Người Giữ Bản Đồ MâyC.30 / 44
Chương 30

Tờ Bản Nháp Bị Giấu

Ánh đèn bão vàng ấm hắt qua khe cửa khoang lái, nơi những cuộn bản đồ da mây và những chiếc thước đo góc bằng đồng thau vừa được sắp xếp lại ngay ngắn sau trận cuồng phong dữ dội xé toạc rìa họng xoáy.

Không gian bên trong khoang đo đạc của con thuyền *Mầm Gió* lúc này phảng phất một mùi hương kỳ lạ nhưng đỗi bình yên. Đó là mùi ngai ngái, nồng đậm của thớ gỗ sồi ngàn năm vừa được đẽo gọt cẩn trọng nơi xưởng xẻ Bãi Thuyền Lạc, quyện chặt với mùi dầu cá voi tinh luyện dùng để bôi trơn các khớp trục xoay của bộ vây lái kép. Dưới góc vách gỗ ghép mộng, trên chiếc bếp lò bọc đồng rỗng có gắn chốt giảm chấn, ấm nước rễ bách khô đang sôi những tăm nhỏ lách tách, tỏa ra làn khói mỏng thơm mùi nhựa cây cháy chậm và vị ngòn ngọt của sương sớm vùng cao.

Ngoài kia, Bãi Thuyền Lạc đã chìm vào một giấc ngủ muộn mằn sau một đêm thức trắng cùng phong ba. Những tiếng búa rèn chan chát đập trên đe sắt, tiếng hò reo của hàng trăm thợ thuyền xẻ ván, những ánh đuốc dầu rực trời rọi loang lổ trên mặt sóng mây xỉ xám… tất cả đã lắng dần lại như tro than tàn lụi sau cơn bốc hỏa. Bãi tha ma của những xác thuyền gãy nát giờ đây chỉ còn lại tiếng thở trầm đều, ma mị của tầng mây nghịch nhiệt đang trườn qua lườn tàu bọc tơ mây mười sáu lõi kiêu hãnh của *Mầm Gió*. Thỉnh thoảng, một đợt gió ngầm từ vực thẳm Tầng Mù lại cuộn lên, vỗ nhè nhẹ vào mạn thuyền như bàn tay của kẻ khổng lồ vô hình đang vỗ về đứa con vừa thoát khỏi cõi chết.

Lam Nhi ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ gụ có xẻ rãnh chống sốc. Đầu ngón tay mảnh dẻ của cô lướt chầm chậm qua mặt bàn nhẵn bóng, chạm vào từng gờ nẹp đồng quen thuộc mà ông nội Vân Kính từng tự tay gọt giũa và bắt vít từ những ngày xưởng mộc ở Đảo Lam Bến còn rộn rã tiếng cưa. Cơn mỏi mệt sau chiến dịch giằng co nghẹt thở bên mép họng xoáy Bãi Thuyền Lạc dường như đã rút cạn từng chút sinh lực cuối cùng của cô gái nhỏ. Các khớp ngón tay cô nhức buốt vì ghì chặt dây đo thấu kính, đôi mắt hoa tiêu cay xè sau hàng giờ căng ra giữa màn bụi xỉ và bão từ, nhưng tâm trí cô lúc này vẫn căng như một sợi dây buồm kéo hết cỡ đón gió ngược. Nó rung lên từng hồi nhức nhối, không tài nào chợp mắt nổi.

Trước mặt cô, cuốn kẹp sách bằng da cá voi màu lam sẫm đang nằm mở toang. Bên cạnh là chiếc ống đồng gia bảo đựng tấm Bản Đồ Mây truyền đời của Xưởng Vân Kính, cùng ba thỏi mực phong vũ ánh lên sắc tím mờ ảo dưới ánh đèn bão leo lét. Mùi mực thảo mộc pha mật ong rừng bốc lên âm ẩm. Đáng lẽ sau thắng lợi kỳ diệu trước cơn xoáy ngầm, sau khi cứu sống hàng chục thợ thuyền và nhận được sự kính trọng tuyệt đối của cả Bãi Thuyền Lạc, ngực cô phải tràn ngập niềm kiêu hãnh. Nhưng không. Một khoảng trống hoang hoải, lạnh ngắt và buốt giá đang gặm nhấm tâm can cô từ bên trong.

Cửa khoang lái khẽ kẹt một tiếng nhỏ. Tiếng chốt đồng trượt trên rãnh gỗ êm ái đến mức gần như vô thanh.

Tứ Hải bước vào. Cậu không mang theo vẻ ồn ào náo nhiệt thường nhật, không có những câu đùa cợt cẩu thả của một tay lái đò quen sóng gió Cảng Cánh Diều. Cậu cầm trên tay một tờ giấy ố vàng gấp làm tư, bước đi thật khẽ khàng trên sàn gỗ lót nỉ, rồi nhẹ nhàng đặt nó xuống mặt bàn, ngay trước tầm mắt của Lam Nhi.

Đó là một bài tập đo đạc năm mười bốn tuổi, nơi có một con số vĩ độ sao bị gạch xóa vụng về đến rách cả xơ giấy.

Tứ Hải không nói gì ngay. Cậu lẳng lặng kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ ép ngồi xuống đối diện với Lam Nhi. Đôi bàn tay vốn thô ráp của cậu thiếu niên mười sáu tuổi—giờ đây chằng chịt những vết trầy xước rướm máu khô, hậu quả của hàng giờ ghì chặt dây tời cứu hộ thắt nút chữ nhân giữa bão đêm qua—chậm rãi thu lại, đặt ngay ngắn trên hai đầu gối. Dưới ánh sáng ấm áp của ngọn đèn bão treo lắc lư theo nhịp sóng gió, khuôn mặt Tứ Hải hiện rõ những vệt khói than chưa kịp rửa sạch nơi gò má, nhưng ánh mắt cậu lại trong trẻo lạ thường. Trong đôi mắt ấy không có nét tinh quái lém lỉnh của kẻ từng lừa lọc qua các trạm gác bến tàu, cũng không có vẻ đắc thắng của một người vừa được toàn thể thợ cả Bãi Thuyền Lạc suy tôn nghi thức danh dự tối cao với huy hiệu ba ngấn mỏ neo. Cậu nhìn cô bằng ánh mắt sâu lắng, thấu hiểu và cẩn trọng đến mức khiến gian phòng nhỏ bỗng chốc trở nên tĩnh lặng tuyệt đối.

Tờ giấy nằm lẻ loi trên mặt bàn gỗ gụ. Mép giấy đã sờn rách, ngả sang màu vàng vôi vì độ ẩm đậm đặc của sương muối và thời gian đằng đẵng bốn năm trôi qua. Nhưng nét chữ mực nho trên dòng tiêu đề vẫn hiện lên rõ mồn một qua bàn tay nắn nót, gò từng nét chữ chân phương của một cô bé học việc thuở nào: *Bài tập trắc đạc thực địa – Lam Nhi, mười bốn tuổi*.

Lam Nhi nhìn chăm chăm vào trang giấy ấy, và trong khoảnh khắc, lồng ngực cô bỗng thắt lại như bị một bàn tay vô hình bằng sắt nguội bóp nghẹt. Mọi âm thanh xung quanh dường như hoàn toàn biến mất. Tiếng gió rít qua các khe ván mỏng của lườn tàu, tiếng ấm trà rễ bách sôi lục bục trên bếp lò, cả tiếng cựa mình của những tấm gỗ sồi mới thay thế… tất cả đều lùi xa vào cõi hư vô. Trong đáy mắt cô lúc này chỉ còn lại con số vĩ độ sao nằm cô độc ở tọa độ trục ngắm hướng bắc.

Tại đó, một con số ban đầu được viết bằng nét mực thanh mảnh, run rẩy đã bị một vệt mực đậm đè lên, gạch xóa vụng về đến mức làm xơ cả thớ giấy bổi mỏng manh. Chen chúc một cách gượng gạo ngay bên cạnh vết gạch xóa ấy là một con số khác, được đồ đi đồ lại nhiều lần bằng ngòi bút cùn, cố ép mình sao cho khớp đến từng ly từng tí với bảng mẫu số liệu kinh điển được khắc trên bảng đồng của Phường Giữ Bản Đồ.

Một giọt nước mắt bất chợt rơi xuống, làm nhòe thêm góc giấy vốn đã ố vàng vì bụi thời gian. Rồi giọt thứ hai, giọt thứ ba, lã chã rơi trên mặt bàn gỗ gụ.

Lam Nhi run rẩy bật khóc. Bao nhiêu uất nghẹn, bao nhiêu dằn vặt đè nặng trong tâm khảm suốt bao tháng ngày qua bỗng chốc vỡ tung ra như con đập bằng đá bọt tích nước suốt bao mùa gió nay bất ngờ sụp đổ. Cô thú nhận trong làn nước mắt đầm đìa: chính cô đã từng tự ý sửa sai một con số để bảng số liệu trông có vẻ hoàn hảo không tì vết, rồi giấu nhẹm tờ bài nháp này vào đáy kẹp da vì sợ làm ông nội thất vọng.

Tiếng khóc của Lam Nhi lúc đầu chỉ là những tiếng nấc nghẹn ngào cố kìm nén sau bờ môi cắn chặt đến rớm máu, nhưng rồi nó vỡ òa ra thành từng cơn nức nở rũ rượi, xé toạc lớp vỏ bọc kiên cường mà cô đã dày công dựng lên. Cô gục đầu xuống hai cánh tay đang khoanh tròn trên mặt bàn, bờ vai gầy guộc run lên bần bật dưới ánh đèn bão chập chờn.

Bao nhiêu sự điềm tĩnh, bao nhiêu bản lĩnh sắc sảo mà cô cố gồng mình khoác lên người suốt hàng trăm dặm bay đầy bão táp—từ Tháp Lịch Phong ngút ngàn gió hú, qua Thư Viện Phi Diệp chìm trong hoang tàn, xuyên qua Rừng Sương Quang mờ ảo cho tới bãi tha ma Bãi Thuyền Lạc đầy cạm bẫy—vào khoảnh khắc này đều tan biến sạch trơn. Đứng trước tờ giấy cũ kỹ của bốn năm về trước, cô không còn là người kế nghiệp đầy bản lĩnh của Xưởng Vân Kính danh giá, không phải là một hoa tiêu tài năng vừa dẫn đường cứu thoát cả một con thuyền giữa họng xoáy tử thần. Cô chỉ là một đứa trẻ mười bốn tuổi đầy sợ hãi, co ro và cô độc trước lỗi lầm vụng dại đầu đời của chính mình.

"Tớ... tớ đã tự ý sửa nó..." Giọng Lam Nhi đứt quãng giữa những tiếng nấc ngực, từng lời thốt ra run rẩy và nghẹn đắng như nuốt phải tro tàn. "Đêm hôm đó... trên đài quan trắc Đảo Lam Bến... gió mùa đông bắc chuyển lạnh buốt cả mười đầu ngón tay. Tớ đã ngồi co ro trên đỉnh tháp lộng gió, ôm chiếc compa lăng kính thạch anh đo góc ngắm của chòm sao Dẫn Lộ suốt ba khắc liền, không dám chớp mắt lấy một lần. Ba lần đo độc lập, vạch chỉ thị bằng sợi tóc thao thiết đều dừng lại đúng ở con số ấy... Nhưng khi tớ run rẩy lật cuốn Lịch Thiên Văn quy chuẩn nghìn đời của Phường ra đối chiếu dưới ngọn nến, con số tớ vừa đo được lại lệch hẳn ba phần mười độ! Ba phần mười độ, cậu có hiểu điều đó kinh khủng thế nào không Tứ Hải? Trong nghề trắc đạc biển trời, sai một li là thuyền bè đâm vào đá ngầm, sai một vạch khắc là cả đoàn thuyền rơi thẳng xuống vực thẳm Tầng Mù!"

Cô ngẩng khuôn mặt đầm đìa nước mắt lên. Đôi mắt vốn sáng trong như ngọc bích nay đỏ hoe, sưng húp, nhìn xoáy vào Tứ Hải như một phạm nhân đang quỳ trước vành móng ngựa chờ đợi bản án định đoạt số phận:

"Tớ đã hoảng loạn đến phát điên! Tớ sợ mình đo sai, tớ sợ đôi bàn tay mình vụng về, tớ sợ đôi mắt mình không có được thiên phú hoa tiêu mà cả dòng họ kỳ vọng. Nhưng tớ sợ nhất... sợ nhất là ánh mắt của ông nội! Tớ sợ khi bước xuống chân tháp, ông nội nhìn vào bảng số liệu lệch lạc ấy rồi sẽ buông một tiếng thở dài trầm ngâm. Tớ sợ ông sẽ nhận ra đứa cháu gái duy nhất mà ông dốc lòng truyền dạy thực chất chỉ là một kẻ bất tài vô dụng, không bao giờ đủ tư cách chạm vào bánh lái hay quản bút hoa tiêu! Tớ muốn một bài tập hoàn hảo... một bảng số liệu sạch sẽ, ngay ngắn, từng con số phải trùng khít tuyệt đối với sách giáo khoa kinh điển của Phường để được ông mỉm cười xoa đầu khen ngợi. Thế nên... tớ đã cầm bút lên. Tớ đã run rẩy gạch bỏ con số thực tế tớ đo được bằng chính đôi mắt mình. Tớ chép đè con số ba mươi tư độ ba mươi sáu phút trong sách vào bản nộp chính thức, rồi lén nhét tờ giấy nháp này vào sâu dưới đáy kẹp sách da cá voi... Tớ đã giấu nhẹm nó suốt bốn năm trời, giấu như một kẻ trộm đê tiện giấu một món đồ ăn cắp!"

Lam Nhi siết chặt hai bàn tay lại. Mười đầu ngón tay cô trắng bệch vì dùng hết sức bấm sâu vào da thịt, móng tay cắm vào lòng bàn tay đau nhói nhưng nỗi đau thể xác ấy chẳng thấm tháp vào đâu so với sự dằn vặt đang cắn xé tâm can. Nỗi dằn vặt bị chôn vùi bấy lâu nay bùng lên dữ dội, thiêu đốt mọi lý trí.

Cô dằn vặt rằng chính thói cẩu thả, sự dối trá non nớt ấy và lời phàn nàn vô tâm cay nghiệt của cô trước ngày ông đi đã khiến Vân Kính thất vọng hoàn toàn về người kế nghiệp, để rồi ông phải đơn độc dấn thân vào cõi chết nơi Tầng Mù không lối thoát.

"Tớ là một kẻ dối trá mang danh người giữ bản đồ..." Lam Nhi nấc nghẹn, từng lời như cứa từng nhát dao vào tim gan. "Một người thợ vẽ bản đồ chân chính thà chết chứ không bao giờ bóp méo số liệu thực địa! Lời thề của Phường Giữ Bản Đồ khắc trên bia đá hoa cương ở Đảo Lam Bến từ ba trăm năm trước vẫn còn rành rành: *'Không giấu giếm tuyến cứu hộ, không vẽ dối một ngọn gió'*. Vậy mà tớ đã làm gì? Tớ đã lừa dối ngay từ bài học nhập môn vỡ lòng! Tớ đã phản bội lại chính đôi mắt của mình, phản bội lại lời thề của tổ tiên!"

Cô đưa hai tay lên ôm lấy đầu, những ngón tay vò rối mái tóc dài buộc lỏng, nước mắt rỏ từng giọt ấm nóng xuống mặt bàn gỗ xẻ rãnh:

"Và rồi... bốn tuần trước, tại sao ông lại rời đi? Cậu có biết không Tứ Hải? Bốn tuần trước, khi tớ trượt kỳ thi vượt qua chứng sợ độ cao ở Đảo Lam Bến... tớ đã không chịu nổi áp lực. Tớ đã nổi giận vô cớ. Khi ông đưa cho tớ chiếc thước đo góc gia truyền bằng xương cá voi, bảo tớ hãy bình tĩnh leo lên lại giàn buồm đỉnh tháp, tớ đã gạt phắt đi! Chiếc thước rơi xuống sàn đá gãy làm đôi... Tớ đã gào lên, cằn nhằn rằng ông quá khắt khe, rằng ông lúc nào cũng đòi hỏi những thứ không tưởng, rằng ông chỉ coi tớ như một công cụ để nối nghiệp chứ chưa từng quan tâm xem tớ sợ hãi đến nhường nào! Đêm hôm sau... ông lặng lẽ dong thuyền rời đi một mình vào Tầng Mù, không để lại một lời từ biệt, không mang theo bất kỳ ai..."

Tiếng Lam Nhi lạc đi trong nỗi thống khổ tột cùng:

"Ông đã biết! Chắc chắn ông đã phát hiện ra tớ từng sửa số liệu trong bài tập năm mười bốn tuổi! Ông đã nhìn thấu sự hèn nhát, dối trá và nông nổi của tớ! Ông biết người kế nghiệp của Xưởng Vân Kính chỉ là một đứa trẻ yếu đuối, cẩu thả, sợ độ cao và không có tư cách gánh vác Mạch Neo! Chính sự thất vọng cùng cực về tớ, chính những lời phàn nàn vô tâm cay nghiệt của tớ đêm hôm đó đã đẩy ông ra đi... Ông không thèm mang theo tớ, ông thà đơn độc dấn thân vào cõi chết ở Tầng Mù mịt mùng chứ không muốn nhìn mặt đứa cháu gái tồi tệ này nữa! Tất cả là lỗi của tớ... Nếu ông có mệnh hệ nào ở Đảo Neo, chính tay tớ đã hại chết ông nội rồi!"

Khoang thuyền chìm vào một khoảng lặng nặng nề đến nghẹt thở.

Không gian như đặc quánh lại dưới sức nặng của nỗi ân hận tột cùng. Chỉ còn lại tiếng nấc từng chặp của Lam Nhi, tiếng thở gấp gáp đứt quãng và tiếng ngọn bấc đèn bão nổ lách tách do lẫn giọt dầu thừa.

Tứ Hải nhìn cô bạn đồng hành đang run rẩy gục ngã trước mặt. Cậu không ngắt lời cô dù chỉ một câu trong suốt tràng tự thú đớn đau ấy. Cậu cũng không vội vã đưa ra những lời an ủi sáo rỗng thường thấy ở những kẻ ngoài cuộc. Cậu chỉ lặng lẽ vươn cánh tay áo thô ráp qua bàn, nhặt chiếc khăn vải lanh sạch đặt bên cạnh khay trà bách, rồi đứng dậy, bước vòng qua mép bàn để ngồi xuống chiếc ghế con ngay cạnh Lam Nhi.

Tứ Hải ngồi xuống cạnh cô, trải lòng về những vết nhơ giấy phép giả và bài học nhận lỗi đắt giá giữa Chợ Gió Bốn Phương; cậu khẳng định sai lầm không biến người ta thành kẻ bỏ đi, chỉ có sự trốn tránh mới hủy hoại lòng can đảm.

"Này, Lam Nhi," Tứ Hải cất tiếng. Giọng cậu trầm thấp, khàn khàn vì khói bụi sau đêm cứu nạn, nhưng mộc mạc và vững chãi lạ lùng, như những thanh xà chịu lực bằng gỗ thiết mộc dưới đáy lườn tàu. "Cậu ngẩng đầu lên nhìn tớ xem nào."

Lam Nhi khẽ lắc đầu, hai vai vẫn co rúm lại trong cơn nức nở, vùi sâu mặt vào tay áo ướt đẫm.

Nhưng Tứ Hải không buông tha. Cậu kiên nhẫn đợi, bàn tay thô ráp của cậu nhẹ nhàng vỗ lên bờ vai gầy đang run bần bật của cô gái nhỏ, cho đến khi Lam Nhi từ từ ngước đôi mắt đẫm lệ, sưng đỏ lên nhìn cậu trong ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bão.

"Cậu nghĩ cậu là kẻ tồi tệ nhất thế giới vì đã sửa một con số trong bài tập năm mười bốn tuổi sao?" Tứ Hải mỉm cười. Đó là một nụ cười thoáng chút cay đắng của một kẻ từng nếm trải đủ mùi tanh tưởi của cuộc đời trôi nổi, nhưng tràn đầy sự bao dung ấm áp. Cậu giơ hai bàn tay đầy những vết chai sần, những vết sẹo do dây thừng và kẽm gai cứa ngang dọc lên trước ánh đèn.

"Vậy cậu nghĩ thằng Tứ Hải này là ai? Tớ là thằng nhóc mồ côi không cha không mẹ ở Cảng Cánh Diều, không bằng cấp hàn lâm, không môn phái gia truyền. Cậu có biết chiếc thuyền nhỏ trước đây của tớ làm sao để được bay lượn trên các luồng thương mại không? Tớ đã lấy bột đá thạch anh mịn, tỉ mẩn mài mòn lớp xơ giấy trên tờ giấy phép kiểm định an toàn của Phường Thợ Cả, tẩy xóa ngày mười bảy thành ngày mười chín để trốn đợt đăng kiểm định kỳ! Tớ đã lén lút nhận chở hàng lậu cho tay chân của Hội Kim Phong, chở những hòm tài liệu bọc chì nặng trịch mà tớ biết tỏng bên trong chứa toàn những thứ áp phe bẩn thỉu, chỉ để kiếm mấy đồng bạc cắc nuôi sống cái miệng và giữ lại chiếc bánh lái rách nát."

Tứ Hải hít một hơi thật sâu, lồng ngực vạm vỡ của cậu phập phồng sau lớp áo thô. Ánh mắt cậu hướng về khoảng tối thăm thẳm ngoài khung cửa sổ khoang lái, nơi biển mây bập bồng trôi dưới bóng đêm dày đặc:

"Cậu có nhớ cái ngày ở Chợ Gió Bốn Phương không? Khi thằng cha Kim Thịnh lôi xấp hồ sơ giả mạo của tớ ra trước mặt toàn thể Hội Đồng Chủ Chợ, trước mặt hàng ngàn thương nhân, hoa tiêu và thợ thuyền khắp chín tầng trời? Cậu có biết lúc đó tớ cảm thấy thế nào không? Tớ thấy mình như một con rệp nhơ nhuốc bị lột trần dưới ánh mặt trời rực lửa. Tớ nhục nhã, tớ khiếp sợ đến mức tim muốn vỡ tung ra. Lúc đứng ở rìa sàn gỗ của chợ, nhìn xuống tầng đệm cứu hộ mờ mịt bên dưới, tớ đã định nhảy phắt xuống, buông xuôi cho bản thân rơi thẳng xuống vực thẳm Tầng Mù cho rảnh nợ! Tớ muốn biến mất khỏi cõi đời này, để không ai còn nhìn thấy khuôn mặt của một thằng lừa đảo hèn hạ. Tớ từng nghĩ, khi vết nhơ ấy bị phơi bày ra ánh sáng, đời tớ coi như vứt đi. Tớ sẽ mãi mãi chỉ là một thằng lái đò mạt hạng, vĩnh viễn không bao giờ có tư cách chạm vào giấc mơ đứng trên đài chỉ huy của một con thuyền thực thụ."

Cậu quay sang, nhìn thẳng vào mắt Lam Nhi, ánh mắt kiên định, không hề né tránh:

"Nhưng chính cậu—chính cậu đã túm chặt lấy cổ tay áo tớ ở mép sàn chợ hôm ấy! Cậu hét vào mặt tớ rằng không được trốn chạy. Cậu kéo tớ quay lại bục phân xử. Và khi tớ đứng thẳng lưng trước hàng ngàn cặp mắt khinh bỉ, tớ dõng dạc nói lớn: *'Phải, tôi đã sửa giấy phép vì tôi nghèo, vì tôi sợ mất thuyền, tôi sai rồi!'* Cậu biết điều gì đã xảy ra sau đó không? Bầu trời đâu có sụp đổ xuống đầu tớ! Người ta phạt tớ ba tháng lao dịch không công, người ta tước bánh lái danh dự của tớ, người ta sỉ vả tớ. Nhưng khi bước ra khỏi phòng phân xử, tớ thấy lồng ngực mình nhẹ bẫng như vừa trút bỏ được ngàn cân đá tảng. Lần đầu tiên trong đời, tớ hít một hơi thở dài mà không sợ bóng ma quá khứ tóm lấy gáy mình lôi ra ánh sáng."

Tứ Hải nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của Lam Nhi, siết nhẹ. Giọng cậu đanh lại, từng âm tiết ghim sâu vào không gian:

"Sai lầm một lần không biến người ta thành kẻ bỏ đi, Lam Nhi à! Nhìn tớ đây này: thằng nhóc từng sửa giấy phép năm nào, hôm nay vẫn có thể đường hoàng đứng ở mũi con thuyền *Mầm Gió*, vẫn có thể chỉ huy cứu sống hai mươi mốt thợ thuyền giữa họng xoáy tử thần Bãi Thuyền Lạc mà không thẹn với trời đất! Sai lầm trong quá khứ chỉ là một tọa độ bị lệch trên hải trình đời người thôi, nhận ra nó thì bẻ bánh lái chỉnh lại hướng đi! Nhưng sự trốn tránh... sự trốn tránh, giấu giếm và tự gặm nhấm tội lỗi trong bóng tối mới thực sự là thứ độc dược ăn mòn xương tủy, hủy hoại hoàn toàn lòng can đảm của một hoa tiêu!"

Cậu chỉ tay vào tờ giấy ố vàng trên bàn:

"Còn về ông nội Vân Kính của cậu... Cậu nghĩ ông là ai? Ông là bậc thầy hoa tiêu vĩ đại nhất của biển trời Vân Quốc, người từng vẽ lại bản đồ chín tầng mây bằng cả mạng sống của mình. Cả cuộc đời ông đối mặt với cuồng phong, bão từ và những âm mưu thâm hiểm nhất của các thế lực ngầm. Chẳng lẽ một người như thế lại vì một vết mực gạch xóa trong bài tập của đứa cháu gái mười bốn tuổi mà thất vọng đến mức ruồng bỏ gia đình, bỏ rơi đứa cháu duy nhất của mình sao? Lam Nhi, cậu đang coi thường tình thương và lòng bao dung của ông nội cậu quá rồi đấy!"

Từng lời nói của Tứ Hải như những nhát búa rèn giáng mạnh mẽ lên tảng băng lạnh giá đang bóp nghẹt trái tim Lam Nhi suốt bao năm qua. Cô ngồi sững sờ, bờ môi hé mở nhưng không thốt nên lời.

Đúng vậy... Suốt chuyến hải trình sinh tử vừa qua, Tứ Hải đã đối diện với quá khứ lầm lỗi của mình bằng sự can trường tột bậc. Cậu không thanh minh, không chối bỏ, mà chuộc lại lỗi lầm bằng chính mồ hôi và máu trên từng mét dây tời giữa bão tố. Cậu đã dám nhận sai để được tự do bước tiếp. Vậy thì tại sao cô—đứa cháu gái của Vân Kính vĩ đại—cứ mãi tự giam cầm linh hồn mình trong xà lim tăm tối của nỗi sợ hãi từ năm mười bốn tuổi?

Đúng lúc đó, từ góc tối của khoang đo đạc, một tiếng lật giấy sàn sạt vang lên, phá vỡ bầu không khí xúc động nghẹn ngào.

Cô Tùng Lâm từ nãy giờ vẫn im lặng ngồi quan sát mẫu rêu sương lam dưới kính hiển vi quang học bỗng đứng dậy. Chiếc áo khoác da thô mộc nhiều túi của nhà thực vật học sột soạt theo từng bước chân dứt khoát. Bà đẩy nhẹ gọng kính thạch anh tròn xoe lên sống mũi, bước tới bên chiếc bàn gỗ gụ, vươn bàn tay gầy gò nhặt tờ giấy ố vàng của Lam Nhi lên.

Tùng Lâm chăm chú xem xét con số bị sửa, ngỡ ngàng nhận ra giá trị Lam Nhi tính toán theo quan sát trực giác năm xưa thực chất không hề sai, mà nó chính là sai số hệ thống của đài quan trắc mà Vân Kính bấy lâu âm thầm kiểm chứng.

Bà không hề nhìn vào dòng chữ tự trách sướt mướt của Lam Nhi, cũng chẳng bận tâm đến vết gạch xóa lem luốc bằng mực nho rẻ tiền. Đôi mắt sắc sảo, lạnh lùng của một nhà khoa học thực chứng dán chặt vào hai con số vĩ độ sao được ghi chép cẩn thận ở mép lề phải của trang giấy: con số ban đầu bị gạch bỏ là *34 độ 18 phút*, và con số được chép đè lên từ sách chuẩn của Phường là *34 độ 36 phút*.

"Khoan đã..." Tùng Lâm lẩm bẩm trong cổ họng, ngón tay trỏ khẳng khiu của bà miết thật mạnh lên vết mực gạch xóa cũ, miết đi miết lại như muốn cạo lớp xơ giấy để nhìn thấu cấu trúc bên dưới. "Lam Nhi, con bé ngốc nghếch này... Cháu bảo cháu tự đo con số này năm mười bốn tuổi bằng chiếc compa lăng kính thạch anh trên đỉnh tháp quan trắc Đảo Lam Bến sao?"

Lam Nhi khẽ giật mình, vội vàng đưa mu bàn tay quệt ngang dòng nước mắt, giọng cô vẫn còn run rẩy vì xúc động:

"Vâng... thưa cô. Đêm hôm đó trời rét lắm, gió đảo tầng thổi buốt buốt. Cháu đã trèo lên đỉnh tháp, chỉnh cân bằng bọt nước của đế thau, ngắm qua lăng kính thạch anh suốt ba lần độc lập. Cả ba lần, sợi tóc thao thiết trong kính đều chỉ đúng vào vạch ba mươi tư độ mười tám phút. Nhưng cuốn Lịch Thiên Văn của Phường Giữ Bản Đồ—bản in khắc đồng quy chuẩn phát hành năm ấy—lại ghi rõ mồn một là ba mươi tư độ ba mươi sáu phút... Cháu... cháu đã nghĩ mắt mình bị quáng gà do sương muối bốc lên từ biển mây..."

"Quáng gà cái đầu cháu ấy!"

Tùng Lâm bỗng gắt lên một tiếng thật lớn. Nhưng trong giọng nói khô khốc thường ngày của bà không hề có lấy một mảy may giận dữ, mà thay vào đó là một sự kinh ngạc tột độ pha lẫn phấn khích cuồng nhiệt đến nghẹn lời.

Bà giật lấy chiếc compa phân độ bằng đồng trên mặt bàn, lật phắt cuốn sổ ghi chép hải trình của con thuyền sang trang lưu trữ tài liệu mật mà Mai Khuê từng giao lại ở Tháp Lịch Phong trước khi chia tay.

"Tứ Hải! Mang ngọn đèn bão lại đây! Soi sát vào dòng số liệu này cho ta!" Tùng Lâm quát khẽ, đôi mắt bà lóe lên những tia sáng rực rỡ sau tròng kính thạch anh.

Tứ Hải không chậm trễ một giây, vội vàng nhấc chiếc đèn bão đưa sát xuống mặt gỗ gụ.

Tùng Lâm đặt hai tài liệu nằm song song sát cạnh nhau: một bên là tờ giấy nháp nhàu nát, ố vàng của cô bé mười bốn tuổi Lam Nhi, một bên là bản trích lục mật thư điều tra của Vân Kính cùng biên bản giám định sai số độc lập có đóng dấu son đỏ chót của Mai Khuê tại Đảo Thiên Phong.

"Nhìn đi! Hai đứa các cháu mở to mắt ra mà nhìn cho rõ từng con số này!" Ngón tay khẳng khiu của Tùng Lâm gõ mạnh lên mặt bàn, chỉ vào từng hàng số được ghi chép tỉ mỉ. "Ba mươi tư độ ba mươi sáu phút trừ đi ba mươi tư độ mười tám phút... là bao nhiêu? Là đúng mười tám phút cung! Tức là đúng tròn không phẩy ba độ! Không phẩy ba độ góc nghiêng lệch trục phương bắc!"

Lam Nhi sững sờ. Toàn thân cô như có một luồng điện cực mạnh xẹt qua, chạy dọc từ đỉnh đầu xuống tận gót chân, khiến mọi tế bào trong cơ thể cô tê dại.

"Không phẩy ba độ..." Lam Nhi thốt lên nghẹn ngào, hơi thở như bị chặn đứng nơi cổ họng. "Đó... đó là..."

"Đó chính là sai số hệ thống chết người của chiếc kính thiên văn cổ tại Đài Quan Trắc Sao Dẫn Lộ ở Tầng Sáng!"

Tùng Lâm đập mạnh cả bàn tay xuống mặt gỗ gụ, phát ra một tiếng *chát* vang dội khắp khoang đo đạc. Đôi mắt bà sáng rực lên như hai ngọn lửa:

"Bức di thư và tài liệu trắc đạc của ông nội cháu để lại chẳng phải đã chỉ rõ rồi sao? Suốt mười năm trước, Vân Kính đã phát hiện ra trục ngắm quang học của đài quan trắc thiên văn trung tâm trên Tầng Sáng đã bị lún nghiêng do sự xói mòn của dòng đối lưu, dẫn đến sai số ba phần mười độ! Ba phần mười độ ấy, khi chiếu xuống hải đồ chín tầng mây, đã khiến toàn bộ các tuyến hải trình quy chuẩn của Phường Giữ Bản Đồ bị sai lệch tích lũy tới hai phẩy bốn hải lý về hướng đông bắc! Hậu quả là gì? Hàng trăm con thuyền buôn vô tội đã đâm sầm vào đá ngầm Tầng Mù, hàng ngàn hoa tiêu bị kết tội oan uổng vì 'tay lái vụng về'! Trong khi đó, Phường Giữ Bản Đồ cấu kết với bọn đầu nậu Hội Kim Phong, bưng bít sự thật suốt cả một thập kỷ để độc quyền các hải trình cứu hộ và trục vớt xác tàu!"

Nhà thực vật học bước tới, hai bàn tay gầy guộc nhưng cứng cáp của bà nắm chặt lấy hai bờ vai đang run rẩy của Lam Nhi, lắc mạnh như muốn đánh thức toàn bộ tâm thức đang ngủ mê của cô gái nhỏ:

"Lam Nhi! Cháu có hiểu điều này có ý nghĩa gì không? Con số ba mươi tư độ mười tám phút mà cháu đo được năm mười bốn tuổi... bằng đôi mắt tinh tường thiên bẩm và trực giác hoang sơ chưa bị sách vở giáo điều làm vấy bẩn... thực chất không hề sai lệch một li nào hết! Cháu không hề cẩu thả! Cháu không hề có lỗi trong quá trình quan trắc đêm hôm đó! Cái con số ba mươi tư độ mười tám phút bị gạch xóa kia mới chính là sự thật trần trụi, vĩ đại của bầu trời! Còn con số ba mươi tư độ ba mươi sáu phút mà cháu sao chép từ cuốn Lịch Thiên Văn của Phường mới chính là lời dối trá khổng lồ bao trùm lên toàn bộ bầu trời Vân Quốc suốt mười năm qua!"

Những lời nói của Tùng Lâm như sấm sét giữa trời quang, nổ tung trong tâm trí Lam Nhi.

Màn sương mù u tối, dày đặc của nỗi mặc cảm tội lỗi từng giam hãm linh hồn cô suốt bốn năm đằng đẵng bỗng chốc bị luồng gió chân lý thổi bạt đi sạch trơn, không còn để lại một dấu vết.

Lam Nhi bàng hoàng nhận ra ông nội không hề rời đi vì giận cô, mà ông đang tiếp tục hành trình bảo vệ sự thật chung cho cả Vân Quốc.

Ký ức của cái đêm định mệnh bốn tuần trước ở Đảo Lam Bến ùa về trong tâm trí cô cuồn cuộn như thác lũ. Nhưng lần này, nó không còn mang màu đen xám xịt của sự ruồng bỏ và trách cứ nữa. Từng chi tiết nhỏ nhặt nhất của đêm hôm ấy bỗng hiện lên sáng rõ, thấm đẫm yêu thương mà bấy lâu cô đã mù quáng bỏ qua vì lòng tự ti và nỗi sợ hãi.

Cô nhớ lại ánh mắt của ông nội Vân Kính khi ông chậm rãi cúi người, nhặt hai nửa chiếc thước đo góc gia truyền bị gãy dưới sàn xưởng vẽ Đảo Lam Bến. Ánh mắt ấy không hề có một tia thất vọng nào cả. Càng không có sự tức giận hay chán chường đối với một đứa cháu gái ương bướng.

Đó là ánh mắt đau đáu, xót xa khôn cùng của một người lính già đã dạn dày sương gió, nhìn thấy trước những bão táp hiểm nguy mà đứa cháu gái nhỏ bé của mình sắp sửa phải đối mặt khi bước chân vào biển trời đầy cạm bẫy. Khi ông bảo cô phải leo lên giàn buồm đỉnh tháp trong đêm gió giật, không phải ông muốn hành hạ cô, mà ông muốn trui rèn cho cô một bản lĩnh thép để vượt qua chứng sợ độ cao—bởi vì ông biết, con đường phía trước của cô sẽ phải vươn cao hơn bất kỳ hoa tiêu nào trong lịch sử!

Cô nhớ lại bức thư niêm phong bằng chỉ tơ mây gia cường mà mẹ Mộc Miên đã nghẹn ngào trao lại cho cô trước giờ con thuyền *Mầm Gió* nhổ neo xuất phát: *'Người vẽ bản đồ chân chính không bao giờ được phép tin vào bản vẽ cũ chỉ vì danh tiếng của tiền nhân, mà phải luôn tự mình kiểm chứng từng ngọn gió, từng vì sao bằng đôi mắt và trái tim thanh sạch nhất...'*

Và hơn hết, từng lời tiết lộ của người cựu hoa tiêu già tàn phế cùng Thợ cả Thiết bên đống lửa than Bãi Thuyền Lạc đêm qua vang vọng lại trong tâm trí cô: Mười năm trước, chính tại bãi tha ma thuyền bè này, Vân Kính đã tháo dỡ con tàu Hải Âu Xám lừng danh của mình, biến nó thành một con thuyền siêu nhẹ bọc tơ mây mười sáu lõi, rồi nương theo dòng gió đối lưu nghịch nhiệt bay ngược lên Tầng Sáng hướng về chòm sao Dẫn Lộ!

Ông nội làm tất cả những điều đó không phải vì một cuộc trốn chạy hèn mạt trước nghịch cảnh. Ông không hề ruồng bỏ người kế nghiệp của dòng họ! Ông rời đi một mình trong đêm tối là để gánh hết mọi bão giông nguy hiểm trên đôi vai già nua, để biến mình thành mồi nhử thu hút toàn bộ nanh vuốt của Hội Kim Phong và những kẻ thoái hóa trong Phường Giữ Bản Đồ. Ông bay lên Tầng Sáng là để đích thân leo lên đài quan trắc cổ kính, kiểm chứng và bẻ gãy mắt xích sai số vĩ đại ấy trước khi trao lại ngọn đuốc chân lý cho cô!

Tờ giấy nháp này... con số bị gạch xóa vụng về này... ông nội chắc chắn đã từng nhìn thấy nó!

Có thể chính con số ba mươi tư độ mười tám phút đầy bản năng của đứa cháu gái mười bốn tuổi năm ấy đã củng cố thêm niềm tin sắt đá trong lòng người thợ già: rằng bầu trời không hề sai lệch, các vì tinh tú nghìn đời không hề đổi hướng, chỉ có đôi mắt của những kẻ mang danh hàn lâm bị che mờ bởi vàng bạc và quyền lực mới sinh ra dối trá! Ông biết cô có đôi mắt của một đại hoa tiêu, nhưng ông cần cô phải tự mình đứng dậy từ sai lầm, tự mình bước qua nỗi sợ hãi để đón nhận chân lý.

"Ông không giận mình..." Lam Nhi thì thầm, hai bờ môi run rẩy nở một nụ cười nghẹn ngào giữa dòng nước mắt đang tuôn rơi. Lần này, đó không phải là nước mắt của nỗi ân hận hay cay đắng nữa, mà là những giọt nước mắt của sự giải thoát tuyệt đối, của lòng biết ơn vô hạn và sự thấu suốt thiêng liêng. "Ông chưa từng giận mình một giây phút nào cả... Ông đã luôn tin tưởng mình..."

"Chíp! Chíp chíp!"

Tiếng chim Bông vang lên lảnh lót. Con chim nhỏ đang đậu trên giá gỗ bỗng vỗ cánh phành phạch, sà xuống mặt bàn gỗ gụ. Đôi chân mảnh khảnh màu đỏ tía của nó nhảy thoăn thoắt trên mặt giấy, chiếc mỏ nhỏ nhắn màu ngọc bích khẽ gõ nhẹ ba nhịp 'lách cách' quen thuộc lên mu bàn tay Lam Nhi. Rồi nó nghiêng đầu, dụi bộ lông mịn màng ấm áp như cục bông gòn vào má cô, phát ra những tiếng gù êm ái như muốn sẻ chia niềm vui to lớn vừa vỡ òa trong gian phòng.

Dưới cổ chim Bông, chiếc vòng đá bọt Canh Neo bỗng phát ra một vệt sáng màu xanh biếc êm ả lạ thường. Luồng ánh sáng nhu hòa ấy lan tỏa khắp mặt bàn, xua tan đi hoàn toàn bầu không khí căng thẳng, u uất bấy lâu, bao bọc lấy ba con người bằng một sự an định vững bền như núi đá.

Trút bỏ được tảng đá mặc cảm ngàn cân trong tâm hồn, Lam Nhi tự tay kẹp tờ bản nháp vào trang đầu cuốn nhật ký hải trình; Bản Đồ Mây trên bàn bỗng rực sáng một luồng quang ngân dẫn thẳng lên Tầng Sáng.

Lam Nhi hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô căng tràn không khí mát lành của biển mây đêm.

Cô nhắm mắt lại trong ba giây, áp dụng chính xác kỹ thuật thở ba nhịp mà Đội trưởng Đội Tuần Tra Hạ Vũ từng dạy cô bên mép vực Đảo Thiên Phong: hít sâu vào ba nhịp đếm, giữ chặt luồng khí trong lồng ngực ba nhịp, rồi từ từ thở ra đều đặn qua kẽ răng ba nhịp. Từng nhịp thở vững chãi, nhịp nhàng xua tan đi giọt nước mắt cuối cùng còn đọng lại trên hàng mi cong. Đôi bàn tay cô không còn run rẩy nữa. Mười đầu ngón tay—vốn nhạy cảm phi thường với từng rung động vi mô của mực vẽ, từng biến thiên áp suất của gió—đã lấy lại trọn vẹn sự chuẩn xác, khéo léo và kiên định của một người giữ bản đồ chân chính.

Cô cẩn thận dùng hai tay nâng niu tờ giấy ố vàng năm mười bốn tuổi.

Cô không vò nát nó. Cô không xé vụn nó ra để phi tang đi chứng tích của sự dối trá non nớt thuở nào như cô từng muốn làm hàng trăm lần trong quá khứ. Bằng đôi bàn tay trân trọng và dịu dàng nhất, Lam Nhi vuốt phẳng lại từng nếp gấp đã sờn rách ở bốn góc giấy.

Cô với tay mở cuốn nhật ký hải trình bọc da cá voi đóng gáy đồng dày cộp—nơi ghi lại chi tiết từng hải lý sinh tử, từng tọa độ đón gió từ Đảo Lam Bến qua Thiên Phong, xuyên Thư Viện Phi Diệp, vượt Rừng Sương Quang cho tới Bãi Thuyền Lạc. Lam Nhi nhẹ nhàng, trang trọng kẹp tờ bản nháp có con số bị gạch xóa ấy vào ngay trang đầu tiên của cuốn sổ, đối diện với trang vẽ gia huy mỏ neo của Xưởng Vân Kính.

Kể từ giây phút này, tờ nháp ấy không còn là vết nhơ của sự hèn nhát hay dối trá nữa. Nó đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng nhất cho sự thức tỉnh của một hoa tiêu! Nó sẽ là lời nhắc nhở vĩnh cửu cho toàn bộ cuộc đời hành hải của Lam Nhi: rằng sự thật của bầu trời phải luôn được đánh đổi bằng lòng dũng cảm quan sát thực địa, và một người thợ vẽ bản đồ chân chính không bao giờ được phép cúi đầu hay thỏa hiệp trước bất kỳ khuôn mẫu giả tạo nào của quyền lực!

Ngay khi mép giấy nháp vừa chạm khít vào gáy đồng của cuốn nhật ký, một hiện tượng kỳ diệu bất ngờ bùng nổ ngay trong khoang đo đạc.

Trên mặt bàn gỗ gụ, tấm Bản Đồ Mây dệt từ sợi rễ Neo cổ xưa vốn đang nằm im lìm trong ống đồng bỗng khẽ rung lên bần bật. Nắp ống đồng tự động bật mở với một tiếng *coong* thanh tao. Tấm da mây tự động trải rộng ra mặt bàn như có một bàn tay vô hình điều khiển.

Những đường vân dệt vi mô trên tấm bản đồ dường như hút trọn tần số cộng hưởng từ sự giải thoát trong tâm thức của Lam Nhi, từ mẫu rễ rỉ sáng màu hổ phách trong chiếc hộp gỗ bách của Tùng Lâm, và từ luồng năng lượng xanh biếc của chiếc vòng đá bọt Canh Neo nơi cổ chim Bông. Vệt mực phong vũ màu tím bầm u tối—vốn tượng trưng cho sự rạn nứt đau đớn của Mạch Neo và những bế tắc hiểm nguy của chuyến hải trình—đột ngột tan biến như mực hòa vào nước trong. Thay vào đó, một sắc xanh lam phỉ thúy rực rỡ, trong vắt và thuần khiết chưa từng thấy bắt đầu tuôn chảy dọc theo các thớ sợi tơ mây.

Từ khoảng trống hình tròn mang biểu tượng mỏ neo ba ngấn nằm ngay tại trung tâm bản đồ, một luồng quang ngân rực rỡ đột ngột phóng thẳng lên trần khoang thuyền!

Luồng ánh sáng bạc lấp lánh như bụi sao ngưng tụ giữa đêm rằm, chiếu xuyên qua lớp kính thạch anh quan sát trên nóc buồng lái, vút thẳng lên bầu trời đêm dày đặc của Tầng Mù.

Trên bề mặt tấm da mây, một tuyến đường hải hành hoàn toàn mới hiện hình rõ nét đến từng chi tiết: đó là một đường xoắn ốc khí động học tuyệt mỹ, lượn vòng mềm mại nương theo các cửa gió đối lưu nghịch nhiệt tầng cao, vạch ra một hành lang thoát ly hoàn hảo khỏi thung lũng đá xỉ Bãi Thuyền Lạc, dẫn thẳng một mạch xuyên qua các tầng mây dày, hướng thẳng lên tầng khí quyển cao nhất của thế giới—nơi tọa lạc của Đài Quan Trắc Sao Dẫn Lộ cổ kính sừng sững giữa trời sao!

Tứ Hải bật phắt dậy khỏi ghế đẩu. Cậu nhìn luồng quang ngân đang rực sáng cả gian phòng, ánh mắt cậu bùng cháy ngọn lửa kiêu hãnh và nhiệt huyết sục sôi của một người thuyền trưởng đích thực:

"Đường lên Tầng Sáng đã mở rồi!"

Cậu quay sang nhìn Lam Nhi, nở một nụ cười rạng rỡ và gật đầu thật dứt khoát:

"Con thuyền *Mầm Gió* với túi nâng mười sáu lõi vừa được gia cường, bộ vây lái gỗ sồi ngàn năm và cỗ máy khí nén tinh thể khinh thạch đã ở trạng thái hoàn hảo nhất! Thuyền trưởng Tứ Hải đợi lệnh xuất phát của hoa tiêu trưởng Lam Nhi!"

Lam Nhi đứng thẳng người dậy. Vạt áo hoa tiêu bằng vải bạt nhẹ của cô bay phấp phới trong luồng gió ấm áp mang năng lượng Mạch Neo vừa lan tỏa khắp căn phòng. Cô với tay lấy chiếc ống nhòm thạch anh hai tròng và thanh thước đo góc nẹp xương cá voi giắt gọn gàng vào thắt lưng da, ngẩng cao đầu nở một nụ cười rạng rỡ giữa những vệt nước mắt đã khô:

"Ra boong thôi, Tứ Hải! Chúng ta đi đón ông nội về!"

Cả nhóm đồng loạt sải bước rời khỏi khoang đo đạc, tiến thẳng ra boong tàu lộng gió.

Không khí bên ngoài boong lúc này vô cùng khoáng đạt. Dưới chân họ, từ sâu trong buồng máy chính, cỗ máy khí nén tinh thể khinh thạch thượng hạng—món quà tuyệt hảo mà Lão Sáu và các thợ rèn kỳ cựu đã dốc sức lắp đặt đêm qua—bắt đầu gầm vang những nhịp thở trầm hùng, ổn định và đầy uy lực. Hệ thống pít-tông bằng thép nguội đẩy các luồng khí tinh khiết vào túi nâng tơ mây ba lớp. Chiếc túi khí khổng lồ căng phồng lên, tỏa ra một vầng hào quang ngũ sắc diệu kỳ lấp lánh giữa đêm đen. Các lá vây lái kép bằng gỗ sồi ngàn năm khẽ chuyển động nhịp nhàng theo từng cú xoay bánh lái thử nghiệm của Tứ Hải.

Bên dưới bến đậu, Thợ cả Thiết cùng hàng trăm thợ thuyền, hoa tiêu và cư dân của Bãi Thuyền Lạc đã đứng chật kín bờ kè đá xỉ từ lúc nào. Dưới ánh đuốc bập bùng, họ lặng lẽ ngước nhìn con thuyền vừa hồi sinh kỳ diệu từ đống tro tàn của bãi tha ma. Khi nhìn thấy Lam Nhi và Tứ Hải bước ra mũi tàu, Thợ cả Thiết đưa bàn tay hộ pháp thô ráp lên, nắm chặt thành quả đấm đặt ngang trước ngực trái. Hàng trăm người thợ phía sau ông cũng đồng loạt làm theo—đó là nghi thức danh dự tối cao của những người thợ đóng tàu dành cho những hoa tiêu dũng cảm dám dấn thân vào cõi chết để tìm kiếm sự thật.

"Cắt dây neo!" Tứ Hải gầm lên một tiếng đầy uy lực từ đài chỉ huy, hai tay nắm chặt lấy bánh lái bằng gỗ bách.

Những sợi dây thừng bện bằng xơ gai dầu lớn bằng bắp tay đồng loạt được tháo chốt, rơi rụng xuống mặt đá xỉ.

*Mầm Gió* khẽ rung lên một nhịp rùng mình kiêu hãnh. Cỗ máy khinh thạch rít lên một âm thanh trong trẻo, túi nâng mười sáu lõi bốc lên ngùn ngụt lực đẩy không trọng lực.

Con thuyền ngẩng cao mũi tàu bọc đồng thau sáng loáng, rẽ toạc lớp mây mù nghịch nhiệt của Bãi Thuyền Lạc, nương theo luồng quang ngân xoắn ốc rực rỡ phóng vút lên không trung! Nó bay vút lên Tầng Sáng cao vút, nơi những đài thiên văn cổ sừng sững giữa muôn triệu vì sao lấp lánh, bỏ lại sau lưng vực thẳm tăm tối, hướng thẳng về nơi sự thật và tình yêu thương đang đón đợi.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn