Một Năm Học Lại Cách SốngC.23 / 24
Chương 23

Buổi bảo vệ của những người bình thường

Hội trường tầng hai của Ủy ban nhân dân phường Bình Minh mở ra bằng tiếng quạt trần ba cánh đảo đều từng vòng nặng nhọc, khuấy loãng luồng không khí oi ả còn vương hơi nước sau cơn mưa rào lúc rạng đông. Những cánh cửa chớp gỗ quét sơn màu xanh lục đã tróc vẩy ở các góc mép, hé lộ từng vệt gỗ lim xỉn màu vì năm tháng và thời tiết nhiệt đới. Qua những khe nan chớp ấy, ánh nắng ban mai chiếu vào thành từng vệt xiên dài, rọi sáng lớp bụi li ti đang lơ lửng rồi buông mình xuống mặt dãy bàn hội nghị trải khăn nhung đỏ đã ngả sang sắc bã trầu. Gian phòng phảng phất một mùi hương rất đặc thù của công sở cấp phường: mùi vôi ve cũ ẩm mốc hòa lẫn mùi giấy photocopy vừa mới dập ghim, thoảng qua cả mùi dầu gió xanh và mùi trà búp mạn pha đặc cắm trong những chiếc ấm ủ bọc vải hoa văn chần bông.

Ngồi ở vị trí chủ tọa là ông Phan Khắc Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường kiêm Trưởng ban chỉ đạo quản lý thiết chế văn hóa cơ sở. Ông chừng ngoài năm mươi tuổi, trán cao, nếp nhăn đuôi mắt hằn sâu như những rãnh cày của một người làm quản lý hành chính lâu năm, quen việc cân đo đong đếm từng dòng phân bổ chỉ tiêu và từng mét vuông công sản. Ngồi dạt sang hai bên cánh tay ông là các thành viên trong hội đồng thẩm định: đại diện Phòng Quản lý Đô thị quận cử xuống, cán bộ phụ trách Ban Văn hóa - Xã hội của phường, và vị chủ tịch Mặt trận Tổ quốc khu phố trong bộ âu phục đã sờn cổ áo.

Phía dưới, cách dãy bàn chủ tọa chừng ba mét qua khoảng sàn lát gạch bông hoa văn cổ điển đã mòn bóng, nhóm điều phối Thư viện Bình Minh ngồi ngay ngắn ở hàng ghế đầu tiên. Đỗ Hải Yến mặc chiếc áo sơ mi màu xám sẫm, cổ áo cài khuy ngay ngắn, hai bàn tay đan chặt trên mặt bàn gỗ bóng loáng. Ngay bên cạnh cô, An đặt tập tài liệu dày cộp bọc bìa cứng lên đùi. Bìa hồ sơ phẳng phiu, các tab đánh dấu dữ liệu màu vàng và xanh được dán tỉ mỉ ở mép phải, phản chiếu sự cẩn trọng đến từng chi tiết của một người làm dự án chuyên nghiệp. Cạnh An là thầy Võ Đức Nam với mái tóc hoa râm và dáng vẻ điềm tĩnh của người thầy giáo già; Bùi Gia Huy trong bộ đồng phục học sinh trường trung học phổ thông, lưng áo còn hơi ẩm vì đạp xe vội; bà Hoàng Thị Liên ngồi co ro trong chiếc áo sơ mi hoa màu lam nhạt; bà Lâm Ngọc Mai với đôi mắt sắc sảo thường ngày nay chùng xuống vẻ lo lắng; và ở đầu dãy ghế, ông Nguyễn Văn Hùng ngồi im lìm, lưng thẳng tắp như một thân cây cổ thụ, hai bàn tay thô ráp đặt ngay ngắn lên đầu gối chiếc quần tây màu xám ủi phẳng nếp ly.

Sau khi nữ thư ký phiên họp đọc xong biên bản giới thiệu thành phần tham dự bằng giọng mũi đều đều, gian phòng rơi vào một khoảng lặng trang nghiêm. Ông Phan Khắc Tuấn với tay lấy chiếc kính lão gọng đồi mồi dày cộp trên bàn, đeo lên sống mũi rồi mở tập hồ sơ rà soát mặt bằng. Ông lật qua từng trang giấy A4 được in biểu đồ cột và bảng số liệu thống kê, ngón tay trỏ gõ nhè nhẹ xuống mặt bàn theo từng nhịp đọc.

Khi ngẩng đầu lên, ánh mắt ông Tuấn nhìn thẳng về phía nhóm điều phối thư viện qua gọng kính. Giọng nói của ông cất lên trầm thấp, mang theo sự hoài nghi không giấu giếm của một nhà chức trách đang đứng trước áp lực chỉ tiêu giải ngân và hiệu suất sử dụng tài sản nhà nước:

“Trước khi đi vào phần giải trình chi tiết theo quy trình thẩm định, tôi muốn đại diện Thư viện Bình Minh làm rõ ngay vấn đề cốt lõi mà cử tri, dư luận và bản thân hội đồng chúng tôi hết sức băn khoăn. Căn cứ theo báo cáo rà soát hiện trạng mười hai tuần gần nhất do tổ công tác liên ngành lập, chỉ số vận hành của các đồng chí thực sự có vấn đề. Số lượt bạn đọc mượn sách mang về chỉ dao động cầm chừng từ ba mươi lăm đến bốn mươi hai lượt mỗi tuần. Lượt người dùng có tài khoản đăng ký tự học thường xuyên trên hệ thống máy tính và sổ theo dõi cũng chỉ dừng lại ở con số hơn hai trăm người. Đây là những con số quá đỗi khiêm tốn, nếu không muốn nói là lãng phí, đối với một mặt bằng trung tâm có diện tích sáu mươi mét vuông nằm ngay mặt tiền trục đường dân sinh đắc địa như thế này.”

Ông Tuấn dừng lại, bàn tay với sang tập tài liệu dày có gáy đóng xoắn lò xo mạ kim loại, viền bìa màu xanh dương bóng bẩy đặt ngay ngắn ở góc bàn bên phải. Đó là bản đề án liên kết xã hội hóa do một chuỗi trung tâm đào tạo kỹ năng tư nhân có tiếng trên địa bàn thành phố gửi về ủy ban phường từ một tháng trước.

Ông lật sột soạt tập đề án, giọng nói sắc sảo và đầy sức nặng:

“Cũng tại diện tích này, các đơn vị giáo dục xã hội hóa ngoài công lập đã đệ trình phương án cam kết rất rõ ràng: Họ sẵn sàng đầu tư trang bị ba mươi bộ máy vi tính đời mới có kết nối cáp quang chuyên dụng; tổ chức đều đặn các tuần lễ kỹ năng mềm có chuyên gia, diễn giả và người nổi tiếng về dẫn dắt; cam kết lưu lượng người ra vào đạt từ một nghìn đến một nghìn năm trăm lượt tiếp cận mỗi tuần. Và quan trọng hơn cả đối với ngân sách địa phương, họ tự chủ tài chính một trăm phần trăm, không yêu cầu phường phải hỗ trợ dù chỉ một đồng tiền điện nước hay duy tu định kỳ. Đứng ở góc độ quản lý công sản, tại sao chúng tôi phải tiếp tục ưu tiên mặt bằng quý giá này cho một mô hình có chỉ số tăng trưởng nhỏ giọt, hoạt động trầm lắng và hoàn toàn không tạo ra được tiếng vang nào trong các phong trào thi đua của quận?”

Từng câu chữ của ông Tuấn buông xuống như những tảng đá ném vào mặt hồ phẳng lặng, làm dậy lên một luồng không khí căng thẳng bao trùm khắp hội trường. Phía sau lưng An, tiếng quạt trần dường như rít lên một âm thanh khô khốc. Cô cảm nhận rất rõ nhịp thở hơi dồn dập của Huy ở bên cạnh; bàn tay gầy gò của cậu học sinh lớp 12 khẽ siết chặt lấy gấu áo sơ mi đồng phục trắng, những khớp ngón tay trắng bệch vì căng thẳng. Huy chưa từng đối mặt với một phiên điều trần hành chính nào có quy mô và sức ép nặng nề đến vậy.

Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với nỗi hoang mang của cậu thiếu niên, An lại thấy lồng ngực mình chùng xuống một cách kỳ lạ. Một cảm giác thanh thản, vững vàng lan tỏa trong tâm trí cô. Đây không phải là điều bất ngờ; đây chính là chiến trường quen thuộc mà cô đã lăn lộn suốt một năm qua: cuộc đối đầu giữa những chỉ số KPI bóng bẩy trên giấy tờ và thực tế trần trụi, nhọc nhằn nhưng chân thực của đời sống dân sinh. Những thuật ngữ như “tự chủ tài chính”, “tiếp cận hàng nghìn lượt”, “diễn giả nổi tiếng” từng là chiếc bẫy hào nhoáng đã đẩy chính cô vào khủng hoảng kiệt sức trước đây.

An khẽ nghiêng đầu nhìn sang Đỗ Hải Yến. Người nữ thủ thư quay sang, ánh mắt cô sau cặp kính cận sáng lên một niềm tin tuyệt đối, không một chút dao động. Yến khẽ gật đầu, một cái gật đầu như ngầm truyền đi toàn bộ sự ủy thác và quyết tâm tích tụ qua hàng trăm đêm thức trắng bên những trang sổ mượn sách cũ nát.

An hít một hơi thật sâu. Cô áp dụng kỹ thuật thở cơ hoành bốn thì mà bác sĩ Phương từng căn dặn để ổn định hệ thần kinh thực vật: hít vào chậm qua mũi trong bốn giây, giữ hơi bốn giây để oxy tràn ngập lồng ngực, rồi thở ra từ từ qua kẽ môi. Nhịp tim đang đập nhanh lập tức hạ dần về mức ổn định. Cô cùng Yến đồng loạt đứng dậy, cầm theo tập hồ sơ và chiếc máy tính xách tay cá nhân bước lên bục thuyết trình đặt ở góc trái hội trường.

Khi chiếc máy chiếu bật sáng, hắt lên phông màn vải trắng một luồng sáng xanh nhạt, An không chiếu những khẩu hiệu đao to búa lớn hay những bức ảnh chụp đám đông tươi cười được dàn dựng khéo léo. Thay vào đó, trên màn hình hiện lên một bảng dữ liệu phân tích vận hành chi tiết, được bố trí khoa học với các trục thời gian, tỷ lệ phân rã và biểu đồ phân bổ dân cư.

“Kính thưa các đồng chí trong ban chủ tọa và hội đồng thẩm định,” Đỗ Hải Yến cất giọng điềm tĩnh. Âm sắc của cô không cao, ấm áp nhưng rành rọt từng âm tiết, vang vọng khắp gian phòng rộng lớn. “Mặt bằng thư viện sáu mươi mét vuông hiện hữu, kết hợp cùng sáu mươi mét vuông diện tích phụ trợ sinh hoạt cộng đồng của Nhà văn hóa Khu phố 4, nằm gọn giữa một địa bàn dân cư hết sức đặc thù. Theo số liệu điều tra hộ tịch mới nhất, hơn bảy mươi phần trăm cư dân quanh bán kính một cây số này là công nhân may xoay ca của cụm xưởng dệt Thành Đạt, người lao động tự do buôn bán nhỏ lẻ ở chợ tạm, lao động phụ việc gia đình và các cán bộ hưu trí cao tuổi. Chúng tôi đến đây hôm nay không phải để đưa ra những lời hứa hẹn về con số hàng nghìn lượt tiếp cận mỗi tuần, hay những chương trình rầm rộ có người nổi tiếng tham dự. Bởi vì, thưa các đồng chí, những thứ hào nhoáng đó không tồn tại được trong đời sống thường nhật của những con người đang phải chắt bóp từng đồng lẻ để lo bữa ăn hàng ngày.”

Yến lùi lại nửa bước, nhường quyền trình bày số liệu cho An. An đứng thẳng người trước bục, ánh mắt bao quát toàn bộ dãy bàn của hội đồng thẩm định. Trong khoảnh khắc ấy, toàn bộ bản lĩnh của một cựu chuyên viên điều phối dự án từng quản lý các hệ thống vận hành phức tạp trỗi dậy mạnh mẽ trong cô. Giọng An vang lên trong trẻo, đĩnh đạc và chuẩn xác:

“Bản báo cáo dày bốn mươi trang mà các đồng chí đang cầm trên tay không hề che giấu bất kỳ một vết gợn nào trong quá trình vận hành mười hai tuần qua. Chúng tôi xin công khai một thực tế: Trong quý vừa qua, tổng số người dân trong khu phố đăng ký tham gia vào các nhóm tự học và nâng cao kỹ năng tại thư viện là ba trăm mười hai người. Nhưng chúng tôi cũng thẳng thắn thừa nhận rằng: có một trăm ba mươi tư người, tương đương bốn mươi ba phần trăm tổng số người tham gia, đã bỏ cuộc hoặc lặng lẽ rút lui sau hai tuần đầu tiên.”

Phía bàn chủ tọa, một vài tiếng xì xào ngạc nhiên bắt đầu nổi lên. Vị cán bộ đại diện Phòng Quản lý Đô thị khẽ nhíu mày, còn người cán bộ Ban Văn hóa - Xã hội vội vã lật giở trang hồ sơ đến phần biểu đồ mà An đang đề cập. Trong các phiên thẩm định hành chính, thông lệ phổ biến luôn là che đậy khuyết điểm, tô vẽ những thành tích đạt đỉnh để xin duy trì kinh phí hoặc gia hạn hợp đồng. Việc một đơn vị tự nguyện phơi bày tỷ lệ thất bại lên tới gần một nửa là điều chưa từng có tiền lệ tại hội đồng này.

Không để sự xì xào biến thành hoài nghi tiêu cực, An bấm chuột chuyển sang slide phân tích nguyên nhân gốc rễ:

“Con số bốn mươi ba phần trăm người bỏ cuộc không phải là bằng chứng cho thấy người dân nghèo không thiết tha với việc học, mà chính là bằng chứng cho thấy ban đầu chúng tôi đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng: áp đặt chuẩn mực của những người có điều kiện kinh tế lên đời sống của tầng lớp lao động bình dân. Biểu đồ phân tích dữ liệu khảo sát hồi quy từ một trăm ba mươi tư trường hợp rút lui đã chỉ rõ ba rào cản mang tính chất sống còn. Thứ nhất, năm mươi mốt phần trăm người bỏ cuộc vì xung đột lịch làm việc xoay ca mười hai tiếng tại các xưởng may công nghiệp; họ tan ca lúc tám giờ tối trong trạng thái kiệt sức hoàn toàn, không thể ngồi nghe một bài giảng kéo dài hai tiếng đồng hồ. Thứ hai, hai mươi chín phần trăm gặp rào cản phần cứng nghiêm trọng: họ sử dụng những chiếc điện thoại thông minh đời cũ, bộ nhớ RAM dưới một gigabyte, không thể cài đặt nổi các ứng dụng học tập trực tuyến nặng hàng trăm megabyte. Và thứ ba, hai mươi phần trăm còn lại rút lui vì rào cản tâm lý: họ mặc cảm vì sự chậm chạp của mình, sợ hãi ánh nhìn phán xét của những người trẻ thạo công nghệ.”

An dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt ông Phan Khắc Tuấn:

“Nếu chúng tôi chọn cách làm của các đơn vị giáo dục thương mại — nghĩa là xóa bỏ một trăm ba mươi tư con người này khỏi thống kê, tiếp tục tuyển sinh ồ ạt người mới để tạo ra những biểu đồ tăng trưởng dốc đứng làm đẹp mắt cấp trên — thì chúng tôi đã phản bội lại bản chất của một thiết chế văn hóa công cộng. Thay vì chạy theo số lượng ảo, chúng tôi đã dừng lại để tái cấu trúc toàn bộ mô hình.”

Màn hình chuyển sang đồ thị hình sin mô tả chu kỳ giữ chân người dùng trong sáu tuần tiếp theo.

“Chúng tôi đã đập vỡ cấu trúc bài học truyền thống, chia nhỏ nội dung thành các mô-đun ba mươi phút linh hoạt, người học có thể đến và đi bất kỳ lúc nào trong khung giờ mở cửa. Chúng tôi chuyển hóa tài liệu thành các định dạng nghe nhìn siêu nhẹ và duy trì mức chi phí vận hành ở ngưỡng tiệm cận không đồng. Kết quả thực tế đạt được là gì? Trong số một trăm bảy mươi tám người kiên trì ở lại, có hơn tám mươi lăm phần trăm duy trì tần suất tự học đều đặn ít nhất hai buổi mỗi tuần trong suốt hai tháng qua. Họ không đến thư viện để chụp ảnh check-in phong trào; họ đến vì nơi này giải quyết được những nhu cầu sinh tồn thiết thực nhất: tra cứu quyền lợi bảo hiểm, học cách quản lý chi tiêu gia đình, và tìm lại quyền được tiếp cận tri thức mà không bị biến thành món hàng béo bở cho các thuật toán kiếm tiền.”

Khi An vừa kết thúc phần trình bày của mình, Bùi Gia Huy hít một hơi sâu từ hàng ghế dưới rồi đứng dậy. Cậu bước lên bục, hai tai đỏ ửng vì sự ngượng ngùng tuổi mới lớn, nhưng ánh mắt lại toát lên sự kiên định lạ thường. Cậu cẩn thận rút sợi cáp kết nối từ máy chiếu, cắm trực tiếp vào chiếc điện thoại thông minh cũ kỹ có viền nhựa tróc lở của mình qua một đầu chuyển đổi giá rẻ.

Trên màn hình lớn của hội trường, giao diện của nền tảng “Bản Đồ Mở” hiện ra. Không có những hiệu ứng đồ họa 3D cầu kỳ, không có những biểu tượng huy hiệu lấp lánh hay bảng xếp hạng thi đua rực rỡ sắc màu, giao diện chỉ gồm các khối chức năng hình chữ nhật màu lam nhạt và trắng, kiểu chữ không chân to bản, tương phản cao, rõ ràng đến mức một người mắt kém cũng có thể nhận biết ngay lập tức.

Huy chỉnh lại chiếc micro trước ngực, giọng nói của cậu có chút run rẩy ban đầu nhưng nhanh chóng lấy lại nhịp điệu vững vàng:

“Kính thưa các cô chú và các bác trong ban thẩm định. Trước khi trình bày về phần kỹ thuật, cháu xin phép được công khai nhận lỗi trước hội đồng. Cách đây sáu tháng, xuất phát từ sự hiếu thắng nông nổi và mong muốn làm đẹp hồ sơ cá nhân để xin học bổng công nghệ, cháu đã sao chép trái phép mã nguồn giao diện của ứng dụng thương mại TaskMaster Pro. Cháu đã cài đặt vào đó hệ thống điểm thưởng, bảng xếp hạng và các thuật toán thúc ép thi đua để kích thích người dùng cày thành tích ngày đêm. Chính sự thiển cận và vô trách nhiệm của cháu khi ấy đã gián tiếp đẩy nhiều cô bác công nhân trong khu phố vào tình trạng kiệt sức, tự ti và hoảng loạn vì sợ bị tụt lại phía sau.”

Cậu thiếu niên mười bảy tuổi cúi gập người chín mươi độ trước hội trường trong ba giây trọn vẹn — một hành động khiến các cán bộ trên bàn chủ tọa không khỏi bất ngờ. Khi Huy ngẩng đầu lên, nét bẽn lẽn đã biến mất, thay vào đó là phong thái của một người làm chủ sản phẩm:

“Cháu đã tự tay xóa sạch toàn bộ mã nguồn vi phạm bản quyền đó. Dưới sự định hướng của chị An và thầy Nam, cháu đã cùng mọi người viết lại nền tảng Bản Đồ Mở này hoàn toàn từ con số không, dựa trên các thư viện mã nguồn mở phi thương mại. Cháu xin báo cáo chỉ số kỹ thuật thực tế: toàn bộ gói cài đặt của nền tảng này chỉ nặng đúng ba trăm tám mươi kilobyte — nhẹ hơn dung lượng của một bức ảnh chụp thông thường trên điện thoại.”

Huy dùng ngón tay cái thao tác trực tiếp trên màn hình cảm ứng nứt một đường chéo:

“Với dung lượng ba trăm tám mươi kilobyte, hệ thống này có thể tải mượt mà trên bất kỳ chiếc điện thoại giá rẻ nào sản xuất cách đây bảy, tám năm, hoạt động trơn tru trên bộ nhớ RAM dưới một gigabyte. Nó không yêu cầu mạng 5G tốc độ cao; ngay cả khi dùng gói dữ liệu 4G bóp băng thông xuống mức thấp nhất, hay bắt sóng wifi chập chờn xuyên qua các bức tường ẩm của khu nhà văn hóa, ứng dụng vẫn phản hồi ngay lập tức. Toàn bộ dữ liệu cá nhân của người học được phân quyền ba lớp và lưu trữ cục bộ trên thiết bị, mặc định tuyệt đối không công khai để không ai phải chịu áp lực so sánh điểm số hay thành tích với người khác. Hệ thống này không có quảng cáo, không thu thập thói quen người dùng để bán cho các bên thứ ba, và hoàn toàn miễn phí. Một bác hưu trí hay một cô công nhân chỉ cần bấm một chạm là có thể mở ngay bài học âm thanh hướng dẫn kê khai hồ sơ y tế mà không tốn một đồng dung lượng mạng.”

Vị cán bộ Phòng Quản lý Đô thị chăm chú nhìn màn hình, bất giác nghiêng người về phía trước, đặt câu hỏi kiểm tra:

“Cháu có tính đến phương án đồng bộ dữ liệu khi người dùng bị mất mạng hoàn toàn không? Địa bàn khu phố 4 có nhiều hẻm sâu sóng viễn thông rất yếu.”

Huy trả lời không một giây do dự, giọng nói rành rọt từng thuật ngữ chuyên môn:

“Dạ có thưa chú. Hệ thống áp dụng cơ chế bộ nhớ đệm ngoại tuyến thông qua Service Worker. Toàn bộ nội dung của các mô-đun đã mở sẽ tự động lưu vào bộ nhớ cục bộ IndexedDB của trình duyệt. Khi người dùng vào vùng mất sóng hoàn toàn, ứng dụng vẫn mở ra bình thường. Ngay khi thiết bị bắt lại được dù chỉ là một vạch sóng yếu ớt, hệ thống sẽ thực hiện đồng bộ ngầm chỉ với vài kilobyte gói tin mà người dùng không hề nhận thấy độ trễ.”

Câu trả lời mạch lạc, am hiểu tường tận về kỹ thuật tối ưu hóa cho thiết bị cấu hình thấp của cậu học sinh lớp 12 khiến vị cán bộ gật đầu tán thưởng, ghi chép nhanh vài dòng vào cuốn sổ tay công tác.

Khi Huy cúi chào và bước xuống bục, không gian hội trường chùng lại một nhịp. Bất ngờ, từ hàng ghế thứ hai, một bóng người nhỏ nhắn đứng dậy. Đó là bà Hoàng Thị Liên.

Bà mặc chiếc áo sơ mi hoa vải thô màu lam nhạt, vạt áo đã hơi sờn chỉ quanh gấu. Hai bàn tay bà đan chặt vào nhau, để lộ những khớp ngón tay to bè, thô ráp và mu bàn tay chằng chịt những vết sẹo nhỏ li ti do đầu kim máy may công nghiệp đâm phải suốt ba thập kỷ làm việc trong xưởng dệt. Bà bước ra lối đi giữa hai dãy ghế, bước chân hơi ngập ngừng vì chưa từng đứng trước những người có chức sắc của phường.

Khi đứng trước bục micro dành cho cử tri, bà Liên khẽ co người lại, ánh mắt bối rối nhìn lướt qua dãy bàn của các vị lãnh đạo. Nhận thấy sự run rẩy của bà, An mỉm cười khích lệ, còn bà Lâm Ngọc Mai ngồi bên dưới khẽ đưa tay làm dấu hiệu cố lên.

Bà Liên hắng giọng, đưa tay kéo micro sát lại gần miệng. Giọng bà cất lên, mộc mạc, hơi khàn nhưng chân thật đến nghẹn ngào:

“Kính thưa các ông, các bà trong ban lãnh đạo ủy ban… Tôi tên là Hoàng Thị Liên, công nhân tổ may ba của xưởng dệt Thành Đạt. Tôi sống ở cái ngõ cụt thuộc tổ dân phố 2 của khu phố mình ngót nghét ba mươi năm nay rồi. Tôi là người lao động chân tay, chẳng biết dùng những từ ngữ cao siêu sách vở, nhưng hôm nay tôi xin phép được nói thật lòng mình, nói bằng cái ruột cái gan của một người làm mẹ, làm thợ.”

Hội trường im phăng phắc. Tiếng quạt trần quay trên cao dường như cũng dịu đi, nhường chỗ cho giọng nói chất chứa tâm sự đời người:

“Năm nay tôi năm mươi hai tuổi. Từ hồi còn con gái đi học vỡ lòng dưới quê, tôi đã mắc cái chứng bệnh mà mãi sau này các cô ở thư viện mới giải thích cho tôi hiểu: chứng khó đọc. Cứ mỗi lần nhìn vào trang sách in chữ đen chi chít là đầu tôi lại đau buốt như có ai lấy kim châm, các con chữ nó cứ nhảy múa, lộn xộn, đảo ngược hết cả lên. Suốt mấy chục năm đi làm xưởng may, tôi xấu hổ lắm. Tôi sợ người ta bảo mình dốt nát, bảo mình mù chữ, nên mỗi lần công ty đưa hợp đồng hay thông báo gì là tôi toàn giả vờ bảo mình quên kính lão ở nhà để nhờ người khác ký hộ. Cách đây mấy tháng, vì sốt ruột muốn học cho biết cách đọc bảng lương điện tử, tôi nghe lời người ta trên mạng đi vay nóng năm triệu bạc để đăng ký cái khóa học trực tuyến cam kết đọc nhanh, hiểu sâu cấp tốc.”

Khóe mắt bà Liên hoe đỏ, những ngón tay chai sạn siết chặt vào thành bục gỗ:

“Người ta quảng cáo hay lắm, bảo học xong sẽ đổi đời, sẽ kiếm thêm thu nhập. Nhưng khi nộp tiền vào rồi, họ bắt tôi bốn giờ rưỡi sáng phải dậy mở máy điểm danh, nghe những bài giảng toàn từ ngữ nước ngoài trên trời dưới biển, bắt làm bài tập nộp lúc nửa đêm. Tôi thức trắng mấy đêm liền theo không nổi, người mệt lả đi, ban ngày vào ca tay run bần bật, đạp máy may làm hỏng mất hai mươi cái áo khoác gió xuất khẩu của xưởng. Xưởng lập biên bản phạt trừ mất nửa tháng lương chuyên cần, tiền nợ lãi ngày một phình to ra, suýt nữa tôi quẫn trí không còn đường sống.”

Bà Liên nghẹn lời trong giây lát. Ông Phan Khắc Tuấn ngồi ở bàn chủ tọa đặt chiếc bút máy xuống mặt bàn, ánh mắt nhìn thẳng vào người nữ công nhân may, vẻ mặt nghiêm nghị ban nãy đã hoàn toàn chùng xuống:

“Chính cô Yến thủ thư, cô An và cháu Huy ở cái thư viện này đã cứu vớt đời tôi. Các cô ấy không hề cười chê sự chậm chạp của một bà già dốt nát. Cháu Huy thấy tôi không đọc được chữ, cháu đã ngồi hàng đêm cắt nhỏ những bài hướng dẫn thành các đoạn ghi âm dài đúng ba phút, chép vào cái thẻ nhớ điện thoại cũ để tôi cắm tai nghe vừa đạp máy may vừa nghe, giờ nghỉ trưa ăn cơm nắm lại mở ra nghe lại. Nhờ cái cách học chậm rãi ấy, lần đầu tiên sau ba mươi năm cặm cụi trong xưởng may, tôi đã tự tay cầm điện thoại mở được ứng dụng VssID, tự tra cứu được mã số bảo hiểm xã hội, tự đọc và hiểu rành rẽ từng dòng mục trừ tiền trên bảng lương điện tử hàng tháng mà không sợ ai lừa gạt, không phải đi nhờ vả van xin ai nữa.”

Bà Liên đưa cánh tay khẳng khiu chỉ về phía cuối góc hội trường, nơi có đặt bức ảnh chụp góc thư viện Bình Minh:

“Và điều quý giá nhất mà thư viện này cho tôi, không phải là tiền bạc, mà là lòng tự trọng. Cô Yến không coi tôi là người nghèo đến xin cứu tế. Cô ấy bảo: ‘Bác Liên có ba mươi năm kinh nghiệm may vá, đó là vốn quý’. Thế là cô Yến dành cho tôi một cái bàn ở góc thư viện vào sáng Chủ nhật hàng tuần, gọi là ‘Góc kỹ năng may vá và sửa chữa đồ dùng’. Tôi ngồi đó dạy cho mấy đứa sinh viên nghèo cách mạng lại ống quần, dạy mấy cháu công nhân trẻ cách thay khóa kéo áo khoác hỏng để khỏi phải tốn tiền mua áo mới. Ba mươi năm qua, chưa bao giờ tôi thấy mình có ích cho đời như lúc ngồi ở cái góc thư viện ấy. Thư viện này không chỉ cho chúng tôi con chữ, thưa các ông các bà, nó trả lại cho những người lao động cùng khổ như chúng tôi nhân phẩm của một con người!”

Tiếng nói của bà Liên vừa dứt, cả hội trường như có một luồng điện chạy qua. Một sự tĩnh lặng sâu sắc bao trùm gian phòng. Trên bàn hội đồng, người cán bộ Mặt trận Tổ quốc khẽ đưa tay lau khóe mắt; vị chuyên viên Đô thị nhìn chăm chú vào tập tài liệu, không còn lật tìm những con số doanh thu hay suất đầu tư nữa.

Đúng lúc bà Liên cúi đầu bước chậm rãi trở về chỗ ngồi, một bóng người cao lớn ở đầu hàng ghế bất ngờ đứng dậy.

Đó là ông Nguyễn Văn Hùng.

Cả hội trường đổ dồn ánh mắt về phía người đàn ông lớn tuổi. Ông Hùng bước ra khoảng trống giữa lối đi trong bộ âu phục màu xám sẫm đã cũ nhưng được giặt ủi phẳng phiu, ve áo cài một chiếc huy hiệu cựu chiến binh bằng đồng sáng bóng. Mái tóc hoa râm cắt ngắn gọn gàng, khuôn mặt chữ điền cương nghị với những nếp nhăn sâu hoắm quanh khóe miệng. Dáng đi của ông vững chãi, lưng thẳng tắp, toát lên tác phong không thể lẫn vào đâu được của một người lính đã từng đi qua năm tháng chiến tranh và ba mươi năm làm việc tại các công trình điện lực gian nan.

“Tôi là Nguyễn Văn Hùng,” giọng ông cất lên, trầm đục, sang sảng và vang rền khắp các góc tường vôi cũ. “Thợ điện hưu trí của Công ty Cơ điện lực khu vực 2, hiện đang sinh hoạt tại Chi bộ 3 và giữ nhiệm vụ Chi hội phó Chi hội Cựu chiến binh khu phố 4. Hôm nay tôi xin phép được phát biểu đôi lời trước hội đồng, không chỉ với tư cách là một công dân sinh sống lâu năm trên địa bàn, mà còn với tư cách là người đại diện được ủy quyền của hàng trăm cán bộ hưu trí trong khu phố.”

Ông Hùng dừng lại, đưa bàn tay thô ráp rút từ trong túi ngực áo vest ra một tập hồ sơ dày được bấm ghim chắc chắn, viền gáy dán băng keo cẩn thận:

“Trước hết, tôi xin nói thật: tôi từng là người phản đối kịch liệt nhất cái thư viện này. Khi thấy con gái tôi — con An — bỏ công việc văn phòng lương cao ngoài trung tâm thành phố để cắm đầu vào cái nhà văn hóa cũ kỹ ẩm mốc này, tôi đã từng mắng mắng mỏ, từng cấm đoán nó. Tôi từng nghĩ thời buổi này người ta lo kiếm tiền mua đất mua nhà, người già thì lo dưỡng lão chờ ngày quy tiên, ai hơi đâu mà ra thư viện đọc dăm ba cuốn sách giấy. Nhưng thực tế mấy tháng qua đã tát vào mặt sự bảo thủ của tôi.”

Ông Hùng bước thêm hai bước dứt khoát về phía bàn chủ tọa, đặt tập hồ sơ dày cộp lên mặt khăn nhung đỏ ngay trước mặt ông Phan Khắc Tuấn. Tiếng tập hồ sơ chạm xuống bàn phát ra một âm thanh chắc nịch:

“Người già ở cái khu phố lao động này, con cái lớn lên đều phải đầu tắt mặt tối đi làm ca kíp hoặc đi làm ăn xa. Chúng tôi sống thui thủi một mình giữa bốn bức tường, ra trạm y tế thì sợ phiền hà con cháu, cầm cái điện thoại thông minh lên thì hoa mắt chóng mặt, sợ bấm nhầm vào đường link bậy bạ rồi mất toi mấy đồng lương hưu còm cõi. Nhưng từ ngày thư viện này mở ra các buổi hướng dẫn số nhẹ nhàng, không gian ở đó đã biến thành chiếc phao cứu sinh cho chúng tôi. Các cháu thanh niên như cháu Huy, cô Yến, con An không hề cáu gắt; chúng nó kiên nhẫn cầm tay chỉ việc cho từng ông già bảy mươi tuổi cách đặt lịch khám bệnh trực tuyến ở bệnh viện quận, chỉ cách thanh toán tiền điện nước qua tài khoản ngân hàng để khỏi phải lội bộ dầm mưa nắng ra điểm thu hộ. Thư viện còn phối hợp với bác sĩ mở các lớp tập phục hồi chức năng vận động khớp xương cho người tai biến nhẹ. Đó chính là sự cố kết tình làng nghĩa xóm thực chất nhất mà tôi từng chứng kiến trong suốt hai mươi năm nghỉ hưu về sống tại địa phương này.”

Ngón tay trỏ chai sạn vì kìm và dây cáp điện của ông Hùng gõ mạnh lên mặt tập hồ sơ:

“Trong tập tài liệu này là bốn trăm mười tám chữ ký kèm theo bản sao số căn cước công dân và số điện thoại xác thực của bốn trăm mười tám hộ gia đình thuộc bốn tổ dân phố bao quanh thư viện. Danh sách này không phải do ai đó ngồi phòng máy lạnh bịa ra để chạy phong trào. Chính bà nhà tôi — một cựu kế toán doanh nghiệp nhà nước về hưu — đã cùng bà Liên đây đội nón lá đi bộ ròng rã suốt mười ngày đêm qua từng con hẻm, gõ cửa từng nhà để đối soát, xác minh từng nhân khẩu. Nguyện vọng của người dân chúng tôi rất rõ ràng: Chúng tôi không cần một trung tâm thương mại lộng lẫy máy lạnh đóng kín cửa để vào đó phải mất tiền mua vé hay mua các khóa học đắt đỏ. Chúng tôi tha thiết đề nghị chính quyền giữ lại Thư viện Bình Minh như một không gian công cộng mở, một mái nhà chung nơi bất kỳ ai, dù nghèo đói, tàn tật hay già yếu, đều có thể ngẩng cao đầu bước vào mà không sợ bị bỏ rơi lại phía sau dòng chảy của xã hội.”

Cả hội trường lặng ngắt như tờ. Những lời gan ruột, đanh thép và đầy khí phách của người lính già như đóng đinh vào tâm trí của từng thành viên trong hội đồng thẩm định.

An đứng bên bục thuyết trình, nhìn bờ vai vững chãi của cha mình. Trong khoảnh khắc ấy, khóe mắt cô cay xè. Những tổn thương, những khoảng cách thế hệ tưởng chừng không thể hàn gắn giữa hai cha con suốt những năm tháng cô trượt dài trong khủng hoảng, giờ đây đã hoàn toàn tan biến. Người cha từng đập bàn mắng cô viển vông nay đang đứng hiên ngang giữa cơ quan công quyền, dùng toàn bộ uy tín và danh dự của một đời người lính để bảo vệ lý tưởng mà cô đang theo đuổi. Hơi ấm từ tình thương trầm lặng ấy len lỏi vào sâu thẳm tâm can, biến thành một điểm tựa tinh thần vững chắc khôn cùng.

Ông Phan Khắc Tuấn ngồi im lặng hồi lâu. Ông từ từ mở tập hồ sơ bốn trăm mười tám chữ ký, lật từng trang giấy kẻ ngang có ghi rõ họ tên, số căn cước, địa chỉ từng số nhà trong hẻm sâu và chữ ký nắn nót của từng người dân. Nét chữ run rẩy của những cụ già tám mươi tuổi xen lẫn chữ ký vội vã của những người thợ may sau ca làm việc.

Ông Tuấn tháo kính lão, nghiêng đầu trao đổi thì thầm với vị đại diện Phòng Quản lý Đô thị và Trưởng ban Văn hóa - Xã hội. Vị cán bộ đô thị lật xem lại bản báo cáo kỹ thuật ba trăm tám mươi kilobyte của Huy, khẽ gật đầu nói điều gì đó vẻ thán phục. Người đại diện Mặt trận Tổ quốc thì dùng bút khoanh tròn vào con số bốn trăm mười tám chữ ký cử tri, khẳng định đây là tỷ lệ đồng thuận cao nhất trong tất cả các cuộc lấy ý kiến cộng đồng từ đầu năm đến nay.

Sau mười lăm phút hội ý căng thẳng và nghiêm túc ngay tại bàn chủ tọa, ông Phan Khắc Tuấn đứng dậy, chỉnh lại micro. Toàn bộ hội trường nín thở, những ánh mắt lo âu lẫn hy vọng đều hướng về phía người cán bộ lãnh đạo phường.

“Kính thưa các đồng chí trong hội đồng thẩm định, các đồng chí đại diện tổ vận hành Thư viện Bình Minh và toàn thể bà con cử tri tham dự phiên họp,” ông Tuấn cất giọng trang trọng, rành rọt từng lời. “Thay mặt ban chủ tọa, chúng tôi xin ghi nhận và đánh giá rất cao bản báo cáo khoa học, trung thực và đầy tính nhân văn của nhóm điều phối thư viện. Trong suốt nhiều năm làm công tác quản lý nhà nước tại địa phương, đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một đơn vị dám dũng cảm nhìn thẳng vào tỷ lệ thất bại, công khai tỷ lệ bốn mươi ba phần trăm người bỏ cuộc để tìm kiếm giải pháp cải tiến mô hình, thay vì tìm cách che giấu để làm đẹp thành tích báo cáo.”

Ông Tuấn dừng lại một nhịp, ánh mắt ấm áp nhìn lướt qua bà Liên, ông Hùng, Huy và dừng lại ở An:

“Quản lý tài sản công không đơn thuần là bài toán kinh tế học nhằm tối đa hóa nguồn thu từ việc cho thuê mặt bằng hay chạy theo các chỉ số phong trào bề nổi. Mục đích tối thượng của mọi thiết chế văn hóa cơ sở chính là phục vụ an sinh xã hội, nâng cao dân trí và củng cố năng lực tự thân của cộng đồng dân cư. Một mét vuông công sản phục vụ đúng nhu cầu thiết thực của người nghèo và người cao tuổi có giá trị lớn hơn rất nhiều so với một mét vuông thương mại chỉ dành cho những người có tiền. Căn cứ vào hiện trạng sử dụng thực tế, căn cứ vào tính khả thi vượt trội của giải pháp công nghệ siêu nhẹ và đặc biệt là căn cứ vào nguyện vọng chính đáng của hơn bốn trăm hộ dân địa phương, Hội đồng thẩm định Ủy ban nhân dân phường Bình Minh xin chính thức công bố kết luận:”

Ông Tuấn dõng dạc đọc từng điều khoản quyết định:

“Thứ nhất: Chấp thuận gia hạn quyền quản lý và sử dụng mặt bằng Thư viện Bình Minh cho tổ điều phối cộng đồng thêm một chu kỳ ba năm. Thứ hai: Phê duyệt đưa chi phí điện chiếu sáng, nước sinh hoạt và bảo trì hạ tầng cơ bản của thư viện vào danh mục hỗ trợ thường xuyên từ nguồn ngân sách sự nghiệp văn hóa của địa phương. Thứ ba: Giữ nguyên một trăm phần trăm tính chất không gian công cộng mở, phi thương mại, tuyệt đối nghiêm cấm mọi hình thức xã hội hóa biến tướng nhằm mục đích kinh doanh trục lợi tại địa điểm này.”

Khi tiếng búa gỗ của chủ tọa gõ vang xuống mặt bàn báo hiệu phiên họp kết thúc, một tràng pháo tay rầm rộ bùng nổ, vang dội khắp bốn bức tường của hội trường tầng hai.

Bùi Gia Huy reo lên một tiếng nghẹn ngào, quay sang ôm chầm lấy thầy Nam. Đỗ Hải Yến buông tập tài liệu trên tay, quay sang ôm chặt lấy An; hai người phụ nữ siết chặt vai nhau, những giọt nước mắt hạnh phúc sau bao ngày tháng gồng gánh áp lực sinh tử của không gian nhỏ bé ấy cuối cùng đã trào ra nơi khóe mi. Phía dưới hàng ghế, bà Mai nắm chặt lấy bàn tay thô ráp của bà Liên, cả hai người phụ nữ đều cười rạng rỡ giữa những giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo. Ông Hùng đứng đó, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười mãn nguyện hiếm thấy; ông bước lại gần, bàn tay thô ráp đặt lên vai con gái, vỗ nhẹ từng nhịp ấm áp như muốn nói rằng: con đã làm rất tốt.

Trong khi mọi người bắt đầu thu dọn tài liệu, ngắt kết nối máy tính để chuẩn bị ra về, một cán bộ trẻ chừng ba mươi tuổi của Ban Văn hóa - Xã hội bước nhanh về phía bục thuyết trình. Anh mỉm cười nhã nhặn, đưa danh thiếp cho An và Yến:

“Xin chúc mừng hai chị và cả nhóm. Thú thật với các chị, lãnh đạo phường và cá nhân tôi cực kỳ ấn tượng với giải pháp chia nhỏ mô-đun ba mươi phút và cái ứng dụng ba trăm tám mươi kilobyte của em Huy. Hiện nay ở hai phường lân cận thuộc quận mình, có hai nhà văn hóa khu phố cũng đang rơi vào tình trạng bỏ hoang, người dân không mặn mà vào sinh hoạt vì cách làm cũ quá xơ cứng. Sau cuộc họp này, lãnh đạo ban muốn xin phép được làm việc chính thức với nhóm để nghiên cứu, chuyển giao kinh nghiệm và thí điểm mô hình tự học mở này sang hai địa điểm đó. Không biết các chị có sẵn lòng hỗ trợ không?”

An nhìn người cán bộ trẻ, cảm nhận được dòng chảy của tri thức đích thực đang tự mình tìm đường lan tỏa, tự nhiên, chậm rãi và bền bỉ như rễ cây đâm sâu vào lòng đất phì nhiêu. Cô mỉm cười, giọng nói nhẹ nhàng nhưng kiên quyết:

“Dạ chúng tôi rất sẵn lòng ạ. Nhưng xin phép các anh trước, chúng tôi sẽ không mang một công thức cứng nhắc nào sang áp đặt đâu ạ. Muốn mô hình sống được, bước đầu tiên bao giờ cũng phải là xỏ giày vào chân, đi gõ cửa từng nhà để khảo sát xem bà con ở hai phường đó thực sự đang đau đáu điều gì.”

***

Những ngày cuối cùng của tháng Mười Hai trôi qua trong một nhịp điệu êm ả, thanh bình đến kỳ lạ.

Mùa đông phương Nam không có cái rét căm căm hay những đợt gió mùa đông bắc cắt da cắt thịt, mà chỉ khẽ chớm lạnh vào những sớm mai khi sương chưa tan trên ngọn cây sao đen và những đêm muộn khi phố phường đã vắng bóng xe cộ.

Sau nhiều tháng ngày giông bão, cuộc sống của An đã tìm lại được sự cân bằng vững chãi. Ở công ty Sao Bắc, sóng gió đã hoàn toàn lắng xuống sau khi quy trình kiểm soát phạm vi và bảng điều phối tải trọng công việc do An đề xuất được ban giám đốc áp dụng thành quy chuẩn vận hành chung cho toàn bộ khối dự án; áp lực công việc giờ đây được chặn đứng lại ngoài khung cửa kính văn phòng đúng năm giờ ba mươi chiều mỗi ngày. Cô không còn phải làm việc thâu đêm, không còn những cơn hoảng loạn vì tin nhắn thông báo công việc dồn dập vào lúc nửa đêm.

Về mặt tài chính cá nhân, quỹ dự phòng khẩn cấp mười lăm triệu đồng từng bị cuốn sạch vào các khóa học ảo tưởng và chiêu trò tiếp thị đa cấp năm xưa nay đã được An tái lập đầy đủ. Bằng thói quen trích lập kỷ luật ba mươi lăm phần trăm thu nhập mỗi tháng ngay khi lương về tài khoản, cô đã xây dựng lại được tấm đệm an toàn vững chắc cho bản thân.

Sức khỏe của ông Hùng phục hồi rất khả quan. Nhờ tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ vận động chậm của bác sĩ Phương và duy trì thói quen đi bộ ba cây số mỗi sáng quanh bờ kênh cùng các cựu chiến binh trong khu phố, những cơn đau khớp và chứng run tay của ông đã thuyên giảm rõ rệt. Không khí trong gia đình nhỏ ở căn nhà cũ không còn những bữa cơm chan đầy nước mắt và sự im lặng nặng nề; thay vào đó là những buổi tối hai cha con cùng ngồi bên ấm trà mạn, nói về những cuốn sách mới ở thư viện hay những vấn đề kỹ thuật điện mà ông vừa chỉ cho Huy.

Đêm ba mươi mốt tháng Mười Hai, thành phố bên ngoài cửa sổ lung linh ánh đèn của những dòng người đang đổ về trung tâm đón chào thời khắc chuyển giao năm mới.

Trong căn hộ nhỏ yên tĩnh, không bật tivi, không mở nhạc sôi động, chỉ có ánh đèn bàn màu vàng ấm áp phủ lên mặt gỗ phẳng phiu. An ngồi một mình bên tách trà hoa cúc thoang thoảng khói, chậm rãi mở ra trang cuối cùng của cuốn sổ bìa da mang tên “Bản đồ tự học”.

Dưới ngọn đèn khuya, trang giấy trắng mịn màng mở ra, chờ đợi những dòng chữ của một tâm hồn đã tìm thấy sự tự do đích thực từ bên trong.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn