Ngưỡng Cửa Mùa Khô
Tiếng búa gõ xỉ hàn và tiếng rít chói tai của que hàn điện từ tiệm sửa chữa cơ khí dưới tầng trệt dội thẳng qua lớp sàn ván ép mỏng dính, truyền qua xương cẳng chân rồi chạy dọc lên sống lưng đúng lúc Phạm Hải Yến rọc nhát băng keo cuối cùng trên chiếc thùng các-tông đựng tài liệu kỹ thuật vừa chở từ Bến xe Trung tâm về.
Mùi khét lẹt của nhựa thông, mạt sắt cháy và dầu máy biến thế cũ kỹ bốc lên qua khe hở co ngót giữa hai tấm ván sàn, quyện chặt vào luồng không khí hầm hập, khô khốc của buổi trưa đứng gió ở quận Thanh Khê. Căn phòng thuê chưa đầy hai mươi mét vuông nằm nép mình sát dưới mái tôn Fibro xi măng lợp dốc một chiều, nơi nhiệt lượng tích tụ từ buổi sáng bắt đầu tỏa xuống đỉnh đầu như một chiếc lò sấy nông sản. Bốn bức tường quét vôi màu ve xanh từ thập niên trước đã bong tróc từng mảng lớn như vảy cá, để lộ ra những mảng vữa cát xám xịt mục rỗng và những vệt ố màu rỉ sét chạy dài từ mép xà gồ. Ngoài ô cửa sổ con chấn song sắt han rỉ nhìn xuống con hẻm ngoằn ngoèo rải đầy sỏi vụn và vỏ nghêu sò vỡ nát, gió từ vịnh Đà Nẵng thổi xộc vào mang theo hơi muối mặn chát, nồng gắt và rin rít trên da thịt — thứ mùi vị đặc thù của dải đất ven biển miền Trung mà suốt năm năm học tập và làm việc nơi phương Nam bằng phẳng cô hiếm khi nào ngửi thấy.
Yến quỳ gối trên chiếc chiếu cói đã sờn mép, hai đầu gối cấn buốt xuống mặt ván gỗ đang rung lên bần bật theo từng nhịp điểm mối hàn lách tách bên dưới. Chiếc máy trạm ThinkStation cũ kỹ — khối kim loại nặng gần mười tám ký, cũng là tài sản có giá trị công nghệ duy nhất cô chắt bóp mang về từ công ty phân tích rủi ro hạ tầng tại Sài Gòn — nằm chỏng chơ bên cạnh chiếc bàn xếp bằng gỗ công nghiệp ép dán đề-can giả vân sồi đã phồng rộp các góc. Cô cẩn thận gỡ từng lớp bọc chống sốc bằng xốp nổ đã xẹp bớt bọt khí, dùng khăn vải sợi nhỏ lau sạch lớp bụi đường bám vào các khe tản nhiệt dạng tổ ong, cắm lại hai thanh RAM vừa tháo rời khi vận chuyển đường dài, rồi luồn sợi dây nguồn dày cộp bọc cao su chịu tải vào ổ cắm gắn nổi trên tường. Ổ điện lỏng lẻo kêu đánh "tách" một tiếng khô khốc, một tia lửa điện xanh lét lóe lên kèm mùi ozone khen khét trước khi chiếc đèn báo nguồn hình tròn trên thân máy bật sáng màu hổ phách.
Không có bộ lưu điện công nghiệp ba pha. Chiếc UPS Santak năm trăm vôn-ampe nhỏ xíu mà cô kỳ kèo mua lại từ một cửa hàng thanh lý đồ điện tử cũ trên đường Điện Biên Phủ chỉ đủ sức duy trì dòng điện cho máy trạm trong đúng bốn phút — khoảng thời gian vừa vặn để cô hốt hoảng bấm tổ hợp phím Ctrl+S và tắt an toàn các tiến trình tính toán nếu tiệm cơ khí tầng dưới bất ngờ chập tải máy hàn làm nhảy cầu dao tổng của cả dãy trọ. Mọi tiện nghi chuẩn mực của một phòng lab mô phỏng rủi ro thiên tai — với hệ thống sàn nâng chống tĩnh điện, máy điều hòa trung tâm luôn duy trì ổn định ở mức hai mươi mốt độ C, độ ẩm không khí bốn mươi phần trăm và nguồn điện máy phát dự phòng kép tự động chuyển mạch trong ba phần mười giây — đều đã vĩnh viễn nằm lại ở tòa nhà văn phòng hạng A trên đường Điện Biên Phủ, quận Bình Thạnh. Ở căn gác xép Thanh Khê này, giá thuê chỉ một triệu tám trăm ngàn một tháng, tiền cọc một tháng trả trước ba tháng, nhưng cái giá vô hình đi kèm là cô phải học cách sống chung với sự phập phồng của lưới điện dân sinh và tập thói quen bấm lưu tệp sau mỗi ba dòng lệnh gõ vào cửa sổ dòng lệnh.
Quạt tản nhiệt của cỗ máy trạm bắt đầu gầm lên, rít từng hồi dài tựa như tiếng động cơ phản lực chuẩn bị cất cánh, thổi bay một lớp bụi cát mỏng bám trên gờ bàn xếp. Yến kéo chiếc ghế xoay gãy một bên tay vịn lại gần, mở tập tin mô hình thủy lực đô thị mà cô đã bỏ ra trọn vẹn ba tháng cuối tuần liên tục để hiệu chỉnh, làm sạch dữ liệu và đóng gói cấu trúc trước khi chính thức đặt bút ký vào lá đơn xin thôi việc.
Trên màn hình độ phân giải cao hiển thị gam màu xám lạnh, mạng lưới tam giác bất quy tắc (TIN) của lưu vực mô phỏng hiện lên chằng chịt như mạng nhện khổng lồ, được gán mã màu trực quan dựa trên mô hình cao trình số kỹ thuật số (DEM). Đó là mô hình ngập lụt được cô kỳ công xây dựng dựa trên nền tảng thủy văn và chuỗi số liệu đo mưa của các quận trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Ở vùng đồng bằng châu thổ phương Nam, bài toán ngập lụt đô thị phần lớn xoay quanh hai biến số quen thuộc, có quy luật tương đối rõ ràng: những cơn mưa rào nhiệt đới đối lưu có cường suất cực lớn dồn dập trút xuống trong khoảng sáu mươi đến chín mươi phút vào các buổi chiều tan tầm, kết hợp đồng thời với đỉnh triều bán nhật triều từ hệ thống sông Sài Gòn — Đồng Nai dâng ngược qua các miệng cống ngăn triều bị kẹt rác thải sinh hoạt. Đất đai hạ lưu là vùng đồng bằng phù sa cổ và đầm lầy bằng phẳng, độ dốc địa hình cực nhỏ, nước ngập lan tỏa theo diện rộng dạng vũng tràn, tốc độ dòng chảy mặt chậm chạp và hoàn toàn có thể mô phỏng tương đối chính xác bằng phương trình sóng khuếch tán một chiều kết hợp hai chiều.
Thế nhưng, khi ngón tay Yến lướt trên bàn phím cơ, thay đổi hệ quy chiếu tọa độ địa lý sang dải đất hẹp miền Trung, nhập chuỗi số liệu lượng mưa lịch sử của trạm khí tượng Đà Nẵng cùng dữ liệu đường bờ biển quanh vịnh Thanh Khê, các tham số vận hành của mô hình lập tức bắt đầu vỡ vụn.
Mũi tên vector biểu thị vận tốc dòng chảy trên giao diện mô phỏng bắn vọt lên những con số đỏ rực, phi lý đến mức làm tràn bộ nhớ đệm. Miền Trung không có một vùng trũng phù sa rộng hàng ngàn cây số vuông để nước mưa thong thả dàn mặt và thấm dần qua các tầng đất xốp. Ngay sau lưng thành phố là bức tường đá hoa cương sừng sững của dãy Bạch Mã và các triền núi dốc đứng của quần thể Bà Nà ép sát ra mép sóng; nước mưa nhiệt đới trút xuống những sườn đá trơ trụi không hề có lớp thảm thực vật đủ dày để giữ nước, mà lập tức gom thành những dòng lũ quét cục bộ hung hãn, lao thẳng xuống các con sông ngắn, dốc như sông Cu Đê, sông Phú Lộc chỉ trong vòng chưa đầy hai giờ đồng hồ. Đỉnh lũ nội đô không có sự kiên nhẫn để chờ đợi con nước triều từ từ bò lên theo chu kỳ bán nhật triều.
Nguy hiểm hơn gấp bội, vào mùa mưa bão kéo dài từ tháng Chín đến tháng Mười Một, gió mùa Đông Bắc thổi mạnh kết hợp với hoàn lưu áp thấp nhiệt đới tạo ra hiện tượng nước dâng do bão (storm surge). Mặt biển ngoài vịnh bị những cơn cuồng phong dồn ứ, ép ngược vào đất liền với cao trình hàng mét, đóng chặt toàn bộ các cửa xả tự chảy của hệ thống cống hộp ngầm đô thị. Nước mưa trên núi đổ xuống gặp bức tường nước biển dâng ngược vào biến toàn bộ hệ thống thoát nước thành một cái bẫy kín, biến những con đường nhựa bằng phẳng thành lòng sông cuộn sóng chỉ trong chớp mắt.
"Hệ số nhám Manning không thể nào giữ nguyên giá trị 0.025 theo tiêu chuẩn thiết kế thoát nước đô thị thông thường được," Yến lẩm bẩm một mình, giọng cô khô khốc át đi tiếng vo ve của quạt máy. Các ngón tay cô gõ dồn dập trên bàn phím để hiệu chỉnh lại lớp phủ mặt đệm trong tệp cấu hình. "Cống hộp ở dải ven biển này chứa đầy cát biển bồi lấp và xà bần từ hàng trăm công trình xây dựng khách sạn dở dang. Tiết diện thoát nước thực tế bị bóp nghẹt ít nhất ba mươi phần trăm. Thời gian tập trung dòng chảy bị rút ngắn một nửa. Nếu giữ nguyên hàm phân rã mưa Nam Bộ, mô hình sẽ báo ngập trễ ít nhất bốn mươi phút."
Bốn mươi phút ở dải đất miền Trung này không phải là một sai số lý thuyết có thể giải trình nhẹ nhàng trong các bài báo khoa học hay các buổi hội thảo đánh giá tác động môi trường. Bốn mươi phút ở đây là khoảng cách sinh tử giữa việc một kho gạo kịp kê ba mươi tấn hàng lên các bục gỗ pallet hay toàn bộ tài sản chìm nghỉm trong nửa mét bùn đỏ quánh đặc phù sa. Bốn mươi phút là ranh giới giữa việc một hộ kinh doanh kịp ngắt cầu dao tổng dọn tủ đông hay nhìn toàn bộ mô-tơ điện cháy rụi dưới dòng nước nhiễm mặn.
Yến đưa hai bàn tay lên xoa chặt hai bên thái dương đang căng giật từng cơn vì tiếng ồn cơ khí dưới sàn và luồng nhiệt từ mái tôn hắt xuống. Mô hình lý thuyết trên máy tính dù có phức tạp đến đâu, thuật toán tối ưu hóa dù có tinh vi đến mức nào, thì để biến nó thành một dịch vụ thực tế có người dân chịu bỏ tiền túi ra mua, cô bắt buộc phải có dữ liệu kiểm chứng từ mặt đất. Cô cần phải biết chính xác vệt nước ngập thực tế trong từng khúc quanh của các con ngõ nhỏ ăn khớp với các mắt lưới mô phỏng đến mức độ nào, chứ không thể ngồi phòng máy lạnh mà đoán định thực địa.
Yến với tay bật công tắc chiếc máy in phun màu Canon cũ kỹ cắm qua cổng USB phía sau máy trạm, rồi nạp xấp giấy bìa A3 dày cộp vào khay cuốn. Tiếng trục cao su rít lên từng chập, đầu kim phun rọt rẹt kéo qua kéo lại trên mặt giấy, nhả ra từng vệt mực xanh lá, vàng chanh, cam sáng và đỏ sẫm — biểu thị bốn phân tầng nguy cơ ngập lụt từ mức ngập cục bộ dưới mười lăm phân cho đến mức ngập sâu trên một mét cực kỳ nguy hiểm. Cô đợi vài phút cho lớp mực in khô hẳn, cẩn thận kẹp tập bản đồ còn sực mùi hóa chất vào tập hồ sơ bìa cứng màu xanh, bỏ chiếc máy tính bảng cùng cục sạc dự phòng vào chiếc ba lô sờn góc, rồi xỏ chân vào đôi dép quai hậu bước xuống cầu thang gỗ hẹp dẫn ra con hẻm.
***
Cụm kinh doanh buôn bán nhỏ An Khê nằm cách căn phòng trọ của Yến chừng mười lăm phút chạy xe máy men theo con đường sắt Bắc - Nam và các trục mương hở dẫn nước thải. Đây là một mê cung thực sự của những con hẻm bê tông ngoằn ngoèo, nơi mặt đường chỗ rộng nhất cũng chỉ chừng ba mét rưỡi, còn chỗ hẹp thì hai chiếc xe máy chở hàng cồng kềnh tránh nhau phải nghiêng tay lái sát vào tường rào. Hai bên hẻm san sát những ngôi nhà ống một tầng hoặc gác lửng kết hợp làm nơi ở lẫn buôn bán tạp hóa, vật liệu xây dựng nhỏ lẻ, tiệm giặt ủi và sửa chữa xe máy.
Mặt đường bê tông ở đây đã qua không biết bao nhiêu lần nâng cấp, giặm vá chắp vá sau mỗi đợt làm đường giao thông nông thôn mới hay chỉnh trang đô thị, tạo ra một cảnh tượng đặc trưng và trớ trêu của quá trình đô thị hóa tự phát: thềm nhà của các hộ dân hai bên đường có cao độ hoàn toàn bất quy tắc. Có những ngôi nhà khá giả, chủ nhà chịu chi tiền đắp bậc tam cấp bê tông kiên cố cao hơn mặt đường tới nửa mét, ngạo nghễ nhìn xuống dòng người qua lại; nhưng cũng có những căn nhà cấp bốn xây từ thập niên chín mươi, nền nhà trũng sâu xuống thấp hơn mặt đường nhựa mới nâng gần ba mươi phân, biến toàn bộ không gian phòng khách phía trước thành một cái hố thu nước lộ thiên mỗi khi trời đổ mưa dông.
Cửa hàng tạp hóa tổng hợp của bà Bùi Thị Lành nằm ngay tại khúc cua gắt nhất của trục hẻm chính An Khê, nơi hội tụ của ba nhánh mương thoát nước nhánh. Đó là một gian nhà cấp bốn rộng rãi lợp mái tôn Fibro xi măng đã ngả màu xám xịt vì rêu mốc, phía trước hiên giăng đầy những tấm bạt dứa sọc xanh đỏ rách mép để che nắng. Bên trong tiệm, hàng hóa được chất cao ngất ngưởng thành từng chồng: hàng chục thùng các-tông mì ăn liền các loại, giá treo dầu gội đầu, bột giặt dạng gói dây dài lòng thòng, những can nước mắm loại năm lít xếp thành hàng dài, và nổi bật nhất là dãy bao tải gạo loại năm mươi ký mở toang miệng, cắm sẵn những chiếc ống đong bằng nhôm sáng loáng. Không khí bên trong tiệm bốc lên một mùi hỗn hợp nồng nặc, quen thuộc của rơm rạ, cám gạo mới, dầu hỏa thắp đèn, mùi mắm ruốc ngâm trong vại sành và lớp bụi đất mịn bám trên mặt các bao đường cát.
Yến tắt máy, dựng chiếc xe máy Wave cũ sát mép tường rào tôn đối diện, cẩn thận gạt chân chống nghiêng rồi ngó nghiêng để chắc chắn đuôi xe không cản trở lối đi của những chiếc xe ba gác chở nước đá cây đang hối hả chạy qua. Cô hít sâu một hơi để ổn định lại nhịp tim, đưa tay kéo lại vạt áo sơ mi trắng đã ướt đẫm mồ hôi dính chặt vào lưng, rồi bước qua bậc thềm bước vào bóng râm dưới hiên tiệm.
"Bác Lành ơi, bác có nhà không bác?" Yến cất tiếng chào, giọng cô hơi khẽ so với tiếng còi xe máy ngoài ngõ.
Bà Lành lúc này đang lom khom cúi người bên một chiếc bao tải sọc xanh đỏ, hai tay thoăn thoắt dùng xẻng nhôm xúc từng xẻng gạo dồn vào chiếc thùng nhựa lớn màu xanh có nắp đậy. Nghe tiếng gọi quen quen, bà dừng tay, đứng thẳng lưng dậy, đưa bàn tay xương xẩu đấm thùm thụp vào thắt lưng rồi nheo mắt nhìn qua gọng kính lão gãy một bên gọng phải quấn dây chỉ cước, trễ xuống tận chóp mũi. Chiếc tạp dề bằng vải hoa tối màu của bà bám đầy một lớp bụi phấn trắng mốc của cám gạo, hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ chằng chịt những vết sẹo nhỏ — dấu vết của hàng chục năm bốc vác các bao hàng nặng và tiếp xúc với hóa chất tẩy rửa.
"Ủa, Yến đó hả con? Con gái chị Cúc thợ may bên hẻm Chợ Mới đúng không?" Bà Lành nhận ra cô, khuôn mặt sạm nắng giãn ra trong một nụ cười hồn hậu làm những nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại chằng chịt. Bà quệt vội mu bàn tay lấm đầy bụi phấn vào góc tạp dề rồi bước chậm rãi ra sau chiếc quầy gỗ tính tiền đã bóng loáng nước sơn. "Bữa qua mẹ mày có ghé ngang đây lấy tiền công sửa mấy cái áo khoác mùa đông cho thằng cháu tao, bả có khoe rùm beng lên là mày học xong cái bằng thạc sĩ gì đó to lắm trong Sài Gòn rồi bỏ việc về Đà Nẵng mở công ty riêng. Mới về có mấy bữa mà nhìn da dẻ vẫn trắng trẻo, trí thức dữ hen."
"Dạ, con mới dọn hết đồ đạc về ngoài này được ba hôm thôi bác," Yến gượng cười, khẽ kéo chiếc túi đựng tài liệu ra phía trước ngực như một phản xạ tự vệ. "Công ty khởi nghiệp nhỏ của tụi con thôi bác ơi, chuyên làm về mảng dịch vụ công nghệ theo dõi và cảnh báo ngập lụt đô thị. Chiều nay con tranh thủ chạy qua gửi bác xem thử cái bản đồ phân vùng nguy cơ ngập lụt mà con vừa chạy mô hình cho riêng khu vực An Khê mình."
"Cảnh báo ngập lụt hả?" Bà Lành nghiêng đầu, ánh mắt thoáng vẻ ngơ ngác xen lẫn buồn cười. Bà với tay lấy chiếc quạt nan rách mép cắm trên vách gỗ phe phẩy lấy phe phẩy để, tạo ra một luồng gió nóng ran phả thẳng vào mặt Yến, mang theo cả mùi cám gạo khô khốc. "Ngập thì cái xứ An Khê này mùa mưa năm nào mà chẳng ngập như sông, cần chi phải bản đồ với công nghệ cho nó mệt xác hả con? Cứ hễ trên núi đổ mưa to một trận chừng hai tiếng, nước dưới cống Phú Lộc dội ngược lên không kịp thoát ra biển là cái ngõ này thành cái ao cá liền. Dân ở đây sống mấy chục năm, ngập riết rồi thành quen, ngó trời ngó đất là biết chừng dọn đồ chớ có chi lạ đâu."
"Dạ bác ơi, chính vì ngập cục bộ ở hẻm mình diễn ra quá nhanh nên tụi con mới dồn sức phát triển hệ thống Thủy Kế này đó bác," Yến vội vàng nắm lấy cơ hội tiếp lời, giọng cô trở nên hoạt bát và đầy nhiệt huyết chuyên môn. Cô rút chiếc máy tính bảng trong ba lô ra, quẹt ngón tay mở sáng màn hình, đồng thời cẩn thận trải tập bản đồ in màu khổ A3 còn thơm mùi mực lên mặt một chiếc thùng xốp đựng bánh ngọt cạnh quầy. "Bác nhìn giùm con chỗ này, đây chính là tọa độ vị trí cụm cửa hàng của bác trên bản đồ cao trình số vi địa hình. Tụi con không dùng dự báo chung chung của đài truyền hình, mà tích hợp dữ liệu quét của radar khí tượng tầng thấp kết hợp với mô hình dòng chảy mặt 2D. Khi lượng mưa tích lũy trong vòng ba mươi phút tại lưu vực thượng nguồn vượt ngưỡng bốn mươi lăm mi-li-mét, thuật toán sẽ tự động tính toán sai số chuẩn của độ bão hòa đất để kích hoạt tin nhắn SMS báo động đỏ trước cho điện thoại của bác..."
Yến vừa thao thao bất tuyệt vừa lướt nhanh ngón tay trên màn hình cảm ứng, phóng to vùng màu cam sáng bao quanh khu vực ngã ba An Khê. Cô chỉ vào các dải màu biến thiên, giải thích cặn kẽ về hệ số dòng chảy mặt, về xác suất vượt ngưỡng ngập cục bộ bảy mươi phần trăm và độ tin cậy của thuật toán dự báo theo từng bước thời gian mười lăm phút liên tục.
Bà Lành không hề nhìn vào những con số phần trăm đang nhảy múa trên giao diện ứng dụng hiện đại, cũng chẳng buồn ngó tới biểu đồ phân rã lượng mưa với những đường cong hình chuông hoàn hảo. Đôi mắt kèm nhèm sau tròng kính lão của bà chỉ dừng lại trên dải màu đỏ gắt đang quét qua một góc ngã ba — nơi mà theo bản đồ của Yến, tiệm tạp hóa của bà chỉ nằm ở rìa ngoài của vùng cảnh báo cấp độ hai, tức là vùng màu vàng cam có mức ngập lý thuyết dự kiến dưới hai mươi phân.
Bà Lành đột ngột buông chiếc quạt nan xuống mặt bàn cái "bộp", ngắt ngang lời giải thích say sưa của Yến:
"Thôi đi cô kỹ sư, dẹp mấy cái sai số chuẩn với mười lăm phút của mày qua một bên giùm tao cái." Bà Lành chống hai tay lên mặt quầy gỗ, lưng hơi còng xuống, giọng nói bỗng trở nên cộc lốc, khô khốc và sắc lẹm như tiếng củi tre gãy đôi giữa trưa nắng. "Bác chỉ hỏi mày một câu duy nhất, thực tế và ngắn gọn thôi: Mây đen kịt kéo từ mạn bán đảo Sơn Trà qua, gió biển rít lên và trời bắt đầu đổ những hạt mưa đầu tiên xuống mái tôn, thì mấy giờ mấy phút bác phải kêu thằng cháu tao chạy qua phụ khiêng mười lăm bao gạo Nàng Thơm ba mươi ký này kê lên bục gỗ?"
Yến khựng lại ngay giữa một thuật ngữ chuyên ngành còn chưa kịp phát âm trọn vẹn. Cổ họng cô đột nhiên nghẹn ứ, khô đắng như vừa nuốt phải một ngụm nước biển mặn chát.
"Dạ... hệ thống của tụi con sẽ gửi tin nhắn cảnh báo sớm trước cho mình khoảng từ bốn mươi lăm phút đến một tiếng đồng hồ..." Yến ngập ngừng, các đầu ngón tay cô bắt đầu run nhẹ trên cạnh viền kim loại mát lạnh của chiếc máy tính bảng. "Nhưng... thời điểm chính xác nước bắt đầu tràn qua ngõ vào trong nhà còn phụ thuộc vào lượng mưa thực tế tích lũy theo từng đợt dông cục bộ, và còn phụ thuộc vào tốc độ thoát của cửa cống chính ngoài đường lớn nữa bác à..."
"Và cái máy tính bạc triệu này của mày có biết cái thềm nhà tao nó cao hay nó thấp hơn cái mặt đường bê tông bao nhiêu phân không?" Bà Lành đưa ngón tay trỏ chai sần, móng tay bám đầy cám gạo gõ cồm cộp xuống mép bục gỗ đang kê ba bao gạo trắng. "Mày bước lùi lại hai bước, ngó đầu ra ngoài đường mà coi giùm tao. Đường bê tông ngoài kia phường mới nâng lên hồi đầu năm ngoái thêm hai tấc rưỡi. Nhà thằng Ba tiệm giặt ủi bên kia đường nó có tiền, nó thuê thợ xây gờ chắn bằng xi măng ba mươi phân gắn thanh chống nước lọt. Còn cái tiệm rách này của tao, thềm nhà giờ thấp hơn mặt đường cả tấc bạc! Cứ ngoài ngõ nước mấp mé tới mắt cá chân một cái là trong này toàn bộ sàn nhà ngập lụt, gạo ngâm trong nước bùn thúi hết trơn hết trọi!"
Bà Lành xoay người lại, chỉ thẳng cánh tay khẳng khiu lên bức tường vôi loang lổ cạnh giá để những két nước ngọt có ga. Ánh mắt Yến vô thức nhìn theo hướng ngón tay trỏ của bà lão, và tim cô như thắt lại một nhịp buốt giá.
Trên nền tường quét vôi xanh đã ố vàng theo năm tháng, một vệt ngấn nước màu nâu xỉn của phù sa sông, dầu mỡ cặn và bùn đen đóng thành một đường chỉ ngang sắc lẹm, bám chặt vào từng thớ vữa nứt nẻ. Vệt ố trầm tích đó nằm cách mặt sàn gạch hoa cũ kỹ ít nhất sáu mươi phân — cao hơn thềm nhà đúng ba mươi phân, ngập lút quá đầu gối người lớn, và vượt xa ngưỡng ngập cực đại nửa mét mà mô hình toán học thủy lực của Yến vừa chạy mô phỏng cho kịch bản mưa cực đoan của trận lụt lịch sử năm ngoái.
"Mày thấy cái ngấn đen ngòm đó chưa con gái?" Giọng bà Lành bỗng chùng hẳn xuống, không còn vẻ gắt gỏng ban nãy mà đượm một nỗi cay đắng, xót xa của một người đã nếm đủ mùi cơ cực. "Trận lụt đêm tháng Mười năm kia, nước từ mương Phú Lộc tràn lên nhanh như ngựa phi. Tiệm tao trở tay không kịp, ướt sũng mất đứt hai tấn gạo Nàng Thơm với năm chục thùng mì gói tôm chua cay. Đền cho mối sỉ ngoài chợ Cồn gần ba chục triệu bạc tiền mặt. Tao già cả chừng này tuổi đầu rồi mà phải đi vay nóng bạc năm phân của người ta để gom tiền trả nợ đậy miệng mối hàng. Giờ mày đưa cái bản đồ vẽ màu xanh xanh đỏ đỏ này ra, bảo tao mỗi tháng đóng hai trăm ngàn tiền dịch vụ tin nhắn, mà đến lúc mưa như trút nước xuống mày lại bảo do sai số chuẩn với độ bão hòa đất nên nước tràn vô nhà hồi nào không hay biết à?"
"Dạ không phải như vậy đâu bác Lành ơi..." Yến cố gắng tìm kiếm từ ngữ để phân trần, cảm thấy hai vành tai và hai bên má mình nóng bừng bừng vì cảm giác xấu hổ tột cùng. Toàn bộ sự tự tin và kiêu hãnh của một cựu kỹ sư dữ liệu hạ tầng từng làm việc với các hệ thống phân tích hàng triệu bản ghi không gian tại một tập đoàn tư vấn nước ngoài bỗng chốc trở nên trơ trẽn, yếu ớt và vô nghĩa trước một câu hỏi sinh kế trần trụi, sặc mùi cơm áo gạo tiền của một bà lão bán tạp hóa ven đường. "Bản đồ này của con hiện tại mới chỉ mô phỏng khả năng ngập lụt diện rộng theo lưu vực thoát nước chung của cả khu vực An Khê dựa trên dữ liệu độ cao mặt đất của vệ tinh. Để tính được chính xác từng centimet nước có tràn qua ngạch cửa nhà bác hay không, tụi con bắt buộc phải đi khảo sát vi địa hình từng hộ dân, đo đạc cao độ tuyệt đối từ tim đường bê tông vào tới ngưỡng cửa..."
"Đó, chính cái miệng mày vừa nói ra đó nghe chưa," bà Lành xua xua đôi bàn tay thô ráp, quay lưng lại phía quầy, cầm lấy chiếc xẻng nhôm tiếp tục xúc những xẻng gạo dồn vào thùng với những động tác dứt khoát. "Cái đài truyền hình Đà Nẵng với cái loa truyền thanh của phường chiều nào năm giờ rưỡi nó chả phát rả rích bản tin thời tiết dự báo mưa to diện rộng khắp thành phố hoàn toàn miễn phí. Tao coi ti-vi tao cũng biết trời chuyển mưa dông to thì phải lo mà dọn đồ, kê đồ lên cao. Mua thêm cái tin nhắn điện thoại của mày làm chi cho tốn hai trăm ngàn tiền cơm mỗi tháng? Hai trăm ngàn đó tao mua được gần hai yến gạo ăn cả tháng trời đó con."
Yến đứng chôn chân giữa gian tiệm chật chội, ngột ngạt. Tiếng xẻng nhôm xúc gạo sột soạt, đều đặn của bà Lành va vào đáy thùng nhựa như từng nhát dao cứa thẳng vào lòng tự trọng nghề nghiệp mà cô hằng gìn giữ. Mọi biểu đồ hồi quy tuyến tính, mọi thuật toán học máy phân tích chuỗi thời gian mà cô dày công đóng gói trong chiếc máy tính bảng hiện đại bỗng chốc trở thành thứ đồ chơi xa xỉ, bất lực khi không thể trả lời được một câu hỏi cơ bản nhất của một hộ kinh doanh nghèo: Nước có chạm vào đáy bao gạo hay không, và chính xác là vào lúc mấy giờ?
Thấy Yến đứng lặng thinh, cúi gằm mặt nhìn xuống đôi mũi giày bám đầy bụi đường, bà Lành dừng tay xúc gạo. Bà thở dài một tiếng thật sâu, tháo chiếc kính lão xuống cầm trên tay, ánh mắt nhìn cô gái trẻ bỗng mềm lại, mang theo vẻ thương tình của một người hàng xóm lâu năm:
"Tao nói thẳng ruột ngựa rứa để mày biết mà tính đường làm ăn cho nó chắc chắn, chớ không phải tao ghét bỏ chi mày đâu Yến. Mẹ mày ở nhà ngày nào cũng cặm cụi đạp máy may từ sáng sớm tới mười giờ đêm, sửa từng cái khóa kéo, cắt từng cái lai quần, tằn tiện từng đồng bạc lẻ năm ngàn mười ngàn để nuôi mày ăn học đỗ đạt tới nơi tới chốn. Mày học giỏi giang, mày về đây lập nghiệp, hàng xóm láng giềng ai cũng mừng cho chị Cúc. Thôi thì vầy nè, mày muốn thử nghiệm cái máy cái móc chi của mày thì cứ ghi số điện thoại của tao vô đó. Có mưa gió tin nhắn chi mày cứ gửi qua máy tao, tao coi thử coi nó báo trúng hay nó báo trật lất. Nhưng tiền bạc thì tao nói trước là tao không có trả đâu nghe. Chừng nào cái máy của mày chỉ được đúng bon cái giờ nước liếm vô chân bao gạo của tao ngoài thềm, thì chừng đó tao mới tính chuyện móc tiền túi ra mua."
"Dạ... con thật lòng cảm ơn bác Lành nhiều lắm ạ," Yến nói lí nhí trong miệng, hai bàn tay run run cẩn thận cuộn tập bản đồ in màu khổ A3 lại. Các mép giấy bìa lúc này đã hơi nhàu nát và ẩm ướt vì mồ hôi từ lòng bàn tay cô ứa ra. "Con xin phép bác cho con lưu lại số điện thoại để hệ thống gửi tin nhắn cảnh báo thử nghiệm hoàn toàn miễn phí cho bác trong suốt mùa mưa năm nay ạ."
Cô cúi đầu chào bà Lành một lần nữa rồi lặng lẽ dắt chiếc xe máy lùi ra khỏi con ngõ hẹp An Khê. Nắng trưa gay gắt rọi thẳng xuống đỉnh đầu bỏng rát qua lớp nón bảo hiểm mỏng. Trước khi đạp nổ máy xe, Yến không kìm được lòng ngoái đầu nhìn lại vệt ố vàng sẫm đóng chặt trên bức tường vôi của tiệm tạp hóa một lần nữa. Sự tương phản tàn nhẫn giữa dải màu vàng an toàn trên bản đồ số hóa trong máy tính và vệt phù sa chết chóc ngoài đời thực cứa vào tâm trí cô như một vết thương hở đang rỉ máu.
***
Bảy giờ tối hôm đó, sau khi ghé qua một quán cơm bụi ven đường nuốt vội chiếc bánh mì khô khốc, Yến chạy xe máy về căn nhà cấp bốn của mẹ cô nằm sâu trong một con hẻm cụt khác thuộc phường Chính Gián, quận Thanh Khê.
Ngôi nhà chỉ rộng chừng bốn mươi mét vuông, tường quét vôi vàng nhạt đã ngả màu rêu phong ở những góc khuất thiếu ánh sáng mặt trời. Vừa bước chân qua ngưỡng cửa gỗ mục, âm thanh quen thuộc đã đập vào tai cô: tiếng lạch cạch, rù rù đều đặn của chiếc máy may bán công nghiệp hiệu Con Bướm cũ mòn. Mẹ cô — bà Lê Thu Cúc — đang ngồi còng lưng bên bàn máy may, cặp kính lão buộc dây thun đen máng lỏng lẻo sau vành tai trái. Dưới chân bà, những mảnh vải vụn, chỉ thừa đủ màu sắc rơi vãi lác đác trên nền gạch tàu màu đỏ au đã mòn vẹt các góc cạnh.
"Yến về rồi hả con? Rửa tay rửa mặt rồi vô ăn cơm đi, mẹ hâm lại nồi cá nục kho tiêu với luộc thêm mớ rau rồi đó," bà Cúc không hề ngẩng đầu lên, hai bàn chân đi dép tổ ong vẫn nhịp đều đặn trên bàn đạp sắt của máy may, mũi kim sắc lẹm thoăn thoắt lướt qua đường viền gấu của một chiếc quần âu màu xám.
Yến treo chiếc túi xách đựng tài liệu lên chiếc móc gỗ gắn sau cánh cửa, bước chậm chạp ra sau gian bếp nhỏ hẹp chỉ rộng chừng sáu mét vuông. Mâm cơm đậy bằng chiếc lồng bàn nhựa màu đỏ đã được dọn sẵn trên chiếc bàn tròn bằng nhôm: một đĩa cá nục kho tiêu keo lại với thứ nước màu cánh gián đậm đặc sực mùi ớt bột, một bát tô canh rau muống luộc vắt chanh hãy còn ấm, và một đĩa nhỏ dưa cải muối chua giòn rụm.
Cạnh góc bếp, ngay sát chân chạn bát bằng nhôm kính, một chiếc thau nhựa màu xanh lá cây nằm chỏng chơ hứng ngay dưới mép xà gồ đỡ mái tôn. Trên trần nhà, mảng tôn Fibro xi măng đã nứt toác một đường dài ngoằn ngoèo bằng bàn tay người lớn, để lộ ra vết ố nước đen sì loang lổ như hình một vết chàm khổng lồ.
"Mái bếp lại bị dột nữa hả mẹ?" Yến vừa xới cơm vào hai chiếc bát sứ vừa hỏi với ra ngoài gian khách. "Hôm trước con đã bảo với mẹ để con kêu mấy chú thợ hồ đầu hẻm tới trèo lên thay mấy tấm tôn xi măng mới trước khi mùa mưa dầm tháng Tám đổ về mà mẹ không chịu."
Bà Cúc đưa tay tắt công tắc điện bên hông máy may, tiếng motor điện rù rù lịm dần rồi tắt hẳn trong không gian tĩnh mịch. Bà tháo cặp kính lão xuống, dùng vạt chiếc áo bà ba cũ chấm những giọt mồ hôi đọng trên sống mũi gầy gò, rồi bước chậm rãi lại bàn ăn, kéo chiếc ghế nhựa ngồi xuống đối diện với con gái.
"Thợ thuyền dạo này họ bận tối mắt tối mũi với mấy công trình lớn ngoài phố, mẹ có hỏi thăm mấy chỗ quen đầu đường mà họ chưa có nhận lời qua làm việc lặt vặt," bà Cúc thong thả bưng bát cơm lên, giọng nói đều đều và bình thản như thể chuyện dột mái chẳng có gì đáng bận tâm trên đời. "Với lại từ giờ tới tháng Chín tháng Mười đỉnh lũ còn dài, chừng nào họ rảnh việc họ ghé qua đảo lại mấy tấm ngói một thể luôn cho đỡ tốn công. Mẹ để cái thau nhựa đó hứng tạm, có mấy giọt nước mưa rỉ rả thấm tháp chi đâu mà phải lo cho tốn kém."
Yến ngước mắt nhìn mẹ, lồng ngực cô bỗng thắt lại trong một cơn nghẹn đắng. Cô biết quá rõ là mẹ đang nói dối để trấn an cô. Ở cái xóm thợ lao động nghèo này, chỉ cần bước chân ra đầu ngõ gọi một tiếng là có ngay thợ hồ, thợ sắt thất nghiệp nhận làm ngay trong buổi chiều. Mẹ cô nại ra đủ thứ lý do để trì hoãn một khoản chi phí sửa chữa vỏn vẹn chừng hai ba triệu bạc chỉ nhằm một mục đích duy nhất: giữ lại từng đồng tiền mặt còm cõi trong túi áo làm chỗ dựa phòng thân cho cô con gái vừa dại dột từ bỏ mức lương mấy chục triệu ở công ty nước ngoài để về quê "lập nghiệp khởi nghiệp" với hai bàn tay trắng.
Bà Cúc gắp một con cá nục kho tiêu chắc nịch bỏ vào bát cơm của Yến, ánh mắt bà nhìn lướt qua đôi bàn tay con gái đang nắm chặt đôi đũa tre:
"Hồi chiều này con chạy qua tiệm bà Lành bên An Khê có việc chi rứa?"
Yến khựng lại một nhịp nhai, miếng cơm nghẹn ứ nơi cổ họng: "Dạ... Bác Lành kể chuyện lại với mẹ rồi hả mẹ?"
"Bà ấy đi chợ ngang qua tiệm may, ghé vô lấy mấy cái áo khoác rồi ngồi uống miếng nước chè, khen con bé Yến giờ ăn học giỏi giang dữ dội, nói chuyện toàn chữ Tây chữ Tàu nghe êm tai sướng mắt lắm," bà Cúc cười nhẹ, nhưng ánh mắt nhìn con gái lại đượm vẻ nghiêm nghị, từng trải của một người đàn bà góa bụa cả đời chắt bóp từng hào lẻ nuôi con ăn học. "Nhưng mà con ơi, bà Lành bả cũng nói thiệt tình với mẹ: người buôn bán nhỏ lẻ chạy ăn từng bữa như bả với mẹ, nhìn đồng tiền mồ hôi nước mắt bước ra khỏi túi nó xót xa từng khúc ruột con à. Một ngày bả đứng bán lưng còng chân mỏi được mấy gói mì tôm, lời được mấy ngàn bạc tiền lẻ còm cõi, mà biểu bả mỗi tháng bỏ ra mấy trăm ngàn mua một cái dịch vụ tin nhắn vô hình trên điện thoại mà bả không nắm tận tay day tận trán được cái lợi trước mắt là bả không đời nào chịu bỏ tiền ra đâu."
Bà Cúc buông đũa xuống mép bát, với tay lấy chiếc cốc nhôm uống một ngụm nước chè xanh nguội ngắt, rồi nhìn thẳng vào đôi mắt đang mệt mỏi của Yến:
"Con học cao hiểu rộng, con làm việc lớn ngoài xã hội mẹ không có chữ nghĩa chi để can thiệp chuyện làm ăn của con. Nhưng làm chi thì làm nghe con, mình phải biết tự chủ cái đồng tiền của mình, tính cho thiệt kỹ cái đường lui cho bản thân. Đừng có nghe người ngoài vẽ vời chuyện công ty nọ dự án kia trên trời dưới biển rồi dốc hết vốn liếng mồ hôi nước mắt vô những thứ chưa thấy đồng ra đồng vô cụ thể. Tiền nằm chắc trong túi mình mới là tiền của mình con ơi, tới chừng thâm hụt vô tới ruột gan rồi là không có ai chìa tay ra cứu mình được mô."
Yến cúi gằm mặt nhìn xuống bát cơm còn bốc khói mỏng, ngón tay bấu chặt vào thân đũa đến trắng bệch: "Dạ, con biết rồi mẹ. Con tính toán đường đi nước bước kỹ lắm rồi con mới dám làm."
"Biết thì ráng mà giữ mình," bà Cúc nói nhỏ nhẹ, lại đưa đũa gắp thêm cho cô một cọng rau muống luộc. "Ăn nhiều chút đi con, dạo này mẹ ngó mày gầy rộc hẳn đi rồi đó, mắt mũi thâm quầng hết cả lượt."
Bữa cơm tối trôi qua trong một bầu không khí im lặng nặng nề đến ngột ngạt, chỉ còn lại tiếng quạt máy con cóc kêu rè rè trên vách tường vôi và tiếng dế rỉ rả từng chập dưới gầm chiếc chạn bát bằng nhôm.
***
Mười giờ đêm, Yến một mình chạy xe máy quay trở lại căn phòng trọ trên gác xép ở phường Thanh Khê Tây.
Tiệm sửa chữa cơ khí tầng dưới lúc này đã đóng chặt cánh cửa sắt cuốn hoen rỉ, trả lại cho con hẻm nhỏ vẻ tĩnh mịch đặc quánh của một xóm lao động nghèo về đêm muộn. Nhưng sự tĩnh mịch ấy không hề mang lại cảm giác bình yên hay thanh thản; nó chỉ càng làm nổi bật lên tiếng vo ve sắc lạnh của chiếc quạt trần cũ kỹ đang quay lắc lư từng chập trên trần ván ép, đe dọa rơi xuống bất cứ lúc nào.
Yến không bật ngọn đèn tuýp huỳnh quang dài trên tường. Cô chỉ với tay bật chiếc đèn bàn màu vàng nhạt rọi thẳng luồng sáng hẹp vào bàn phím cơ và màn hình máy trạm ThinkStation.
Trên màn hình máy tính, bảng tính Excel quản lý dòng tiền tài chính cá nhân và chi phí vận hành nền tảng Thủy Kế hiện lên với những con số màu đỏ lòm chói mắt. Yến mở điện thoại thông minh, đặt ngón tay cái lên cảm biến vân tay để đăng nhập vào ứng dụng ngân hàng trực tuyến nhằm đối chiếu lại số dư khả dụng thực tế lần cuối trong ngày.
Màn hình điện thoại sáng lòe lên trong bóng tối: *34.250.000 VNĐ*.
Yến hít một hơi thật sâu, lồng ngực cô nhói lên một cơn đau âm ỉ, buốt nhức. Ba mươi tư triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng chẵn. Đó là toàn bộ những gì còn sót lại từ khoản tiền tiết kiệm hơn một trăm hai mươi triệu đồng mà cô đã chắt bóp, tằn tiện từng bữa ăn suốt gần ba năm ròng rã làm kỹ sư dữ liệu cao cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Cô rê con trỏ chuột trên mặt bàn phím, rà soát lại từng mục trong bảng kê chi phí cố định không thể cắt giảm: - Tiền cọc ba tháng tiền thuê căn gác xép này: 5.400.000 VNĐ (đã thanh toán dứt điểm tuần trước). - Tiền tạm ứng đợt một hợp đồng thiết kế vỏ trạm quan trắc chịu mặn và gia công bo mạch cảm biến đo mực nước siêu âm cho xưởng Bền Mạch của anh Nam ngoài khu công nghiệp Liên Chiểu: 45.000.000 VNĐ (đã chuyển khoản ủy nhiệm chi). - Chi phí mua sắm linh kiện cảm biến áp suất nhập khẩu, modem truyền dữ liệu 4G công nghiệp và hệ thống ắc quy khô viễn thông: 28.500.000 VNĐ. - Chi phí thuê hạ tầng máy chủ đám mây tính toán hiệu năng cao (AWS) và cổng API dự báo thời tiết phân giải cao chuyên dụng: 3.200.000 VNĐ mỗi tháng. - Phí tích hợp cổng tin nhắn viễn thông chuyên dụng (SMS Brandname) phục vụ giai đoạn thử nghiệm người dùng: 1.500.000 VNĐ mỗi tháng. - Tiền điện sinh hoạt theo giá kinh doanh và đường truyền internet cáp quang tốc độ cao: 1.100.000 VNĐ mỗi tháng. - Chi phí sinh hoạt tối thiểu của bản thân (tiền ăn uống đạm bạc, tiền xăng xe máy, nước uống): 3.000.000 VNĐ mỗi tháng.
Tổng chi phí vận hành tối thiểu không thể cắt giảm mỗi tháng để duy trì hệ thống Thủy Kế chạy nền và chuẩn bị các trạm đo thực địa đón đầu mùa mưa lũ là khoảng tám triệu tám trăm ngàn đồng.
Yến đặt con trỏ chuột vào ô trống cuối cùng của bảng tính, gõ vào một công thức toán học chia đơn giản: lấy tổng số dư ba mươi tư triệu hai trăm năm mươi ngàn chia cho định mức chi phí vận hành tính theo tuần lễ.
Con số kết quả hiển thị lạnh lùng trên ô tính viền đen: *11,2*.
Mười một tuần.
Đúng mười một tuần lễ nữa là toàn bộ nguồn lực tài chính dự trữ của cô sẽ hoàn toàn cạn kiệt về con số không tròn trĩnh. Và con số mười một tuần này mới chỉ được tính toán trong một điều kiện lý tưởng tuyệt đối đến mức phi lý: bản thân cô không được phép nhận một đồng tiền công nào cho chính mình, không có bất kỳ hỏng hóc thiết bị điện tử nào phát sinh ngoài hiện trường mưa gió, bản thân cô không được ốm đau thuốc men, và xưởng gia công Bền Mạch không đòi thanh toán nốt phần tiền công còn lại trước khi bàn giao toàn bộ số cảm biến đợt hai.
Nếu trong vòng mười một tuần ngắn ngủi sắp tới, nền tảng Thủy Kế không tìm ra nổi lấy một khách hàng trả tiền thực tế — nếu toàn bộ các tiểu thương, các hộ kinh doanh nhỏ lẻ ở An Khê và Thanh Khê đều có chung một câu trả lời thực dụng và lạnh lùng như bà Bùi Thị Lành — thì toàn bộ hệ thống cảnh báo ngập lụt đô thị đầy tâm huyết của cô sẽ chính thức chết yểu ngay trước khi những cơn bão lớn nhất của tháng Mười bắt đầu đổ ập vào bờ biển miền Trung.
Yến ngả toàn bộ lưng ra sau chiếc ghế xoay ọp ẹp, nhắm nghiền hai mắt lại trong sự mệt mỏi cùng cực. Tiếng còi xe máy chạy đêm vọng lại từ phía đường Điện Biên Phủ nghe xa xôi, lạc lõng giữa màn đêm dày đặc. Bàn tay phải của cô vô thức buông thõng xuống mép bàn, chạm phải những góc giấy cứng ráp của tập bản đồ in màu khổ A3 đang đặt cạnh bàn phím.
Cô từ từ mở mắt ra, nhìn đăm đăm vào màn hình máy tính trạm đang sáng rực giữa bốn bức tường ve xanh tăm tối của căn phòng trọ.
Trên bản đồ số hóa chi tiết của khu vực An Khê hiển thị trên phần mềm, dải màu xanh lá cây — biểu thị cho vùng an toàn, nơi có nguy cơ ngập lụt dưới mười lăm phân theo mô hình toán học thủy lực — vẫn đang bao phủ trọn vẹn, bình yên trên mái nhà tiệm tạp hóa của bà Bùi Thị Lành.
Tấm bản đồ hiển thị vùng xanh an toàn trên máy tính, nhưng vệt nước ố mùa trước trên tường tiệm bà Lành lại cao hơn thềm nhà đúng ba mươi phân.