Năm Ấy Hoa Phượng NởC.6 / 40
Chương 6

Những Cuộc Phỏng Vấn Đầu Tiên

Cầm tập câu hỏi phỏng vấn nắn nót trên tay, Miên đứng chôn chân trước phòng bảo vệ ở cổng trường suốt mười phút mà lồng ngực đập dồn dập như gõ trống.

Gió heo may đầu thu khẽ luồn qua rặng xà cừ cổ thụ, cuốn theo vài chiếc lá khô lạo xạo trên nền xi măng loang lổ vết rêu. Trường Trung học phổ thông Trần Văn Lan vào giờ tự học buổi chiều vắng lặng đến lạ lùng. Ngoại trừ tiếng giảng bài trầm đục vọng ra từ các ô cửa sổ tầng hai của dãy nhà cao tầng và tiếng chổi tre quét rác xào xạc phía sân sau, không gian xung quanh tĩnh mịch đến mức Miên có thể nghe rõ mồn một từng nhịp tim đang gióng liên hồi trong lồng ngực mình. Gió thổi tạt qua vạt áo sơ mi trắng đồng phục, làm bay là đà mép khăn quàng đỏ đã tháo của một vài học sinh khối dưới bỏ quên trên ghế đá. Đất trời miền duyên hải vào cộ tháng chín luôn mang theo thứ hanh khô lành lạnh, khiến cho bờ môi người ta dễ nứt nẻ và làm cho những khớp ngón tay run rẩy càng thêm cứng đờ.

Miên nhìn xuống tờ giấy kẻ ngang xé từ cuốn sổ lò xo bọc bìa hoa khô mà cô nâng niu nhất. Trên mặt giấy xốp màu kem, từng dòng mực tím học trò được nắn nót tỉ mỉ từ đêm qua, chia làm hai phần rất rành mạch bằng một đường kẻ bút chì kim mảnh như sợi chỉ: một phần dành cho chú Tám bảo vệ, một phần dành cho bác Hạnh lao công. Cả hai người đều là những gương mặt quá đỗi thân thuộc, ngày nào bước chân qua cánh cổng sắt sơn xanh sứt sẹo của trường Miên cũng nhìn thấy. Để chuẩn bị cho chuyên mục mở màn mang tên *Những điều bình thường bị lãng quên* trên số báo tường đầu tiên của lớp 12 Văn chào mừng ngày thành lập trường, Miên đã trăn trở suốt hai ngày liền. Đêm qua, cô ngồi chong đèn bên bàn học tới tận gà gáy, nhìn bóng mình in trên bức vách vôi bạc màu, viết rồi lại xé biết bao nhiêu trang nháp.

Cô muốn bài viết của mình không chỉ dừng lại ở những lời ca ngợi sáo rỗng hay công thức quen thuộc vẫn thường thấy trên các bản tin phong trào. Cô không muốn lặp lại những cụm từ mòn vẹt như “tấm gương tận tụy”, “người gác cổng thời gian” hay “bàn tay làm sạch đẹp mái trường”. Miên muốn chạm tới những góc khuất lặng thầm, những nhịp đập khuất lấp sau lớp áo xám bảo hộ: bàn tay chai sần sau ba mươi năm kéo cánh cổng sắt nặng nề rít lên ken két mỗi sớm mai, những sớm mùa đông sương muối chưa tan đã phải nhóm lò than tổ ong nấu nước sôi pha chè đặc cho các thầy cô giáo cũ, hay nỗi niềm của người gom từng mẩu giấy vụn sau mỗi mùa bế giảng, khi học trò ùa về với mùa hè rực rỡ mà chẳng một ai buồn ngoái lại nhìn khoảng sân hoang tàn.

Những câu hỏi của cô đầy ắp chất thơ, ngồn ngộn những trăn trở và sự đồng cảm tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm. Nhưng lúc này, khi chỉ còn cách cánh cửa gỗ hé mở của phòng bảo vệ chừng năm bước chân ngắn ngủi, toàn bộ sự nhạy cảm văn chương của một cô học sinh chuyên Văn bỗng biến thành một tảng đá vô hình đè nặng lên cuống họng cô.

Bàn tay cầm tập giấy của Miên ướt đẫm mồ hôi lạnh, từng ngón tay bấu chặt đến mức mép giấy quăn queo lại, vết mực tím hơi nhòe đi ở góc dưới. Nỗi sợ vô hình vốn đã bám rễ sâu hoắm trong cô suốt mười bảy năm qua—hội chứng sợ đám đông, sợ ánh mắt nhìn thẳng của người khác, sợ trở thành tâm điểm của bất kỳ sự chú ý nào dù là nhỏ nhất—lại trỗi dậy như một cơn thủy triều buốt giá tràn qua huyết quản. Khi ngồi một mình bên bàn học dưới ánh đèn vàng ấm áp, đối diện với trang giấy trắng tinh khiết, Miên là một kẻ dũng cảm tuyệt đối. Ngòi bút của cô có thể tự do tung hoành, len lỏi vào từng ngóc ngách u uất nhất của tâm tư, gọi tên những nỗi buồn tinh tế nhất của đời sống. Nhưng chỉ cần phải bước ra ánh sáng, chỉ cần phải cất lên tiếng nói bằng thanh âm thật của chính mình trước một người không cùng trang lứa, toàn bộ dũng khí ấy lập tức tan biến như bọt xà phòng dưới cơn mưa rào.

Qua ô cửa sổ kính mờ đóng bụi và dán chằng chịt vài mảnh băng dính vàng ố, chú Tám bảo vệ đang ngồi trên chiếc ghế xoay bọc da đã rách góc, lộ cả lớp mút xốp màu vàng xỉn. Chú mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu bộ đội bạc phếch, tay cầm chiếc điếu cày bằng tre lên nước bóng loáng, mắt lim dim dõi ra khoảng sân đầy nắng. Bên cạnh chú, ấm trà nhôm bốc khói nghi ngút bên chiếc đĩa sứ sứt mép đựng mấy chiếc kẹo lạc đã chảy đường.

Miên hít một hơi thật sâu, lồng ngực căng rát vì không khí khô buốt. Cô nuốt nước bọt, cố trấn an chính mình bằng những lý lẽ hiển nhiên nhất: *Chỉ là một cuộc trò chuyện ngắn thôi mà. Chú Tám hiền lắm, ngày nào đi học muộn năm mười phút chú chẳng cười trừ rồi gạt chốt cho học sinh vào trường. Có gì đâu mà phải run rẩy thế này?*

Cô nhấc từng bước chân nặng trĩu tiến lại gần bậc thềm xi măng dẫn vào phòng bảo vệ. Mỗi bước đi như có chì buộc vào mắt cá. Cửa phòng bảo vệ cọt kẹt khẽ rung khi mũi giày bata trắng đã ngả màu ố của Miên vô tình chạm vào mép gỗ nẹp dưới chân cửa.

Nghe tiếng động lạ, chú Tám giật mình ngẩng lên. Đôi mắt kèm nhèm sau cặp lông mày rậm rạp màu hoa râm chớp chớp vài cái qua làn khói thuốc lào bảng lảng rồi dừng lại trên người cô nữ sinh nhỏ thó đang đứng co ro ngoài hiên như một chiếc lá non run rẩy trước gió. Chú đặt chiếc điếu cày đánh cạch một tiếng dứt khoát xuống góc bàn gỗ, nhấp một ngụm trà đặc rồi cất giọng khàn khàn đặc trưng của người có thâm niên hút thuốc lào:

“Học sinh lớp nào đây cháu? Có việc gì thế? Cần mượn chìa khóa phòng thực hành hay xin giấy ra cổng mua đồ dùng học tập?”

Ánh nhìn trực diện của chú bảo vệ già, dù chẳng có chút nào gay gắt, lại như một luồng điện giật thẳng vào hệ thần kinh mỏng manh của Miên. Mọi câu từ trau chuốt, mọi kịch bản dẫn dắt dịu dàng mang đậm tính biểu cảm mà cô đã tập đi tập lại trước gương cả tối qua bỗng chốc bay biến sạch trơn, không còn sót lại lấy một mảnh vụn. Đầu óc cô trở nên trống rỗng, trắng xóa và chói gắt như một tờ giấy roki phơi dưới nắng trưa. Cổ họng Miên nghẹn đắng, cảm giác như có ai đó vừa nhét một nắm cát khô khốc chặn ngang đường thở, khiến từng luồng không khí hít vào đều trở nên rát buốt.

“Dạ… cháu… cháu là…” Miên lắp bắp, hai tai nóng bừng, rồi hơi nóng lan nhanh xuống hai gò má khiến mặt cô đỏ lựng lên vì xấu hổ và ngột ngạt. Cô cố gắng giơ tập giấy câu hỏi lên ngang ngực như thể đó là một chiếc phao cứu sinh duy nhất giữa vùng nước xoáy, nhưng bàn tay cô run bần bật mất kiểm soát, khiến mép giấy va vào nhau tạo thành những tiếng sột soạt thảm hại giữa không gian tĩnh mịch. “Cháu… chào chú… Cháu chỉ… chỉ muốn…”

“Muốn cái gì? Nói to rõ ràng lên xem nào, tai chú bị nghễnh ngãng từ hồi đi bộ đội pháo binh cơ, gió mùa thổi phần phật thế này chú chẳng nghe thấy cái gì cả!” Chú Tám nghiêng tai sang một bên, nhướng đôi mày xếch lên thắc mắc. Chú hoàn toàn không có ý gắt gỏng hay dọa nạt, nhưng giọng nói âm vang, ồm ồm như lệnh vỡ của một người lính già càng khiến màng nhĩ Miên lùng bùng, ù đi như có tiếng ve râm ran bên trong.

Hai chữ “phỏng vấn” ngấp nghé nơi đầu lưỡi nhưng Miên không tài nào mở khẩu hình để phát âm nổi thành tiếng. Cảm giác bất lực tột cùng bóp nghẹt lấy tâm trí cô. Cô cảm thấy ánh mắt của chú Tám đang dò xét từng cử chỉ co rúm, từng cái run rẩy vụng về của mình. Khoảng sân trường vắng lặng xung quanh dường như biến thành một đấu trường khổng lồ, nơi hàng trăm đôi mắt vô hình từ các dãy hành lang tầng trên đang nhìn xuống chằm chằm, giễu cợt sự yếu đuối hèn nhát của một đứa học sinh lớp 12. Một làn sóng nhiệt hầm hập bốc ngược lên đỉnh đầu, làm khóe mi cô cay xè. Những giọt nước mắt vì tủi thân, vì giận chính sự hèn nhát của bản thân chực trào ra ngoài.

“Dạ… không có gì đâu ạ! Cháu… cháu nhầm phòng… Cháu chào chú!”

Lời nói buột ra như một tiếng thở hắt tuyệt vọng, đứt quãng và vỡ vụn. Chưa kịp để người bảo vệ già định thần xem chuyện gì đang xảy ra, Miên đã vội vã cúi gập người xuống một cách cuống cuồng như một cái máy hỏng rơ-le, rồi xoay ngoắt gót chân bỏ chạy thục mạng. Đôi giày bata nện dồn dập trên thảm lá xà cừ rụng, tạo nên những âm thanh vỡ vụn xao xác, bỏ lại sau lưng tiếng chú Tám lẩm bẩm đầy hoang mang với ấm trà nguội: “Cái con bé này lạ thật, hớt ha hớt hải, chẳng hiểu đầu óc để đi đâu…”

Miên cắm đầu chạy, hai tai rít lên từng hồi gió lạnh. Cô không dám ngoái đầu nhìn lại dù chỉ một lần, sợ bắt gặp ánh nhìn ngơ ngác của chú Tám hay ánh mắt của bất kỳ bạn học nào vô tình đi ngang qua hành lang. Cô chỉ muốn tìm một cái hốc tối tăm nào đó để chui vào, để trốn khỏi nỗi nhục nhã ê chề đang bóp nghẹt lồng ngực mình. Là trưởng ban nội dung của tờ báo tường kỷ niệm, là người đã mạnh miệng đứng trước cả lớp đề xuất chủ đề *Những điều bình thường bị lãng quên* với tất cả sự tự tin và nhiệt huyết tuổi trẻ, vậy mà ngay ở bước khởi đầu đơn giản nhất—một cuộc phỏng vấn với một bác bảo vệ quen mặt—cô lại thảm hại đến mức này. Cô chạy dọc theo con đường rải sỏi rợp bóng cây cổ thụ phía sau lưng dãy nhà hiệu bộ, nơi rất ít khi có bóng dáng học sinh qua lại, vừa chạy vừa đưa mu bàn tay áo quệt vội giọt nước mắt ấm nóng vừa lăn xuống gò má.

“Chạy đi đâu thế?”

Một giọng nói trầm thấp, đều đều vang lên ngay phía trước khúc quanh dẫn vào nhà kho chứa dụng cụ thể dục cũ.

Miên giật thót mình, bước chân loạng choạng không kịp hãm đà nên suýt nữa đâm sầm cả người vào đối phương. Một bàn tay rắn rỏi nhanh chóng đưa ra từ bên sườn, năm ngón tay vững vàng tóm chặt lấy bả vai cô, giữ cho cô khỏi ngã nhào xuống lối đi rải sỏi. Mùi xà phòng thanh nhẹ, the mát lẫn trong luồng gió lạnh đầu thu lập tức ùa vào các giác quan đang rối bời của Miên. Cô hoảng hốt ngước lên, lồng ngực còn thở dốc, và bắt gặp ngay khuôn mặt lạnh tanh cùng đôi mắt sắc bén sau hàng mi rậm của Trịnh Đông Quân.

Cậu bạn cùng bàn ngồi bên cạnh cô suốt mấy tuần qua đứng sừng sững ở đó tự bao giờ. Chiếc cặp quai chéo bằng vải dù đen khoác hờ hững trên một bên vai, cuốn sổ Toán khổ lớn bìa da đen quen thuộc kẹp chặt dưới nách. Quân đứng tựa lưng vào bức tường quét vôi vàng bong tróc của dãy nhà cũ, ánh mắt sắc như dao lướt qua tập giấy kẻ ngang nhăn nhúm trong tay Miên, rồi dừng lại trên hai bên thái dương lấm tấm mồ hôi và đôi mắt ầng ậc nước đang đỏ hoe của cô.

“Cậu… sao cậu lại ở đây?” Miên lắp bắp, thanh âm nghẹn lại trong cổ họng. Cô vội vàng rụt lùi lại một bước, cố giấu tập câu hỏi phỏng vấn ra sau lưng như một đứa trẻ vừa phạm lỗi tày đình bị người lớn bắt quả tang tại trận.

“Tôi đứng ở hành lang tầng hai lấy tập tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi cho thầy Khánh, nhìn xuống thấy hết rồi,” Quân thản nhiên buông một câu cộc lốc, không hề có ý tứ che giấu hay lựa lời an ủi. Cậu nhìn thẳng vào vẻ bối rối tột cùng của Miên, giọng điệu vẫn giữ nguyên vẻ bình thản đến mức phát bực: “Chưa kịp hỏi được câu nào trọn vẹn đã quay đầu bỏ chạy. Tốc độ xuất phát cũng nhanh đấy, nhưng nó không giải quyết được bất kỳ vấn đề gì cả.”

Miên cắn chặt môi dưới đến mức cảm nhận được vị mằn mặn mơ hồ. Lòng tự ái của một đứa con gái mới lớn bị tổn thương sâu sắc, hòa lẫn với sự tủi thân vừa trải qua tạo thành một ngọn lửa ấm ức bùng lên cay đắng: “Cậu đừng có đứng đấy mà mỉa mai người khác… Tôi… tôi không làm được, được chưa? Tôi không giống cậu, tôi không có cái kiểu lạnh lùng, trơ lì ra đấy, tôi không biết mở lời với người lạ!”

Nói xong, Miên gạt nước mắt, toan lách người qua bờ vai rộng của cậu để chạy tiếp về phía cổng sau của trường, nơi có hàng râm bụt rậm rạp có thể che giấu sự thảm bại của mình. Nhưng Quân đã nhanh hơn cô một bước. Bàn tay cậu vươn ra, dứt khoát nắm lấy cổ tay mảnh dẻ của Miên. Cậu không dùng quá nhiều sức đến mức làm cô đau, nhưng lực giữ đủ cứng rắn để ghì chặt bước chân của cô lại ngay tại chỗ.

“Đi theo tôi.”

“Đi đâu? Cậu buông tôi ra xem nào!” Miên hoảng hốt giãy khẽ, cố rút tay lại nhưng không thể lay chuyển được lực tay của một đứa con trai cao hơn cô cả một cái đầu.

“Muốn để cả trường đi qua nhìn thấy bộ dạng khóc lóc này à?” Quân hơi nhíu mày, hạ giọng thấp hơn nhưng ngữ điệu đầy áp lực. “Vào đây.”

Không để Miên kịp có thêm thời gian phản kháng hay chần chừ, Quân kéo cô rẽ vào cánh cửa gỗ màu nâu sẫm nằm nép mình ở góc cuối cùng của dãy hành lang tầng trệt nhà hiệu bộ. Đó là phòng thư viện cũ của trường, một nơi gần như bị bỏ quên sau khi thư viện điện tử khang trang ở khu nhà ba tầng mới được khánh thành vào năm ngoái.

Cánh cửa gỗ dày khép lại sau lưng họ bằng một tiếng cọt kẹt trầm đục, then cài bằng đồng khẽ rung lên rồi nằm yên vị trí. Ngay lập tức, thế giới ồn ào và những xao động bất an bên ngoài sân trường bị chặn đứng hoàn toàn. Không gian bên trong lập tức bao trùm lấy cả hai bằng một sự tĩnh mịch tuyệt đối, tựa như thời gian ở nơi này đã ngưng đọng lại từ nhiều thập kỷ trước. Miên hít một hơi sâu, lồng ngực ngập tràn thứ mùi hương đặc trưng không thể trộn lẫn của những căn phòng lưu trữ cổ xưa: mùi ẩm mốc dìu dịu của hàng vạn trang giấy bồi đã ngả sang màu vàng ố, mùi hăng hăng của keo dán gáy sách mục nát, mùi gỗ lim già dặn của những dãy kệ cao ngất ngưởng chạm đến tận trần nhà cao vút, và mùi của lớp bụi mịn lơ lửng trong những vệt nắng xiên khoai màu mật ong rọi qua khung cửa sổ chớp khép hờ.

Nơi này vốn chỉ dùng để cất giữ những tập hồ sơ cán bộ cũ, những cuốn luận văn tốt nghiệp từ thập niên tám mươi, chín mươi và các bộ từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô bọc bìa da dày cộp. Học sinh bình thường hiếm khi có lý do để bước chân tới đây, ngoại trừ một vài thầy cô giáo phụ trách tư liệu hoặc những buổi lao động dọn dẹp kho lưu trữ định kỳ.

Miên tựa lưng vào mép chiếc bàn đọc sách dài bằng gỗ tếch xỉn màu, hai chân hơi chùng xuống vì mệt mỏi và căng thẳng. Cảm giác an toàn của không gian tĩnh lặng, tách biệt với thế giới bên ngoài dần thẩm thấu qua làn da, ngấm vào từng đầu ngón tay đang lạnh ngắt, giúp nhịp thở đứt quãng của cô dần bình ổn trở lại.

Quân buông cổ tay Miên ra. Cậu thong thả đặt cuốn sổ bìa da đen và chiếc cặp vải lên mặt bàn gỗ tếch đầy những vết xước dọc ngang, rồi đưa tay kéo hai chiếc ghế đẩu bằng gỗ mộc đối diện nhau ra khoảng trống giữa hai hàng giá sách cao ngất. Cậu ngồi xuống một chiếc, kéo vạt áo đồng phục cho phẳng phiu, rồi dùng đầu ngón tay trỏ gõ nhẹ lên mặt chiếc ghế còn lại, ra hiệu ngắn gọn:

“Ngồi xuống đi.”

Miên ngập ngừng giây lát, liếc nhìn khuôn mặt không chút biểu cảm của cậu bạn cùng bàn rồi cũng chậm chạp kéo lê bước chân tới, ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Cô vẫn ôm khư khư tập giấy câu hỏi trong lòng bàn tay, hai mắt dán chặt xuống những đường vân gỗ xước xát trên mặt bàn, nơi có ai đó từ nhiều năm trước từng dùng dao khắc lên một hình trái tim nguệch ngoạc và vài dòng chữ đã mờ. Cô không dám ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt sắc bén của Quân, cảm thấy bản thân lúc này chẳng khác nào một phạm nhân đang chờ nghe phán quyết.

“Đưa tờ giấy câu hỏi đây,” Quân chìa bàn tay dài với những khớp xương rõ ràng ra trước mặt cô. Giọng điệu của cậu vẫn mang tính mệnh lệnh dứt khoát, thứ giọng điệu của một kẻ luôn quen làm chủ mọi tình huống nhờ sự tự tin tuyệt đối vào logic của mình.

Miên lưỡng lự một chút, ngón tay siết nhẹ mép giấy rồi cũng đành chìa tập câu hỏi ra. Quân đón lấy, những ngón tay thon dài lướt nhẹ qua mặt giấy phẳng phiu giờ đã có nếp gấp nhăn nhúm. Cậu rút cây bút bi mực đen cài ở túi áo ngực ra, bấm một tiếng *tách* giòn giã trong không gian im ắng. Cậu đọc lướt qua từng dòng chữ ngay ngắn, nắn nót của cô rất nhanh. Đôi lông mày rậm của Quân khẽ nhíu lại ở đoạn giữa, rồi khóe miệng hơi giật giật như muốn nói điều gì đó nhưng lại nén lại. Một thoáng im lặng kéo dài bao trùm lấy gian phòng cũ, chỉ có tiếng gió thu lùa qua khe cửa chớp gỗ kêu ro ro như tiếng sáo diều xa xăm.

“Chữ đẹp, trình bày cẩn thận,” Quân buông lời nhận xét đầu tiên, giọng nói vẫn giữ nguyên vẻ khô khan thường nhật của một học sinh chuyên Tự nhiên. “Nội dung câu hỏi cũng có chiều sâu, chứng tỏ có đầu tư suy nghĩ chứ không phải làm cho có lệ. Nhưng sai lầm căn bản nằm ở phương pháp tiếp cận.”

Miên khẽ ngẩng đầu lên, đôi mắt vẫn còn hơi hoe đỏ ánh lên vẻ ngơ ngác: “Sai lầm phương pháp? Là sao cơ?”

“Cậu đang viết một bài văn nghị luận cảm thấu hoặc làm thơ cho chính mình đọc, chứ không phải đang chuẩn bị công cụ cho một cuộc phỏng vấn thực tế ngoài đời,” Quân lật mặt sau của tờ giấy, ngòi bút bi đen bắt đầu vạch những đường thẳng dứt khoát, không chút do dự dưới các cụm từ hoa mỹ của cô. “Nghe tôi đọc lại câu hỏi số hai của cậu dành cho chú Tám này: *‘Thưa chú, trong những đêm đông rét mướt ngồi bên ngọn đèn dầu canh giữ sự bình yên cho ngôi trường, có khoảnh khắc nào chú cảm thấy nỗi cô đơn chạm vào đáy sâu tâm hồn mình hay không?’*”

Quân dừng lại, ngẩng đầu lên, nhìn thẳng tắp vào mắt Miên. Đôi mắt cậu đen láy, sâu thẳm và tỉnh táo đến mức trần trụi: “Cậu nghĩ chú Tám là ai? Một triết gia hiện sinh à? Hay chú ấy là một nhà thơ lãng mạn ẩn dật dưới lốt bảo vệ trường học? Chú ấy là một cựu binh ngoài năm mươi tuổi, hàng ngày đối mặt với việc kiểm tra hàng trăm chiếc xe đạp điện của học sinh, vừa thức đêm canh trộm trèo tường, vừa phải đi sửa từng cái then cài cửa lớp bị gãy, từng cái bóng đèn tuýp bị cháy. Cậu bước vào phòng người ta với một gương mặt trắng bệch như sắp ngất xỉu, tay chân run như cầy sấy, rồi tuôn ra một câu dài ngoằng toàn những ‘đáy sâu tâm hồn’ với cả ‘cô đơn rét mướt’. Chú ấy không hoảng hốt, không tưởng cậu bị ma nhập mới là chuyện lạ đấy.”

Từng lời nhận xét sắc bén, chuẩn xác như một đường dao phẫu thuật của Quân ghim thẳng vào nhận thức của Miên. Cô ngồi sững sờ, hai má lại một lần nữa nóng ran. Dù lời nói của Quân có phần cay nghiệt, cộc lốc và hoàn toàn thiếu đi sự uyển chuyển thường thấy của những người học Văn, nhưng khi ngẫm lại từng câu từng chữ, cô không thể phủ nhận rằng cậu nói đúng đến từng chi tiết nhỏ. Suốt mấy ngày qua, cô đã tự nhốt mình trong cái vỏ bọc bay bổng của ngôn từ, mang toàn bộ cái tôi lãng mạn hóa của một học sinh chuyên Văn để áp đặt lên đời sống thực tế của những con người lao động chân tay giản dị. Cô muốn nghe những câu trả lời đầy tính văn học, mà quên mất rằng họ nói bằng ngôn ngữ của mồ hôi, của cơm áo gạo tiền và những công việc lặp đi lặp lại mỗi ngày.

“Vậy… vậy theo cậu thì phải hỏi thế nào mới đúng?” Miên lí nhí hỏi, giọng nói nhỏ như tiếng muỗi kêu. Cảm giác tự ti lại dâng lên trong lòng, nhưng lần này nó không còn là sự hoảng loạn nữa, mà xen lẫn một chút tò mò và cầu thị thực sự.

Quân gõ nhẹ đầu bút bi xuống mặt bàn gỗ, phát ra những tiếng *cạch, cạch* đều đặn: “Hỏi thẳng vào thực tế đời sống. Bỏ hết những tính từ chỉ cảm xúc trừu tượng đi, gạt hết mấy cái trạng từ rườm rà sang một bên. Câu hỏi càng ngắn gọn, rõ ràng thì người ta càng dễ tiếp nhận và dễ trả lời. Và điều quan trọng nhất: khi nói chuyện, tuyệt đối không được nhìn chằm chằm xuống đất hay lảng tránh ánh mắt của người đối diện. Cậu nhìn xuống đất, người ta sẽ nghĩ cậu đang giấu giếm điều gì đó, hoặc bản thân cậu không tự tin vào điều mình đang nói.”

Cậu dùng chân đẩy chiếc ghế đẩu của mình tiến lên phía trước một đoạn ngắn, thu hẹp khoảng cách giữa hai người lại chỉ còn chừng nửa mét, rồi khoanh hai tay trước ngực, lưng thẳng tắp:

“Bây giờ chúng ta tập dượt. Tôi là chú Tám bảo vệ. Cậu là người phỏng vấn. Bắt đầu lại từ bước bước vào cửa.”

Miên chớp chớp mắt, ngực lại thắt lại một nhịp: “Tập… đóng vai ở đây á?”

“Chứ còn ở đâu nữa? Cậu định đợi đến ngày mai lại ra cổng trường đứng khóc tiếp à?” Quân nhìn cô chằm chằm, ánh mắt kiên định và lạnh lùng đến mức không cho cô bất kỳ một kẽ hở nào để thoái lui. “Nếu cậu không vượt qua được bài tập này với một đứa ngồi cùng bàn suốt mấy tuần qua, thì ngày mai cậu cũng đừng mơ bước chân lại gần phòng bảo vệ hay phòng lao công. Nào, ngẩng đầu lên. Nhìn thẳng vào mắt tôi. Không được nhìn xuống mặt bàn, không được nhìn sang mấy cái giá sách phía sau. Bắt đầu.”

Miên hít một hơi dài, lồng ngực căng tràn không khí ẩm mốc của căn phòng cũ. Khoảng cách giữa hai chiếc ghế đẩu lúc này quá gần, gần đến mức cô có thể nhìn thấy rõ từng sợi lông mi mảnh và sự phản chiếu của khung cửa sổ chớp trong con ngươi đen láy của Trịnh Đông Quân. Nhìn thẳng vào đôi mắt sắc sảo, điềm tĩnh đến đáng sợ ấy đối với một đứa mắc hội chứng sợ giao tiếp như Miên chẳng khác nào một cực hình thể xác. Cô siết chặt hai bàn tay lại trên đầu gối, cố gắng vận hết sức bình sinh để giữ cho giọng nói của mình không bị vỡ vụn:

“Dạ… cháu chào chú Tám ạ…”

“Sai,” Quân lập tức ngắt lời, giọng khô khốc không chút nể nang. “Ánh mắt cậu vừa đảo lên góc trần nhà bên trái mất nửa giây. Cậu đang tìm kiếm sự cứu rỗi từ mạng nhện à? Trừ một điểm tác phong. Làm lại.”

“Cậu… cậu vừa phải thôi chứ! Khắt khe quá mức rồi đấy!” Miên bực bội cằn nhằn, đôi mày thanh tú chau lại.

“Ngoài đời thực người ta bận rộn trăm công nghìn việc, không ai rảnh rỗi ngồi đếm nhịp thở để đợi cậu lấy lại bình tĩnh đâu. Làm lại.” Quân không hề lay chuyển dù chỉ nửa phân, nét mặt vẫn lạnh tanh như một tảng đá mùa đông.

Miên nghiến chặt răng. Một cảm giác bực bội và hiếu thắng bất ngờ trỗi dậy, lấn át phần nào nỗi sợ hãi cố hữu trong tâm trí cô. Cô quyết định ghim chặt ánh mắt mình vào khoảng giữa hai đầu lông mày của Quân—cô chợt nhớ ra một mẹo tâm lý từng đọc trong cuốn sách kỹ năng giao tiếp mượn ở thư viện huyện: nếu không đủ dũng khí nhìn thẳng vào đồng tử của người đối diện, hãy nhìn vào sống mũi hoặc điểm giữa hai cung mày, đối phương vẫn sẽ cảm thấy họ đang được tôn trọng và nhìn thẳng. Cô hắng giọng thật khẽ, cố gắng phát âm tròn vành rõ chữ, nhả từng từ một cách rành mạch nhất có thể:

“Cháu chào chú Tám. Cháu là Miên, học sinh lớp 12 Văn. Lớp cháu đang làm số báo tường đầu năm của trường, cháu muốn xin phép hỏi chú vài câu ngắn về công việc hàng ngày của chú được không ạ?”

Quân ngồi yên bất động mất chừng hai giây. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, Miên nhận thấy ánh mắt sắc lạnh của cậu khẽ dao động một chút, dường như có một thoáng ngạc nhiên lướt qua đáy mắt trước sự thay đổi nhanh chóng của cô bạn cùng bàn. Cậu khẽ gật đầu, nhưng ngay lập tức biểu cảm trên gương mặt cậu thay đổi hoàn toàn. Cậu hơi nghiêng đầu sang một bên, vai buông thõng xuống một cách lười biếng, giọng nói chuyển sang tông trầm đục, khàn khàn, nhại lại điệu bộ của một ông già khó tính đến mức giống y như đúc:

“Hỏi cái gì mà hỏi? Đang dở tay lau cái bugi xe máy đây này. Có nhanh không thì bảo, tí nữa trống vào lớp là tôi phải đi khóa cổng sắt đấy!”

Sự biến hóa đột ngột và tài tình của Quân khiến Miên suýt chút nữa bật cười thành tiếng. Nhưng nhìn vẻ mặt nghiêm túc giả vờ của cậu, cô vội vàng cắn môi nén lại, nhanh chóng cuốn mình vào nhịp điệu của cuộc phỏng vấn giả định:

“Dạ nhanh thôi ạ, chỉ mất của chú chừng năm phút thôi. Chú Tám ơi, tính đến năm nay thì chú đã gắn bó với ngôi trường Trần Văn Lan này được bao nhiêu năm rồi ạ?”

“Mười sáu năm có lẻ rồi. Từ cái hồi dãy nhà hiệu bộ ba tầng này còn là bãi đất trống trồng khoai lang, phòng học còn lợp mái ngói đỏ sứt sẹo cơ.” Quân đáp cộc lốc, hai mắt nheo nheo nhìn ra khoảng không phía sau vai Miên, điệu bộ hệt như một người già đang hồi tưởng về quá khứ xa xăm.

“Trong suốt mười sáu năm đó… à không, cháu muốn hỏi là, điều gì cụ thể nhất khiến chú gắn bó với công việc gác cổng trường lâu đến như vậy ạ?” Miên bắt đầu cảm thấy sự trôi chảy trong suy nghĩ của mình. Ngón tay cô lật nhẹ mép cuốn sổ, không còn thấy những cơn run rẩy co giật nơi đầu ngón tay nữa.

Quân khẽ nhướng một bên lông mày, khóe miệng giật giật như đang cố nén một nụ cười trước sự chuyển biến linh hoạt của Miên, rồi cậu buông một câu trả lời cộc lốc mang đậm phong cách thực dụng của chính mình:

“Lương tháng phát đều đặn vào ngày mùng năm, không bị nợ bao giờ. Với lại đám học trò các cô các cậu nghịch như quỷ sứ, nếu không có tôi ngồi chốt ở cái cổng này thì chúng nó trèo tường trốn ra quán điện tử đầu phố chơi điện tử hết từ tiết hai rồi.”

Lần này thì Miên không tài nào nhịn được nữa. Cô bật cười thành tiếng. Tiếng cười trong trẻo, giòn tan của cô gái nhỏ vang vọng giữa không gian vắng lặng, bụi bặm của gian phòng thư viện cũ, làm tan biến hoàn toàn bầu không khí u uất, ngột ngạt và căng thẳng đã đè nặng lên cô suốt từ đầu buổi chiều. Nắng thu ngoài cửa sổ chớp hắt qua những kẽ lá, rọi lên khuôn mặt ửng hồng rạng rỡ của Miên những đốm sáng lấp lánh như hoa nắng.

“Này, Trịnh Đông Quân! Chú Tám ngoài đời người ta tình cảm và thương học sinh lắm, chứ không có cộc cằn, thực dụng như cái cách cậu đóng vai đâu nhé!” Miên vừa cười vừa trách móc, ánh mắt lấp lánh niềm vui nhẹ nhõm.

“Thực tế cuộc sống nó là như thế đấy, cô nương chuyên Văn ạ,” Quân nhún vai, nhưng nơi khóe mắt cậu đã thoáng hiện một tia ấm áp hiếm hoi, làm dịu đi những đường nét sắc lạnh thường thấy trên gương mặt. “Người lao động chân chính họ quý sự chân thành, mộc mạc và những gì thực tế nhất. Cậu hỏi về những việc họ làm hàng ngày, họ sẽ cởi mở kể vanh vách không giấu giếm điều gì. Từ chuyện học sinh khóa nào quậy phá nhất, hay trèo tường ở góc nào; cho đến mùa bão năm nào nước ngập sâu đến ngang bắp chân, chú Tám phải xắn quần lội bì bõm cõng từng thầy cô giáo già qua khoảng sân trường ngập rác. Chính những chi tiết sống động, gai góc và mộc mạc đó mới là chất liệu vàng cho bài báo của cậu, chứ không phải mấy dòng triết lý hoa mỹ, sáo rỗng mượn từ trong tiểu thuyết.”

Miên ngẩn người nhìn Quân. Cậu bạn cùng bàn thường ngày chỉ biết cắm cúi viết vẽ những công thức tích phân phức tạp, kiệm lời đến mức gần như vô cảm với tất cả mọi người xung quanh, hóa ra lại sở hữu một khả năng quan sát đời sống tinh tế và nhạy bén đến kinh ngạc. Cậu nhìn thẳng vào bản chất cốt lõi của sự việc, bóc tách lớp vỏ bọc cảm xúc thừa thãi để tìm ra cái lõi chân thực nhất của đời sống con người. Đó chính là điều mà một người khao khát theo đuổi nghề Viết, nghề Báo chí như cô đang thiếu hụt một cách trầm trọng. Văn chương của cô bấy lâu nay dường như chỉ bay lơ lửng trên mây, thiếu đi cái rễ cắm sâu vào lòng đất mẹ trần trụi.

“Bây giờ đổi vai,” Quân lại gõ nhẹ đầu bút bi xuống mặt bàn gỗ, kéo Miên trở về thực tại. “Lần này tôi đóng vai bác Hạnh lao công. Cậu hỏi đi. Nhớ lấy một chi tiết quan trọng: bác Hạnh hay bị đau lưng dữ dội vào những đợt gió mùa trở trời như hôm nay.”

Miên tròn xoe mắt ngạc nhiên, buột miệng hỏi: “Sao cậu biết bác ấy bị đau lưng? Bác ấy có bao giờ than phiền với học sinh đâu?”

“Tuần trước tôi ở lại trực nhật muộn, thấy bác ấy ngồi bóp dầu gió ở bậc thềm chân cầu thang khu phòng học thực hành số hai, bước đi tập tễnh dựa vào cán chổi tre.” Quân đáp tỉnh bơ, giọng điệu thản nhiên như thể đó chỉ là một phép tính cộng trừ hiển nhiên mà bất kỳ ai có mắt cũng phải nhìn thấy.

Trái tim Miên khẽ rung lên một nhịp lạ lùng. Cậu học sinh chuyển trường từ một ngôi trường chuyên danh tiếng ở Hà Nội về đây, mang tiếng là xa cách, kiêu ngạo, lạnh lùng và không bao giờ thèm hòa nhập với tập thể lớp 12 Văn, nhưng thực chất lại âm thầm thu vào tầm mắt mọi chuyển động nhỏ bé, mọi nỗi đau âm thầm nhất của ngôi trường tỉnh lẻ này. Cậu không hề vô tâm hay vô cảm như vẻ bề ngoài; chỉ là cậu chọn cách im lặng tuyệt đối để quan sát thế giới xung quanh theo cách riêng của mình.

“Nào, đừng có ngồi ngẩn ra đấy. Tập trung vào,” Quân cất tiếng nhắc nhở, kéo cô ra khỏi dòng suy nghĩ miên man.

Lần này, Miên không còn thấy sợ hãi hay ngượng ngùng nữa. Cô ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế đẩu, ánh mắt tự tin nhìn thẳng vào Quân. Cô hoàn toàn bỏ qua những dòng chữ trau chuốt, hoa mỹ đã viết sẵn trong tập giấy, bắt đầu cuộc trò chuyện bằng những câu hỏi cụ thể, giản dị và đời thường nhất: về chiếc chổi tre mau mòn vẹt vào những mùa xà cừ trút lá, về những lớp bụi phấn bảng trắng xóa bám đầy kẽ móng tay và cổ họng sau mỗi tiết học, và về những món đồ kỳ quặc nhất mà học trò vô tâm bỏ quên dưới gầm bàn sau mỗi buổi tan trường. Quân tiếp tục tung ra những câu trả lời cộc lốc, đôi khi chêm vào vài câu nhận xét châm biếm khô khan nhưng đầy tính thực tế, khiến Miên vừa cắm cúi ghi chép những ý tưởng mới vào góc sổ vừa phải bật cười khúc khích.

Cứ thế, qua ba bốn lượt tập dượt liên tục, cảm giác nghẹn ứ nơi cổ họng và nỗi sợ hãi giao tiếp của Miên đã hoàn toàn tan biến. Giọng nói của cô trở nên dứt khoát, tự nhiên và gãy gọn hơn rất nhiều, các câu hỏi bật ra nhẹ nhàng như một dòng suối chảy xuôi dòng.

“Tốt hơn nhiều rồi đấy,” Quân dừng lại, tựa lưng vào chiếc ghế đẩu, đưa trả tập giấy câu hỏi đã được cậu dùng bút bi gạch xóa, ghi chú chằng chịt cho Miên. “Ngày mai cứ giữ nguyên tâm thế này mà nói. Nếu lúc đứng trước mặt người ta mà vẫn thấy tim đập nhanh, thì cứ coi đối phương như… một bài toán khó có nhiều ẩn số cần phải tìm lời giải thôi. Tiếp cận từng bước một, từ giả thiết cho đến kết luận.”

“Làm sao mà có thể coi con người bằng xương bằng thịt như một bài toán khô khan được chứ,” Miên mỉm cười, cẩn thận gấp tờ giấy lại làm tư rồi nhét gọn gàng vào túi áo ngực đồng phục, ngay sát vị trí trái tim.

Bầu không khí giữa hai người trong căn phòng thư viện cũ trở nên nhẹ nhõm, ấm áp và gần gũi hơn bao giờ hết, phá vỡ hoàn toàn bức tường ngăn cách vô hình đầy e dè đã tồn tại giữa họ suốt từ đầu năm học đến nay.

Ngồi giữa bốn bề là những giá sách cũ kỹ nhuốm màu thời gian, nhìn những hạt bụi li ti lấp lánh bay lượn trong luồng sáng vàng vọt xiên qua ô cửa chớp, bản tính tò mò muôn thuở và thói quen quan sát tâm lý của một người viết văn trong Miên bỗng nhiên trỗi dậy mạnh mẽ. Nhìn vẻ điềm tĩnh, chín chắn đến mức già dặn trước tuổi của Quân, cô bất chợt buột miệng hỏi một câu hoàn toàn nằm ngoài kịch bản phỏng vấn:

“Thế còn cậu… Nếu bây giờ tôi muốn phỏng vấn cậu, thì ẩn số lớn nhất của cậu là gì?”

Quân hơi khựng lại, động tác thu dọn chiếc bút bi cài vào túi áo dừng giữa chừng. Ánh mắt cậu thoáng hiện một nét ngạc nhiên hiếm thấy: “Cái gì cơ?”

“Ý tôi là…” Miên ngập ngừng, hai ngón tay cái xoắn chặt vào nhau, nhưng sự tò mò chân thành thôi thúc cô nói tiếp, “Cậu học giỏi Toán xuất sắc như thế, lại từng học ở trường chuyên Hà Nội danh tiếng, tại sao đến tận năm lớp mười hai—năm học quan trọng nhất của đời học sinh—cậu lại chuyển về Nam Định? Về một ngôi trường huyện ven đô như Trần Văn Lan này… Chắc hẳn phải có một lý do gì đó lớn lắm, đúng không?”

Không khí trong căn phòng thư viện cũ bỗng chốc chùng xuống một cách đột ngột và nặng nề.

Nụ cười vừa mới hé nở trên môi Miên tắt lịm đi trong tích tắc khi cô nhận thấy toàn bộ cơ thể Quân cứng đờ lại như một khúc gỗ mục. Đôi mắt sắc sảo vừa mới nãy còn phảng phất một chút ấm áp hiếm hoi nay lập tức phủ lên một lớp băng lạnh ngắt, xa xăm và dựng lên một bức tường phòng thủ tột cùng. Những ngón tay thon dài đang đặt trên mặt bàn gỗ của cậu siết chặt lại thành nắm đấm, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực quá mạnh.

Một sự im lặng ngột ngạt, buốt giá đến nghẹt thở bao trùm lấy khoảng không gian hẹp giữa hai chiếc ghế đẩu. Tiếng gió rít qua khe cửa chớp dường như cũng ngừng bặt, nhường chỗ cho sự nặng nề đến run rẩy.

Miên lập tức nhận ra mình vừa lỡ lời chạm vào một ranh giới cấm kỵ, một vết thương sâu kín mà cậu bạn cùng bàn luôn cố gắng dùng vẻ lạnh lùng để che đậy. Cô hốt hoảng, luống cuống xua hai tay trước ngực: “Tôi… tôi xin lỗi! Tôi vô ý quá, nếu cậu không muốn nói thì thôi nhé, coi như tôi chưa hỏi gì cả…”

“Chuyển trường thì cần quái gì lý do vĩ đại,” Quân cắt ngang lời xin lỗi của cô, giọng cậu trầm hẳn xuống, cay đắng và buốt lạnh như một vết dao cứa vào mặt gỗ xước. Cậu không nhìn vào mắt Miên nữa mà quay hẳn mặt sang một bên, phóng tầm mắt vào khoảng không vô định giữa những kệ sách phủ đầy bụi xám. “Chỉ là chạy trốn thôi.”

Miên nín thở, hai vai khẽ co lại, không dám cựa quậy hay tạo ra bất kỳ tiếng động nào.

“Cậu có biết điều gì trên đời này đáng sợ nhất không?” Quân khẽ nhếch mép, một nụ cười tự giễu đầy xót xa hiện lên trên gương mặt góc cạnh. “Không phải là chuyện bố mẹ cậu ngày nào cũng cãi vã, đập phá đồ đạc, rồi cuối cùng lôi nhau ra tòa ký vào cái tờ giấy ly hôn lạnh ngắt. Mà là sau khi mọi chuyện vỡ lở ra ngoài xã hội, tất cả những người lớn xung quanh—từ thầy cô giáo, phụ huynh của bạn bè cho đến hàng xóm láng giềng—họ bắt đầu nhìn cậu bằng một thứ ánh mắt hoàn toàn khác hẳn.”

Cậu nuốt một ngụm khan, yết hầu chuyển động giật cục, lồng ngực phập phồng sau lớp áo đồng phục mỏng:

“Đó là những ánh mắt tò mò tột cùng nhưng lúc nào cũng cố tỏ ra thấu hiểu và bao dung. Là những câu hỏi thăm giả vờ quan tâm, ngọt nhạt đến buồn nôn: *‘Cháu dạo này thế nào, có ổn không? Bố mẹ cháu chia tài sản xong chưa? Rồi cháu định ở với ai, theo bố hay theo mẹ?’* Càng những người tỏ ra thương hại cậu nhiều nhất, thì thâm tâm họ lại càng háo hức muốn xé toạc cái vết thương của cậu ra để nhìn xem bên trong nó đang rỉ máu, đang thối rữa đến mức nào.”

Quân siết chặt quai chiếc cặp sách bằng vải dù, các đốt ngón tay run rẩy một cách khó nhận ra dưới ánh chiều tà:

“Tôi ghét cay ghét đắng cái sự thương hại giả tạo đó. Tôi ghét cái cách người ta nhìn tôi như một kẻ bất hạnh, một đứa trẻ khuyết tật về mặt tình cảm cần được ban phát lòng trắc ẩn từ thiện. Ở Hà Nội, bước chân ra đầu ngõ là gặp người quen hỏi han, bước chân đến lớp là thấy bạn bè xì xào to nhỏ sau lưng mỗi khi tôi đi ngang qua. Tôi cảm giác mình không thể thở nổi trong cái bầu không khí ngột ngạt ấy nữa.”

Từng lời nói trần trụi, cay đắng của Quân rơi tõm vào không gian tĩnh mịch của căn phòng lưu trữ, tựa như những hòn sỏi ném xuống đáy giếng sâu hoắm.

Miên ngồi chết lặng trên chiếc ghế đẩu, hai bàn tay buông thõng bên hông, trái tim cô thắt lại trong một cảm giác xót xa khó tả. Giờ đây, cô mới hoàn toàn hiểu ra vì sao Quân luôn xù lông nhím với tất cả mọi người xung quanh, vì sao cậu luôn giữ thái độ cộc lốc, phòng thủ và dùng những biểu đồ, con số logic khô khan để làm lớp giáp sắt che chắn cho bản thân mình. Cậu không hề kiêu ngạo, không hề coi thường những người bạn học ở ngôi trường huyện này. Cậu chỉ đang tuyệt vọng tìm mọi cách để bảo vệ những mảnh vỡ tự trọng cuối cùng còn sót lại sau một biến cố gia đình quá lớn, trốn chạy khỏi thứ lòng tốt độc hại mang tên “sự thương hại”.

Nắng chiều ngoài khung cửa sổ chớp nhạt dần rồi lịm hẳn, vệt sáng vàng vọt hình thang trên mặt đất thu hẹp lại, leo dần lên mép bàn rồi tắt ngấm trên bờ vai áo đồng phục đã sờn chỉ của Quân. Căn phòng thư viện cũ chìm dần vào bóng hoàng hôn mờ ảo, nhuốm một màu xanh xám thê lương của buổi chiều tà.

Giữa mùi giấy cũ của thư viện, Miên lần đầu tiên thấy khóe mắt Quân chùng xuống khi nhắc đến hai chữ 'gia đình'.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn