Mùa Mưa Ở Đà LạtC.7 / 36
Chương 7

Mùi Gỗ Mới Và Mưa Dầm

Sáng sớm, tiếng xe tải chở gỗ cũ vang lên nơi đầu dốc khi cơn mưa rỉ rả không ngớt của mùa mưa Đà Lạt bắt đầu ngấm vào từng thớ gỗ thông quanh Mộc Miên.

Màn sương đục như khói lam chiều hôm trước vẫn chưa chịu tan, còn lơ lửng bám chặt vào những ngọn thông ba lá sũng nước ven sườn đồi. Con dốc đất đỏ dẫn vào cổng homestay nhão nhoẹt, trơn như trét mỡ. Tiếng máy dầu gầm lên từng chặp đầy nhọc nhằn, bánh xe quay tít rít trên đá dăm rồi khựng lại trước cổng gỗ đã xộc xệch.

Vũ Thảo Nguyên kéo chiếc mũ len trùm kín hai vành tai, xốc lại cổ chiếc áo khoác gió hai lớp dày cộm rồi bước nhanh ra mép hiên. Không khí sớm vùng cao nguyên buốt giá phả thẳng vào mặt khiến từng hơi thở thoát ra thành làn khói trắng mong manh, tan biến giữa khoảng không mờ mịt. Nước mưa đọng trên những chùm lá thông dài nhọn hoắt thỉnh thoảng lại trĩu xuống, nhỏ từng giọt lộp độp vào lòng máng xối rỉ sét, hòa vào bản hòa thanh âm u, bền bỉ của những ngày dầm dề tháng Bảy.

Chiếc xe tải nhẹ mang biển số Lâm Đồng rồ thêm một nhịp ga ngắn để đưa đuôi xe nép sát mép sân gạch tàu trước khi tắt lịm máy. Tiếng kim loại co giãn sau một đoạn đường dốc dài kêu lách tách trong tĩnh lặng. Cửa cabin phía tài bật mở, Phong nhảy xuống trước.

Anh mặc bộ đồ bảo hộ lao động bằng vải thô màu xám tro lấm tấm mùn cưa khô từ xưởng, ống quần nhét gọn gàng trong đôi ủng cao su màu xanh rêu đã bạc màu vì bùn đỏ. Đi sau anh, từ hai bên cửa thùng xe nhảy xuống, là hai người thợ mộc trung niên với gương mặt sạm nắng, bờ vai thô dày và những bắp tay cuồn cuộn gân guốc đặc trưng của dân miền sơn cước chuyên bạt rừng xẻ gỗ.

Phong nhìn thấy Nguyên đang đứng bên bậc thềm đá, nhưng anh không vội cất lời chào vồn vã hay nở một nụ cười xã giao gượng gạo. Anh chỉ khẽ nghiêng đầu theo phép lịch sự tối thiểu của một nhà thầu đối với chủ đầu tư, rồi lập tức quay người tháo chốt bạt thùng xe, bắt đầu điều phối công việc với chất giọng trầm, rành rẽ và chắc nịch:

"Chú Bảy phụ con hạ hai dàn giáo sắt xuống trước, kê tạm vào khoảng sân khô dưới mái hiên chái sau. Thằng Lâm cẩn thận mấy con kích thủy lực ba mươi tấn, đừng để bùn đất bám vào gioăng cao su, hỏng ren đội là không đẩy nổi dầm đâu."

Hai người thợ răm rắp làm theo không một động tác thừa. Tiếng kim loại va chạm leng keng khô khốc hòa lẫn tiếng đế ủng nện bèn bẹt trên lớp bùn nhão phá tan không gian tĩnh mịch của thung lũng. Từng ống thép giàn giáo nặng trịch được chuyển vào sân trong, xếp ngay ngắn thành từng kiện gọn gàng cạnh hàng hiên để tránh nước mưa tạt.

Ngay sau dàn giáo là bốn khối gỗ thông ba lá bản lớn, dài hơn ba mét. Chúng được bọc một lớp màng nilon bảo vệ sơ sài ở hai đầu mộng, nhưng bề mặt xẻ vuông vức kích thước mười tám phân vuông lộ ra phẳng lì, sẫm một màu nâu sáp bóng mờ do đã trải qua quá trình tẩm sấy nhiệt ngặt nghèo ở xưởng Gió Thông. Khi những khối gỗ được hai người thợ cùng Phong ghì lưng nhấc xuống khỏi sàn xe, một mùi hương hăng nồng, đượm vị nhựa thông cháy xộc thẳng vào khứu giác, lấn át hoàn toàn mùi đất ẩm ướt và mùi rêu mốc bám dai dẳng lâu ngày của Mộc Miên.

Phong một mình ghì lấy đầu một súc gỗ dày, bắp tay gồng cứng làm lớp vải thô của chiếc áo khoác căng ra theo từng nhịp chuyển động.

Nguyên đứng nhìn từ xa dưới mái hiên, ánh mắt cô vô thức rơi vào cổ tay phải của anh. Nơi ấy, vết sẹo mổ dài mười lăm phân vẫn còn lấp ló sau cổ tay áo xắn cao, kéo dài từ khớp cổ tay ngược lên cẳng tay như một lằn ranh gồ ghề của số phận. Vết sẹo co kéo từng đợt theo nhịp thở dốc và sức nặng của súc gỗ, nhưng lực tay của anh không hề suy suyển. Anh phối hợp cùng người thợ trẻ tên Lâm, nhịp nhàng khiêng từng súc gỗ vào khoảng sân có bạt che chắn cẩn thận, chuẩn bị sẵn sàng cho việc kích nâng và thay thế chân cột mục C-03.

Khi người thợ luống tuổi tên Bảy tháo tấm bạt cuối cùng trên xe, Phong lấy ra từ cabin một tập hồ sơ kẹp trong bìa nhựa cứng màu xanh đậm. Anh bước từng bước dứt khoát về phía mái hiên nơi Nguyên đang đứng đợi, đế ủng cao su mang theo những vệt bùn bazan đỏ quạch in hằn trên nền gạch tàu ướt sũng.

"Vật tư đợt một đã chuyển đủ theo đúng danh mục thỏa thuận chiều qua," Phong nói, dừng chân lại ở một khoảng cách vừa vặn hai sải tay, đúng như biên bản làm việc mà cả hai đã thống nhất ký kết. "Hai bộ dàn giáo chịu lực, bốn con kích thủy lực hành trình mười lăm phân, và bốn hộp phôi thông ba lá cổ đã qua sấy nhiệt hai trăm độ C để gia cố chân cột C-03 và C-04. Đây là bảng nghiệm thu kích thước và hóa đơn nhập gỗ."

Nguyên đón lấy tập tài liệu từ tay anh. Đầu ngón tay cô vô tình chạm nhẹ vào mép bìa nhựa lạnh ngắt, một thoáng rùng mình khẽ lan qua sống lưng. Cô kéo chiếc kính gọng mảnh lên sống mũi, lật giở từng trang giấy được kê khai rõ ràng bằng chữ viết tay cứng cáp, nét bút thẳng thớm và gọn ghẽ đến từng dấu phẩy của Phong.

Là một kiến trúc sư cảnh quan từng lăn lộn ở các công trình lớn nhỏ tại Sài Gòn, trải qua hàng chục hồ sơ mời thầu và nghiệm thu khối lượng, Nguyên không hề xa lạ với các bảng dự toán vật liệu. Ánh mắt cô quét nhanh qua các thông số kỹ thuật được liệt kê chi tiết: mặt cắt gỗ 180x180mm, chiều dài cắt khúc 1,2 mét, độ ẩm đo thực tế bằng máy cảm ứng sâu dưới 12%. Tất cả đều trùng khớp hoàn hảo với bản vẽ thiết kế sơ bộ mà cô và kỹ sư Trần Gia Bảo đã chốt vào chiều hôm trước.

Nhưng khi điểm nhìn của cô rơi xuống cột đơn giá và tổng số tiền thanh toán tạm ứng ở góc dưới cùng của trang giấy, đôi chân mày thanh tú của cô bất giác nhíu chặt lại thành một nếp gấp sâu.

Con số ghi trên hóa đơn tổng cộng chỉ vỏn vẹn hơn tám triệu đồng cho toàn bộ số gỗ thông cổ đã xử lý nhiệt và tiền thuê thiết bị kích nâng đợt đầu.

Nguyên ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc lẹm xoáy thẳng vào gương mặt điềm tĩnh của người đàn ông đối diện. Không khí ẩm ướt xung quanh dường như càng khiến ánh nhìn của cô thêm phần buốt giá.

"Phong, anh ghi nhầm số à?" Nguyên cất giọng, âm điệu giữ ở mức phẳng lặng nhưng ẩn chứa sự phòng vệ rõ rệt.

Phong khẽ chớp mắt, vẻ mặt không hề gợn lên một nét bối rối nào: "Số liệu nào?"

"Giá gỗ thông ba lá khai thác từ biệt thự cũ," Nguyên giơ tờ hóa đơn ra trước mặt anh, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào dòng đơn giá mộc mạc. "Trước khi về lại căn nhà này, tôi đã đi khảo sát ít nhất ba xưởng xẻ và kho gỗ cũ dọc quốc lộ 20 và khu Trại Mát. Loại thông già thớ mịn, không mắt chết, lại được sấy rút ẩm bằng lò nhiệt chân không như thế này, giá thị trường thấp nhất cũng phải gấp đôi, thậm chí gấp rưỡi con số anh ghi ở đây. Còn chưa kể tiền vận chuyển máy kích nặng từ ngoại ô vào tận sâu trong con dốc thung lũng lầy lội này giữa mùa mưa. Anh tính toán kiểu gì mà ra được con số này?"

Phong đưa mắt nhìn tờ giấy trên tay cô, rồi nhìn thẳng vào mắt Nguyên. Đôi mắt màu nâu sẫm của anh vẫn phẳng lặng như mặt hồ Tuyền Lâm lúc sớm mai, không một chút gợn sóng trốn tránh, cũng không hề có vẻ ngượng ngùng của một kẻ bị bắt quả tang đang làm điều khuất tất.

"Tôi không tính nhầm. Đó là chi phí thực tế."

Một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng Nguyên, nhưng trong lồng ngực cô, một ngọn lửa tự ái và hoài nghi lập tức bùng lên.

Áp lực từ khoản nợ bảo lãnh vật tư hơn một trăm hai mươi triệu đồng đang treo lơ lửng trên đầu, chỉ còn mười hai ngày nữa là đến hạn thanh toán đợt một cho đám nhà thầu ngoài thành phố, khiến cho thần kinh của cô lúc nào cũng căng ra như một sợi dây thép rỉ sét. Bất kỳ một sự giúp đỡ nào không rõ ràng, bất kỳ một ân huệ nào vượt qua khuôn khổ công việc sòng phẳng đều làm cô cảm thấy bị xúc phạm và bất an tột cùng. Sự phản bội và những đòn ngầm trong giới làm ăn ở Sài Gòn đã dạy cho cô một bài học đắt giá: không có bữa trưa nào miễn phí, và lòng tốt bất thường luôn đi kèm với một cái giá vô hình đắt đỏ hơn gấp bội.

"Anh đừng có đem cái trò bù lỗ này ra đây," Nguyên gằn giọng, thanh âm đanh lại dưới tiếng mưa dầm bắt đầu nặng hạt trên mái tôn. "Chúng ta đã ký biên bản làm việc rất rõ ràng chiều qua rồi cơ mà? Điều khoản thứ nhất: minh bạch tài chính. Mộc Miên không cần anh bố thí, và tôi lại càng không cần anh phải chịu thiệt để đổi lấy một sự an ủi hay hối lỗi nào ở đây cả. Nếu anh định lấy tiền túi của xưởng Gió Thông đắp vào công trình của tôi để tôi cảm thấy mang nợ anh, để xoa dịu cái mặc cảm mười năm trước của anh, thì xin lỗi, anh dừng lại ngay đi. Tôi thà đi vay nặng lãi để trả đúng giá thị trường còn hơn chấp nhận một cái hóa đơn mập mờ kiểu này!"

Bầu không khí giữa hai người lập tức chùng xuống, căng thẳng đến mức ngột ngạt. Tiếng từng giọt nước mưa rỉ rả rơi từ máng xối xuống phiến đá xanh trước hiên nghe rõ mồn một như tiếng đếm nhịp của một chiếc đồng hồ cát.

Ở khoảng sân sau, chú thợ Bảy đang vặn ốc một thanh giằng dàn giáo bỗng khựng tay lại, ngẩng đầu lên nhìn về phía hai người với ánh mắt dò xét. Nhưng Phong không quay đầu lại, anh chỉ khẽ giơ một bàn tay lên ra hiệu cho người thợ già tiếp tục công việc của mình.

Anh quay lại nhìn Nguyên. Gương mặt anh không hề tỏ ra bực bội hay tự ái trước những lời chất vấn gay gắt mang tính phòng thủ quá mức của cô. Sự kiên nhẫn của Phong sau mười năm dường như đã được tôi luyện dày dặn như chính những thớ gỗ lim mà anh thường ngày đêm đục đẽo.

"Nguyên, em bình tĩnh nghe tôi nói đã," Phong cất giọng, chậm rãi và rành rọt từng chữ. "Tôi là thợ mộc, không phải nhà từ thiện. Và xưởng Gió Thông còn có thợ thuyền, có máy móc phải nuôi, tôi không có thói quen làm ăn vung tay bù lỗ cho bất kỳ ai, kể cả là người quen cũ."

"Vậy anh giải thích đi!" Nguyên siết chặt tập hồ sơ trong tay, khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. "Giải thích cho tôi vì sao đơn giá này lại rẻ mạt như vậy? Anh định nói là gỗ này từ trên trời rơi xuống chắc?"

"Thứ nhất," Phong giơ ngón tay chỉ vào dòng ghi chú nguồn gốc vật liệu ở góc dưới cùng của hóa đơn, "toàn bộ số phôi gỗ này là lô gỗ thanh lý trực tiếp từ kho của hạt kiểm lâm thành phố cuối tháng trước. Đó là gỗ từ một căn biệt thự công vụ cũ ở đường Trần Hưng Đạo bị tháo dỡ để mở rộng đường nội đô. Xưởng tôi đấu thầu trọn gói theo dạng gỗ phôi thanh lý tận gốc, mua theo barem củi mục và gỗ vụn chứ không qua bất kỳ khâu trung gian hay đầu nậu gỗ thương phẩm nào ở khu Trại Mát hay đường Hùng Vương. Giá nhập vào tính theo khối lượng thô cực kỳ thấp."

Anh dừng lại một nhịp, quan sát nét mặt Nguyên để chắc chắn rằng cô đang lắng nghe bằng lý trí của một người làm nghề chứ không phải bằng sự giận dữ của định kiến.

"Thứ hai, việc sấy nhiệt hai trăm độ C và quét dầu lanh bảo quản được thực hiện trực tiếp bằng lò sấy thủ công của chính xưởng Gió Thông. Tôi tận dụng nhiệt thừa từ mẻ sấy gỗ sồi nội thất cho một công trình biệt thự khác ở phường Chín để đưa số phôi thông này vào xử lý cùng lúc. Chi phí điện và củi đốt được chia đôi trên đầu khối. Thứ ba, bảng dự toán này tôi chỉ tính đúng tiền công nhật cho hai người thợ đi cùng tôi hôm nay theo mặt bằng thợ mộc địa phương, tuyệt đối không kê thêm mười lăm phần trăm chi phí quản lý dự án hay ba mươi phần trăm chi phí trung gian của các nhà thầu xây dựng dân dụng mà em từng làm việc ở Sài Gòn."

Phong rút từ túi áo ngực ra chiếc bút chì thợ mộc dẹt, đầu chì đã gọt vát sắc cạnh, cẩn thận chấm vào từng con số trên bản kê khai.

"Em có thể gọi điện cho chú Tâm ở hội đồng hương, hoặc mang bảng quy cách và giá nhập phôi này ra bất kỳ xưởng mộc truyền thống nào ở chân đèo Prenn để đối chiếu từng hạng mục. Nếu có bất kỳ con số nào tôi gian lận, hoặc tự ý bù tiền túi vào để lấy lòng em như em nghĩ, tôi sẽ lập tức dừng thi công, thu hồi thiết bị và bồi thường toàn bộ chi phí theo hợp đồng đã ký. Tôi làm việc dựa trên nguyên tắc, số liệu và bản vẽ kỹ thuật, không làm việc bằng sự thương hại."

Từng lời giải thích đanh thép, khúc chiết và hoàn toàn dựa trên dữ liệu thực tế của Phong rơi vào khoảng không tĩnh lặng giữa làn mưa lạnh, chặt đứt mọi suy đoán phòng vệ tiêu cực của Nguyên.

Nguyên nhìn chằm chằm vào những con số chi tiết được ghi chép tỉ mỉ: giá phôi thô kiểm lâm mười tám ngàn một mét dài, công xẻ rãnh, công chạy mộng then hoa bằng máy phay cầm tay, chi phí dầu lanh pha loãng... Tất cả đều được bóc tách minh bạch đến từng nghìn lẻ, hợp lý đến mức không thể bắt bẻ vào đâu được.

Một cảm giác ngượng ngùng xen lẫn nhẹ nhõm đột ngột ập đến khiến hai bên gò má cô nóng bừng lên giữa cái rét mười sáu độ của vùng đồi. Cô nhận ra mình đã quá nhạy cảm. Thói quen nghi ngờ, cơ chế tự vệ dựng lên như một bức tường thành sau những cú lừa lọc, những lời hứa hão huyền của các đối tác ở dự án ven sông Đồng Nai đã khiến cô nhìn đâu cũng thấy cạm bẫy, thấy sự bố thí và toan tính thấp hèn.

Nguyên hít sâu một hơi buốt lạnh vào lồng ngực, cố nén sự bối rối xuống đáy lòng, hạ tập tài liệu xuống ngang hông.

"Được rồi," cô nói, giọng nhỏ hơn hẳn nhưng vẫn cố giữ nguyên khoảng cách chuyên nghiệp cần thiết. "Là tôi đa nghi. Tôi xin lỗi vì đã quy chụp mà chưa xem kỹ nguồn gốc phôi. Nếu là giá phôi nhập gốc kiểm lâm tận dụng nhiệt lò sấy thì tôi ký duyệt tạm ứng đợt một."

"Không sao," Phong thản nhiên đáp, thu lại cây bút chì dẹt cài lên vành tai thô ráp. "Em cẩn thận trong việc kiểm soát dòng tiền là điều đúng đắn, nhất là khi công trình này đang trong tình trạng nhạy cảm. Bây giờ chúng ta lên tầng hai, kiểm tra mảng sàn bị võng trước khi kích chân cột bên dưới. Nước dầm cả đêm qua, nếu sàn trên không ổn định thì việc đội chân cột C-03 sẽ làm vặn xoắn toàn bộ hệ khung giằng."

Không để lãng phí thêm một phút nào của buổi sáng, Phong xoay người ra hiệu cho hai người thợ mộc xách hòm đồ nghề bước theo mình.

Mộc Miên sau đêm bão vẫn còn phảng phất mùi ẩm ướt nồng nặc và khó chịu. Nước mưa từ mái hiên tạt qua khe cửa sổ gỗ chớp đã làm ố vàng những mảng vách ván ép cũ kỹ bọc quanh tường hành lang. Cả đội thợ cùng Nguyên bước lên cầu thang gỗ dẻ gai. Từng bậc thang dày dặn phát ra tiếng cọt kẹt trầm đục dưới sức nặng của những bước chân mang ủng bảo hộ nặng trịch.

Khu vực hành lang tầng hai và mảng sàn phía trên gian chái sau là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của trận dột đêm trước. Những tấm ván sàn bằng gỗ thông mỏng lót từ thập niên chín mươi đã bị mục ruỗng từ bên dưới do hơi nước ngưng tụ lâu ngày. Bề mặt ván phồng rộp lên từng mảng, nấm mốc đen kịt mọc lan thành từng vệt loang lổ như da báo. Chỗ giáp mí với tường ngoài sũng nước, ấn nhẹ mũi ủng vào là thấy nước đục ngầu rỉ ra từ kẽ nứt.

"Lâm, dùng xà beng nạy từ mép giáp mí chân tường trước," Phong đứng bên mép sàn, chỉ đạo rành rọt. Tay anh với lấy chiếc búa nhổ đinh cán dài từ túi đồ nghề của chú Bảy. "Chú Bảy chặn đầu bên kia, gom đinh rỉ vào xô sắt, tuyệt đối không để rơi vãi xuống tầng trệt. Chân sàn bên dưới đang trống, đinh rỉ rơi xuống bùn dẫm phải là nhiễm trùng."

Tiếng xà beng sắt cắm phập vào thớ gỗ mục phát ra âm thanh lép bép ướt át. Một mùi chua nồng của gỗ ngậm nước lâu ngày kết hợp với mùi ẩm mốc của xơ gỗ rữa nát lập tức bốc lên ngột ngạt trong không gian kín của tầng áp mái. Bụi mục màu nâu sẫm bay mù mịt trong không khí ẩm, cuốn theo những mảnh dăm gỗ vụn rơi lả tả xuống lớp dầm ngang bên dưới. Nguyên phải kéo vội mép khẩu trang vải lên che mũi, đôi mắt nheo lại vì cay xè trước làn bụi xơ gỗ cổ.

Từng tấm ván sàn mục nát dài hai mét được hai người thợ nạy bật lên, để lộ ra khoảng trống hun hút nhìn thẳng xuống nền đất ẩm của gian sau tầng một. Khi tấm ván cuối cùng ở góc chịu lực chính giáp đầu trên của cột C-03 bị bóc tách hoàn toàn, cả Phong và người thợ già tên Bảy cùng dừng tay lại.

Dưới lớp ván thông mục ruỗng tưởng chừng như đã hỏng hoàn toàn ấy, bộ khung dầm chính của ngôi nhà lộ ra dưới ánh sáng ban ngày xám xịt lọt qua cửa sổ.

Đó là những thanh dầm xẻ vuông vức kích thước 150x200mm, màu nâu sẫm pha sắc xám tro của thời gian nửa thế kỷ. Lớp vỏ bên ngoài có bám một lớp bụi ẩm và mạng nhện dày cộp, nhưng kết cấu bên trong dường như không hề bị suy suyển.

Phong cúi người xuống, dùng mũi đục sắt cạo mạnh một đường dài trên mặt dầm chịu lực. Lớp vỏ xám mục mỏng tang bên ngoài bong ra, để lộ một thớ gỗ vàng ánh, mịn như sáp ong và đanh chắc như sừng. Một mùi thơm ngai ngái, the the đặc trưng của gỗ dổi rừng nguyên sinh bốc lên, thanh khiết và đanh thép, hoàn toàn đối lập với mùi mục rữa chua loét của lớp ván sàn thông bên trên.

Phong lật ngược đầu đục, dùng sống búa gõ mạnh ba tiếng liên tiếp vào giữa thân dầm:

*Cốc... cốc... cốc...*

Âm thanh phát ra trầm, đặc và đanh chắc như gõ vào một khối đá tảng nguyên khối. Không hề có tiếng lộp bộp hay rỗng tuếch của thớ gỗ bị ruỗng ruột, cũng không có bất kỳ mẩu mạt gỗ nào rụng xuống.

"Gỗ dổi ta xẻ từ lõi già!" Chú Bảy reo lên khe khẽ, đưa bàn tay thô ráp sần sùi vuốt ve bề mặt thanh dầm vừa được cạo sạch lớp mốc. "Cả đời tôi đi làm nhà gỗ vùng này hiếm thấy căn nhà dân nào chịu chơi dùng nguyên cả dàn dầm sàn bằng gỗ dổi đanh như thế này. Đợt ẩm này chỉ mới ăn mòn được lớp ván thông ốp mặt ngoài thôi, còn tim dầm vẫn đanh như thép nguội. Con tính chuẩn đấy Phong, không phải thay dầm chính, tiết kiệm cho cô chủ nhỏ cả đống tiền rồi!"

Phong khẽ thở phào một hơi rất khẽ. Lồng ngực anh hơi chùng xuống, dường như tảng đá đè nặng trong tâm trí anh suốt từ tối qua đến giờ mới phần nào được dỡ bỏ. Anh đứng thẳng người dậy, ngẩng lên nhìn Nguyên. Trong đáy mắt màu nâu sẫm trầm tĩnh của anh thoáng qua một tia sáng ấm áp hiếm hoi:

"Khung dầm chính này có thể chịu lực thêm ít nhất ba mươi năm nữa. Chúng ta chỉ cần cạo sạch lớp mốc bề mặt, quét dầu thông chống ẩm và thay lớp ván sàn chịu lực mới. Mộng liên kết giữa dầm dổi và đầu cột C-03 vẫn còn nguyên vẹn bảy mươi phần trăm tiết diện chịu nén. Điều này đồng nghĩa với việc khi kích nâng để ghép mộng chân vịt bên dưới, chúng ta không lo dầm bị võng hay nứt toác theo phương ngang."

Nguyên đứng bên mép sàn, nhìn thanh gỗ dổi vững chãi nằm vắt ngang giữa hai trụ cột. Đó là những thanh gỗ mà ông ngoại cô đã tự tay chọn lựa từ những cánh rừng thượng nguồn Đa Nhim và dựng nên từ hơn bốn mươi năm trước, để lại cho bà ngoại, rồi truyền đến tay cô.

Sự kiên cường của ngôi nhà già nua này dường như vượt xa những gì mà mắt thường nhìn thấy từ những mảng tường rêu phong, dột nát bên ngoài. Dưới lớp vỏ hoang tàn mục nát của thời gian, cốt lõi của nó vẫn đứng vững, như một lời nhắc nhở thầm lặng về cội nguồn và sức sống bền bỉ. Một cảm giác xúc động mơ hồ len lỏi vào tâm trí Nguyên, xoa dịu đi phần nào những vết thương kiệt quệ sau chuỗi ngày dài thất bại, kiện tụng và trốn chạy khỏi phố thị phù hoa.

"Tốt rồi," Nguyên khẽ nói, khóe môi bất giác cong lên một nụ cười nhẹ nhõm, làm tan bớt vẻ căng thẳng thường trực trên gương mặt. "Vậy là chúng ta bớt được một mối lo lớn về chi phí kết cấu tầng hai."

Đội thợ bắt đầu chia nhau làm việc theo nhịp độ thuần thục. Người thợ trẻ tên Lâm tiếp tục dùng bàn chải sắt đánh sạch bề mặt dầm gỗ dổi, loại bỏ triệt để các bào tử nấm mốc bám ngoài. Phong bước xuống chân cầu thang để chuẩn bị lắp đặt hệ kích nâng thủy lực ở chân cột C-03 bên dưới gian chái.

Nguyên cầm cây chổi đót và chiếc xẻng hót rác cán dài, bắt đầu gom những mảnh ván sàn mục nát vụn vỡ vương vãi trên hành lang tầng hai thành từng đống gọn gàng để chuyển xuống hố rác ngoài vườn.

Thấy Nguyên lúi húi quét dọn một mình, chú Bảy – người thợ già với mái tóc hoa râm và chiếc tẩu thuốc lá dắt bên túi áo ngực – bước lại gần, cúi xuống đỡ lấy miệng bao tải dứa giúp cô.

"Để đó tôi làm cho, cô Nguyên," chú Bảy cười hiền hậu, giọng nói đặc sệt âm sắc vùng cao nguyên pha lẫn chất giọng Quảng Nam di cư. "Bụi bặm mù mịt thế này, tay chân con gái làm kiến trúc sư bàn giấy để dính dằm gỗ mục là buốt lắm đấy. Mấy cái dằm thông ngâm nước này đâm vào thịt dễ làm mủ ra phết."

"Dạ không sao đâu chú Bảy, cháu làm quen rồi," Nguyên cười đáp, cẩn thận xúc từng xẻng mùn cưa đen kịt lẫn dăm bào đổ vào bao. "Thời làm đồ án tốt nghiệp rồi đi giám sát cảnh quan ngoài công trường cháu cũng lội bùn, bốc đá suốt. Chú cứ để cháu phụ một tay cho nhanh việc, dọn sạch sàn trên thì các chú thi công bên dưới mới yên tâm được."

Chú Bảy nhìn Nguyên, rồi lại nhìn xuống khoảng sân sau qua ô cửa sổ trống hoác vừa tháo dỡ ván chắn, nơi bóng dáng Phong đang cặm cụi dùng thước đo từng góc mộng dưới chân cột với sự tập trung tuyệt đối. Người thợ già lắc đầu, buột miệng thở dài một tiếng đầy cảm thán:

"Con bé này cũng bướng y hệt thằng Phong. Hai đứa bay cứ như hai thanh gỗ trắc, cứng đầu cứng cổ như nhau, chẳng ai chịu nhường ai nửa câu."

Nguyên thoáng khựng tay lại, ngước nhìn người thợ luống tuổi: "Sao chú lại nói thế ạ?"

Chú Bảy với tay lấy miệng bao tải kéo căng ra cho cô xúc rác vào, giọng chầm chậm kể lại như một lẽ tự nhiên của người lớn tuổi nhìn thấu tâm can lớp trẻ:

"Thì chuyện gỗ lạt này chứ đâu. Cô tưởng tự nhiên mà sáng sớm tinh mơ hôm nay có sẵn mấy súc thông ba lá vuông vức, sấy khô rang phẳng lì từng góc cạnh thế kia chở lên đây à? Tôi làm thợ mộc cho xưởng Gió Thông bốn năm nay rồi, chưa thấy thằng Phong nó kỹ tính và hành xác như mấy hôm vừa rồi. Nhận được cái bản vẽ phác thảo kích thước của cô gửi qua tối hôm trước, nó nhốt mình trong xưởng suốt hai đêm liền."

Trái tim Nguyên khẽ thắt lại. Cô bất giác dừng hẳn động tác quét dọn, đôi mắt mở to nhìn chú Bảy, chiếc xẻng hót rác trên tay hơi run lên.

"Hai đêm liền sao chú?"

"Chứ còn gì nữa!" Chú Bảy tặc lưỡi, giọng nói chùng xuống đầy vẻ xót xa. "Lò sấy nhiệt chạy suốt từ chiều hôm kia. Đến nửa đêm gỗ ra lò, nóng hầm hập, người ta làm gỗ thường thì để nguội từ từ qua ngày hôm sau mới gia công, còn nó thì sợ trễ tiến độ thi công của cô, sợ trời mưa dầm thêm hai trận nữa làm chân cột căn nhà này sụp mất. Một mình nó đứng bên máy bào cuốn thâu đêm. Tay phải nó từng bị tai nạn đứt gân cơ, cô biết rồi đấy, cầm cưa cầm đục lâu là các khớp ngón tay co rút lại đau buốt dữ lắm, nhất là vào mùa mưa lạnh thế này. Vậy mà nó không cho ai đụng vào mấy khối gỗ đó. Nó tự tay dùng thước kẹp điện tử đo từng mi-li-mét, bào phẳng lì bốn mặt gỗ dầm rồi tự tay xẻ mộng âm dương. Sáng nay lúc bốc hàng lên xe tải chở vào đây, mắt nó đỏ hoe vì thiếu ngủ, hai bả vai mỏi nhừ phải dán cao nóng kín cả lưng."

Chú Bảy vừa nói vừa lắc đầu ái ngại, mắt nhìn chăm chú vào những vết chai sần trên bàn tay mình:

"Tôi bảo để tôi với thằng Lâm làm bớt cho một nửa, chia nhau ra mà bào mộng, nó nhất quyết gạt đi. Nó bảo bản vẽ của cô Nguyên yêu cầu độ dung sai không được quá một mi-li-mét, gỗ này là để cứu cái khung nhà kỷ niệm của bà ngoại cô để lại, sơ sẩy một đường cưa làm lệch thế giằng là sau này nhà bị vặn vỏ đỗ, không cứu lại được. Nó làm quần quật như người ta trả nợ sinh tử vậy đó..."

Lời kể mộc mạc, không hề có chút tô vẽ hay bóng bẩy của người thợ già rơi vào không gian mờ tối của tầng hai, va đập mạnh mẽ vào tâm can Nguyên.

Cô đứng chết lặng giữa đống mùn cưa và bụi gỗ đang lơ lửng trong không khí. Từng câu, từng chữ của chú Bảy như những mũi kim nhỏ châm thẳng vào lồng ngực cô, nhức nhối một cách kỳ lạ.

Cô nhớ lại vẻ mặt điềm tĩnh, có phần lạnh lùng và dứt khoát của Phong lúc sáng khi đưa cho cô tập hóa đơn; nhớ lại cái cách anh kiên nhẫn, khúc chiết bóc tách từng chi phí thực tế mà không hề hé môi kể một lời nào về công sức thức trắng hai đêm ròng rã bên lò sấy; và trên hết, cô nhớ lại vết sẹo mổ dài mười lăm phân biến dạng trên cổ tay phải của anh – vết tích của một biến cố nghiệt ngã nào đó mà mười năm trước anh đã mang theo khi bỏ đi khỏi Đà Lạt không một lời từ biệt.

Hóa ra, đằng sau sự im lặng đến mức tàn nhẫn năm xưa, đằng sau lớp vỏ bọc chuyên nghiệp lạnh lùng của ngày hôm nay, người đàn ông ấy vẫn giữ nguyên cái thói quen âm thầm gánh vác mọi nhọc nhằn một mình. Anh chưa từng thay đổi: vụng về trong việc giãi bày, không bao giờ biết kể công hay biện minh cho bản thân, nhưng lại sẵn sàng vắt kiệt từng chút sức lực và cơn đau thể xác chỉ để hoàn thành một lời hứa vô hình trong quá khứ.

"Cô Nguyên? Cô sao thế?" Tiếng chú Bảy gọi giật làm Nguyên giật mình bừng tỉnh khỏi dòng suy nghĩ miên man.

"Dạ... không có gì chú," Nguyên vội vã chớp mắt, cố giấu đi sự rung động đang trào dâng làm nhòe đi khóe mi. Cô cúi đầu xuống thật thấp, tiếp tục xúc nốt đống gỗ vụn vào bao tải dứa. "Cháu... cháu xuống tầng trệt dọn tiếp đống rác chân cầu thang đây ạ. Trên này cũng hòm hòm rồi, chú với anh Lâm chuẩn bị đánh dầu thông nhé."

Cô vội vã buộc chặt miệng bao tải, xách chiếc xẻng sắt bước nhanh xuống cầu thang như muốn trốn chạy khỏi những cảm xúc hỗn loạn đang chực chờ bóp nghẹt lý trí của mình.

Dưới tầng trệt, không khí ẩm thấp và lành lạnh bao trùm. Góc chân cầu thang gỗ dẻ gai là một góc chết tối tăm, nơi tích tụ vô số mảnh gỗ vụn, nẹp chỉ cũ và những thanh ván mục bị rơi rớt trong quá trình tháo dỡ từ sáng sớm.

Ngay sát góc tường là chiếc rương gỗ mít cũ kỹ – nơi cô đang giấu kín tập hồ sơ nợ bảo lãnh hơn ba trăm triệu đồng từ Sài Gòn, một gánh nặng vô hình mà cô chưa từng dám để lộ cho bất kỳ ai tại thung lũng này biết.

Nguyên ngồi xổm xuống nền gạch tàu lạnh ngắt, cố gắng dùng công việc chân tay nặng nhọc để xua tan hình ảnh đôi bàn tay nứt nẻ và vết sẹo co rút của Phong ra khỏi tâm trí. Cô gom từng thanh nẹp gãy, nhặt từng mẩu ván mục nát đầy rêu ẩm ném vào góc.

Mưa bên ngoài lại bắt đầu nặng hạt hơn, tiếng nước xối xả đập vào sườn đồi phía sau tạo nên một bản hòa âm u buồn, thê lương của đại ngàn mùa mưa.

Khi với tay vào sâu trong hốc tối dưới gầm bậc thang thứ ba – khoảng trống hẹp và ẩm ướt giữa vách tường ốp gỗ và chiếc rương mít – đầu ngón tay Nguyên bỗng chạm phải một vật cộm cứng, kẹt chặt giữa khe hở của dầm móng.

Tưởng là một mảnh ván mục hay một khúc gỗ chêm bị bỏ quên, cô dùng sức kéo mạnh ra.

Đó không phải là gỗ.

Đó là một cuốn sổ tay khổ nhỏ, chỉ nhỉnh hơn bàn tay một chút, bìa bọc bằng vải dù màu xanh quân đội đã sờn rách hết mép gáy và phai màu theo năm tháng. Cuốn sổ bị kẹt sâu trong góc tối nhiều năm, phủ một lớp bụi bặm dày đặc và hơi ẩm khiến cho các trang giấy bên trong cong vênh, dính chặt vào nhau.

Nguyên ngơ ngác ngồi bệt xuống bậc thang, lấy tay áo cẩn thận phủi lớp bụi xám bám trên bìa sổ. Một mùi giấy cũ ẩm ướt pha lẫn hương hoa khô thoang thoảng bốc lên, thứ mùi hương quen thuộc của ký ức tuổi thơ ùa về.

Bằng sự nhạy cảm của một người cháu từng lớn lên trong vòng tay của bà ngoại, tim cô đập thình thịch liên hồi trong lồng ngực. Cô cẩn thận dùng đầu ngón tay nhẹ nhàng lật mở trang bìa lót đã ố vàng lốm đốm những vệt thời gian.

Ngay trang đầu tiên, nét chữ viết tay nghiêng nghiêng bằng mực tím quen thuộc hiện ra dưới ánh sáng mờ nhạt của gian phòng, dẫu đã bị hơi ẩm làm nhòe mờ đi vài chỗ:

*“Ghi chép về mảnh đất dốc Mộc Miên — Năm 1978. Lê Thị Mai.”*

Bàn tay Nguyên khẽ run lên. Đây chính là cuốn sổ tay của bà ngoại cô từ thời bà còn trẻ, khi mới cùng ông ngoại khai hoang, đắp nền dựng nên mảnh đất đồi này giữa muôn trùng hoang vu của Đà Lạt thời hậu chiến.

Cô nín thở lật tiếp những trang sau. Không phải là những dòng nhật ký tâm sự tình cảm ủy mị, mà toàn bộ cuốn sổ là những bản vẽ phác thảo tay cực kỳ tỉ mỉ về địa hình khu vườn và ngôi nhà.

Những nét bút chì mảnh mai nhưng chuẩn xác vẽ lại từng đường đồng mức của sườn dốc, từng vị trí của những tảng đá mồ côi tự nhiên nằm ngầm dưới lòng đất, và đặc biệt là hệ thống thảm thực vật bản địa được bà ghi chú cẩn thận bằng cả tên địa phương lẫn đặc tính sinh học:

*“Góc đất trũng phía sau nhà: Đất sét pha bazan ngậm nước nhiều, mùa mưa dễ trượt lở. Đã trồng thử nghiệm hàng rào cỏ lau và cây cốt khí để giữ đất taluy, không được chặt rễ cốt khí vì rễ nó đan thành lưới giữ chân móng đá...”*

*“Chỗ trũng chân đồi giáp chái sau: Không nên lấp đất làm phẳng để xây thêm phòng, mạch nước ngầm từ đỉnh đồi tụ về đây rất mạnh. Mùa mưa nước từ túi đất trên cao dồn xuống khe đá ngầm. Phải để một hồ trũng tự nhiên, viền bằng đá cuội suối, trồng thủy trúc, rau ráng và dã quỳ dại để lọc nước tràn trước khi thoát xuống khe thông...”*

Từng dòng chữ mộc mạc, thấm đẫm trải nghiệm thực tế của bà ngoại hiện lên như một lời chỉ dẫn kỳ diệu vượt thời gian, truyền thẳng vào tâm trí Nguyên.

Nguyên sững sờ đọc từng trang, từng ghi chép tỉ mỉ về sự vận động của mạch nước ngầm dưới nền đất Mộc Miên. Những ý tưởng về việc nương tựa vào tự nhiên, biến điểm ngập úng thành một vùng sinh thái tự thấm mà cô đang ấp ủ cho dự án Vườn Mưa ở giai đoạn ba – những kiến thức mà cô ngỡ rằng mình đã học được từ những giáo trình cảnh quan hiện đại của phương Tây ở trường đại học tại thành phố – hóa ra từ hơn bốn mươi năm trước, bà ngoại cô đã thấu hiểu và ghi chép lại một cách tường tận, thuần khiết bằng chính tình yêu và sự gắn kết sâu sắc đối với mảnh đất cao nguyên này.

Bà không tìm cách chế ngự tự nhiên hay san phẳng ngọn đồi bằng bê tông cốt thép, bà tìm cách lắng nghe nó, nhường lối cho nước chảy và dùng chính cỏ cây bản địa để giữ đất, giữ nhà.

Nước mắt Nguyên bất giác ứa ra, rơi tí tách xuống trang giấy cũ kỹ làm nhòe thêm một vệt mực tím mờ ở góc trang sách. Cô siết chặt cuốn sổ vào lồng ngực, áp nó vào tim mình, cảm nhận hơi ấm vô hình của người bà quá cố như đang hiện diện đâu đây, vỗ về và tiếp thêm cho cô niềm tin giữa muôn trùng bế tắc và áp lực bủa vây.

Ngôi nhà này, mảnh vườn này không hề là một khối tài sản vô tri hay một đống gỗ mục chờ sụp đổ. Chúng mang trong mình linh hồn, trí tuệ và ký ức của cả một đời người đã sống kiên cường bên sườn dốc.

Đúng lúc ấy, từ phía góc chân tường phía sau nhà – nơi vách gỗ giáp mí với nền móng đá hộc chái sau – một âm thanh kỳ lạ bất ngờ vang lên phá vỡ sự tĩnh lặng.

*Tách... róc rách...*

Âm thanh ban đầu rất khẽ, nhưng đều đặn, sắc lạnh và ngày một dồn dập, xuyên qua cả tiếng mưa rỉ rả không ngớt bên ngoài mái hiên.

Nguyên giật mình, lau vội giọt nước mắt trên má, đứng bật dậy. Cô cầm chặt cuốn sổ tay của bà trong lòng bàn tay, bước thật nhanh về phía chái sau, nơi ánh sáng ban ngày mờ mờ chiếu qua khung cửa hiên mở hé.

Dưới chân mảng tường gỗ tiếp giáp với vách taluy âm phía sau nhà, một cảnh tượng bất thường hiện ra trước mắt cô.

Một vệt nước màu đỏ đục như màu đất bazan đang rỉ ra dữ dội từ khe nứt giữa hai phiến đá hộc của chân móng. Vệt nước không hề chảy tràn từ trên mái xuống như những điểm dột thông thường, mà nó đang đùn ngược từ dưới lòng đất lên. Nước sủi bọt lăn tăn qua các kẽ đá, mang theo những hạt cát mịn và phù sa đỏ quạch, rồi bắt đầu loang nhanh thành một vũng bùn lỏng ngay sát cạnh chân cột C-03 – nơi Phong và đội thợ vừa mới chuyển các khối gỗ thông và chuẩn bị đặt kích nâng thủy lực.

Tiếng nước ngầm rỉ ra mỗi lúc một xiết hơn, róc rách như một con suối nhỏ bị nghẽn dòng vừa tìm được lối thoát, kèm theo đó là mùi tanh nồng của bùn non đáy đồi bị xáo trộn bốc lên nồng nặc trong không khí ẩm ướt của gian nhà chái.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn