Mùa Mưa Ở Đà LạtC.15 / 36
Chương 15

Chợ Đêm Và Những Lời Xì Xào

Ánh đèn vàng rực rỡ và mùi ngô nướng, sữa đậu nành nóng hổi lan tỏa khắp khu chợ đêm Đà Lạt, đối lập hoàn toàn với sự tĩnh mịch lạnh lẽo của triền đồi Mộc Miên sau chuyến đi Cầu Đất.

Dòng người đổ về khu vực trung tâm thung lũng ngày một đông đúc, cuồn cuộn như một dòng chảy vô tận của áo ấm, khăn quàng và tiếng cười nói lao xao. Những đợt gió thốc lên từ mé hồ Xuân Hương mang theo hơi nước buốt giá, quyện chặt lấy mùi mỡ hành xèo xèo trên vỉ bánh tráng nướng cong vênh, mùi khoai lang nướng thơm lùi tro than đượm nồng và cả mùi ngai ngái quen thuộc của sương đêm đọng trên những lớp áo len dày cộp. Giữa cái ồn ào, chen chúc của phố chợ lên đèn, Vũ Thảo Nguyên kéo cao cổ chiếc áo khoác măng tô sẫm màu, lặng lẽ rảo bước theo sau Lâm Thu Yến và Đặng Mai Anh.

Mỗi bước chân của cô dẫm lên nền đá ướt át của lòng phố dường như trĩu nặng gấp bội phần thường nhật. Nguyên vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cơn chấn động của buổi chiều trên đồi Cầu Đất. Cảm giác ẩm ướt của vệt nước mưa hắt qua mép tôn rỉ sét trên mái hiên trạm chòi hoang, tiếng gầm gừ khô khốc của chiếc xe máy cũ chở cô lầm lũi xuyên qua lớp sương mù dày đặc, và đặc biệt là câu buột miệng nghẹn đắng trong cơn giằng xé của Phong — *"món nợ máu và nước mắt"* — vẫn như một chiếc gai thép găm sâu vào màng nhĩ cô. Mỗi lần lồng ngực cô thắt lại trước cơn gió quất ngược từ thung lũng, vết gai ấy lại nhói buốt rát buốt, kéo theo một cảm giác bất an mơ hồ nhưng vô cùng hiểm độc.

Nhưng Nguyên hiểu rất rõ, cô không có quyền và càng không có thời gian để chìm đắm trong sự bàng hoàng hay đau đớn cá nhân. Bản hợp đồng vận hành thử nghiệm ba phòng ngủ tầng trệt đã ký kết, hạn chót thanh toán công nợ vật tư bảo lãnh treo lơ lửng trên đầu như một lưỡi gươm vô hình, và từng đồng tiền còn sót lại trong tài khoản đang buộc cô phải tỉnh táo đến cay đắng. Nếu để cảm xúc quật ngã vào lúc này, Mộc Miên sẽ sụp đổ trước khi giọt sương mai kịp tan trên mái hiên gỗ.

"Chị Nguyên, gian hàng dệt thổ cẩm của người K'Ho bên dãy lồng chợ phía tây em đã khảo sát giá từ tuần trước rồi," Thu Yến vừa đi vừa mở tập bìa kẹp tài liệu bọc nhựa chống nước, giọng nói rành rọt, dứt khoát át đi tiếng loa rao hàng xôn xao xung quanh. "Theo đúng bảng phân bổ ngân sách trang trí hai mươi lăm triệu đồng cho ba phòng tầng trệt, chúng ta dành tối đa bốn triệu rưỡi cho đồ vải: gồm ba tấm khăn trải chân giường, sáu vỏ gối len dệt thô mộc và ba bộ rèm treo ngăn góc đọc sách. Nếu vượt quá một trăm ngàn trên mỗi đầu mục, dòng tiền lưu động cho tiền điện và máy sấy ẩm tuần tới sẽ bị hụt ngay."

Mai Anh chen qua một nhóm du khách đang đứng chụp ảnh bên xe bán dâu tây lắc, quay lại cười tươi nhưng ánh mắt đầy vẻ cảnh giác của một người buôn bán sành sỏi ở phố núi:

"Yến tính chuẩn đấy Nguyên. Cứ để em với Yến ép giá. Chợ đêm nhìn thì rực rỡ vậy thôi chứ bảy phần mười là hàng xưởng công nghiệp dưới xuôi đánh lên dán mác Đà Lạt. Mình muốn tìm vải dệt chỉ sợi tự nhiên, nhuộm vỏ cây với gối len móc tay của mấy cô bên buôn Lát thì phải lách sâu vào mấy ngách sau cầu thang lầu một. Chỗ đó dân địa phương bán từ đời ông bà, tuy mẫu mã không bóng bẩy bắt mắt bằng nhưng mộc, sợi đanh, giặt nước mưa không bị phai nhớt."

Nguyên gật đầu, đưa tay nhận lấy bảng tính chi phí từ Yến. Những con số được kẻ cột cẩn thận, chi tiết từng mét vải, từng chiếc móc gỗ cho thấy sự cẩn trọng và nghiêm túc tuyệt đối của cô gái trẻ thủ khoa du lịch. Sự thực tế ấy kéo Nguyên neo lại với mặt đất.

"Chị đồng ý với bảng dự toán này," Nguyên nói, cố điều chỉnh giọng mình để giữ vẻ điềm tĩnh thường ngày. "Không gian của ba phòng tầng trệt chủ yếu dùng sàn gỗ thông cũ quét dầu lanh sẫm màu và khung tường mộc, nên đồ vải không được quá sặc sỡ. Chị cần những gam màu tự nhiên: xám tro, nâu đất bazan, xanh chàm thẫm hoặc màu trắng ngà của sợi gai chưa tẩy. Đồ trang trí càng giản lược bao nhiêu, cái thô ráp thật thà của nếp nhà gỗ thời Pháp mới nổi bật lên bấy nhiêu."

Ba người phụ nữ lách qua lối đi hẹp giữa các dãy quầy hàng, bước lên những bậc thềm đá ẩm ướt dẫn vào khu vực lồng chợ thủ công truyền thống. Ở đây, ánh sáng bớt gắt gao hơn ánh đèn tuýp ngoài sân khấu lớn ngoài trời, chỉ có những bóng đèn tròn sợi đốt tỏa ra quầng sáng vàng cam ấm áp, rọi lên những chồng chăn len dày cộp, những xấp vải thổ cẩm hoa văn hình học cổ xưa và những kệ gốm nung củi thô mộc men tro.

Yến nhanh nhẹn tiến đến một sạp gốm men địa phương nằm ép mình bên vách đá cũ. Bằng đôi mắt tinh tường và bàn tay quen việc, cô quản lý trẻ thoăn thoắt lật xem từng chiếc bình cắm hoa bằng đất sét nung già lửa:

"Chị Nguyên nhìn chiếc này xem. Đất đỏ mộc nung nhiệt cao, bề mặt có vệt rạn tự nhiên như vỏ thông già. Ba phòng, mỗi phòng một bình này để trên bệ cửa sổ lá sách, cắm vài cành phi yến dại hoặc cẩm tú cầu sấy khô là đủ điểm nhấn. Giá bán sỉ họ bớt cho mình mười lăm phần trăm nếu lấy kèm bộ tách trà men tro."

Nguyên bước lại gần, chạm những đầu ngón tay còn vương vết trầy xước từ buổi tối chống bão hôm trước lên bề mặt thô nhám của gốm. Cảm giác mát lạnh và chắc nịch của đất sét nung khiến lòng cô dịu đi phần nào. Đôi mắt kiến trúc sư cảnh quan của cô lập tức hình dung ra cách đặt những chiếc bình này dưới bậu cửa sổ gỗ thông đỏ mà Phong vừa đặt mua từ trạm bưu điện cũ Cầu Đất. Ánh sáng sớm mai hắt qua khe lá sách sẽ tạo ra những vệt bóng đổ tuyệt đẹp lên thân bình... Nhưng hình ảnh Phong đứng câm lặng dưới mưa, đôi mắt ngập tràn dằn vặt và bi thương lại bất chợt ùa về, bóp nghẹt ý nghĩ vừa chớm nở trong tâm trí cô.

"Được đấy Yến," Nguyên khẽ nuốt khan, thu tay lại giấu vào túi áo khoác. "Gốm chọn ba chiếc kích thước vừa phải thôi. Lấy thêm một khay đất nung phẳng để ở sảnh đón tiếp để đựng vài lát vỏ quế và hoa hồi khô tạo mùi hương tự nhiên."

"Dạ, em ghi vào biên bản xuất chi ngay." Yến thoăn thoắt dùng bút bi ghi chép, từng động tác đều gọn ghẽ, chuẩn xác.

"Nào, qua sạp len đằng kia," Mai Anh vỗ nhẹ vào vai Nguyên, kéo cô rẽ sang một góc khuất gần chiếu nghỉ cầu thang. "Sạp len của bà Bảy Thu. Bà này hồi xưa là bạn dệt len cùng tổ hợp tác xã với cô ruột tao bên Chi Lăng. Mối này giữ toàn len sợi cừu xe tay cũ, dùng làm ruột gối ôm vừa êm vừa không bị xẹp lép khi trời trở gió dầm."

Sạp len của bà Bảy Thu không lớn, nằm khiêm tốn bên góc chiếu nghỉ cầu thang xi măng dẫn lên tầng thượng chợ Đà Lạt. Không khí ở đây ngập tràn mùi len cừu đặc trưng — một thứ mùi ấm nồng, ngai ngái pha lẫn mùi lá hương thảo khô cài trong từng kẽ sọt để chống mối nhậy. Những cuộn len tròn trịa đủ màu sắc xếp tầng tầng lớp lớp từ sàn lên tới tận nóc sạp gỗ, tạo thành một bức tường giữ nhiệt êm ái giữa cái rét căm căm của đêm phố núi.

Một người phụ nữ lớn tuổi có mái tóc hoa râm búi gọn sau gáy, khoác chiếc áo gi-lê len màu mận chín, đang chăm chú dùng que đan tre thoăn thoắt móc từng mũi len cho một chiếc khăn choàng lớn. Nghe tiếng bước chân và lời chào rổn rảng của Mai Anh, bà cụ ngước cặp kính lão trễ xuống sống mũi, nheo mắt nhìn qua ánh đèn vàng le lói.

"A, cái con bé Mai Anh 'cà phê dốc' đấy hả?" Giọng bà Bảy Thu khàn khàn, ấm áp đặc trưng của người gốc Trại Mát định cư lâu năm dưới phố. "Gió máy rát mặt thế này mà còn dắt ai đi lùng đồ dệt đấy con?"

"Dạ, con dẫn bạn thân của con tới mở hàng cho bà đây," Mai Anh sà ngay xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít đặt trước sạp, tự nhiên bốc một nắm mứt gừng khô trong đĩa của bà bỏ vào miệng nhấm nháp. "Bà Bảy nhìn kỹ xem người quen hay người lạ nào? Đố bà nhận ra ai đây!"

Bà Bảy Thu hạ đôi que đan xuống đùi, đẩy gọng kính lão lên sát trán, nheo nheo đôi mắt đã phủ một lớp mây đục mờ vì tuổi tác nhìn thẳng vào gương mặt Nguyên. Nguyên khẽ cúi đầu, nở một nụ cười lễ phép:

"Cháu chào bà Bảy ạ."

Bà lão sững lại chừng vài giây. Ánh mắt già nua quét từ vầng trán cao thanh tú, đôi mắt hai mí hơi dài phảng phất nét u buồn cho đến khóe miệng cương nghị của Nguyên. Đột nhiên, bàn tay nhăn nheo của bà cụ run run vươn ra, nắm lấy ống tay áo dạ của cô, giọng thảng thốt:

"Trời đất ơi... Con bé Thảo Nguyên! Đúng Thảo Nguyên rồi! Cháu ngoại bà giáo Mai Mộc Miên trên dốc Trại Mát đây mà! Cháu về bao giờ thế này con? Lớn quá, suýt chút nữa bà già này không nhìn ra nét con bé ngày xưa hay theo bà ngoại xuống chợ giao hoa atisô!"

"Dạ, cháu mới về lại Đà Lạt được ít bữa thôi bà," Nguyên khẽ đáp, hơi ấm từ bàn tay thô ráp của bà cụ khiến một góc mềm yếu trong lòng cô rung lên. "Bà ngoại cháu mất, cháu về trông nom lại căn nhà gỗ..."

"Khổ thân chị tôi," bà Bảy thở dài một hơi sườn sượt, ánh mắt chùng xuống xót xa. "Bà giáo Mai ra đi thanh thản, nhưng căn nhà cổ ấy thì nặng gánh quá. Mấy hôm nay người dưới phố xôn xao đồn ầm lên chuyện công ty phát triển gì lớn lắm đang đi lùng mua gom hết đất đồi mé bên đó để làm khu nghỉ dưỡng cao cấp, người ta cứ bảo nhà Mộc Miên chắc cũng bán thôi... May quá, cháu về giữ lấy nếp nhà của bà ngoại là quý hóa lắm rồi con ạ."

Bà Bảy ngừng lại một chút, như chợt nhớ ra điều gì, đôi mắt bà lóe lên một tia sáng tò mò pha lẫn ái ngại:

"Mà này Nguyên... Chiều qua bà ngồi đan len ở đây, thấy thằng thợ mộc Lâm xưởng Gió Thông ghé qua mua găng tay len, nó bảo thằng Phong con ông Thành đang nhận sửa lại toàn bộ giàn cột dầm cho nhà Mộc Miên hả cháu? Có đúng thằng Phong không con?"

Cái tên "Phong" vừa thốt ra từ miệng bà Bảy khiến không khí quanh sạp len như đặc quánh lại. Mai Anh đang nhai dở miếng mứt gừng bỗng khựng lại, liếc nhanh về phía Nguyên. Thu Yến bên cạnh cũng ngẩng đầu lên khỏi cuốn sổ ghi chép, chăm chú quan sát phản ứng của hai người.

Nguyên cảm thấy lồng ngực mình thắt lại một nhịp, nhưng cô vẫn cố giữ nét mặt phẳng lặng như mặt hồ không gợn sóng:

"Dạ... anh Phong nhận phục chế phần gỗ theo hợp đồng ký từ trước với bà ngoại cháu ạ."

"Đấy, bà nghe chuyện mà cứ thấy bùi ngùi mãi không thôi," bà Bảy Thu lắc đầu, tặc lưỡi buông một tiếng thở dài não nuột, hai tay lại vô thức xoay vần cuộn len xám trên đùi. "Bà tưởng sau cái biến cố lớn mười năm trước, nhà thằng Phong không bao giờ dám quay lại nhìn mặt nhà cháu nữa chứ. Đúng là cái duyên cái nợ luẩn quẩn, tránh trời không khỏi nắng..."

"Biến cố gì vậy bà Bảy?"

Câu hỏi bất thần bật ra khỏi môi Nguyên trước khi cô kịp dùng lý trí để ngăn lại. Giọng cô run rẩy một cách bất thường, nghe lạc lõng giữa tiếng rì rầm của khu chợ.

Bà Bảy ngước nhìn Nguyên, thoáng vẻ kinh ngạc:

"Ủa? Con bé này lạ chưa kìa? Chuyện tày đình năm ấy cả cái xứ Trại Mát với khu dốc này ai chả biết, chẳng lẽ mẹ cháu giấu không cho cháu hay à? Thì cái vụ mười năm trước đó! Ông Thành — ba thằng Phong — vốn lái xe tải chở gỗ thuê, làm ăn thua lỗ nợ nần ngập đầu bị người ta siết xưởng mộc. Trong cơn túng quẫn, ổng chạy thêm mấy chuyến xe đêm đường dài rồi gây ra cái họa lớn tày đình trên đèo! Nghe đâu xe mất phanh hay lạc tay lái gì đó, tông trúng người ta nát bấy... Sau cái đêm định mệnh đó, ông Thành gãy xương sườn, chấn thương sọ não rồi tai biến nằm liệt mê man ở bệnh viện tỉnh cả mấy tháng trời ròng rã! Chủ nợ với người ta kéo đến tận cửa bệnh viện bủa vây đòi tiền đòi mạng. Thằng Phong lúc đó mới mười chín, đôi mươi chứ mấy, mặt búng ra sữa mà phải quỳ lạy van xin người ta cho khất nợ từng ngày để lo thuốc men cho cha. Rồi đùng một cái, chưa kịp trả hết nợ nần bồi thường viện phí thì nửa đêm hôm đó, cả nhà thằng Phong dắt díu nhau trốn biệt tăm bỏ xứ đi đâu mất tiêu, bỏ lại cái xưởng hoang nợ nần chồng chất..."

Bà Bảy vừa nói vừa lắc đầu ngao ngán:

"Người ta chửi bới ổng hèn nhát quỵt nợ dữ lắm. Mãi gần đây mới thấy thằng Phong lẳng lặng trở về mở lại cái xưởng mộc nhỏ, nghe bảo cha nó giờ bị liệt nửa người ngồi xe lăn, sống thui thủi một xó... Đúng là nghiệp báo đời cha bắt đời con phải è cổ ra gánh!"

Từng lời, từng chữ của bà Bảy Thu như những nhát búa tạ giáng thẳng vào đỉnh đầu Nguyên.

Đất trời xung quanh cô dường như đảo lộn. Âm thanh huyên náo của khu chợ đêm — tiếng mặc cả, tiếng xe cộ, tiếng nhạc Trịnh vẳng ra từ quán cà phê ven đường — đột ngột biến mất, chỉ còn lại một tiếng ù ù kéo dài buốt nhức trong tai.

*Mười năm trước...* *Tháng Tám năm ấy...* *Một chiếc xe tải đứt phanh trong đêm mưa trên đèo Prenn...* *Và người nằm viện dài ngày với đôi chân dập nát hoàn toàn, vĩnh viễn mất đi khả năng đi lại của một kỹ thuật viên lâm nghiệp đầy kiêu hãnh... chính là ba cô, ông Vũ Quốc Nam!*

Một luồng khí lạnh buốt thấu xương chạy dọc từ gót chân lên tận sống lưng, khiến toàn thân Nguyên run rẩy dữ dội. Những mảnh ghép ký ức vụn vỡ, hỗn loạn mà suốt mười năm qua cô không thể nào hiểu nổi bỗng chốc xoay chuyển, khớp nối vào nhau với một độ chính xác tàn khốc đến nghẹt thở.

Ký ức kinh hoàng của mùa thu năm mười tám tuổi, vốn bị phủ lấp dưới lớp bụi thời gian và những cuộc cãi vã không dứt trong gia đình, nay cuồn cuộn trồi lên như một cơn ác mộng sống động.

Cô nhớ lại căn phòng cấp cứu nồng nặc mùi thuốc sát trùng và máu khô ở bệnh viện Chợ Rẫy vào những ngày cuối tháng Tám năm đó. Ba cô nằm trên chiếc giường bệnh phủ ga trắng toát, tấm chăn mỏng đắp hờ hững bên dưới phần thân đã biến dạng, những ống truyền dịch chằng chịt cắm vào cổ tay gầy guộc. Đôi chân từng lội qua hàng trăm cánh rừng nguyên sinh, từng dẫn cô đi nhặt quả thông khô trên khắp các nẻo đồi Trại Mát, đã bị dập nát hoàn toàn sau cú tông trực diện trong đêm sương mù đèo Prenn. Bác sĩ trưởng khoa chấn thương chỉnh hình khi ấy đã lắc đầu buông một câu như bản án chung thân: *"Chúng tôi đã cố hết sức để giữ lại tính mạng, nhưng di chứng dập tủy và gãy phức tạp khớp háng khiến bệnh nhân vĩnh viễn không thể đứng dậy được nữa."*

Và người mẹ kiêu hãnh của cô — bà Vũ Minh Châu.

Nguyên không bao giờ quên được gương mặt trắng bệch, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ lòm và sự căm phẫn đến điên dại của mẹ mình trong những chuỗi ngày túc trực bên hành lang bệnh viện. Mẹ cô đã khóc đến kiệt cùng nước mắt, rồi sau đó biến thành một con người hoàn toàn khác: lạnh lùng, cay độc và tràn ngập oán hận. Khi Nguyên bàng hoàng, nghẹn ngào hỏi mẹ về tin tức của chiếc xe tải gây tai nạn, về tung tích người lái xe, bà Châu đã trừng trừng nhìn cô với ánh mắt long sòng sọc. Bà cấm tuyệt đối không cho Nguyên bước chân ra khỏi khu nội trú, cấm cô liên lạc với bất kỳ ai dưới phố núi.

Và vào cái đêm Nguyên lén dùng chiếc điện thoại nắp trượt cũ kỹ gọi vào số máy của Phong để tìm kiếm một chỗ dựa tinh thần, mẹ cô đã bất thần lao vào phòng như một cơn cuồng phong.

Bà giật phăng chiếc máy trên tay cô, ném mạnh xuống sàn gạch men khiến vỏ nhựa và pin vỡ tung tóe. Tiếng gào thét của mẹ cô rền vang khắp hành lang bệnh viện lúc hai giờ sáng: *"Mày còn gọi cho nó làm gì? Mày có biết ba mày ra nông nỗi này là do ai không? Là lũ giết người tán tận lương tâm nhà nó! Cha nó tông nát hai chân ba mày rồi dắt díu nhau bỏ trốn như một lũ chuột cống! Mày mà còn tơ tưởng đến cái tên đó, mày không phải là con tao!"*

Khi ấy, giữa cơn hoảng loạn và đau đớn tột cùng trước cảnh ba thập tử nhất sinh, Nguyên chỉ nghĩ mẹ cô trong lúc phẫn uất đã nguyền rủa vu vơ kẻ gây tai nạn. Cô không thể ngờ, không dám tin và chưa từng một lần dám liên kết người cha của Phong với bóng đen tàn khốc đã hủy hoại cả đời ba mình. Mẹ cô sau đó đã nhanh chóng bán tháo căn nhà tập thể ở trung tâm Đà Lạt, dứt khoát đưa ba và Nguyên chuyển hẳn xuống Sài Gòn sinh sống, cắt đứt hoàn toàn mọi sợi dây liên lạc với phố núi như muốn chôn vùi một vết thương nhơ nhuốc.

Và chua xót nhất, xé nát tâm can cô nhất, chính là buổi chiều mưa tầm tã ngày 28 tháng 8 năm ấy.

Buổi chiều định mệnh mà hai người đã hẹn ước sẽ cùng nhau rời khỏi Đà Lạt. Nguyên đã trốn viện, đội mưa quay về trạm xe buýt Cầu Đất, đứng chôn chân suốt tám tiếng đồng hồ bên mái hiên nhỏ giọt tong tòng. Nước mưa thấm ướt sũng chiếc áo khoác len, bàn tay cô lạnh ngắt nắm chặt hai chiếc vé xe đò đi Sài Gòn nhập học mà cô đã dành dụm từng đồng tiền dạy kèm để mua. Cô đã đứng đó, ngây thơ tin vào lời hẹn ước thanh xuân, tin rằng Phong sẽ xuất hiện, tin rằng tình yêu trong sáng của mối tình đầu sẽ che chở cho họ qua giông bão.

Nhưng Phong vĩnh viễn không đến.

Số điện thoại của anh thuê bao không thể liên lạc được. Khi Nguyên tìm đến xưởng mộc của gia đình anh ở mé suối, cánh cổng sắt đã bị khóa xích hoen gỉ, biển hiệu đổ sụp, và những tờ giấy đòi nợ dán chằng chịt trên vách ván ép ẩm mốc. Anh đã bẻ gãy sim điện thoại, thu xếp đồ đạc trong đêm tối, cõng người cha bại liệt trốn chạy biệt tăm, để lại cô đơn độc giữa cơn mưa lạnh giá và nỗi nhục nhã của kẻ bị bỏ rơi.

Suốt mười năm ròng rã, Nguyên đã sống trong sự dày vò của lòng kiêu hãnh bị chà đạp. Cô tự nhủ rằng Phong là một kẻ phản bội hèn hạ, một gã đàn ông tham phú phụ bần sợ gánh nặng hôn nhân tương lai mà tháo chạy. Cô đem tất cả sự căm giận biến thành động lực để lao vào học tập, làm việc điên cuồng ở Sài Gòn, cắn răng xây dựng sự nghiệp kiến trúc sư cảnh quan để chứng minh cho anh thấy cô không cần anh.

Nhưng sự thật... sự thật lại trớ trêu và tàn bạo đến mức này sao?

Nguyên kinh hoàng nhớ lại ánh mắt tuyệt vọng, đôi bàn tay run rẩy bấu chặt vào bờ rào gỗ và giọng nói nghẹn đặc nước mắt của Phong dưới mái hiên trạm chòi hoang chiều nay: *"Đó là món nợ máu và nước mắt... Nếu em biết toàn bộ sự thật, em sẽ không thể nào chịu đựng nổi đâu..."*

*Món nợ máu và nước mắt.* Không phải là một cách ví von trừu tượng về nợ nần tiền bạc của giang hồ. Đó là máu của ba cô! Là đôi chân vĩnh viễn tàn phế của ba cô! Là chuỗi ngày dài ba cô phải ngồi trên chiếc xe lăn kim loại lạnh ngắt nhìn qua ô cửa sổ chung cư chật hẹp ở Sài Gòn, lặng lẽ nhìn ánh nắng tàn phai! Là sự suy sụp tinh thần của mẹ cô, biến một người phụ nữ dịu dàng thành một kẻ cay nghiệt, kiểm soát và lạnh lùng!

Phong đã biết tất cả. Anh đã biết từ mười năm trước! Anh trốn chạy không phải vì phản bội tình cảm của cô, mà vì anh không thể đối diện với con gái của nạn nhân mà cha anh đã hủy hoại cả cuộc đời. Anh gánh trên lưng tội lỗi tày đình của cha mình, ôm lấy món nợ máu ấy mà lầm lũi biến mất.

Và rồi bây giờ, anh quay lại. Anh lẳng lặng xuất hiện tại căn nhà gỗ Mộc Miên, nhận phục chế lại từng thanh xà gồ, từng chiếc mộng gỗ với giá rẻ mạt, sẵn sàng làm việc thâu đêm suốt sáng, để dằm thông đâm nát đôi tay thô ráp... để làm gì? Để bù đắp? Để chuộc tội? Hay để rũ bỏ cảm giác tội lỗi đang gặm nhấm linh hồn anh từng ngày?

"Nguyên? Nguyên à! Mày làm sao thế? Sắc mặt mày trắng bệch ra kìa!"

Tiếng gọi hốt hoảng của Mai Anh kéo giật Nguyên trở về thực tại. Bàn tay Mai Anh nắm chặt lấy vai cô, lay mạnh khiến cả người cô chao đảo.

Trước mặt cô, bà Bảy Thu cũng đang nhìn cô bằng ánh mắt ngơ ngác, đôi lông mày hoa râm nhíu chặt lại, đầy vẻ hối hận vì nhận ra mình vừa lỡ lời khơi lại một câu chuyện khủng khiếp nào đó liên quan đến người thân của cô gái trẻ.

"Cháu... cháu không sao," Nguyên khó nhọc thốt lên từng tiếng. Môi cô khô khốc, mấp máy không ra hơi. Cô phải gồng cứng các cơ bắp ở chân, dùng hết toàn bộ sức bình sinh để không ngã quỵ xuống sàn gỗ ẩm ướt của sạp hàng. "Cháu hơi... chóng mặt vì mùi sương thôi ạ."

"Uống ngụm trà nóng đi con bé này, gió chợ đêm độc lắm đấy," bà Bảy vội vã với lấy bình trà atisô ủ ấm trong giỏ tre, rót ra một chén sành run rẩy đưa cho Nguyên, ánh mắt ái ngại không dám nhìn thẳng.

"Dạ, không cần đâu bà," Thu Yến đã nhanh chóng bước lên chắn trước mặt Nguyên, giọng nói giữ vững sự chuyên nghiệp và lịch thiệp để cắt đứt bầu không khí ngột ngạt đang bóp nghẹt mọi người. "Bà Bảy cho tụi cháu lấy sáu vỏ gối len dệt thô màu xám tro này và ba tấm vải trải thổ cẩm dệt chỉ sợi tự nhiên nhé. Tổng cộng hết bao nhiêu tiền để cháu thanh toán luôn ạ, bạn cháu đang cần ra ngoài hít thở không khí."

"À... ừ, ừ... để bà tính," bà Bảy lúng túng dùng chiếc bàn tính gỗ gẩy lách cách, vội vã xếp những xấp vải vào tấm giấy xi măng. "Len sợi tự nhiên với thổ cẩm dệt tay... bà lấy giá vốn thôi, cả thảy là một triệu bảy trăm năm mươi ngàn."

Trong lúc Yến mở ví đếm tiền và chờ bà Bảy bọc hàng vào lớp giấy xi măng buộc dây chuối, chiếc điện thoại thông minh nằm trong túi áo khoác của Nguyên bỗng rung lên bần bật.

Không chỉ rung một lần. Ba, bốn nhịp rung liên tiếp, giòn giã và dồn dập như những tiếng gõ cửa đòi nợ tàn nhẫn giữa đêm khuya thanh vắng.

Nguyên run rẩy rút điện thoại ra. Ánh sáng xanh lét từ màn hình rọi thẳng vào đôi mắt đang hoang mang, nhạt nhòa tột độ của cô.

Trên màn hình là tin nhắn thông báo tự động từ ngân hàng thương mại cổ phần và ngay sau đó là tin nhắn văn bản từ số máy của người đại diện nhóm nhà thầu phụ tại Sài Gòn:

*[CẢNH BÁO TÍN DỤNG]: Hạn mức tín dụng thẻ Platinum đuôi 8812 đã sử dụng 98,5%. Yêu cầu thanh toán dư nợ tối thiểu trước ngày 15/06 để tránh phát sinh phí phạt và nợ xấu nhóm 2.*

Ngay bên dưới là tin nhắn từ ông Trịnh — chủ xưởng đá cảnh quan Đồng Nai: *"Cô Nguyên, tôi nhắc lại: ngày 20/6 là hạn chót cho khoản thanh toán đợt một 120 triệu đồng nợ vật tư bảo lãnh công trình Thảo Điền. Chúng tôi đã hoàn tất thủ tục ủy quyền cho văn phòng luật sư. Đúng 17h ngày 20/6 nếu tiền chưa vào tài khoản, đơn khởi kiện và lệnh đề nghị phong tỏa tài sản thừa kế nhà đất của cô tại Đà Lạt sẽ được gửi thẳng sang tòa án nhân dân thành phố. Đừng để mọi chuyện đi quá xa."*

Một trăm hai mươi triệu. Hạn chót là ngày 20 tháng 6. Hôm nay đã là tối ngày 9 tháng 6. Chỉ còn đúng mười một ngày. Hai trăm sáu mươi bốn giờ đồng hồ. Và số dư khả dụng thực tế trong tài khoản thanh toán của cô lúc này chỉ còn vỏn vẹn năm mươi mốt triệu hai trăm ngàn đồng — số tiền mà cô phải dùng để trả công thợ cho nhóm chú Bảy vào thứ Bảy này, mua gỗ mộng ghép sàn, trả tiền rèm vải và duy trì sự sống cho ba con người đang bám trụ tại Mộc Miên.

Đầu ngón tay Nguyên run rẩy đến mức chiếc điện thoại trượt khỏi lòng bàn tay, suýt rơi cắm xuống sàn đá nếu Mai Anh không kịp nhanh tay chụp lấy.

Hơi thở cô trở nên dồn dập, đứt quãng, lồng ngực đau nhói như bị ai đó bóp nghẹt. Sự nghẹt thở của áp lực nợ nần chồng lên cú sốc kinh hoàng về bí mật tai nạn mười năm trước như hai sợi dây thừng bện chặt vào nhau, siết nghẹt lấy khí quản của cô, tước đoạt toàn bộ dưỡng khí và sự bình tĩnh cuối cùng.

Lâm Thu Yến sau khi nhận bọc hàng dệt từ tay bà Bảy, quay người lại thì vừa vặn nhìn thấy những dòng chữ cảnh báo đỏ rực trên màn hình điện thoại mà Mai Anh đang cầm giúp Nguyên.

Đôi mắt sắc sảo của cô cử nhân quản trị du lịch khẽ nheo lại. Là một người từng bươn chải và quản lý tài chính cho nhiều cơ sở lưu trú từ Nha Trang lên Đà Lạt, Yến chỉ cần liếc qua là hiểu ngay tình cảnh ngàn cân treo sợi tóc mà Nguyên đang đối mặt. Sự bối rối, nét mặt tái nhợt như xác chết và bàn tay run lẩy bẩy của người cấp trên không thể nào qua mắt được cô. Yến không nói một lời nào về tin nhắn ấy ngay lúc đó, nhưng ánh mắt cô nhìn Nguyên đã đổi khác — vừa có sự kinh ngạc trước gánh nặng khủng khiếp mà người phụ nữ này đang âm thầm gánh vác, vừa dấy lên một nỗi lo âu sâu sắc về tính bền vững của dự án Mộc Miên mà cô vừa đặt cược ba tháng thử việc và cả danh dự nghề nghiệp của mình vào đó.

Mai Anh nhận thấy tình hình đã vượt quá giới hạn chịu đựng của bạn thân. Đôi mắt Nguyên đã dại đi, môi mím chặt không còn một giọt máu. Mai Anh lập tức nhét chiếc điện thoại vào lại túi áo măng tô của Nguyên, một tay khoác chặt lấy cánh tay đang lạnh ngắt như băng của cô, quay sang nói với Yến bằng giọng dứt khoát:

"Yến, cầm đồ vải giúp chị. Đi, ra khỏi đây ngay lập tức. Tao cần một chỗ ấm để nhét miếng gì nóng vào bụng con Nguyên, nó sắp xỉu tới nơi rồi."

Mai Anh kéo xềnh xệch Nguyên rời khỏi khu lồng chợ nồng nặc mùi len và những ánh mắt tò mò của tiểu thương xung quanh. Họ lách qua dòng người đông đúc đang đổ dồn về các quầy hàng đồ sấy, bước nhanh xuống dãy bậc thang đá dốc đứng nối giữa khu chợ lầu và con đường dẫn ra bùng binh đài phun nước trung tâm.

Ở một góc khuất bên chân bậc thang đá, nơi những cơn gió lùa từ thung lũng bị cản lại bởi bức tường rêu phong dày đặc của một ngôi nhà cổ thời Pháp thuộc, có một gánh chè nóng của một bà cụ người Huế đã neo đậu ở đây ngót nghét ba mươi năm. Chiếc nồi đồng to bằng cái thúng đặt trên bếp than tổ ong đỏ rực tỏa ra làn khói trắng nghi ngút, thơm lừng mùi gừng già, mùi nếp dẻo, mùi đậu đỏ ninh nhừ và vị ngọt thanh khiết của đường thốt nốt.

"Bà ơi, cho con ba bát chè trôi nước gừng nóng, cho nhiều nước đường với gừng giã nhuyễn nhé bà!" Mai Anh gọi lớn rồi kéo Nguyên ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp kê sát vách đá ẩm ướt.

Hơi ấm hầm hập từ bếp than và làn khói chè nghi ngút phả thẳng vào mặt khiến Nguyên khẽ rùng mình, ý thức tê dại dần dần hồi phục lại giữa cơn choáng váng. Chiếc bát sành thô mộc đựng hai viên trôi nước tròn vo trắng muốt, chan ngập thứ nước đường màu cánh gián rắc mè rang thơm phức và những lát gừng vàng ươm đập dập được đặt xuống chiếc bàn gỗ nhỏ trước mặt cô.

"Ăn đi," Mai Anh đẩy chiếc thìa nhôm vào tay Nguyên, giọng cô không còn vẻ cợt nhả, bông lơn thường ngày mà trầm xuống, nghiêm nghị và dứt khoát. "Nuốt hết một bát chè nóng cho tao. Máu mày đang đông cứng lại rồi đấy. Ăn để lấy đường mà thở, rồi muốn khóc hay muốn nói gì thì nói."

Nguyên nhìn bát chè đang bốc khói nghi ngút, những ngón tay cô bấu chặt vào cán chiếc thìa nhôm lạnh ngắt. Từng khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. Cô xúc một thìa nước đường gừng đưa vào miệng. Vị ngọt đậm đà kèm theo vị cay nồng, nóng bỏng của gừng già lập tức xộc thẳng lên sống mũi, lan tỏa râm ran xuống cuống họng, làm tan đi cái vị đắng ngắt và khô khốc đang bao trùm lấy đầu lưỡi cô.

Sự ấm áp đột ngột ấy như một nhát dao rạch vào bức tường thành phòng thủ mong manh mà Nguyên cố dựng lên suốt từ chiều.

Một giọt nước mắt nóng hổi bất giác lăn dài trên gò má buốt lạnh của cô, rơi thẳng xuống mặt nước chè sóng sánh màu cánh gián. Rồi giọt thứ hai, giọt thứ ba thi nhau rơi xuống. Nguyên cắn chặt môi, cúi gằm mặt xuống bát chè, bờ vai mảnh khảnh bên dưới lớp áo măng tô run lên từng hồi kìm nén.

Yến lặng lẽ kéo chiếc ghế nhựa ngồi đối diện, đặt bọc vải thổ cẩm gọn gàng dưới chân, mở túi xách lấy ra một gói khăn giấy khô đặt nhẹ bên cạnh tay Nguyên. Giọng cô gái trẻ hạ thấp, điềm đạm nhưng sắc bén, vừa đủ ba người nghe giữa tiếng ồn ào của phố xá:

"Chị Nguyên, em xin lỗi vì vô tình nhìn thấy tin nhắn ngân hàng trên máy chị lúc nãy. Em không có ý tò mò chuyện riêng tư... nhưng với tư cách là người chịu trách nhiệm vận hành ba phòng thử nghiệm, em nghĩ chúng ta cần phải nhìn thẳng vào sự thật."

Nguyên quệt vội giọt nước mắt, hít một hơi thật sâu để lấy lại sự bình tĩnh của một người thuyền trưởng đang chèo lái con thuyền sắp chìm giữa giông bão:

"Chị xin lỗi Yến... Chị không cố ý giấu em về khoản nợ đó. Đó là khoản tiền bảo lãnh vật tư từ dự án thất bại ở Sài Gòn của chị. Đối tác rút vốn đột ngột, công ty phá sản, toàn bộ trách nhiệm pháp lý đè lên vai chị. Chị đang tìm cách xoay xở..."

"Chị không xoay xở kịp đâu, nếu cứ ôm khư khư mọi thứ một mình như thế này," Yến nói thẳng, đôi mắt cô gái trẻ nhìn thẳng vào Nguyên, không hề né tránh hay chùn bước. "Một trăm hai mươi triệu trong mười một ngày tới là một con số bất khả thi đối với dòng tiền của Mộc Miên hiện tại, ngay cả khi chúng ta hoàn thiện xong ba phòng tầng trệt vào tuần sau và lấp đầy một trăm phần trăm công suất buồng phòng. Em đã từ chối lời mời về làm việc cho bên khu nghỉ dưỡng Thung Lũng Ngàn Thông của tập đoàn Cao Nguyên để về Mộc Miên vì em tin vào cái tâm và giá trị bản địa mà chị muốn giữ. Nhưng nếu dòng tiền sụp đổ trước ngày hai mươi tháng Sáu, căn nhà này sẽ bị niêm phong pháp lý, và mọi nỗ lực của chúng ta sẽ thành công cốc."

Mai Anh đặt chiếc bát của mình xuống bàn, đưa bàn tay ấm áp nắm chặt lấy bàn tay lạnh ngắt của Nguyên, giọng cô run lên vì xót xa:

"Yến nói đúng đấy Nguyên. Mày đang tự biến mình thành một tảng đá để gánh cả núi nợ lẫn những nỗi đau từ mười năm trước. Mày tưởng tao không nhận ra mày vừa bị sốc chuyện gì à? Chuyện ông Thành... chuyện vụ tai nạn của ba mày đúng không?"

Nguyên cắn chặt môi đến mức bật máu, vị tanh nồng lan trong khoang miệng. Cô ngước mắt nhìn Mai Anh, sự đau đớn bị dồn nén suốt bao năm vỡ òa ra trong ánh nhìn tuyệt vọng:

"Tao... tao không ngờ mọi chuyện lại tàn nhẫn đến thế, Mai Anh à... Suốt mười năm qua tao hận anh ấy vì sự phản bội, vì sự biến mất hèn nhát... Nhưng hóa ra, người gián tiếp cướp đi đôi chân của ba tao, người đẩy gia đình tao vào cảnh khánh kiệt, ly tán năm ấy... lại chính là gia đình anh ấy. Anh ấy đã biết tất cả, đã bẻ sim bỏ trốn cùng cha mình... Rồi bây giờ anh ấy quay về, dùng cái danh nghĩa phục chế nhà cổ của bà ngoại để làm gì? Để bố thí sự chuộc lỗi sao? Hay để trả nợ cho cái tội lỗi mà cha anh ấy gây ra?"

Giọng Nguyên nghẹn lại, từng tiếng thốt ra như cào xé lồng ngực:

"Tao cảm thấy kinh tởm chính bản thân mình vì mấy ngày qua đã có những lúc tao thấy xao lòng trước sự chăm sóc của anh ấy... Tao thấy mình có tội với ba tao! Ba tao đang phải ngồi xe lăn suốt mười năm qua ở Sài Gòn, còn tao thì lại để con trai của kẻ gây tai nạn bước vào ngôi nhà này!"

"Nguyên, nghe tao nói đây!" Mai Anh siết mạnh tay Nguyên đến mức in lằn ngón tay, ánh mắt cô kiên định và thấu suốt như ngọn lửa bừng lên giữa gió lạnh. "Chuyện mười năm trước đúng hay sai, ai nợ ai, đó là món nợ của thế hệ người lớn! Mày không thể vừa còng lưng đi trả món nợ ba trăm triệu ở Sài Gòn, vừa tự đày đọa mình trong cái vũng bùn thù hận của quá khứ! Mày phải tách bạch ra. Thằng Phong nó nhận sửa Mộc Miên với giá rẻ mạt, nó thức trắng đêm bào gỗ, nó chịu để dằm đâm nát tay... tao không bênh nó, nhưng tao thấy nó đang làm bằng cả mạng sống của nó. Còn mày, mày muốn giữ ngôi nhà của bà ngoại, mày muốn chứng minh năng lực với mẹ mày, thì mày phải sống sót qua cái hạn ngày hai mươi này trước đã!"

"Nhưng tao lấy đâu ra một trăm hai mươi triệu bây giờ?" Giọng Nguyên vỡ òa ra trong sự bất lực tuyệt vọng, nghẹn ngào giữa gió lạnh chợ đêm. "Mẹ tao đã tuyên bố dứt khoát không cho tao một xu nào nếu không ký giấy bán đất cho Khải Minh. Ngân hàng thì khóa sạch hạn mức tín dụng... Bạn bè ở Sài Gòn tao đã vay mượn hết lượt lúc công ty vỡ nợ... Tao chỉ còn mỗi căn nhà gỗ mục nát này thôi! Nếu bị phong tỏa, tao mất trắng!"

Cả ba người bỗng rơi vào một khoảng lặng nặng nề.

Xung quanh họ, tiếng rao hàng the thé của những người bán hạt dẻ nướng, tiếng cười đùa rổn rảng của những đôi tình nhân trẻ dạo phố đêm, tiếng nhạc Trịnh Công Sơn dìu dặt vẳng ra từ chiếc cassette cũ kỹ của quán nước bên kia đường vẫn trôi qua vô tình. Đà Lạt về đêm vẫn đẹp, vẫn thơ mộng và lãng mạn như một giấc mơ, nhưng đối với Nguyên, nó đang biến thành một chiến trường tàn khốc mà cô đơn thương độc mã chống chọi.

Yến khẽ thở dài, ngón tay cô gõ nhịp nhịp lên mặt bàn nhựa màu đỏ, ánh mắt ánh lên vẻ tính toán sắc sảo của một nhà quản trị:

"Ngày mai, em sẽ cùng chị rà soát lại toàn bộ dự toán giai đoạn một với anh Bảo và anh Phong. Chúng ta phải cắt giảm tối đa mọi chi phí có thể hoãn lại: phần lát đá lối đi sân vườn tạm dừng, phần đèn hắt cảnh quan đổi sang loại bóng năng lượng mặt trời giá rẻ. Toàn lực dồn vào việc hoàn thiện ba phòng ngủ tầng trệt trước ngày mười lăm. Em sẽ dùng các mối quan hệ truyền thông cũ của em ở các hội nhóm du lịch bền vững và các travel blogger tại Sài Gòn để tung gói ưu đãi lưu trú dài hạn nhận tiền cọc trước ba tháng. Nếu chúng ta bán trước được năm gói kỳ nghỉ trải nghiệm nông nghiệp và văn hóa bản địa, chúng ta có thể gom được khoảng sáu mươi đến bảy mươi triệu tiền cọc."

Yến dừng lại, nhìn thẳng vào mắt Nguyên:

"Còn số tiền còn lại, em nghĩ chị nên chủ động gặp trực tiếp văn phòng luật sư đại diện của ông Trịnh để thương lượng phương án chia nhỏ khoản thanh toán làm hai đợt. Nhưng điều kiện tiên quyết là công trình phải tiếp tục chạy, ba phòng phải đón được khách. Chị Nguyên... chị phải giữ cho cái đầu của mình thật tỉnh táo. Đừng để những lời xì xào của người ta quật ngã chị trước khi công trình kịp hoàn thiện."

Nguyên nhìn hai người phụ nữ trước mặt mình — một người bạn thân từ thời thơ ấu sẵn sàng mắng thẳng vào mặt để kéo cô ra khỏi bờ vực suy sụp, một người cộng sự trẻ tuổi sắc sảo và thực tế đến từng đồng bạc cắc nhưng sẵn sàng cùng cô chia lửa trong cơn bĩ cực.

Hơi ấm từ bát chè trôi nước và sự chân thành, kiên định ấy như một bờ đê vững chãi ngăn lại dòng nước lũ u tối đang chực cuốn phăng lý trí của cô.

Nguyên đưa tay gạt khô những giọt nước mắt còn vương trên khóe mi. Cô cầm thìa, dứt khoát xúc nốt những miếng trôi nước dẻo quánh nuốt trọn vào bụng, cảm nhận hơi nóng lan tỏa khắp lồng ngực. Cô hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng không khí lạnh buốt của phố núi vào phổi để làm đông cứng lại những yếu đuối vừa trỗi dậy:

"Chị hiểu rồi. Cảm ơn hai người... Chị sẽ không ngã gục đâu. Ngày mai chúng ta sẽ làm lại toàn bộ kế hoạch."

Sau khi thanh toán tiền chè cho bà cụ người Huế, ba người đứng dậy, xách theo những bọc vải thổ cẩm và đồ gốm thô mộc được bọc cẩn thận trong giấy báo và dây chuối. Họ bước xuống hết những bậc thang đá cuối cùng để ra con đường lớn đối diện khu chợ đêm, chuẩn bị tìm một chiếc taxi để về lại Trại Mát.

Đúng lúc đó, một chiếc ô tô hạng sang màu đen bóng loáng, mang biển số Sài Gòn, chầm chậm rẽ qua bùng binh đài phun nước, lướt êm ru trên mặt đường nhựa ướt và dừng lại ngay trước sảnh của một nhà hàng kính sang trọng nằm ở vị trí đắc địa nhất khu Hòa Bình.

Nhà hàng này có kiến trúc hoàn toàn bằng kính chịu lực và thép mạ vàng rực rỡ, vươn cao ba tầng nhìn thẳng xuống toàn cảnh thung lũng chợ đêm. Bên trong, ánh đèn chùm pha lê tỏa ra quầng sáng vàng kim xa hoa, ấm cúng và vương giả, ngăn cách hoàn toàn với sự lấm lem, ồn ào, ướt át của khu chợ bình dân bên ngoài bằng những vách kính cách âm dày cộp.

Qua vách kính trong suốt từ sàn lên đến trần nhà của tầng hai, ánh mắt của Nguyên bất giác bị hút vào một bàn tiệc lớn đặt ngay vị trí trung tâm, bên cạnh ban công nhìn ra hồ.

Ở đó, Nguyễn Khải Minh đang đứng thẳng, phong thái đĩnh đạc và lịch lãm tuyệt đối trong bộ vest may đo cao cấp màu xám tro, ve áo cài chiếc kẹp mạ bạc tinh xảo. Trên tay anh ta là một ly rượu vang đỏ sóng sánh. Xung quanh Minh là một nhóm những người đàn ông trung niên trong trang phục đắt tiền — những cổ đông chiến lược, đại diện ngân hàng và các nhà đầu tư cấp cao của dự án nghỉ dưỡng sinh thái phức hợp "Thung Lũng Ngàn Thông".

Trên màn hình máy chiếu siêu mỏng gắn trên tường kính phía sau lưng Minh, Nguyên nhìn thấy rõ mồn một sơ đồ quy hoạch tổng thể giai đoạn hai của dự án. Từng dải màu xanh ngút ngàn của rừng thông, từng cụm biệt thự mái dốc sang trọng được phân lô chi tiết. Và ở vị trí trung tâm của dải đồi đón gió, mảnh đất của căn nhà gỗ Mộc Miên bị khoanh một vòng tròn đỏ rực, sắc nét — một "mắt xích cảnh quan trọng yếu" kết nối trục giao thông nội khu mà công ty của Minh quyết tâm thâu tóm bằng mọi giá.

Minh khẽ nâng ly rượu, nở một nụ cười tự tin, đĩnh đạc hướng về phía các nhà đầu tư. Từng cử chỉ của anh ta toát lên sức mạnh tuyệt đối của đồng tiền, của quyền lực tài chính và sự kiên nhẫn lạnh lùng của một kẻ săn mồi thượng đẳng đang đứng trên đỉnh cao, bình thản chờ đợi con mồi kiệt sức tự rơi vào bẫy.

Anh ta không cần phải vội vã. Anh ta có thừa thời gian, thừa tiền bạc và thừa sự hậu thuẫn từ chính mẹ của cô.

Hình ảnh hào nhoáng, xa xỉ và đầy sức ép ấy như một cái tát tàn nhẫn giáng thẳng vào tâm trí Nguyên giữa đêm đông buốt giá.

Mọi thứ hiện ra trước mắt cô như một bức tranh tương phản đầy nghiệt ngã:

Một bên là tối hậu thư ba tháng mà mẹ cô đặt ra — hạn chót ngày 31 tháng Tám, sau ngày đó mảnh đất Mộc Miên sẽ được định đoạt. Một bên là bản hợp đồng đặt cọc một tỷ rưỡi mà Khải Minh đã soạn sẵn, chỉ chờ một chữ ký đầu hàng của cô để giải cứu toàn bộ nợ nần ở Sài Gòn, đưa cô trở lại vị trí một nữ kiến trúc sư thảnh thơi trong văn phòng máy lạnh. Và bên này, là thực tế trần trụi: cô đang phải chắt bóp từng đồng, đi lùng mua từng mét vải thổ cẩm giảm giá, từng chiếc vỏ gối len dệt thô ở một góc chợ đêm sũng nước mưa, trong khi án phạt một trăm hai mươi triệu đang đếm ngược từng ngày để tước đoạt nốt tài sản cuối cùng của cô.

"Nhìn cái gì mà chăm chú thế Nguyên?" Mai Anh bước lên bên cạnh, nhìn theo hướng mắt cô lên tầng kính nhà hàng rồi tặc lưỡi buông một tiếng khinh bỉ. "Đúng là mùi của bọn nhiều tiền. Kệ xác họ đi, mình về thôi. Đêm muộn rồi, sương xuống lạnh buốt đầu rồi đấy."

"Ừ, về thôi," Nguyên khẽ đáp, ánh mắt cô dứt khoát rời khỏi bức tường kính xa hoa rực rỡ kia.

Cô không ghen tị, không thèm muốn sự xa hoa đó. Nhưng hình ảnh Khải Minh nâng ly rượu trên bản đồ có khoanh đỏ Mộc Miên đã đốt cháy chút do dự cuối cùng trong lòng cô. Cô sẽ không bán ngôi nhà này cho anh ta. Cô sẽ không để nếp nhà gỗ của bà ngoại, nơi lưu giữ những ký ức trong trẻo nhất của đời cô, bị san phẳng thành một sân golf hay một dãy biệt thự bê tông vô hồn.

Họ bắt một chuyến taxi quen ở đầu dốc chợ để trở về Trại Mát. Chiếc xe bốn chỗ cũ kỹ lăn bánh qua những con đường đèo quanh co chìm ngập trong bóng tối và sương mù dày đặc. Hai bên đường, những rặng thông già đứng lặng im sừng sững như những bóng ma khổng lồ trong đêm. Ánh đèn pha vàng vọt của xe chỉ đủ xé toạc màn sương trong cự ly vài mét.

Suốt chặng đường dài gần mười cây số, không ai nói thêm lời nào. Không gian trong xe chỉ có tiếng máy nổ rì rầm và tiếng cần gạt nước gạt đi lớp sương đọng trên kính chắn gió. Nhưng trong lòng Nguyên, một quyết tâm mới đã âm thầm thành hình giữa đống tro tàn của sự đổ vỡ.

Cô sẽ không gục ngã trước khoản nợ một trăm hai mươi triệu. Cô sẽ không để sự dối trá của mười năm trước hay sức mạnh đồng tiền của Khải Minh định đoạt số phận của mình. Và đối với Phong... cô cần sự thật. Cô sẽ không trốn chạy nữa. Cô sẽ đối mặt với anh, vạch trần mọi uẩn ức để kết thúc cái bóng ma quá khứ đang ám ảnh cuộc đời cả hai.

Chiếc taxi chầm chậm leo lên con dốc đất đỏ trơn trượt rồi thả ba người xuống đầu con dốc đá dẫn vào Mộc Miên khi đồng hồ trên taplo đã điểm gần mười một giờ đêm.

Bác tài xế quay đầu xe rời đi, để lại một khoảng không gian đồi vắng lặng như tờ, chỉ có tiếng gió rít qua những tán thông già trên đỉnh đồi và tiếng nước róc rách chảy đều đặn dọc theo các rãnh thấm giật cấp xếp sỏi cuội ở sân sau — hệ thống thoát nước mà cô và Phong đã cùng nhau đào đắp trong đêm bão trước.

Mai Anh và Yến xách đồ đi trước, mở cánh cửa bên hông tiến vào gian bếp phụ để cất đồ vải và đun nước ấm ngâm chân.

Nguyên bước chậm lại phía sau, đôi bốt da của cô dẫm lên lớp đá dăm lạo xạo trên lối đi dốc. Không khí ở triền đồi cao này lạnh hơn dưới phố chợ rất nhiều, hơi lạnh ngấm qua lớp dạ dày, buốt thấu tận xương tủy.

Khi bước tới gần cổng chính, Nguyên bỗng khựng lại.

Dưới ánh đèn vàng le lói từ chiếc bóng đèn tiết kiệm điện gắn tạm bên hiên chái sau, một bóng người cao gầy, vạm vỡ đang lặng lẽ đứng cúi mình bên cánh cổng sắt rỉ sét của Mộc Miên.

Đó là Phong.

Anh vẫn mặc chiếc áo khoác vải bạt thô màu cỏ úa cáu bẩn mạt cưa từ buổi chiều ở Cầu Đất, chiếc mũ len kéo sụp xuống trán. Giữa màn sương đêm lạnh buốt buông dày như dải lụa trắng ma mị quấn quanh triền đồi, Phong đang một tay dùng hết sức giữ chặt lấy mép cánh cổng sắt bị gió lốc xô lệch bản lề từ đêm bão trước, tay kia cầm chiếc cờ-lê và máy siết ốc, cặm cụi cân chỉnh lại từng vòng ren thép một cách tỉ mẩn, kiên nhẫn.

Gương mặt anh nghiêng nghiêng dưới ánh đèn, hốc mắt sâu thẳm hằn lên những nét mệt mỏi cùng cực, nhưng đôi mắt thì vẫn chăm chú vào từng khớp nối kim loại. Đôi bàn tay trần của anh đỏ ửng lên vì lạnh, những khớp ngón tay khô ráp, chai sần vì bụi gỗ và kim loại.

Từng tiếng kim loại va chạm lách cách khô khốc vang lên giữa đêm khuya thanh vắng, cô độc và nhẫn nại đến nghẹn lòng.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn