Năm Ấy Hoa Phượng NởC.1 / 40
Chương 1

Chỗ Ngồi Bên Cửa Sổ

Tiếng trống khai giảng giòn giã vang lên, xé toang không gian tĩnh lặng bảng lảng sương sớm của một ngày đầu thu đất Nam Định, khi vạt nắng vàng non như mật mới rót từng giọt nghiêng nghiêng qua vòm lá rậm rạp của tàng phượng vĩ già nua giữa sân trường Trung học phổ thông Trần Văn Lan.

Âm vang “tùng… tùng… tùng…” trầm đục, dứt khoát và bền bỉ dội vào lồng ngực học trò từng nhịp nôn nao khó tả. Dưới khoảng sân lát gạch đỏ thênh thang đã mòn nhẵn qua bao thế hệ, hàng nghìn tà áo dài trắng muốt khẽ lay động theo ngọn gió heo may se lạnh vừa chớm về đêm qua. Mùi vôi mới từ dãy nhà hiệu bộ ba tầng quét sơn vàng óng quyện lẫn hương cỏ ẩm ướt sau trận mưa rào muộn cuối hạ, pha tạp thêm cái ngai ngái nồng nàn của lớp lá phượng rụng vụn dưới chân, tạo nên một thứ phong vị thân thuộc đến nhức nhối. Đó là thứ mùi hương đặc thù mà chỉ cần nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu qua lồng ngực, người ta cũng có thể biết chính xác mình đang đứng giữa một buổi sáng tháng Chín tinh khôi của thời áo trắng. Những chiếc ghế nhựa đỏ xếp thẳng tắp thành từng khối ngay ngắn như những luống hoa, biển tên lớp bằng tôn trắng viền sơn xanh lam cắm trang nghiêm ở đầu mỗi hàng, khẽ rung rinh mỗi khi có cơn gió thoảng qua mang theo hơi thở lành lạnh từ phía dòng sông Đào thổi về.

Nguyễn Hạ Miên nép mình ở góc trong cùng của hàng ghế lớp 12 chuyên Văn, khẽ kéo lại mép cổ áo dài trắng còn thơm nồng mùi nắng mới và lớp hồ ủi phẳng phiu mà mẹ cô đã tỉ mẩn là từ tối hôm trước. Hai bàn tay cô đan chặt vào nhau đặt trên đùi, ngón tay cái vô thức miết nhẹ lên khớp ngón trỏ—một thói quen cố hữu hình thành từ những năm tháng ấu thơ, mỗi khi nỗi bồn chồn vô cớ bắt đầu dâng lên nghẹn ứ nơi cuống họng. Giữa tiếng loa phóng thanh bằng nhôm treo trên cành xà cừ rè rè phát đi bài ca truyền thống của nhà trường, giữa những chuỗi cười ròn rã, ríu rít chuyền tay nhau từng chùm quả vặt sau ba tháng hè đằng đẵng xa cách của bạn bè cùng khóa, Miên lại thấy lồng ngực mình chật chội lạ lùng. Một nỗi bất an vô hình tựa như màng nhện mỏng manh nhưng dai dẳng, bóp nghẹt lấy từng thớ không khí xung quanh cô.

Đây đã là buổi lễ khai giảng cuối cùng của đời học sinh. Mười hai năm đèn sách, bao buồn vui, mơ mộng và ngây dại dường như đang bị thu hẹp lại trong một chiếc phễu thời gian khắc nghiệt mang tên “năm cuối cấp”, nơi mọi ngả đường phía trước đều bị phủ bóng bởi kỳ thi đại học cam go. Sáng nay, trước khi cô dắt chiếc xe đạp mini Nhật màu xanh rêu đã tróc sơn vài chỗ ra khỏi cánh cổng sắt hoen gỉ, bố cô—ông Thành—đã đứng tựa lưng vào mép cửa nách, chiếc kìm điện bọc nhựa đỏ quen thuộc vẫn giắt ngang hông áo bảo hộ lao động. Đôi mắt trũng sâu vì những đêm dài thức trắng trực kỹ thuật ở xí nghiệp dệt nhìn xoáy vào cô, buông một câu nói đều đều, phẳng lặng nhưng nặng trĩu tựa hồ đá tảng:

“Năm nay là năm quyết định cả đời người đấy. Con gái con lứa học Văn thì ráng mà thi lấy cái Sư phạm tỉnh nhà cho nó yên thân, gần cha gần mẹ, ra trường có chỗ dạy học ổn định. Đừng có mà vẽ chuyện mộng tưởng xa xôi rồi tốn tiền tốn của của bố mẹ mà rốt cuộc chẳng đâu vào đâu.”

Còn mẹ cô, người đàn bà quanh năm tất bật với sạp vải nhỏ ngoài chợ Rồng, thì vội vã nhét vào giỏ xe của con gái một hộp sữa tươi tiệt trùng cùng tờ lịch học thêm kín mít các buổi tối trong tuần, nét mực đỏ gạch dưới từng ca học ca ba. Miệng mẹ không ngớt dặn dò phải giữ gìn sức khỏe, phải gắng mà nhìn vào tấm gương con nhà bác tổ trưởng dân phố vừa đỗ thủ khoa năm ngoái. Những lời căn dặn đầy tính toán và cẩn trọng ấy như những thanh chì vô hình đè nặng lên đôi vai gầy của Miên suốt dọc con đường nhựa từ ngõ Văn Nhân dẫn tới cổng trường.

Miên muốn học Báo chí. Cô khao khát được đặt chân lên mảnh đất Hà Nội đầy sôi động, muốn dùng chính ngòi bút mộc mạc của mình để chạm vào hơi thở trần trụi, chân thực của đời sống, muốn bước ra khỏi không gian bình lặng đến mức tù túng của thị xã nhỏ bé này để nhìn ngắm biển rộng trời cao. Thế nhưng, giữa ước mơ cháy bỏng ấy và thực tại là một vực thẳm ngăn cách bởi sự tự ti cố hữu. Mỗi khi phải đứng trước đám đông, mỗi khi những ánh mắt xa lạ đồng loạt đổ dồn về phía mình, cổ họng Miên lập tức nghẹn đắng, tim đập loạn xạ như muốn xé toang lồng ngực, và đôi bàn tay sẽ run rẩy không sao kiểm soát nổi. Một đứa con gái nhút nhát đến mức chỉ dám bộc lộ bản thể qua từng con chữ nấp dưới bút danh Mộc Miên gửi cho chuyên trang học trò của tờ báo Tuổi Xanh, liệu có đủ dũng khí để vượt thoát khỏi chiếc lồng kính bình yên mà gia đình đã dựng sẵn?

Miên khẽ thở dài, đưa mắt nhìn lên lễ đài rực rỡ cờ hoa. Thầy hiệu trưởng mái tóc hoa râm đang đứng trước bục gỗ, giọng đọc diễn văn khai giảng trầm bổng vang vọng qua hệ thống âm thanh cũ kỹ. Những lời kêu gọi thi đua, những khẩu hiệu về một năm học bản lề đầy thử thách và vinh quang trôi tuột qua tai Miên tựa như những hạt mưa rào rớt vào khoảng không mông lung.

Ngồi ngay bên cạnh cô, Lê Khánh Na đang kín đáo dùng ngón tay thon dài chỉnh lại dải ruy băng buộc tóc bằng lụa màu lam nhạt. Khác hẳn với vẻ co cụm, bồn chồn của Miên, Na lúc nào cũng toát ra phong thái của một tiểu thư khuê các, điềm đạm và chỉn chu đến từng nếp gấp tà áo lụa Hà Đông. Khuôn mặt thanh tú, trắng trẻo không tì vết của cô hoa khôi lớp Văn hơi nghiêng về phía sân bóng rổ phía xa, nơi hàng phượng vĩ bắt đầu trút những chùm lá nhỏ li ti vàng ruộm xuống thảm cỏ. Đôi mắt bồ câu của Na phẳng lặng, dường như những âu lo về kỳ thi đại học hay áp lực gia đình chưa từng chạm tới được vẻ thanh thản toát ra từ dung nhan ấy.

Phía trước họ chừng ba hàng ghế, Phạm Đức Tín—cậu lớp trưởng tháo vát có biệt danh thân mật là Tít—đang lúi húi dưới gầm ghế, hí hoáy chuyền một mẩu giấy gấp tư ghi lịch trực nhật tuần đầu tiên xuống cho Vũ Quốc Bảo. Bảo chống cằm, đôi chân dài ngoẵng khẽ cựa quậy một cách khó nhọc vì chiếc ghế nhựa quá thấp so với chiều cao vượt trội của một trung phong đội tuyển bóng đá trường. Chốc chốc, cậu chàng lại ngáp dài một cái đầy vẻ uể oải, mái tóc cắt tỉa gọn gàng hơi rối lên dưới ánh nắng sớm.

Bỗng nhiên, một làn sóng xì xào khe khẽ nổi lên từ phía cuối khối 12, lan nhanh như vệt dầu loang trên mặt nước phẳng lặng. Tiếng thì thầm to nhỏ của mấy nữ sinh lớp 12 chuyên Địa ngồi ở dãy bên cạnh bắt đầu lọt vào tai Miên, ngắt quãng nhưng đầy vẻ tò mò:

“Kìa, ai thế kia nhỉ? Học sinh mới chuyển trường à?”

“Nhìn lạ hoắc, chẳng giống dân Nam Định mình chút nào. Trông cao ráo ghê, nhưng mặt mũi sao mà lạnh như tiền ấy…”

“Lớp Văn đón học sinh mới thật sao? Nghe phong phanh là chuyển từ một trường chuyên nức tiếng nào đó ngoài Hà Nội về đấy!”

Miên giật mình, bất giác ngước mắt nhìn theo hướng chỉ trỏ của đám bạn. Từ phía bậc thềm đá của sảnh chính dẫn vào dãy nhà hiệu bộ, cô Đặng Thu Hà—giáo viên chủ nhiệm bộ môn Ngữ văn—đang rảo bước đi xuống sân gạch. Tà áo dài màu hoa sen của cô bay nhẹ trong gió thu. Nhưng mọi sự chú ý của khoảng sân trường lúc này không thuộc về cô giáo, mà đổ dồn vào bóng dáng nam sinh đang lặng lẽ bước theo sau lưng cô chừng hai bước chân.

Cậu ta mặc chiếc áo sơ mi trắng tinh tươm, phẳng phiu đến từng đường ly, được sơ vin gọn gàng trong chiếc quần tây màu xanh đen ống đứng. Vóc dáng cậu dong dỏng cao, vượt trội hơn hẳn phần lớn nam sinh cùng khối, với bờ vai rộng hơi gầy nhưng thẳng tắp. Tuy nhiên, điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất, xộc thẳng vào tâm trí người đối diện lại là phong thái toát ra từ con người ấy.

Gương mặt nam sinh góc cạnh, sắc nét với sống mũi cao thẳng tắp như tạc tượng, làn da trắng mang nét xanh xao của người hiếm khi phơi mình dưới ánh nắng gắt. Đôi mắt cậu đen thẳm, sâu hun hút nhưng ánh nhìn lại lạnh lùng, dửng dưng đến mức gần như vô cảm. Cậu bước đi chầm chậm, một bên quai đeo của chiếc cặp vải dù màu đen đã bạc phếch vắt hờ trên vai trái, hai bàn tay thọc sâu vào túi quần tây.

Dường như những dải cờ dây ngũ sắc phần phật bay trên đầu, tiếng loa phát thanh rộn rã hay hàng trăm ánh mắt tò mò, soi mói của học sinh toàn trường đang dán chặt vào mình đều không hề tồn tại trong thế giới của cậu. Cậu đi giữa một lễ khai giảng náo nhiệt như một kẻ bộ hành cô độc vô tình lạc bước qua một sân ga xa lạ: không một chút bỡ ngỡ, không một nét ngượng ngùng, và tuyệt nhiên không hề có lấy nửa phần ý định muốn kết nối hay làm vừa lòng bất kỳ ai xung quanh.

Cô Thu Hà dẫn cậu nam sinh đến mép cuối hàng ghế của lớp 12 Văn. Cô mỉm cười đôn hậu, khẽ vỗ nhẹ vào bả vai cậu một cái đầy vẻ trấn an, rồi cúi xuống dặn dò lớp trưởng Tít vài câu ngắn gọn trước khi quay gót trở lại khán đài dành cho hội đồng sư phạm.

Tít lập tức quay ngoắt người lại, hai mắt trợn tròn, sáng rực lên như thể vừa bắt được một món đồ chơi quý giá. Cậu ta ghé sát tai Bảo thì thầm điều gì đó khiến Bảo cũng phải vặn sườn ngoái cổ nhìn lại, miệng khẽ huýt sáo một tiếng đầy thích thú. Trong khi đó, cậu bạn mới chuyển về chỉ lặng lẽ đứng thẳng lưng ở cuối hàng. Đôi mắt đen sâu thẳm của cậu chăm chú nhìn vào một vết nứt sần sùi đóng đầy rêu mốc trên thân cây phượng vĩ ở góc sân, hoàn toàn phớt lờ những cái ngoái đầu xì xào của cả một tập thể lớp đang vây quanh.

“Cậu ấy tên là Trịnh Đông Quân,” tiếng Na khẽ vang lên bên tai Miên. Na hơi nghiêng đầu, giọng nói vẫn giữ được độ nhỏ nhẹ, tròn trịa chuẩn mực như mọi khi. “Nghe mẹ tớ kể lại hôm qua, bố mẹ cậu ấy vừa hoàn tất thủ tục ly thân ngoài Hà Nội, ầm ĩ lắm. Mẹ cậu ấy phải gửi cậu ấy về Nam Định nương nhờ nhà bà ngoại ở mạn phố Hàng Đồng. Cậu ấy từng là hạt giống chuyên Toán ngoài đấy, chẳng hiểu các thầy cô xếp đặt thế nào mà về trường mình lại bị chuyển thẳng vào lớp chuyên Văn.”

Miên đưa mắt nhìn trộm sườn mặt nghiêng của Quân. Dưới bóng râm loang lổ của tàng lá phượng, nửa gương mặt cậu chìm trong khoảng tối mờ ảo, trông lạnh lẽo và khép kín tựa như một bức tượng thạch cao đặt trong bảo tàng.

Một nỗi xót xa mơ hồ, rất khẽ khàng, chợt gợn lên trong đáy lòng Miên. Cô sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Nam Định êm đềm này, nơi những con ngõ nhỏ ngoằn ngoèo thông nhau chằng chịt, nơi mà chỉ cần một tiếng cãi cọ đầu ngõ thì đến trưa cả xóm đã tường tận ngọn ngành; sự đổ vỡ hôn nhân của người lớn đối với những cô cậu học trò mười bảy tuổi nơi phố thị tỉnh lẻ vẫn luôn là một vết rạn nứt cay đắng, mang theo sự đàm tiếu vô tình. Có lẽ, cái vẻ ngoài bất cần và bức tường băng giá dày đặc bao bọc quanh người con trai kia chính là lớp giáp trụ duy nhất mà cậu có thể tự dựng lên, nhằm bảo vệ chút lòng tự trọng non nớt trước những cơn bão giông của số phận.

Buổi lễ khai giảng ngoài trời khép lại sau màn thả bóng bay truyền thống. Hàng trăm chùm bóng đủ sắc màu rực rỡ mang theo những ước nguyện của tuổi học trò chầm chậm bay vút lên nền trời tháng Chín xanh ngắt không một gợn mây. Khi tiếng trống dồn dập bế mạc vừa dứt, cả sân trường lập tức vỡ òa trong những tràng pháo tay rầm rộ, tiếng ghế nhựa xô đẩy lách cách, tiếng bước chân rầm rập của dòng người bắt đầu đổ dồn về các cầu thang để bước vào tiết sinh hoạt đầu năm.

Hành lang tầng ba của dãy nhà chuyên Văn ngập tràn thứ ánh nắng đầu thu chiếu xiên qua các chấn song sắt sơn xanh lam đã tróc lở từng mảng vôi vữa. Lớp 12 Văn nằm khiêm nhường ở gian phòng cuối cùng của dãy hành lang hun hút này—một vị trí tĩnh mịch, tách biệt hẳn với sự ồn ào, náo nhiệt của các lớp chuyên Toán, Lý, Hóa nằm ở đầu hồi bên kia.

Vừa bước qua cánh cửa gỗ lim kêu ken két vì bản lề han gỉ, không khí náo nhiệt của lớp học đã bùng nổ như một đàn ong vỡ tổ. Tít phóng vụt lên bục giảng, chộp lấy cây thước gỗ bản to của giáo viên gõ cồm cộp xuống mặt bàn gỗ, hắng giọng thật to, cố bắt chước phong thái của một vị tướng lĩnh:

“Trật tự! Toàn thể thần dân của vương quốc 12 Văn mau trật tự! Hôm nay, lớp ta vô cùng vinh dự và tự hào được đón nhận một nhân tố bí ẩn, một luồng gió hoàn toàn mới thổi từ thủ đô ngàn năm văn hiến về hội tụ với đất dệt Nam Định chúng ta!”

Cả lớp cười rộ lên tán thưởng. Mấy nam sinh ngồi ở dãy bàn đầu thi nhau đập bàn rầm rầm hưởng ứng. Thấy không khí đã đủ nóng, Tít liền nhảy tót xuống bục giảng, xông thẳng về phía Trịnh Đông Quân—người vừa bước chân qua ngưỡng cửa lớp và đang đứng khựng lại trước cảnh tượng ồn ã quá mức này.

“Chào bạn hiền! Tớ xin tự giới thiệu, tớ là Phạm Đức Tín, bí danh giang hồ là Tít, giữ chức lớp trưởng kiêm bảo kê tinh thần cho toàn bộ hoa khôi lẫn thủ khoa của cái lớp này!” Tít xởi lởi giơ bàn tay phải ra giữa không trung, nụ cười toe toét nở rộng hết cỡ trên khuôn mặt tròn trịa phúc hậu. “Cậu tên Trịnh Đông Quân đúng không? Bọn này nghe danh từ sáng tới giờ rồi! Thế nào, đường xá Nam Định đi lại có dễ không? Đã kịp thưởng thức bát phở bò cụ Tặng nức tiếng chưa? Chiều nay có bận gì không, để đội bóng lớp này dẫn cậu đi làm một vòng ẩm thực phố cổ khai xuân mở màn năm học mới nhé?”

Quân dừng bước. Cặp mắt sâu thẳm của cậu lướt qua bàn tay đang chìa ra đầy thiện chí của Tít, rồi dừng lại trên gương mặt hớn hở của cậu lớp trưởng. Tuyệt nhiên không có lấy một tia bối rối, e ngại hay cảm kích nào hiện lên trong đáy mắt ấy. Nó phẳng lặng và lạnh tanh như mặt nước giếng khơi vào mùa đông. Quân chỉ khẽ gật đầu một cái—một biên độ chuyển động nhỏ đến mức nếu không chú ý thật kỹ, người ta sẽ ngỡ rằng cậu chỉ vừa chớp mắt.

“Chào cậu,” Quân cất tiếng. Giọng nói của cậu trầm, hơi khàn, phát âm tròn vành rõ chữ theo đúng ngữ điệu của người Hà Nội gốc, nhưng âm lượng lại cụt lủn và nhát gừng đến mức khiến cả gian phòng học dường như tụt đi vài độ ấm. “Tôi không đá bóng.”

Bàn tay đang giơ ra của Tít khựng lại giữa lơ lửng không gian. Nụ cười trên môi cậu lớp trưởng thoáng méo mó trong một phần mười giây, tạo nên một khoảnh khắc sượng sùng thấy rõ. Thế nhưng, với bản tính hoạt bát bẩm sinh và kinh nghiệm dày dạn trong việc đối phó với đủ loại cá tính quái đản trong lớp, Tít lập tức thu tay về gãi gãi mái tóc bù xù, bật cười hề hề để xua tan không khí gượng gạo:

“À… ừ thì không đá bóng thì đi ngồi trà đá vỉa hè cổ vũ cũng vui chán mà! Không sao cả, bọn này tính tình thoải mái lắm, cậu cứ từ từ rồi sẽ quen hết ấy mà…”

Bảo “cò” ngồi ở dãy bàn giữa thấy màn kịch vụng về ấy liền vo tròn một mẩu giấy nháp ném trúng bả vai Tít, cất giọng trêu chọc thật to:

“Quê chưa con trai! Người ta là trai thủ đô thanh lịch, hào hoa phong nhã, ai lại thèm dây dưa vào mấy cái trò hò hét bụi bặm, chân lấm tay bùn của mày!”

“Mày im mồm đi Bảo ‘cò’! Tao đang làm công tác ngoại giao văn hóa cho lớp, mày đừng có phá đám!” Tít lườm Bảo một cái sắc lẹm rồi quay sang phân trần, cười trừ với mấy nữ sinh xung quanh.

Quân hoàn toàn không để tâm đến màn tung hứng đối đáp rộn rã ấy. Cậu lách người qua khoảng hẹp giữa hai dãy bàn, bước thẳng về phía góc tường cuối lớp, chọn cho mình một vị trí biệt lập, cách xa đám đông đang túm năm tụm ba. Cậu ôm chiếc cặp vải dù sờn rách trước ngực, đôi mắt lại hướng qua khung cửa sổ sổ gỗ mở rộng, lặng lẽ nhìn những tán xà cừ cổ thụ đang rì rào lay động trong nắng sớm.

Hạ Miên lặng lẽ lách qua cửa sau, đi về phía góc ngồi quen thuộc của mình. Đó là chiếc bàn gỗ đôi nằm ở vị trí trong cùng, sát mép cửa sổ của dãy bàn thứ ba. Suốt hai năm lớp 10 và lớp 11, góc bàn này chính là một “ốc đảo an toàn” tuyệt đối, một chốn nương náu bình yên của riêng cô giữa thế giới học trò đầy biến động.

Từ vị trí này, Miên có thể phóng tầm mắt qua khung cửa sổ gỗ sơn nâu đã bạc màu, nhìn trọn khoảng sân trường rợp bóng mát và thân cây phượng già sần sùi với những chùm rễ nổi cuồn cuộn như lưng rồng bò trên mặt đất. Khi mùa thu sang, từng đợt lá phượng li ti rụng xuống dệt thành một tấm thảm vàng êm ái trên nền gạch đỏ; khi mùa hạ tới, những chùm hoa đỏ rực như muôn ngàn đốm lửa bập bùng thắp sáng cả một góc trời ký ức.

Quan trọng hơn tất cả, ngồi ở đây, Miên được bao bọc bởi một sự tĩnh lặng dịu dàng. Cô có thể thoải mái mở cuốn sổ tay bìa da màu nâu nhạt đã mòn góc để ghi chép những dòng tản văn, những rung cảm bất chợt nảy sinh trong tâm tưởng mà không bao giờ phải nơm nớp lo sợ những ánh mắt tò mò hay những lời phán xét vô tình. Suốt hai năm qua, những người bạn cùng bàn của cô lần lượt chuyển đi hoặc hoán đổi vị trí theo sơ đồ quay vòng của lớp, nhưng Miên luôn tha thiết xin cô Hà cho mình được giữ lại góc bàn cuối này. Cô sợ hãi tột cùng cảm giác phải ngồi ở những dãy bàn trung tâm—nơi mọi cử chỉ, cái cúi đầu hay nét run rẩy của ngón tay đều nằm trọn dưới tầm quan sát của thầy cô và bạn bè, nơi cô luôn cảm thấy nghẹt thở như thể bị giam cầm giữa một biển người xa lạ.

Miên kéo chiếc ghế gỗ ra, cẩn thận đặt chiếc cặp sách may bằng vải thô màu kem của mình lên mặt bàn. Cô rút chiếc khăn tay thêu hoa cúc trắng nhỏ xíu ra, tỉ mẩn lau sạch lớp bụi mỏng tang đọng lại trên mặt gỗ sau ba tháng hè vắng bóng người. Góc bàn thân thương hiện ra, với một vết khắc hình chiếc lá nhỏ xíu mà cô từng dùng đầu nhọn của chiếc compa vạch lên vào buổi học cuối cùng của năm lớp 10, tựa như một người bạn cũ đang mỉm cười chào đón cô trở lại.

Đúng lúc ấy, tiếng guốc mộc gõ nhịp thanh mảnh, đều đặn vang lên từ ngoài hành lang, báo hiệu sự xuất hiện của cô Đặng Thu Hà.

Cả phòng học ồn ào lập tức im bặt như có phép màu. Tít ba chân bốn cẳng phóng thục mạng về chỗ ngồi của mình ở bàn đầu dãy hai. Bảo nhanh tay nhét vội phong kẹo cao su đang nhai dở vào hộc bàn, ngồi thẳng lưng ngay ngắn như một pho tượng đồng.

Cô Hà bước vào lớp, tà áo dài màu hoa sen tôn lên nét đẹp trang nhã, phúc hậu của một nhà giáo nhiều năm gắn bó với các thế hệ học sinh chuyên Văn. Cô đặt tập giáo án in bìa cứng và cuốn sổ chủ nhiệm dày cộp lên bàn giáo viên, đưa mắt mỉm cười nhìn bao quát một lượt ba mươi tám gương mặt thân thương đang ngồi ngay ngắn phía dưới. Ánh mắt cô điềm đạm, ấm áp nhưng ẩn chứa cái nhìn thấu suốt, sắc sảo.

“Cô chào cả lớp,” giọng cô Hà vang lên, trầm ấm và chuẩn xác từng âm sắc. “Chúc mừng tất cả các em đã chính thức bước vào năm học lớp 12—năm học có thể nói là mang tính bước ngoặt, nhiều áp lực, nhiều cam go nhất, nhưng cô tin chắc cũng sẽ là năm tháng rực rỡ và đáng nhớ nhất trong cuộc đời học sinh của các em.”

Một tràng pháo tay giòn giã vang lên khắp phòng học. Cô Hà khẽ đưa tay ra hiệu cho cả lớp giữ trật tự, rồi ánh mắt cô chầm chậm dừng lại ở phía cuối lớp, nơi Trịnh Đông Quân vẫn đang đứng lặng lẽ tựa lưng vào mảng tường vôi vàng.

“Trước khi đi vào các nội dung sinh hoạt đầu năm, cô xin trân trọng giới thiệu với tập thể lớp một thành viên mới. Kể từ ngày hôm nay, bạn Trịnh Đông Quân sẽ chính thức chuyển về sinh hoạt và học tập cùng lớp 12 Văn của chúng ta. Bạn Quân trước đây theo học tại một trường chuyên ở Hà Nội, nay do điều kiện hoàn cảnh gia đình nên chuyển về học tập tại Nam Định. Cô rất mong lớp chúng ta, với truyền thống đoàn kết, chan hòa và giàu tình cảm của khối chuyên Văn, sẽ là một mái ấm giúp bạn Quân nhanh chóng hòa nhập với môi trường mới.”

Cô Hà quay sang nhìn Quân, ánh mắt chứa chan sự khích lệ:

“Quân, em có đôi lời nào muốn chia sẻ với các bạn trong lớp không?”

Quân bước lên nửa bước, hai tay buông thõng tự nhiên bên hông. Cậu đưa mắt nhìn lướt qua một lượt những gương mặt non nớt đang đồng loạt ngoái lại nhìn mình với đủ mọi sắc thái tò mò. Miên cũng bất giác ngước nhìn lên, và trong một tích tắc ngắn ngủi đến nghẹt thở, ánh mắt đen thẳm, sắc lạnh như lưỡi dao của Quân dường như quét qua gương mặt cô khiến Miên rùng mình, vội vã rụt cổ lại, tim đập thình thịch trong lồng ngực.

“Chào các bạn,” giọng Quân vang lên, phẳng lặng không một gợn sóng, không một chút biểu cảm. “Tôi là Trịnh Đông Quân. Mong được hỗ trợ trong năm học này.”

Chỉ vỏn vẹn đúng hai câu ngắn ngủi. Không một nụ cười xã giao, không một cái cúi đầu khiêm nhường, không một lời bộc bạch về sở thích hay bất kỳ chi tiết cá nhân nào như thông lệ của những buổi giới thiệu học sinh mới. Cậu nói xong liền đứng im, nét mặt lạnh băng như thể vừa hoàn thành một thủ tục hành chính bắt buộc.

Cả lớp sững sờ mất vài giây trong sự im ắng ngột ngạt. Lại là Tít nhanh nhảu vỗ hai tay vào nhau bôm bốp để phá tan sự ngượng ngùng: “Nhiệt liệt hoan nghênh bạn Quân gia nhập đại gia đình chuyên Văn!”

Cả lớp lục tục vỗ tay theo, nhưng trong ánh mắt của không ít bạn học đã bắt đầu nhen nhóm lên sự e dè, thậm chí là khó chịu trước thái độ có phần kiêu kỳ, xa cách của người bạn mới đến từ thủ đô.

Cô Hà dường như đã lường trước được phản ứng này. Nét mặt cô không hề lộ vẻ phật ý hay ngạc nhiên. Trái lại, khóe môi cô chỉ khẽ cong lên thành một nụ cười mỉm thấu hiểu và bao dung. Cô mở cuốn sổ chủ nhiệm, rút ra một tờ giấy A4 kẻ sẵn sơ đồ chỗ ngồi của lớp học.

“Được rồi, năm nay là năm cuối cấp, khối lượng kiến thức sẽ rất nặng nề và áp lực thi cử sẽ ngày một gia tăng. Để các em có thể tương trợ, bổ khuyết cho nhau một cách hiệu quả nhất trong cả học tập lẫn rèn luyện, cô đã cân nhắc và sắp xếp lại sơ đồ chỗ ngồi tạm thời cho học kỳ một.”

Tiếng xì xào, bàn tán lại rộ lên râm ran khắp phòng. Mấy đôi bạn thân bắt đầu đưa mắt nhìn nhau đầy lo lắng, sợ bị chia tách. Bảo “cò” quay ngoắt xuống nhìn Na với ánh mắt đầy hy vọng, nhưng Na chỉ mỉm cười điềm nhiên, ngón tay nhẹ nhàng lật mép trang vở trắng tinh mở sẵn trước mặt.

Cô Hà bắt đầu xướng tên từng bàn một cách dứt khoát. Tít vẫn giữ nguyên vị trí ở bàn đầu dãy hai để tiện việc liên lạc và quán xuyến lớp học; Na và Bảo được xếp ngồi chung ở bàn ba dãy giữa—sự sắp xếp khiến Bảo sướng rơn người, đập tay bôm bốp với cậu bạn ngồi cạnh; những vị trí khác lần lượt được lấp đầy bằng những sự hoán đổi đầy dụng ý sư phạm của cô chủ nhiệm.

Miên nín thở, hai bàn tay lại siết chặt lấy nhau dưới gầm bàn. Cô chỉ thầm cầu nguyện sao cho tên mình đừng bị xướng lên, đừng bị điều chuyển ra những vị trí trung tâm chói lòa ánh sáng ấy. Trái tim cô như thắt lại sau mỗi cái tên vang lên từ bục giảng.

“... Và vị trí cuối cùng, bàn bốn dãy ba, sát cửa sổ,” cô Hà dừng lại một nhịp, đôi mắt ấm áp nhìn thẳng xuống góc lớp nơi Miên đang ngồi co cụm. “Nguyễn Hạ Miên.”

Miên thở phào một hơi nhẹ nhõm, lồng ngực như vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân. May mắn quá, cô vẫn được ở lại góc trú ẩn thân thương của mình. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, khi Miên còn chưa kịp mỉm cười thì giọng nói rành rọt, rõ ràng của cô Hà lại tiếp tục vang lên:

“Người sẽ ngồi cùng bàn với Miên trong năm học này là bạn Trịnh Đông Quân.”

“Dạ?!”

Miên giật thót mình, một tiếng thốt hoảng hốt buột ra khỏi lồng ngực, nhưng may sao tiếng ồn ào thu dọn sách vở, tiếng kéo lê bàn ghế của các bạn xung quanh đã kịp át đi âm thanh thất thanh ấy. Cô bàng hoàng ngẩng phắt đầu lên nhìn cô Hà. Đôi mắt người giáo viên chủ nhiệm nhìn thẳng vào mắt cô, ẩn chứa một sự kỳ vọng sâu xa, một ẩn ý giáo dục mà Miên chưa thể nào giải mã nổi.

Tại sao lại có thể là Quân? Một học sinh mới chuyển trường với vẻ ngoài gai góc, lạnh lùng như một tảng băng trôi, mang danh là dân chuyên Toán với phong thái hoàn toàn xa lạ, lại bị xếp ngồi cạnh một đứa con gái nhút nhát, sợ giao tiếp và chỉ biết thu mình vào bóng tối như cô? Góc bàn an toàn, chốn dung thân thanh bình suốt hai năm qua của Miên, trong chớp mắt bỗng chốc đứng trước nguy cơ bị phá vỡ hoàn toàn bởi một sự xâm lấn đầy bất an.

Chưa kịp để Miên hoàn hồn, tiếng bước chân nặng nề, đều đặn đã vang lên ngay bên cạnh.

Trịnh Đông Quân một tay xách chiếc cặp vải dù sờn rách, từng bước chầm chậm tiến về phía chiếc bàn cuối. Cậu không hề biểu lộ một chút ngạc nhiên hay bất mãn nào trước quyết định phân chia chỗ ngồi của cô giáo. Dáng người cao lớn của cậu sừng sững che khuất một khoảng ánh nắng sớm đang rọi qua khung cửa sổ, đổ một vệt bóng đen dài trùm lên hơn nửa mặt bàn gỗ của Miên.

Miên run rẩy thu mình lại hết mức có thể. Cô vội vã kéo chiếc cặp vải thô của mình nép sát vào góc trong cùng giáp với bức tường vôi quét ve vàng, chừa lại hơn nửa khoảng trống thênh thang phía ngoài cho người bạn mới. Đôi vai cô co rút lại, ánh mắt dán chặt xuống những đường vân gỗ xù xì trước mặt, không dám ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào diện mạo của cậu.

“Rầm.”

Một tiếng động khô khốc, nặng nề vang lên khi Quân buông tay, đặt chiếc cặp vải dù màu đen xuống mặt bàn. Tiếng va đập không quá lớn nhưng đủ khiến Miên giật bắn người, mười đầu ngón tay khẽ co rúm lại.

Chiếc cặp của Quân cũ kỹ đến thảm hại. Mép vải dù màu đen đã mòn vẹt, sờn rách để lộ ra những sợi chỉ trắng li ti tua tủa. Chiếc khóa kéo bằng kim loại bị tróc hết lớp mạ xi bóng loáng, chỉ còn trơ lại phần lõi đồng xỉn màu, xước xát. Trên thân cặp tuyệt nhiên không gắn bất kỳ một chiếc móc khóa hình thú bông, một sợi dây ruy băng hay một chiếc huy hiệu lưu niệm nào—những thứ trang trí vốn dĩ rất đỗi phổ biến trên cặp sách của lứa tuổi học trò thời bấy giờ. Chiếc cặp ấy toát lên một vẻ thô mộc, cằn cỗi và phong trần đến mệt mỏi, hệt như hành trang của một kẻ tha hương vừa trải qua một chuyến đi dài đầy bão táp và cay đắng.

Quân dùng một tay kéo chiếc ghế gỗ ra. Chiếc ghế cũ kỹ cọ xát xuống nền gạch đỏ, phát ra một tiếng “két” chói tai dưới sức nặng cơ thể cậu khi ngồi xuống.

Khoảng cách thực tế giữa hai người lúc này chưa đầy nửa mét. Miên có thể ngửi thấy rất rõ mùi xà phòng thơm dịu nhẹ thoang thoảng trộn lẫn mùi nắng hanh hao bốc lên từ thớ vải áo sơ mi trắng tinh của Quân, nhưng kỳ lạ thay, tuyệt nhiên không có lấy một chút hơi ấm nào tỏa ra từ con người ngồi bên cạnh. Cậu ngồi thẳng lưng, hai cẳng tay rắn rỏi đặt ngay ngắn trên mặt bàn, nhưng tư thế ấy hoàn toàn không mang vẻ gò bó của một học sinh ngoan ngoãn, mà toát lên một sự phòng thủ cẩn mật, một tư thế sẵn sàng đẩy lùi mọi sự tiếp cận từ thế giới bên ngoài.

Cậu không hề quay sang nhìn Miên lấy một lần. Không một lời chào hỏi mang tính xã giao tối thiểu, không một câu hỏi tên—dù cô giáo chủ nhiệm vừa đọc to tên của hai người cách đây chỉ một vài phút—và càng không có lấy một nụ cười đáp lại vẻ e dè, sợ sệt của cô.

Quân lặng lẽ mở chiếc khóa kéo rít kin kít của chiếc cặp dù, rút từ bên trong ra một cuốn sổ tay bìa cứng màu đen dày cộp và một chiếc bút bi ngòi kim loại sáng loáng. Cậu đặt hai món đồ ấy ngay ngắn, thẳng hàng ở mép bàn phía mình. Từng cử chỉ, từng động tác của cậu đều chuẩn xác, gọn gàng, dứt khoát và lạnh lùng như những bước giải của một bài toán hình học không gian, tuyệt đối không thừa thãi một cử động nào.

Sự im lặng tuyệt đối của Quân giống như một bức tường vô hình, dày đặc và buốt giá, lập tức được dựng đứng lên ngay chính giữa lằn ranh của chiếc bàn gỗ đôi. Bức tường ấy phân chia thế giới một cách tàn nhẫn và sòng phẳng: một bên là lãnh địa nội tâm rụt rè, mong manh và dễ tổn thương của Hạ Miên; còn bên kia là vùng cấm địa bất khả xâm phạm của một kẻ mang đầy những thương tổn, ẩn ức và bí mật chưa thể gọi tên từ phương xa dạt tới.

Miên nuốt khan một ngụm nước bọt, cảm thấy cuống họng mình khô rát như vừa nuốt phải một ngụm cát. Cô cố nén hơi thở, lén đưa mắt liếc nhìn sang người bên cạnh.

Từ góc nhìn nghiêng này, cô có thể quan sát rất rõ hàng mi đen, dày và rậm nhưng lại rủ xuống một cách u uất, che khuất gần như toàn bộ chiều sâu của đôi mắt Quân. Cạnh hàm dưới của cậu bạnh ra, đường nét vuông vức, cương nghị và dứt khoát, nhưng đôi môi mỏng lại mím chặt thành một đường thẳng tắp, lạnh lùng, tựa hồ như cậu đang phải dùng hết sức bình sinh để kiềm giữ một cơn sóng ngầm dữ dội đang cuộn trào bên trong lồng ngực. Ánh mắt cậu dán chặt lên tấm bảng đen bạc màu phía trước bục giảng, nơi cô Hà đang nắn nót dùng phấn trắng viết lên những dòng chữ thẳng tắp về phương hướng phấn đấu của năm học mới: *“Kỷ luật – Tự giác – Quyết tâm cho kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh Đại học.”*

Nhìn bàn tay thon dài với những khớp xương nổi rõ của Quân đang siết nhẹ lấy thân bút bi kim loại, Miên bỗng cảm nhận được một điều gì đó hết sức xót xa và kỳ lạ. Con người đang ngồi sát bên cô đây, dù thân xác bằng xương bằng thịt đang hiện diện rõ ràng trong căn phòng học tầng ba rợp bóng cây này, nhưng tâm trí và linh hồn dường như đang trôi dạt ở một cõi nào đó xa xôi lắm, vượt ra ngoài tầm với của không gian này.

Ánh mắt của Quân thỉnh thoảng lại lơ đễnh trượt qua khung cửa sổ gỗ, hướng về phía khoảng trời thu bao la phía trên cổng trường—nơi con đường nhựa phẳng lì chạy dài dẫn ra quốc lộ hướng thẳng về phía Bắc, về lại thủ đô Hà Nội phồn hoa và đầy rẫy những biến cố mà cậu vừa phải rời bỏ.

Chiếc ba lô sờn rách đặt hờ hững trên mặt bàn, chiếc quai đeo thậm chí còn chưa được tháo lỏng hết cỡ, tạo cho Miên một cảm giác thảng thốt đến nhói lòng: dường như cậu học sinh mới này chưa từng có ý định sẽ dừng chân lâu dài ở mảnh đất này. Cậu không hề chuẩn bị tâm thế để trở thành một mảnh ghép của lớp 12 Văn, không hề có ý niệm muốn gắn bó với ngôi trường Trần Văn Lan rêu phong cổ kính này, và có lẽ, trong mắt cậu, nơi đây chỉ là một trạm dừng chân tạm bợ, một bến đỗ lưu đày gượng gạo trong vài ngày, vài tuần ngắn ngủi, trước khi cậu thu dọn hành lý để quay trở lại nơi mà cậu thực sự thuộc về.

Một cơn gió thu nhè nhẹ từ ngoài sân trường lại khẽ lay động tàng phượng vĩ già nua. Một chiếc lá phượng nhỏ xíu màu vàng úa tách mình khỏi cành cây khẳng khiu, chao liệng mấy vòng trong không trung rồi theo làn gió heo may bay qua những chấn song cửa sổ, rơi khẽ khàng xuống mặt bàn gỗ.

Chiếc lá vàng nằm im lìm, lọt thỏm ngay trên lằn ranh giới vô hình chia đôi chiếc bàn học giữa hai con người.

Cả Miên và Quân đều nhìn thấy chiếc lá ấy. Nhưng tuyệt nhiên không một ai đưa tay ra để nhặt nó đi. Nó cứ nằm đó, mong manh như một dấu gạch nối ngập ngừng giữa hai số phận xa lạ vừa bị số phận buộc chặt vào nhau.

Buổi học đầu tiên của năm học cuối cấp cứ thế trôi đi trong một bầu không khí ngột ngạt và sự im lặng đến nghẹt thở. Miên cúi đầu nhìn trang vở trắng tinh khôi mở sẵn trước mặt, nơi ngòi bút máy bơm mực tím vừa run rẩy viết xuống dòng chữ đầu tiên nắn nót: *“Mùa thu năm thứ mười hai…”*, trong lòng trĩu nặng một linh cảm mơ hồ và bất an về những tháng ngày giông bão sắp tới bên cạnh người bạn cùng bàn xa lạ này.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn