Một Năm Học Lại Cách SốngC.7 / 24
Chương 7

Ngưỡng cửa Thư viện Bình Minh

Mùi giấy cũ ẩm mốc và lớp bụi mịn bám trên những dãy kệ gỗ sẫm màu đón lấy An khi cô bước qua bậc thềm nứt nẻ của Thư viện phường Bình Minh vào một buổi chiều thứ Bảy.

Bên ngoài, tiếng còi xe inh ỏi từ trục đường chính hắt vào khoảng sân nhỏ rợp bóng cây bàng già. Nắng xiên khoai qua những ô cửa chớp phủ sơn xanh đã tróc vẩy từng mảng lớn, rọi lên những vệt hạt bụi li ti lơ lửng trong không khí tĩnh mịch. Nơi này dường như bị bỏ quên giữa một đô thị đang cựa mình với tốc độ chóng mặt, nơi các tòa nhà kính cao tầng và những trung tâm thương mại mọc lên như nấm sau mưa chỉ cách đó vài cây số. Những hàng ghế gỗ tạp chân khập khiễng kê sát mép tường, vài chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt sơn trắng đã ngả sang màu cháo lòng quay lờ đờ, phát ra tiếng rít khô khốc theo từng vòng tua chậm chạp. Bốn dãy giá sách bằng gỗ ép ở giữa phòng đã cong võng xuống dưới sức nặng của hàng trăm tập báo lưu, tạp chí cũ và những cuốn sách giáo khoa, sách tham khảo từ thập niên trước.

Không khí trong phòng đọc đặc quánh sự lặng lẽ của thời gian bị ứ đọng. Phía sau chiếc bàn thủ thư bằng gỗ lim đã ngả màu đen bóng, một người phụ nữ trạc hơn ba mươi tuổi đang cặm cụi dùng băng dính trong dán lại gáy một cuốn truyện thiếu nhi bìa mềm bị rách tả tơi. Chị mặc chiếc áo sơ mi lanh màu lam nhạt đã giặt nhiều lần đến mềm nhũn, mái tóc đen dày buộc gọn sau gáy bằng một chiếc kẹp nhựa giản dị, để lộ gương mặt thanh tú với đôi mắt sáng nhưng phảng phất nét mệt mỏi, ưu tư.

Nghe tiếng bước chân của An dẫm khẽ lên nền gạch hoa kiểu cũ có hoa văn hình cánh hoa màu xanh rêu đã mòn vẹt ở những lối đi chính, người phụ nữ ngẩng đầu lên. Ánh mắt chị lướt qua bộ trang phục chỉnh chu của An—chiếc áo sơ mi trắng thẳng thớm, quần âu màu ghi xám và chiếc ba lô vải gọn gàng đặc trưng của dân văn phòng—rồi khẽ mỉm cười, một nụ cười hiền hậu nhưng có phần dè dặt:

"Em là An đúng không? Thầy Nam bên Cầu Nối có nhắn trước với chị từ hôm qua là em sẽ ghé."

"Dạ, em chào chị Yến." An bước lại gần chiếc bàn gỗ, khẽ cúi đầu chào một cách lịch thiệp. "Tối thứ Tư vừa rồi em có gặp anh Nam trong buổi sinh hoạt định kỳ. Anh ấy bảo thư viện phường mình đang cần người hỗ trợ sắp xếp lại hoạt động và định hình lại không gian học tập cho bà con, nên em muốn tranh thủ ngày nghỉ qua tìm hiểu xem mình có thể đóng góp được gì không ạ."

Đỗ Hải Yến đặt cuộn băng dính to bản và chiếc kéo con xuống mặt bàn, phủi nhẹ lớp vụn giấy bám trên đầu ngón tay rồi chỉ tay về phía chiếc ghế tựa bằng gỗ đối diện:

"Em ngồi đi. Chị pha cốc trà sen nhé. Nước vừa sôi lúc nãy, trà mạn ướp sen này là do một bác hưu trí trong hẻm mang biếu đấy. Thư viện vào giờ này thường vắng lắm, cả buổi chiều may ra chỉ có tiếng gió thổi với tiếng quạt trần thôi. Thỉnh thoảng mới có vài bác hưu trí ghé đọc tờ báo Nhân Dân hay báo Hà Nội Mới buổi sáng, xem mấy trang tin thời sự rồi về đi chợ."

An kéo nhẹ chiếc ghế gỗ, cẩn thận đặt ba lô lên đùi rồi ngồi xuống. Gian phòng rộng chừng sáu mươi mét vuông mở ra trước mắt cô với tất cả sự trần trụi của một cơ sở văn hóa cấp cơ sở thiếu thốn kinh phí. Tường quét vôi vàng kiểu cũ đã ố những vệt nước mưa dài ngoằng rỉ từ góc trần nhà xuống, làm bong tróc từng mảng vữa để lộ lớp gạch đỏ bên trong. Phía trên cao, ba ô cửa sổ kính mờ bám đầy mạng nhện, chỉ có vài khe hở cho gió lùa vào mang theo hơi nóng hầm hập của mặt đường nhựa. Không gian tĩnh lặng đến mức An có thể nghe rõ từng tiếng ve râm ran muộn màng sót lại trên cành bàng ngoài hiên và tiếng tích tắc khô khốc của chiếc đồng hồ treo tường hiệu Kundo chạy bằng pin tiểu đã ngả vàng.

Yến cẩn thận rót nước nóng từ chiếc phích Rạng Đông vỏ sắt in hình hoa hồng vào chiếc cốc sứ mẻ miệng ở góc quai, đẩy nhẹ về phía An. Mùi hương sen dìu dịu bốc lên cùng làn khói mỏng, xua bớt phần nào mùi giấy ẩm và ẩm mốc của những góc phòng lâu ngày thiếu ánh nắng trực tiếp. Yến nhìn An, thở dài một hơi rất nhẹ. Đôi lông mày thanh mảnh của chị khẽ nhíu lại, tạo thành một nếp nhăn mờ giữa trán:

"Chị rất mừng vì Nam giới thiệu em sang. Chị biết Nam luôn có những người bạn trẻ nhiệt huyết, có năng lực chuyên môn và muốn đóng góp cho xã hội. Nhưng trước khi chúng ta bàn chuyện em có thể giúp gì hay lên kế hoạch gì to tát, chị nghĩ mình cần phải thành thật với nhau về tình trạng thực tế ở đây. Thư viện Bình Minh không chỉ đơn giản là vắng khách hay thiếu sách mới đâu, An à. Chúng ta đang đứng trước một hạn chót rất ngặt nghèo, một bài toán sinh tử thực sự."

An khựng lại, hai bàn tay vô thức ôm lấy thân cốc trà ấm, mắt nhìn thẳng vào vẻ mặt nghiêm nghị của người đối diện:

"Có chuyện gì nghiêm trọng lắm hả chị?"

"Hôm qua chị vừa nhận được thông báo miệng và văn bản dự thảo từ ủy ban nhân dân phường," Yến nhìn thẳng vào mắt An, giọng chùng xuống nhưng rõ ràng từng âm sắc, chất chứa nỗi nặng lòng dồn nén suốt nhiều tuần lễ. "Họ đang tiến hành rà soát lại toàn bộ quỹ đất công, các phòng sinh hoạt cộng đồng và thiết chế văn hóa trực thuộc nhà văn hóa khu phố. Gian phòng này vốn được ủy ban cấp cho thư viện duy trì hoạt động từ hơn mười năm trước, từ cái thời mà phong trào đọc sách tự học của khu phố còn sôi nổi. Nhưng theo báo cáo kiểm tra liên ngành quý vừa rồi, số lượt người dân đến mượn sách về nhà và sinh hoạt đọc tại chỗ gần như bằng không. Cả tháng có khi chưa đầy mười lượt người ký tên vào sổ theo dõi. Phường đã ra tối hậu thư: nếu trong vòng sáu tháng nữa, chúng ta không chứng minh được lượng người dân địa phương đến sử dụng không gian này một cách thực tế bằng số liệu sống, toàn bộ mặt bằng này sẽ bị thu hồi. Họ dự kiến sẽ chuyển đổi công năng của phòng này thành kho lưu trữ hồ sơ hành chính của phường hoặc cải tạo làm văn phòng cho thuê dịch vụ dân sinh để tăng nguồn thu ngân sách địa phương."

Một cơn ớn lạnh khẽ chạy dọc sống lưng An.

Sáu tháng.

Con số ấy đập vào màng nhĩ An, ngay lập tức kích hoạt chuỗi phản xạ nghề nghiệp quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của cô sau những năm tháng làm điều phối dự án tại Công ty Sao Bắc. Đó là một mốc thời gian hữu hạn, một rủi ro hiện hữu đe dọa sự tồn vong của một hạng mục vận hành, và trong thế giới quản trị dự án, một bài toán có thời hạn và mục tiêu đo lường rõ ràng luôn đòi hỏi một giải pháp can thiệp có cấu trúc, có lộ trình can thiệp quyết liệt ngay lập tức.

"Chỉ còn đúng sáu tháng thôi sao chị?" An hỏi, lồng ngực hơi thắt lại khi nhìn quanh những dãy giá sách im lìm phủ đầy bụi xám. "Nếu mất không gian này, khu dân cư quanh đây sẽ chẳng còn một nơi nào miễn phí để người ta có thể ngồi lại đọc một cuốn sách, tra cứu tài liệu hay cho con em họ một chỗ ngồi học yên tĩnh nữa."

"Đúng vậy," Yến khẽ gật đầu, ánh mắt trĩu nặng nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi con hẻm nhỏ bắt đầu tấp nập xe cộ của những người tan ca sớm. "Nhiều người ở ủy ban nghĩ rằng thời buổi này ai cũng có điện thoại thông minh, nhà nào cũng có mạng internet cáp quang thì cần gì đến thư viện giấy nữa. Họ bảo thư viện phường là một mô hình lỗi thời, lãng phí tài nguyên công. Nhưng với những người lao động nghèo, những người bán hàng rong, những đứa trẻ xóm trọ ven kênh phía sau xưởng dệt, đây là chiếc phao cứu sinh duy nhất để họ tiếp cận với tri thức, với sách vở mà không phải tốn tiền mua một ly nước ba mươi, bốn mươi ngàn ở các quán cà phê máy lạnh ngoài phố. Chị đã cố gắng gom góp sách cũ, tự bỏ tiền túi mua thêm báo ngày, quét dọn, duy trì mở cửa suốt ba năm qua kể từ ngày chị về nhận công tác ở phường. Nhưng một mình chị không thể xoay xở nổi khi các chỉ tiêu hành chính ngày càng siết chặt, mà người dân thì dường như ngày càng xa cách với căn phòng này."

Thói quen quản trị mục tiêu và bản năng sắp xếp trật tự bùng lên mạnh mẽ trong tâm trí An. Thay vì cảm thấy nao núng hay tuyệt vọng trước nguy cơ đóng cửa, cô lại thấy một luồng năng lượng quen thuộc xốc dậy trong lồng ngực—cảm giác thôi thúc phải đối mặt với một bài toán khó, bóc tách vấn đề và giải quyết nó bằng các quy trình rõ ràng, mạch lạc. An lập tức kéo khóa ba lô vải, lấy ra cuốn sổ tay bìa da màu nâu sẫm quen thuộc cùng cây bút mực đen ngòi kim loại sắc sảo.

Cô lật giở một trang giấy trắng tinh, miết phẳng nếp gấp rồi dùng bút kẻ hai đường thẳng tắp, chia trang giấy làm ba cột rành mạch theo thói quen lập kế hoạch tác chiến: *Mục tiêu trọng tâm*, *Chuỗi hành động (Action Items)*, và *Chỉ số đo lường (KPIs)*. Đầu ngòi bút lướt nhanh trên mặt giấy mịn, phát ra những tiếng sột soạt dứt khoát.

"Chị Yến, sáu tháng là khoảng thời gian vừa đủ cho hai quý hoạt động nếu chúng ta vận hành theo mô hình nước rút linh hoạt," An vừa nói vừa nhanh tay vẽ những ô vuông quy trình và các mũi tên liên kết logic. "Chúng ta không thể thụ động ngồi đây chờ đợi và trông chờ vào việc người dân tự nhiên bước vào mượn những cuốn sách cũ kỹ này được. Tâm lý hành vi của người dùng hiện đại đã thay đổi hoàn toàn. Muốn kéo người đến, thư viện bắt buộc phải có 'nội dung mồi' mang tính thời sự, cấp thiết và đáp ứng đúng nhu cầu phát triển bản thân. Em nghĩ chúng ta hoàn toàn có thể tái định vị Thư viện Bình Minh không chỉ là một kho chứa sách truyền thống, mà phải nâng cấp nó thành một Trung tâm Phát triển Năng lực Cộng đồng."

Yến im lặng lắng nghe, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên bàn, ánh mắt bình thản nhưng chăm chú quan sát từng nét bút sắc lẹm và những sơ đồ khối đang mọc lên tua tủa dưới tay An.

"Em đề xuất ba mũi nhọn chiến lược cụ thể để tạo ra sự đột phá ngay trong tháng đầu tiên," An tiếp tục, giọng nói mang âm hưởng đĩnh đạc, trôi chảy và đầy sức thuyết phục của những buổi thuyết trình chiến lược mà cô từng thực hiện tại phòng họp của Sao Bắc. "Thứ nhất, một chuỗi hội thảo kỹ năng số vào mỗi sáng thứ Bảy. Chúng ta sẽ hướng dẫn cư dân cách sử dụng các ứng dụng quản lý tài chính cá nhân trên điện thoại, cách tận dụng các công cụ văn phòng đám mây như Google Drive, Notion để quản lý công việc gia đình và kinh doanh nhỏ. Thứ hai, một Câu lạc bộ Sách Quản trị vào chiều Chủ nhật, tập trung chọn đọc và thảo luận các tác phẩm kinh điển về tư duy tinh gọn, phương pháp 5S, tối ưu hóa năng suất và làm chủ thời gian. Thứ ba, các lớp học năng suất buổi tối từ bảy giờ đến tám giờ ba mươi, dành cho những người đi làm muốn học thêm về quản lý dự án cá nhân hoặc xây dựng thương hiệu số để gia tăng thu nhập. Nếu chúng ta truyền thông bài bản trên các hội nhóm cộng đồng cư dân mạng xã hội của phường, đồng thời thiết kế và in ấn các áp phích chuẩn nhận diện thương hiệu dán ở bảng tin các tổ dân phố, em tin chắc chỉ trong vòng hai tháng, lượng người check-in và tham gia sinh hoạt thực tế sẽ tăng vọt. Khi đó, chúng ta sẽ có đầy đủ dữ liệu người dùng, biểu đồ tăng trưởng và hình ảnh hoạt động sống động để làm báo cáo phản biện gửi lên ủy ban phường."

An ngẩng lên, hai mắt ánh lên vẻ tự tin rạng rỡ. Bản kế hoạch hiện ra trên trang giấy kẻ ô thật hoàn hảo: từng giai đoạn được phân bổ hợp lý, các đầu việc có tính liên kết chặt chẽ, giải quyết trúng vào điểm nghẽn thiếu hụt lưu lượng người dùng, và quan trọng nhất, nó áp dụng nhuần nhuyễn những nguyên lý tối ưu hóa năng suất mà cô vừa nghiên cứu và đúc kết từ thực tiễn công việc.

Thế nhưng, Đỗ Hải Yến không hề tỏ ra hào hứng hay ngạc nhiên như An kỳ vọng.

Người phụ trách thư viện chỉ lặng lẽ cúi nhìn bản phác thảo với những vòng tròn, mũi tên chỉ số và các thuật ngữ tiếng Anh chuyên ngành đan xen dày đặc. Chị không vội ngắt lời, chỉ khẽ nâng chiếc cốc sứ mẻ miệng lên nhấp một ngụm trà sen đã nguội ngắt. Khóe môi chị khẽ nở một nụ cười điềm tĩnh nhưng kiên quyết, rồi nhẹ nhàng lắc đầu:

"Bản đề xuất của em rất đẹp, An à. Rất bài bản, rất logic và chuyên nghiệp. Nó giống hệt những bản báo cáo chiến lược mà các chuyên gia tư vấn quản trị thường mang đến trình bày trong các hội nghị chuyển đổi số hay các diễn đàn khởi nghiệp trên quận."

An hơi khựng lại, nụ cười trên môi thoáng đông cứng:

"Ý chị là... nó không khả thi ở mặt nào ạ? Về kinh phí hay nhân sự đứng lớp? Phần kỹ năng số và công cụ năng suất em hoàn toàn có thể tự đứng lớp chia sẻ miễn phí..."

"Nó không chỉ không khả thi, mà nó còn là con đường nhanh nhất dẫn dự án này đến chỗ chết yểu," Yến đặt cốc trà xuống bàn, tiếng đáy gốm va vào mặt gỗ lim khô khốc vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch. Giọng nói của chị vẫn mềm mại, từ tốn nhưng lại mang một sức nặng không thể chối cãi. "Em đang phạm phải một sai lầm mà rất nhiều người trẻ làm việc văn phòng, sống trong môi trường doanh nghiệp tiện nghi như em mắc phải: áp đặt tư duy bàn giấy của tầng lớp thị thành có điều kiện vào đời sống thực tế của một khu dân cư lao động nghèo."

Mặt An bỗng chốc nóng bừng. Cảm giác bị dội một gáo nước lạnh bất ngờ khiến cô ngơ ngác, những ngón tay đang cầm chặt cây bút kim loại bất giác siết lại đến trắng bệch các đầu ngón.

"Chị hỏi thật em nhé," Yến giơ tay chỉ ra ngoài khung cửa chớp tróc sơn, hướng thẳng về phía con hẻm ngoằn ngoèo, ẩm thấp đối diện cổng nhà văn hóa. "Em có biết những con người đang sinh sống quanh bán kính năm trăm mét của cái nhà văn hóa này là ai không? Em có biết một ngày bình thường của họ bắt đầu từ mấy giờ và kết thúc thế nào không? Họ là hàng trăm cô chú công nhân may của xưởng dệt Thành Đạt phía sau kênh, làm việc theo ca kíp xoay vòng mười hai tiếng từ sáng sớm tinh mơ đến tối mịt mù. Họ là những người chạy xe ôm công nghệ phơi mặt ngoài đường cả ngày kiếm từng cuốc xe mười lăm ngàn, là những người phụ nữ đẩy xe bán bún riêu, hủ tiếu gõ ngoài ngã tư, và những đứa trẻ con em gia đình lao động nhập cư đang theo học lớp phổ cập ban đêm ở trường bổ túc văn hóa. Em định mở lớp học năng suất buổi tối cho ai nghe, khi bảy giờ tối là lúc các cô công nhân may vừa rời khỏi xưởng, mồ hôi ướt đẫm áo, chân tay rã rời chỉ muốn ngả lưng xuống tấm chiếu manh trong phòng trọ chật chội? Em định mời ai bước vào Câu lạc bộ Sách Quản trị để ngồi bàn về 'tư duy tinh gọn' với 'xây dựng thương hiệu số', khi nỗi lo lớn nhất mỗi ngày của họ là tiền nhà trọ tháng này có tăng không, tiền thuốc thang cho cha mẹ già và tiền mua sữa cho con nhỏ còn thiếu bao nhiêu?"

Từng câu hỏi của Yến rơi vào khoảng không gian của phòng đọc như những nhát búa gõ thẳng vào sự ngây thơ đầy tính tự mãn của An.

Bản kế hoạch hoành tráng với những thuật ngữ hào nhoáng trên trang sổ bìa da bỗng chốc trở nên trơ trọi, lạc lõng và xa lạ một cách kệch cỡm. An nhìn xuống những ô vuông *KPIs* và *Chuỗi hành động* mà mình vừa vẽ ra bằng tất cả sự tự tin, bỗng thấy chúng nhẹ bẫng và vô nghĩa trước sức nặng trần trụi của đời sống mưu sinh ngoài cánh cổng kia.

"Một bản đồ dù có vẽ chi tiết, tinh xảo đến đâu thì nó cũng không phải là vùng đất thực tế," Yến nói tiếp, ánh mắt nhìn An đã dịu lại, chan chứa sự thấu hiểu và bao dung hơn là trách cứ. "Năm đầu tiên khi nhận quyết định về quản lý thư viện này, chị cũng hệt như em bây giờ. Chị tốt nghiệp đại học ngành văn hóa, tràn trề lý tưởng cống hiến. Chị cũng ôm một tập đề án dày cộp, cũng xin tài trợ mở câu lạc bộ đọc sách danh tác thế giới, mời cả những người bạn làm diễn giả khởi nghiệp về nói chuyện chuyên đề. Em có biết kết quả là gì không? Ngày khai mạc có ba mươi người đến, nhưng họ đến vì tò mò, vì tổ dân phố vận động và vì có tiệc trà bánh miễn phí. Sang tuần thứ hai còn được năm người. Đến tuần thứ tư, không còn một bóng người nào ngoài một mình chị ngồi khóc nức nở giữa căn phòng trống hoác này. Người tổ chức thì kiệt sức vì ảo tưởng và thất vọng, còn người dân thì xa lánh vì họ cảm thấy cái không gian này quá xa xỉ, quá kiểu cách và không thuộc về cuộc sống của họ. Nó biến thành một sân khấu trình diễn lòng tốt một chiều của những người có học thức đối với những người mà họ nghĩ là cần được khai sáng."

An cúi đầu, hai tai nóng ran. Cô nhớ lại những lời thầy Nam từng chia sẻ trong buổi học ở Cầu Nối về việc ngôn ngữ phải gắn liền với hành động sống, nhớ lại lời nhắc nhở sắc lạnh của Duy về việc dữ liệu phải phản ánh đúng thực tế khách quan chứ không phải mong muốn chủ quan của người làm kế hoạch. Cô đã quá vội vã. Cô vừa mới học cách thoát khỏi cái bẫy tôn vinh sự bận rộn giả tạo ở văn phòng Sao Bắc, nhưng lại lập tức trượt chân vào một cái bẫy khác tinh vi hơn: cái bẫy của một người dẫn dắt muốn dùng những công thức và mô hình quản trị xơ cứng của mình để cứu rỗi một thực tế mà mình chưa hề bỏ công tìm hiểu.

"Em xin lỗi chị..." An khẽ nói, giọng cô nghẹn lại trong cổ họng. "Em đã quá chủ quan và ngạo mạn. Em cứ nghĩ những gì mang lại hiệu quả cho bản thân em, cho công việc văn phòng của em thì cũng sẽ tự nhiên có ích cho tất cả mọi người."

"Không sao đâu, nhận ra điều đó ngay từ ngày đầu tiên là một điều vô cùng may mắn," Yến mỉm cười, vẻ nghiêm khắc ban nãy biến mất hoàn toàn. Chị đẩy tập hồ sơ trên bàn sang một bên rồi đứng dậy. Chị bước tới chiếc tủ sắt ở góc phòng, lấy ra một tập giấy A4 in sẵn được kẹp ngay ngắn trên một chiếc bảng nhựa màu xanh có móc kẹp kim loại đã gỉ sét. Chị rút thêm một cây bút bi thông thường cài vào mép bảng rồi đưa cho An. "Nếu em thực sự muốn giúp thư viện này tồn tại qua hạn chót sáu tháng, bài tập thực địa đầu tiên của em chiều nay là: cất cuốn sổ da và mớ lý thuyết quản trị bàn giấy của em vào ba lô. Cầm lấy chiếc bảng kẹp này, bước ra ngoài kia. Em có thể đi dọc con hẻm công nhân, ra quán nước chè đầu ngõ, hoặc ra chiếc ghế đá dưới gốc bàng ngoài sân kia. Nói chuyện trực tiếp với những con người bằng xương bằng thịt đang sống và làm việc quanh đây. Đừng ngồi trong phòng máy lạnh hay phòng đọc yên tĩnh này để suy đoán xem họ cần gì. Hãy lắng nghe xem cuộc sống thường nhật của họ đang bị tắc nghẽn ở đâu, họ đang vật lộn với những điều gì, và thư viện này có thể làm được một việc nhỏ xíu nào để cuộc sống đó bớt chật vật đi một chút hay không."

An đón lấy chiếc bảng kẹp nhựa thô sơ từ tay Yến. Cô nhìn xuống tờ giấy A4. Trên đó không hề có các khái niệm về năng suất, không có chỉ số chuyển đổi, mà chỉ có vài câu hỏi ngắn được viết bằng thứ tiếng Việt mộc mạc, giản dị đến tận cùng: *Bác/anh/chị thường có chút thời gian rảnh vào khung giờ nào trong tuần?*, *Khó khăn lớn nhất của bác/anh/chị khi phải sử dụng điện thoại thông minh hoặc giải quyết các thủ tục giấy tờ là gì?*, *Nếu bước chân vào thư viện, bác/anh/chị mong muốn được hỗ trợ điều gì nhất?*.

"Đi đi em," Yến khẽ vỗ vai An, ánh mắt đầy khích lệ. "Thực tế cuộc sống không nằm trên trang giấy của em, nó đang nằm ở ngoài bậc thềm kia kìa."

An hít một hơi thật sâu, nén lại sự bối rối trong lòng. Cô gật đầu thật mạnh, cài cây bút bi vào mép bảng nhựa rồi cẩn thận cất cuốn sổ tay bìa da vào sâu trong ba lô. Bước chân cô rời khỏi ngưỡng cửa phòng đọc, bước xuống bậc thềm xi măng nứt nẻ.

Ánh nắng chiều muộn đã bắt đầu ngả sang màu vàng vọt như mật ong cũ. Hơi nóng tích tụ từ mặt sân bê tông bốc lên hầm hập, quấn lấy từng bước chân. Tiếng ve sầu râm ran trên vòm lá bàng cổ thụ hòa cùng tiếng còi xe máy, tiếng rao hàng rong của một người bán bánh bao hấp tạo nên một thứ âm thanh hỗn tạp, sống động của cuộc sống thường nhật.

Dưới bóng râm rộng lớn của cây bàng già, trên chiếc ghế đá xi măng đã mẻ mất một góc lớn, một cậu thiếu niên đang ngồi co ro, hai chân gác lên thanh ngang bên dưới, lưng còng rạp xuống. Cậu mặc chiếc áo đồng phục trường trung học phổ thông đã sờn cổ, cổ áo ngả màu ố vàng vì mồ hôi, hai mắt dán chặt vào màn hình một chiếc điện thoại nhỏ bé.

Cách đó chừng mươi bước chân, trên chiếc ghế đá đối diện cổng phụ của xưởng may, một người phụ nữ trung niên mặc bộ quần áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân đã bạc phếch hai bên vai đang ngồi bần thần. Chiếc nón lá rách vành được bà đặt tạm bên cạnh. Bà đang lúng túng dùng ngón tay cái thô ráp, nứt nẻ quẹt lia lịa lên mặt kính điện thoại với vẻ mặt vô cùng căng thẳng, hai hàng lông mày nhíu chặt lại, miệng lẩm bẩm những lời bực bội không rõ tiếng.

An đứng chôn chân giữa khoảng sân mất vài giây. Sự ngượng ngùng, e ngại và nỗi sợ bị người lạ từ chối thoáng dâng lên trong lồng ngực. Ở văn phòng Sao Bắc, cô quen giao tiếp qua email, qua các cuộc họp có chương trình nghị sự rõ ràng và kịch bản chuẩn bị trước. Nhưng lúc này, cô tự nhắc nhở bản thân: đây là một cuộc tiếp xúc thực địa, không kịch bản, không quyền lực vị trí, chỉ có sự lắng nghe thuần túy.

An hít một hơi thật sâu, quyết định bước về phía người phụ nữ mặc áo công nhân may trước.

"Dạ... cháu chào bác ạ," An cất tiếng chào, cố gắng giữ cho âm lượng vừa phải, giọng điệu nhẹ nhàng và chân thành nhất có thể.

Người phụ nữ giật mình ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt đầy vẻ giật thọt và phòng thủ. Bà trạc ngoài năm mươi tuổi, làn da sạm đen vì nắng gió, khóe mắt hằn sâu những vết chân chim chằng chịt của sự vất vả lâu năm. Đôi bàn tay của bà chai sần, những đầu ngón tay lấm tấm những vết sẹo nhỏ li ti—dấu tích quen thuộc của những lần bị kim máy may công nghiệp đâm trúng. Bà nhìn chiếc bảng kẹp tài liệu và cây bút trên tay An với vẻ nghi ngại lộ rõ:

"Gì thế cô gái? Tôi không có tiền mua bảo hiểm nhân thọ hay đăng ký làm thẻ tín dụng, sim số gì đâu nhé. Đừng có mời mọc mất công."

"Dạ không phải đâu bác ơi," An vội vàng xua xua tay, nở một nụ cười thật tươi để xua tan bầu không khí căng thẳng. "Cháu là tình nguyện viên mới đến hỗ trợ Thư viện Bình Minh của phường bên cạnh đây thôi ạ. Chúng cháu đang đi hỏi thăm xem bà con quanh khu phố mình đợt này có gặp khó khăn gì về việc tra cứu thông tin hay sử dụng giấy tờ không, để sắp tới thư viện mở thêm mấy buổi hướng dẫn miễn phí phục vụ bà con. Cháu thấy bác đang bấm điện thoại có vẻ vất vả quá, không biết bác có cần cháu phụ giúp thao tác gì không ạ?"

Nghe nhắc đến chiếc điện thoại, vẻ cảnh giác trên gương mặt người phụ nữ dịu hẳn đi. Thay vào đó, một nỗi bối rối và mệt mỏi trĩu nặng hiện rõ trong từng cử chỉ. Bà thở dài thườn thượt, chìa chiếc điện thoại thông minh giá rẻ có màn hình xước dăm chằng chịt ra trước mặt An như vớ được một chiếc cọc cứu sinh:

"Tôi là Liên, làm công nhân may bên xưởng dệt Thành Đạt ngay phía sau này. Khổ quá cô ơi, chết mất thôi! Tháng này xưởng họ đổi sang trả lương qua cái ứng dụng ngân hàng mới gì đấy trên điện thoại. Rồi cả cái bảng kê chi tiết tiền lương cơ bản, tiền tăng ca kíp ba, tiền phụ cấp độc hại, họ cũng bắt công nhân phải tự đăng nhập vào hệ thống để tải về xem chứ không in phiếu lương bằng giấy phát tận tay như mọi khi nữa. Con bé cùng chuyền may nó chỉ cho tôi từ trưa đến giờ, mà tôi bấm mãi nó cứ báo lỗi sai mật khẩu với tài khoản không tồn tại. Mắt tôi dạo này kèm nhem quá, chữ trên cái màn hình này thì bé tí như con kiến, bấm trật một phím là nó nhảy đi đằng nào mất. Lương tháng này không biết người ta có tính thiếu mấy chục giờ tăng ca của tôi không, mà hỏi mấy đứa quản lý trẻ ở xưởng thì đứa nào cũng bận rộn hối hả, chẳng ai rảnh rỗi mà ngồi chỉ cho bà già này từng tí một."

Bà Hoàng Thị Liên vừa nói vừa lắc đầu ngao ngán, giọng nói nghẹn ngào vì ấm ức và bất lực.

An nhìn vào giao diện ứng dụng trên màn hình điện thoại của bà Liên. Đó là một cổng thông tin nhân sự nội bộ được tích hợp với một ngân hàng thương mại, thiết kế theo tiêu chuẩn công nghệ mới với tầng tầng lớp lớp các bước xác thực bảo mật: tên đăng nhập là mã số nhân viên dài mười hai ký tự, mật khẩu mặc định bắt buộc phải đổi ngay lần đầu bao gồm chữ hoa, chữ thường, số và ký tự đặc biệt, kèm theo mã OTP gửi về tin nhắn. Các nút bấm xác nhận được thu nhỏ lại để vừa vặn với kích thước màn hình rẻ tiền có độ phân giải thấp.

Đối với một người làm việc văn phòng hằng ngày như An, việc đổi mật khẩu hay tải một tệp PDF bảng lương chỉ mất chưa đầy ba mươi giây thao tác vô thức. Nhưng đối với một người phụ nữ làm nghề may công nghiệp đã ngoài năm mươi tuổi, sau mười hai tiếng dán mắt vào đường kim mũi chỉ dưới ánh đèn huỳnh quang chói gắt, đôi bàn tay đã chai cứng và quen với việc cầm kéo, cầm vải, thì cái giao diện bóng bẩy kia thực sự là một bức tường công nghệ gai góc, lạnh lùng và tàn nhẫn.

"Bác Liên đừng lo, để cháu xem giúp bác nhé," An ngồi xuống một mép chiếc ghế đá bên cạnh bà Liên, giữ một khoảng cách vừa đủ lịch sự.

Bằng tất cả sự kiên nhẫn, An cầm lấy chiếc máy, chỉ rõ cho bà Liên từng bước:

"Bác nhìn này, chỗ này là nút 'Quên mật khẩu'. Cháu bấm vào đây nhé. Bây giờ hệ thống sẽ gửi một dãy sáu số về mục tin nhắn của bác. Bác mở tin nhắn ra xem sáu số đó là gì nào... Đúng rồi, 4-8-2-1-0-9. Bây giờ mình nhập sáu số này vào đây. Tiếp theo, mình đặt một mật khẩu mới thật dễ nhớ nhé. Bác lấy ngày tháng năm sinh của con trai bác đi, thêm một chữ in hoa ở đầu là được..."

An không làm thay toàn bộ. Cô hướng dẫn từng thao tác rồi để chính ngón tay thô ráp của bà Liên tự bấm vào từng phím số trên màn hình. Khi dòng chữ "Đăng nhập thành công" màu xanh lá cây hiện lên, và tệp tài liệu PDF bảng lương tháng hiển thị rõ ràng từng mục: lương cơ bản, tiền chuyên cần, tiền phụ cấp độc hại và số tiền thực lĩnh, gương mặt đầy nếp nhăn của bà Liên giãn ra trông thấy. Bà thở phào một hơi dài như vừa trút được một gánh nặng ngàn cân đè trên ngực.

"May quá! Trời đất ơi, cảm ơn cô nhiều lắm nhé!" Bà Liên mừng rỡ reo lên, hai bàn tay run run áp chặt vào chiếc điện thoại. "Tôi lo ngay ngáy từ trưa đến giờ, ăn cơm hộp nuốt không trôi, cứ sợ người ta tính thiếu mất mấy cuộn vải may thêm ca ba thì tháng này không đủ tiền gửi về quê cho mẹ già mua thuốc."

Nhận thấy sự tin tưởng đã được thiết lập, An nhẹ nhàng rút tờ phiếu khảo sát in sẵn mà chị Yến giao cho, đặt chiếc bút bi lên trên rồi chìa về phía bà Liên:

"Bác Liên ơi, cháu có thể xin bác vài phút để điền giúp cháu mấy câu hỏi ngắn trên tờ giấy này được không ạ? Chúng cháu đang gom ý kiến của bà con quanh đây để sắp tới thư viện mở các buổi hướng dẫn sử dụng điện thoại, tra cứu giấy tờ miễn phí vào cuối tuần."

Bà Liên đón lấy chiếc bút bi từ tay An. Nhưng ngay khoảnh khắc ánh mắt bà chạm vào tờ giấy A4 đầy ắp những dòng chữ in nhỏ li ti, những ô vuông trắc nghiệm ngay ngắn và những khoảng trống kẻ dòng, toàn bộ vẻ hân hoan vừa nở trên gương mặt bà bỗng chốc vụt tắt. Bàn tay thô ráp đang cầm bút của bà khựng lại giữa không trung, rồi khẽ run rẩy.

Một vẻ lúng túng, căng thẳng tột cùng tràn ngập trong ánh mắt của người công nhân may. Bà vội vàng đặt chiếc bút bi xuống mặt ghế đá, đẩy tờ giấy A4 ra xa như thể chạm phải một vật nóng. Bà lùi người lại một chút, hai vai so lại, ngập ngừng nói lí nhí:

"Ấy... chết thật cô ơi, tôi... tôi lại để quên cái kính lão ở phòng trọ mất rồi. Chữ trên giấy này bé quá, mắt mũi kèm nhem thế này tôi chịu thôi, chẳng nhìn thấy mô tê gì đâu. Thôi... cô thông cảm cho tôi nhé, tôi phải vào xưởng chuẩn bị ca tối đây..."

Bà Liên nói ngập ngừng, đứt quãng, nhưng ánh mắt của bà lại hoàn toàn không có cử chỉ lướt qua mặt giấy để tìm một cự ly nhìn rõ như người bị viễn thị thông thường. Ánh mắt ấy cụp hẳn xuống đất, cố tình lảng tránh bề mặt tờ giấy trắng in chữ. Đôi bàn tay gầy gò, chai sạn của bà bối rối vò chặt mép chiếc nón lá rách vành đến mức các nan tre gãy răng rắc.

An lặng người đi. Đứng ở cự ly chỉ cách một gang tay, nhìn vào đôi bàn tay đang run rẩy vò nón lá và ánh mắt đầy vẻ mặc cảm ấy, An đột ngột nhận ra sự thật đau xót ẩn giấu đằng sau cái cớ "để quên kính lão": bà Liên không phải chỉ đơn thuần là mắt kém. Bà đang sợ hãi những con chữ in hành chính.

Rào cản đọc viết, hoặc khả năng nhận diện mặt chữ rất chậm chạp sau mấy chục năm ròng rã chỉ biết lao động chân tay cật lực nơi góc xưởng may, đã dựng lên trong lòng người phụ nữ này một bức tường tự ti vô hình nhưng kiên cố. Nó khiến một con người từng trải qua bao giông bão cuộc đời bỗng chốc trở nên co rúm, sợ hãi trước một tờ phiếu khảo sát hành chính thông thường.

Cổ họng An nghẹn đắng lại. Cô cảm thấy một sự hổ thẹn sâu sắc dâng lên trong lòng. Suýt chút nữa, cô đã dùng chính tờ giấy khảo sát mang danh nghĩa "giúp đỡ" này để làm tổn thương lòng tự trọng của một con người.

"Dạ không sao đâu bác Liên," An vội vàng thu tờ giấy lại, kẹp nhẹ nhàng ra phía sau chiếc bảng nhựa để giấu đi những dòng chữ in. Giọng cô hạ xuống thật mềm mại, ấm áp và gần gũi. "Bác không cần phải đọc hay viết gì đâu ạ. Mấy cái này cháu chỉ hỏi miệng thôi, bác cháu mình trò chuyện với nhau mấy câu như lúc nãy là được rồi ạ."

Nghe An nói vậy, vai bà Liên mới dần thả lỏng ra.

Qua một cuộc trò chuyện ngắn ngủi, mộc mạc không biên bản, An ghi nhận được những mẩu thông tin thực tế đến nhức nhối: bà Liên làm việc theo chế độ xoay ca liên tục của xưởng dệt, một tuần ca sáng từ sáu giờ đến mười bốn giờ, tuần tiếp theo lại đổi sang ca chiều từ mười bốn giờ đến hai mươi hai giờ đêm. Quỹ thời gian rảnh rỗi hiếm hoi duy nhất trong tuần của bà là khoảng một tiếng đồng hồ vào chiều thứ Bảy trước khi bước vào ca làm bù.

Và điều duy nhất mà một người như bà thực sự khao khát được học không phải là "năng suất", không phải là "quản trị thời gian" hay "công cụ đám mây", mà chỉ là những điều hết sức căn bản: cách tự đăng nhập vào xem bảng lương mỗi tháng mà không phải đi van nài người khác, cách kiểm tra xem xưởng may có đóng đủ tiền bảo hiểm xã hội trên ứng dụng VssID hay không, và cách gọi một cuộc gọi video có hình ảnh để nhìn thấy mặt đứa con trai duy nhất đang làm thợ hồ ở Bình Dương mà không bị tắt phụt màn hình vì vô tình ấn nhầm nút ngắt mạng.

"Bác cảm ơn cô bé nhé," bà Liên đứng dậy, đội chiếc nón lá lên đầu, nắm lấy bàn tay mềm mại của An lắc mạnh một cái đầy vẻ biết ơn trước khi rảo bước nhanh về phía cổng xưởng dệt. "Nếu cuối tuần nào thư viện có người ngồi đó chỉ cho mấy cái bấm bấm trên điện thoại này, tôi nhất định sẽ ghé qua."

Nhìn theo bóng lưng còng còng của người phụ nữ công nhân khuất dần sau cánh cổng sắt gỉ của nhà máy, An mang theo một cảm giác trĩu nặng trong lồng ngực bước sang góc sân bên kia.

Cậu học sinh lúc nãy vẫn đang ngồi bất động trên chiếc ghế đá xi măng sứt góc.

Đến gần hơn, An mới thấy rõ cậu thiếu niên này có thân hình gầy gò, khuôn mặt xương xẩu nhưng đôi mắt đen láy toát lên vẻ lanh lợi. Cậu mặc chiếc áo đồng phục học sinh đã ngả màu ố ở nách áo, bên cạnh là chiếc cặp sách sờn rách hai bên quai, căng phồng những sách vở và tài liệu phôtô.

Chiếc điện thoại cậu đang cầm trên tay là một mẫu máy đời rất cũ, vỏ nhựa phía sau đã trầy xước loang lổ. Đặc biệt, góc trên bên phải của màn hình cảm ứng đã vỡ vụn thành những vệt nứt chằng chịt như mạng nhện, được dán đè lên bằng nhiều lớp băng dính trong suốt để tránh những mảnh thủy tinh sắc nhọn đâm vào ngón tay khi thao tác.

"Chào em," An lên tiếng, bước lại gần. "Chị có thể ngồi nhờ ở đầu ghế bên này một lát được không?"

Cậu học sinh giật mình ngẩng lên. Đôi mắt cậu ánh lên vẻ đề phòng sắc lạnh của lứa tuổi mới lớn đang phải đối mặt với nhiều áp lực cuộc sống. Cậu liếc nhanh nhìn chiếc bảng kẹp tài liệu trên tay An, rồi nói với giọng đanh lại, có phần gắt gỏng:

"Em không có tiền tham gia mấy khóa học tiếng Anh hay câu lạc bộ kỹ năng sống gì đâu chị ơi. Em cũng không rảnh để đi làm tình nguyện viên phát tờ rơi đâu. Em bận lắm."

"Chị không đến để bán khóa học hay mời em tham gia cái gì tốn tiền đâu," An mỉm cười điềm đạm, ngồi xuống mép chiếc ghế đá đối diện để tạo một góc nhìn cởi mở. "Chị là tình nguyện viên của Thư viện Bình Minh bên cạnh. Chị thấy em ngồi đây từ đầu giờ chiều đến giờ, nhìn chăm chú vào điện thoại quá. Em đang học bài hả?"

Cậu học sinh ngập ngừng một lát. Ánh mắt quan sát của cậu dừng lại ở vẻ mặt chân thành, không có chút gì là giả tạo hay thương hại của An, khiến sự phòng thủ trong cậu dịu bớt. Cậu khẽ thở hắt ra một hơi dài, đưa mu bàn tay áo quẹt vệt mồ hôi đang rịn ra trên trán:

"Dạ... em tên Bùi Gia Huy, học lớp 12 bên trường cấp ba Trần Hưng Đạo. Em đang tranh thủ ngồi đây tải mấy cái video bài giảng lập trình ngôn ngữ Python miễn phí trên YouTube về máy để tối về phòng trọ xem. Mạng wifi ở khu nhà trọ của em yếu lắm, cả xóm dùng chung một cục phát nên tối đến là nghẽn cứng, không load nổi một trang web. Em phải chạy sang đây ngồi ké sóng wifi của nhà văn hóa phường, nhưng sóng ở đây cũng chập chờn, cứ tải được chừng bốn, năm mươi phần trăm là đứt kết nối, lại phải bấm tải lại từ đầu."

"Em đang tự học lập trình à?" An ngạc nhiên hỏi, ánh mắt cô không giấu nổi sự thán phục.

"Vâng, năm nay em thi đại học, em muốn thi vào ngành công nghệ thông tin," mắt Huy chợt bừng sáng lên một niềm đam mê mãnh liệt khi nhắc đến ước mơ của mình. Nhưng rồi, ánh sáng ấy nhanh chóng lụi tàn, nhường chỗ cho một nét cười chua chát: "Nhưng hoàn cảnh nhà em khó khăn, mẹ em làm nghề phụ hồ, làm gì có tiền mà mua máy tính xách tay cho em. Cả nhà có mỗi chiếc điện thoại thông minh cũ này của mẹ, đợt vừa rồi mẹ đổi sang máy cục gạch để nhường lại chiếc này cho em học. Mấy khóa học lập trình trên mạng người ta toàn dạy trên máy tính, giao diện phần mềm chuyên nghiệp, gõ phím cơ mượt mà. Còn em thì không có máy, em phải mày mò cài mấy cái ứng dụng giả lập môi trường lập trình để gõ mã lệnh bằng bàn phím ảo ngay trên cái màn hình vỡ nát này. Chị nhìn này, gõ được một đoạn mã ngắn mất cả nửa tiếng đồng hồ, mà màn hình nứt nên cảm ứng hay bị loạn, sai một dấu chấm phẩy là chương trình báo lỗi đỏ lòm, máy đơ cứng ngắc, lại phải tháo pin ra khởi động lại từ đầu."

Huy đưa chiếc điện thoại ra trước mặt An để chứng minh.

Màn hình cảm ứng nhảy loạn xạ vì những vết nứt sâu hoắm, góc pin ở thanh trạng thái đang báo đỏ rực chỉ còn vỏn vẹn tám phần trăm. Trên màn hình, những dòng lệnh Python phức tạp được hiển thị chen chúc, co cụm lại trong một khung cửa sổ chật hẹp, méo mó. Cậu học sinh cuối cấp đang cố gắng vươn tới một đỉnh cao tri thức công nghệ của thời đại số bằng một công cụ tàn tạ, rách nát, trong một không gian thiếu thốn đủ đường: từ một nguồn điện cắm sạc cho đến một đường truyền internet tối thiểu.

An nhìn đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ của Huy, rồi nhìn xuống những ngón tay gầy guộc đang cố bấm từng ký tự trên bàn phím ảo chật chội. Cậu thiếu niên này không hề thiếu ý chí vươn lên, không thiếu trí thông minh hay sự kiên trì. Nhưng thứ mà cậu hoàn toàn bất lực là một nền tảng vật chất tối thiểu nhất để việc tự học có thể diễn ra bình thường như bao đứa trẻ cùng trang lứa khác.

Một cảm giác xót xa dâng trào trong lồng ngực An, khiến cô phải mất vài giây mới lấy lại được giọng nói bình tĩnh:

"Huy này, nếu như Thư viện Bình Minh bên cạnh đây có một dàn máy tính cũ nhưng hoạt động tốt, kết nối mạng dây ổn định, và mở cửa vào các buổi chiều cuối tuần để các bạn học sinh như em có thể đến ngồi thực hành viết mã và tra cứu tài liệu miễn phí, em có đến không?"

Huy ngẩng phắt dậy, đôi mắt mở to hết cỡ nhìn An như không tin vào tai mình:

"Thật hả chị? Thư viện mà có máy tính cho dùng miễn phí thì em cắm chốt ở đây cả ngày thứ Bảy với Chủ nhật luôn ấy chứ! Em thèm được ngồi gõ bàn phím thật một lần cho ra hồn lắm rồi. Nhưng mà... ở thư viện này làm gì có máy tính nào đâu chị? Đợt trước em có ngó vào thử rồi, toàn là mấy giá sách cũ bụi bặm từ đời nào không à, quạt trần thì kêu cọt kẹt, lấy đâu ra máy móc hả chị?"

"Hiện tại thì chưa có, nhưng chị và chị Yến đang tìm cách," An nói khẽ nhưng dứt khoát. Cô lấy bút ghi lại họ tên và số điện thoại của Huy vào một góc nhỏ dưới tờ phiếu khảo sát. "Chị sẽ lưu lại thông tin của em. Cảm ơn em đã chia sẻ thật lòng với chị."

Gió chiều thổi mạnh qua tán cây bàng cổ thụ, làm rụng xuống những chiếc lá bàng khô giòn, lăn lóc trên mặt sân xi măng nứt nẻ.

An đứng một mình giữa khoảng sân vắng lặng của nhà văn hóa phường Bình Minh. Hoàng hôn buông xuống nhanh chóng, nhuộm cả không gian bằng một màu lam xám ảm đạm. Những bức tường vôi ố vàng, những ô cửa chớp mục nát tróc sơn, con hẻm lao động nghèo nàn phía trước đang bắt đầu mù mịt khói bếp than tổ ong và nồng nặc mùi nước thải cống rãnh.

Cô mở chiếc ba lô vải, lấy cuốn sổ tay bìa da màu nâu ra một lần nữa.

Dưới ánh đèn đường cao áp vàng vọt vừa mới bật sáng ngoài ngõ, những dòng chữ nắn nót, ngay ngắn mà cô đã vẽ ra cách đây hai tiếng đồng hồ hiện lên: *Chuỗi hội thảo kỹ năng số*, *Câu lạc bộ Sách Quản trị Tinh gọn*, *Lớp học năng suất buổi tối dành cho người đi làm*... Từng con chữ, từng mũi tên logic bỗng chốc trở thành một sự mỉa mai cay đắng.

Đó là những thứ thuộc về một thế giới hoàn toàn khác—thế giới của những tòa nhà văn phòng bọc kính máy lạnh chạy êm ru như Sao Bắc, nơi người ta uống những cốc cà phê hai mươi lăm, ba mươi ngàn một ly, bàn về chỉ số KPI, bàn về tối ưu hóa quy trình làm việc và làm việc từ xa trên những chiếc máy tính xách tay đời mới mỏng nhẹ.

Còn ở đây, ngay tại ngưỡng cửa Thư viện Bình Minh này, thực tế cuộc sống phũ phàng là: một người phụ nữ lớn tuổi không dám cầm bút điền vào một tờ giấy khảo sát vì mặc cảm không biết đọc chữ nhỏ; một người công nhân may xoay ca mười hai tiếng kiệt sức chỉ mong biết cách xem bảng lương điện tử; và một cậu học sinh nghèo ôm giấc mơ lập trình viên phải quỳ gối bắt ké từng vệt sóng wifi chập chờn trên một chiếc điện thoại vỡ nát màn hình.

Bản kế hoạch hào nhoáng ban đầu của cô hoàn toàn phá sản. Nó không chỉ thất bại về mặt kỹ thuật triển khai, mà nó còn là một sự vô tâm vô tình, một sự xúc phạm vô hình đối với hoàn cảnh sống và nỗi đau mưu sinh của những con người bằng xương bằng thịt nơi đây.

An khẽ khàng gập cuốn sổ da lại. Lần này, trong lòng cô không còn cảm giác bẽ bàng, xấu hổ hay thất vọng cay đắng như cái ngày cô bị Khánh Vân mắng xối xả trong phòng họp ở Sao Bắc nữa. Thay vào đó là một sự tỉnh táo sâu sắc, một cảm giác chân thực đến tận đáy lòng khi chạm vào sự thật trần trụi.

"Bản đồ không phải là vùng đất"—lời dạy của thầy Nam một lần nữa vang vọng trong tâm trí An, rõ ràng và vang dội hơn bao giờ hết. Một bản kế hoạch dù có vẽ bằng những nguyên lý quản trị tân tiến nhất cũng chỉ là một đống giấy vụn vô hồn nếu nó không bắt rễ từ chính mảnh đất gồ ghề, lam lũ của đời sống thực tế. Muốn vẽ nên một con đường thực sự có ích, cô buộc phải chấp nhận đi bằng chính đôi chân trần của mình trên mảnh đất ấy.

An quay người, bước từng bước chậm rãi nhưng chắc nịch trở lại phòng đọc.

Bên trong, ngọn đèn tuýp duy nhất treo giữa trần nhà tỏa ra thứ ánh sáng trắng xanh nhợt nhạt, khẽ chớp giật vài cái trước khi sáng hẳn. Đỗ Hải Yến vẫn đang ngồi đó, bên cạnh chiếc bàn thủ thư bằng gỗ lim cũ kỹ. Chị đang cẩn thận dùng một chiếc khăn ẩm lau sạch lớp bụi bám trên gáy những cuốn từ điển cũ.

Thấy tiếng bước chân của An dẫm lên nền gạch hoa, Yến dừng tay lại, ngẩng đầu lên. Nhìn thấy vẻ mặt trầm tĩnh, đôi mắt đã mất đi vẻ tự tin kiểu cách ban đầu nhưng lại ánh lên một sự kiên định sâu sắc, Yến khẽ mỉm cười, đón lấy chiếc bảng kẹp nhựa từ tay An:

"Em thấy thế nào rồi?"

An kéo ghế ngồi xuống đối diện Yến. Cô nhìn thẳng vào mắt người phụ trách thư viện, giọng nói trầm xuống nhưng từng lời nói ra đều vô cùng dứt khoát:

"Chị đã nói đúng hoàn toàn, chị Yến à. Tất cả những gì em vẽ ra trên sổ lúc nãy đều là ảo tưởng của một người làm việc bàn giấy quen ngồi phòng lạnh. Người dân ở khu phố này không cần những thứ đao to búa lớn, hoa mỹ ấy. Họ đang cần những giải pháp để tồn tại: một chỗ an toàn để hỏi cách sử dụng điện thoại mà không bị mắng mỏ hay coi thường, một chỗ có máy tính và mạng internet ổn định để con em họ học bài, và một không gian thân thiện không phán xét sự chậm chạp hay nghèo khó của họ."

Yến cúi nhìn những dòng ghi chép nguệch ngoạc bằng bút bi của An ở mặt sau tờ giấy—những ghi chú ngắn gọn về hoàn cảnh của bà Liên công nhân xưởng may và cậu học sinh Huy muốn học lập trình. Đôi mắt thanh tú của Yến ánh lên một niềm xúc động và vẻ hài lòng không giấu giếm:

"Em đã học được bài học quan trọng nhất của việc làm dự án cộng đồng rồi đấy, An à. Một dự án cộng đồng thực sự không bao giờ bắt đầu từ những gì chúng ta có thể dạy hay những gì chúng ta muốn phô diễn, mà nó phải bắt đầu từ chính những gì người dân thực sự cần và có khả năng tiếp nhận được."

"Nhưng thư viện hiện tại hoàn toàn không có máy tính," An nhìn quanh căn phòng tĩnh mịch, hai bàn tay siết chặt lại trên mặt bàn gỗ lim. "Kinh phí của chúng ta thì bằng không, và chúng ta chỉ còn đúng sáu tháng trước hạn chót của ủy ban. Nếu chúng ta chỉ ngồi đây chờ đợi phường phê duyệt kinh phí mua sắm hay đợi các nhà hảo tâm mang sách mới đến tặng, phòng sinh hoạt này sẽ bị thu hồi trước khi chúng ta kịp làm bất cứ điều gì có ý nghĩa."

Yến khẽ thở dài, ánh mắt lại nhuốm màu lo âu:

"Chị biết chứ. Đó chính là lý do khiến chị bế tắc và mất ngủ suốt mấy tuần qua."

An hướng ánh mắt ra ngoài khung cửa sổ, nơi ánh đèn đường vàng vọt hắt lên những tán lá bàng già. Trong đầu cô, những nguyên lý về thử nghiệm tinh gọn, về việc tạo ra một vùng đệm an toàn để kiểm chứng giả định mà cô từng học được khi xử lý khủng hoảng ở Sao Bắc và khi thử nghiệm biểu mẫu SHS cho hợp đồng nhỏ của Xanh Mộc bỗng chốc kết nối lại với nhau một cách mạch lạc.

Cô không thể cứu cả Thư viện Bình Minh ngay lập tức trong một sớm một chiều. Cô cũng không thể xin được một dàn máy tính ngay ngày mai, và cô càng không thể ép buộc bà Liên hay cậu học sinh Huy phải bước chân vào một không gian sinh hoạt chính thức ngay khi họ vẫn còn đầy mặc cảm và e ngại.

Cô cần một bước đệm thực tế. Một thử nghiệm quy mô siêu nhỏ, linh hoạt, chi phí bằng không và hoàn toàn an toàn để thất bại, nhằm kiểm chứng xem những nhu cầu thực tế này có thể được đáp ứng như thế nào trước khi nhân rộng thành một mô hình hoàn chỉnh.

An ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Đỗ Hải Yến, ánh mắt rực sáng lên một quyết tâm mới:

"Chị Yến, em chưa thể cứu cả thư viện ngay lúc này. Nhưng em muốn thử nghiệm một bước nhỏ trước. Chiều mai, em sẽ rủ Huy và bác Liên cùng một hai người nữa ra quán cà phê cóc gần ngã tư—nơi có wifi và không gian thoáng hơn—để ngồi học thử một buổi một-kèm-một. Em muốn trực tiếp kiểm tra xem họ tiếp thu kiến thức bằng cách nào, thiết bị của họ giới hạn tới đâu, trước khi chúng ta quyết định mang bất kỳ chương trình nào về đặt vào căn phòng này."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn