi! Gió ơi! Vào nhà đi con! Minh với cô giáo Vân cũng vừa về tới đầu ngõ rồi kìa! Vào rửa tay rửa chân rồi chuẩn bị ăn bữa cơm tất niên thôi các con ơi!
Ngoài cổng ngõ rợp mát bóng hai rặng dừa xiêm trĩu quả, tiếng chuông xe đạp của Minh vang lên những tiếng *kính coong... kính coong* vui vẻ, giòn tan. Minh dắt chiếc xe đạp cào cào bước vào sân, phía sau ba-ga chở một giỏ mây đầy ắp những bó rau cải non, những quả cà chua đỏ mọng tươi rói vừa thu hoạch từ vườn sinh học trường Hải Bình.
Đi song song bên cạnh anh, cô giáo Vân cười tươi tắn, hai tay cẩn thận bưng một chiếc âu bằng gốm sứ tráng men lam đựng món dưa món củ kiệu, cà rốt do chính tay cô tự muối mang sang biếu bà nội ăn Tết.
Và ngay phía sau lưng họ, bác Bảy Phước trong bộ quần áo thợ được giặt giũ sạch sẽ, phẳng phiu cùng bà Sương — Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi xóm Cát — cũng đang rảo bước tiến vào khoảng sân rêu. Trên tay bác Bảy là một cặp bánh tét nếp cái hoa vàng mới vớt còn bốc khói nghi ngút, thơm nức mùi lá chuối ngự, còn bà Sương thì nâng niu một ấm trà ướp hoa sen ngát hương.
— Dạ! Chúng con vào ngay đây bà ơi! — Minh và Bảo đồng thanh cất tiếng đáp lời, tiếng cười nói rộn rã xua tan đi tất cả những nhọc nhằn, âu lo của một năm dài đầy biến động và vất vả.
Cỗ máy Gió đứng yên lặng giữa khoảng sân gạch trong một nhịp ngắn ngủi.
Trước mắt cảm biến quang học đa sắc của nó, ánh hoàng hôn buông xuống dát một lớp vàng ấm áp lên mái ngói cổ kính, lên giàn mướp hương xanh ngắt, lên cây khế già đang đung đưa cành lá và lên những nụ cười rạng rỡ của những con người bằng xương bằng thịt đang quây quần bên bậc thềm hiên nhà.
Bên trong hệ điều hành lai của cỗ máy, một loạt thông báo hệ thống tự động hiện lên trên màn hình điều khiển nội tại:
`[HỆ THỐNG]: TẤT CẢ CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG HIỆU SUẤT ĐÃ ĐƯỢC TẮT.` `[HỆ THỐNG]: HÀNG ĐỢI NHIỆM VỤ NÔNG NGHIỆP: TẠM DỪNG (0 CÔNG VIỆC TỒN ĐỌNG).` `[HỆ THỐNG]: CHẾ ĐỘ THÍCH NGHI XÃ HỘI: KÍCH HOẠT VĨNH CỬU.` `[TRẠNG THÁI]: GIA ĐÌNH SUM VẦY.`
Gió khẽ cụp chiếc cào sắt ba răng gọn gàng vào hộc đồ nghề bên hông sườn máy. Bằng ngón tay máy linh hoạt, nó đưa lên phía sau gáy, vặn chiếc công tắc cơ học màu đỏ sang vị trí an toàn tuyệt đối, tắt đi những dòng lệnh phân tích áp suất, độ ẩm hay năng suất mùa màng vốn từng là lẽ sống duy nhất của một cỗ máy nông nghiệp vô tri. Giờ đây, trong lõi silicon của nó, chỉ còn lại sự ấm áp của những kỷ niệm và nhịp đập bình yên của một tâm hồn đã tìm thấy bến đỗ cuộc đời.
Khớp gối bọc cao su lưu hóa cất bước thật khẽ khàng, không làm xao động dù chỉ một ngọn cỏ non trên lối đi. Tấm biển đồng trên ngực khẽ rung rinh đón lấy ánh sáng tỏa ra từ ô cửa sổ gian bếp ấm cúng. Gió bước chậm rãi về phía ánh đèn vàng ấm áp nơi hiên nhà, tắt các dòng lệnh phân tích để bước vào một buổi tối sum vầy bên những người nó yêu quý.