Ly Cà Phê Đầu TiênC.33 / 45
Chương 33

Bản thông báo minh bạch

Ngón tay Khôi dừng lại rất lâu trên phím gửi email trước khi bức thư ngỏ mang tiêu đề “Thư gửi khách hàng về thử thách mùa vụ 2024” được phát đi.

Gió sau bão vẫn thổi từng cơn rát mặt qua những tấm liếp nứa đan mắt cáo của kho nông cụ Cư M’Rao. Không gian tĩnh mịch đến mức nghe rõ từng giọt nước mưa còn đọng lại trên gờ mái tôn mục rỉ rơi tí tách xuống nền đất đỏ nén chặt, đều đặn như nhịp gõ của một chiếc đồng hồ nước vô hình. Căn kho nồng nặc hơi ẩm của đất xốp sũng nước, mùi dầu luyn cháy dở bốc ra từ đầu nổ máy phát diesel đặt ở góc tường, và trên hết là thứ mùi ngai ngái, chua lợ của hàng tấn quả cà phê đang âm ỉ lên men ngoài tầm kiểm soát.

Bên cạnh Khôi, Bảo Ngọc ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ con đóng bằng ván tạp. Đôi mắt cô thâm quầng, viền mắt đỏ hoe sau ba đêm liền thức trắng bên bàn cupping. Trên mặt bàn gỗ mộc kê sát cửa sổ lấy sáng, bên cạnh chiếc laptop đang hắt ra ánh sáng xanh nhờ nhợt, mười hai chiếc bát sứ trắng xếp ngay ngắn thành hai hàng dọc vẫn còn vương những vệt bã cà phê đã khô quắt.

Ngay giữa hai dãy bát là bản đánh giá cảm quan độc lập được lập thành văn bản giấy, có chữ ký dứt khoát của Bảo Ngọc bằng mực xanh đậm: chỉ có năm mẻ đạt từ tám mươi tư điểm SCA trở lên, chiếm chưa đầy bốn mươi phần trăm tổng sản lượng dự kiến của toàn bộ đợt thu hái đầu mùa; bảy mẻ còn lại, do ngậm nước mưa liên tục quá bốn mươi tám tiếng đồng hồ trên giàn trong thời điểm bão quét qua, đã bắt đầu bộc lộ lỗi pyrazine trầm trọng. Mùi cỏ ướt mục rữa, mùi đất ẩm nồng nặc lấn át toàn bộ hương hoa cỏ tự nhiên, đi kèm với hậu vị chát gắt, đắng nghét nơi cuống họng—một thứ lỗi khuyết tật cảm quan không một kỹ thuật rang hay pha chế nào có thể cứu vãn.

Khôi hít sâu một hơi. Lồng ngực anh căng tức như có một khối đá tảng đè nặng lên cơ hoành. Những ngón tay anh lạnh ngắt, khớp xương nổi rõ dưới làn da rám nắng. Anh liếc nhìn Bảo Ngọc lần cuối. Cô không nhìn lại anh, chỉ khẽ gật đầu một cái thật dứt khoát.

Khôi nhấn phím Enter.

Vòng tròn tải dữ liệu trên màn hình trình duyệt xoay đều đặn trong ba giây ngắn ngủi. Ba giây ấy dài như cả một thế kỷ trôi qua trong căn nhà kho dột nát. Rồi vòng tròn biến mất, nhường chỗ cho dòng thông báo nhỏ màu xanh lục hiện lên ở góc dưới: *Email đã được gửi thành công đến 3 đối tác phân phối sỉ và 318 khách hàng đặt trước.*

Bức thư ngỏ ấy tuyệt nhiên không dùng bất kỳ một mỹ từ hoa mỹ nào để lấp liếm sự thật hay đổ lỗi cho hoàn cảnh. Bản Đỏ giải trình chi tiết từng mốc thời gian một cách trần trụi: từ thời điểm áp thấp nhiệt đới bất ngờ mạnh lên thành cơn bão số bốn quét qua thung lũng Cư M’Rao, nước từ đầu nguồn đổ về làm vỡ bờ mương dẫn thủy lợi, gây ngập úng toàn bộ hệ thống giàn phơi hở ngoài trời; cho đến nỗ lực tuyệt vọng của nhóm trong việc căng vòm nilon che chắn và vận hành liên tục sáu chiếc quạt công nghiệp bằng máy phát diesel suốt bảy mươi hai giờ đồng hồ để cưỡng bức thoát ẩm.

Khôi đính kèm toàn bộ dữ liệu thô: bảng đo độ ẩm hạt từng ngày, biểu đồ dao động nhiệt độ bên trong đống ủ, và bản scan rõ nét từng phiếu chấm điểm cảm quan SCA với đầy đủ chữ ký, chỉ rõ vị trí xuất hiện lỗi pyrazine và nguy cơ phát triển nấm mốc tiềm ẩn của bảy mẻ hạt bị loại bỏ.

Đoạn kết của bức thư là lời cam kết đanh thép, không chừa lại cho Bản Đỏ bất kỳ một lối thoát hiểm hay sự mập mờ nào:

*“Bản Đỏ kiên quyết không xuất bán bất kỳ hạt cà phê nào không đạt chuẩn tám mươi tư điểm. Chúng tôi chân thành xin lỗi vì sự đứt gãy nguồn cung ngoài ý muốn này. Toàn bộ khách hàng pre-order cá nhân có quyền yêu cầu hoàn trả một trăm phần trăm tiền cọc ngay lập tức qua đường link tự động đính kèm dưới đây, không cần bất kỳ thủ tục giải trình hay xác minh phức tạp nào; đối với ba đối tác phân phối sỉ, chúng tôi hoàn toàn chấp nhận bồi thường hợp đồng hoặc điều chỉnh giảm sản lượng theo toàn quyền quyết định của quý vị.”*

“Xong rồi,” Khôi nói khẽ. Giọng anh khản đặc, nghe như tiếng hai mảnh kim loại cọ vào nhau sau chuỗi ngày dài hò hét át tiếng máy nổ và gió bão.

Bảo Ngọc không ngẩng đầu lên. Đôi mắt cô vẫn dán chặt vào những vệt cà phê khô đáy bát. Nhưng ngón tay trỏ của cô khẽ dịch chuyển trên mặt bàn gỗ xù xì, chạm nhẹ vào mu bàn tay Khôi. Một cái chạm rất nhẹ, lạnh ngắt vì ngấm hơi ẩm cao nguyên, nhưng cái siết khẽ ấy đủ để Khôi cảm thấy sống lưng mình thẳng lại.

“Anh làm đúng,” cô nói, thanh âm trầm tĩnh và rành rọt. “Một thương hiệu muốn sống bằng sự tử tế thì không được phép run tay khi nói ra sự thật. Nếu hôm nay chúng ta giấu bảy mẻ đó đi, đem trộn vào cà xô hoặc rang đậm lên để bán tống bán tháo kiếm tiền gỡ gạc, thì cái tên Bản Đỏ coi như chết từ bên trong rồi.”

Cánh cửa kho bằng ván ép kẹt mở một tiếng khô khốc. Gió lùa theo một luồng sương mù đặc quánh và mùi đất bazan nồng nặc vào phòng.

Trần Quốc Lâm bước vào. Chiếc áo khoác gió chuyên dụng của anh sũng nước mưa, bùn đỏ bắn lên tận thắt lưng, ống quần bết chặt vào bắp chân. Chiếc balô chống nước trên vai anh trĩu nặng, dây đeo thít chặt vào cơ thể gầy gò. Lâm vừa trải qua một hành trình bão táp: đáp chuyến xe đò đêm sớm nhất từ bến xe Miền Đông lên Buôn Ma Thuột lúc năm giờ sáng, rồi bắt một chuyến xe ôm thồ vượt qua gần ba mươi cây số đường đất sình lầy để vào thẳng rẫy Cư M’Rao.

Lâm tháo cặp kính cận bám đầy hơi sương và những hạt mưa li ti, kéo vạt áo thun bên trong ra lau vội rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế đối diện. Anh mở khóa balô, lôi chiếc laptop ThinkPad cũ kỹ ra cắm sạc vào ổ điện tạm bợ đang chập chờn theo nhịp máy phát.

“Hệ thống tự động kích hoạt cổng hoàn tiền VietQR chưa?” Lâm hỏi ngay, giọng nói khô khốc, gãy gọn đặc trưng của một người quen làm việc với các dòng lệnh và bảng tính tài chính.

“Vừa gửi xong mười phút trước,” Khôi đáp, với tay đẩy ca nước ấm sang phía bạn.

Mười phút trôi qua. Rồi ba mươi phút. Căn phòng lại chìm vào sự ngột ngạt đến nghẹt thở. Tiếng quạt tản nhiệt của hai chiếc laptop chạy rù rù, hòa cùng tiếng nước nhỏ giọt đều đặn ngoài hiên.

Khôi nhìn chằm chằm vào hòm thư điện tử của Bản Đỏ. Ngón tay anh thỉnh thoảng lại nhấn F5 theo quán tính. Anh đã chuẩn bị sẵn tâm lý cho những điều tồi tệ nhất: những email khiếu nại gay gắt, những cơn thịnh nộ từ những người mua lẻ đã chờ đợi suốt nhiều tháng trời, những lời đe dọa phạt hợp đồng thương mại từ các đối tác lớn, hoặc tồi tệ hơn là sự im lặng ghẻ lạnh của thị trường trước một kẻ thất hứa.

Nhưng phản hồi đầu tiên nhảy lên đầu hộp thư đến lại không phải là một email khiếu nại hay đòi tiền.

Đó là một tin nhắn trực tiếp gửi vào tài khoản quản trị của Khôi, người gửi là Hoàng—chủ sáng lập chuỗi cà phê thủ công Artifact Coffee, một tên tuổi có tiếng với ba chi nhánh lớn tại Hà Nội và Sài Gòn:

*“Anh vừa đọc hết thông cáo và xem rất kỹ biểu đồ cupping của Bản Đỏ. Nói thật với Khôi, mười năm làm trong ngành specialty tại Việt Nam, đây là lần đầu tiên anh thấy một đơn vị sơ chế dám công khai chi tiết lỗi pyrazine và chấp nhận vứt bỏ sáu mươi phần trăm sản lượng thay vì lén lút rang đậm lên rồi tống cho đối tác như cách người ta vẫn làm bấy lâu nay. Artifact trân trọng sự liêm chính này hơn bất kỳ mẻ hạt hoàn hảo nào trên giấy tờ.”*

Khôi nín thở đọc từng dòng chữ trên màn hình. Chưa đầy năm phút sau, từ địa chỉ email chính thức của Artifact, một bản phụ lục hợp đồng đã được soạn sẵn và gửi tới.

Hoàng chủ động đề xuất giải pháp tháo gỡ: Artifact đồng ý giảm sản lượng cam kết của niên vụ này từ bốn trăm kilôgam xuống còn một trăm sáu mươi kilôgam nhân xanh đạt chuẩn (lấy trọn vẹn từ hai mẻ L-01 và L-05 có điểm cupping cao nhất). Đối với phần sản lượng còn thiếu hụt, họ đề nghị bù đắp bằng cách thu mua lại toàn bộ mẻ tồn kho niên vụ trước của Bản Đỏ hiện đang được bảo quản tối ưu trong bao GrainPro tại kho mát ở Sài Gòn, miễn là mẫu thử đối chứng gửi về phòng thí nghiệm của họ vào chiều nay vẫn duy trì được độ ẩm dưới mười một phẩy năm phần trăm và giữ được cấu trúc hương vị nguyên bản.

Màn hình laptop của Lâm bắt đầu nhấp nháy đèn thông báo liên tục. Tiếng chuông báo thư mới vang lên giòn giã.

Email thứ hai đến từ chị Mai, đại diện phòng thu mua của chuỗi The Daily Roast:

*“The Daily Roast quyết định giữ nguyên toàn bộ khoản cọc bốn mươi lăm triệu đồng đã thanh toán cho mùa vụ 2024. Hãy chuyển toàn bộ số tiền đó thành quyền ưu tiên lấy hàng đầu tiên cho mùa vụ 2025 của Bản Đỏ. Thị trường specialty đang thiếu hụt trầm trọng những đối tác dám nhận sai, dám minh bạch và biết bảo vệ tiêu chuẩn hạt đến cùng như các bạn. Đừng nản lòng, giữ vững chất lượng mẻ L-01 nhé.”*

Tại Sài Gòn Drip Lab, chú Thành—một cựu binh già nổi tiếng cực đoan và khó tính bậc nhất trong giới cà phê làn sóng thứ ba, người từng thẳng thừng ném trả cả một lô hàng nhập khẩu vì sai lệch độ ẩm không phẩy hai phần trăm—chỉ gửi đúng một dòng tin nhắn ngắn ngủi qua Zalo:

*“Đừng lo cho tụi tao. Cà phê dở thì dứt khoát không bán, đó là cái đạo của người làm nghề. Giữ lại những hạt tốt nhất để cứu cái quán Tú Xương trước đi. Cần tao giới thiệu thêm mấy mối rang nhỏ ở quận Ba lấy bớt cà tồn thì ới tao một tiếng.”*

Không chỉ có ba đối tác bán buôn lớn mở rộng vòng tay, làn sóng phản hồi từ cộng đồng ba trăm mười tám khách hàng cá nhân pre-order cũng bùng nổ theo một kịch bản vượt xa mọi sự trù liệu của nhóm sáng lập.

Trên cổng tiếp nhận phản hồi tự động mà Lâm thiết lập, biểu đồ khảo sát nhảy số liên tục theo thời gian thực. Hơn bảy mươi phần trăm khách hàng cá nhân đã không chọn ô “Yêu cầu hoàn tiền ngay”. Thay vào đó, họ tích vào các lựa chọn: *“Bảo lưu khoản đặt cọc thành thẻ hội viên ưu tiên niên vụ sau”* hoặc *“Đồng ý nhận gói mẫu tạ lỗi năm mươi gam và sẵn sàng kiên nhẫn chờ đợt thu hái muộn cuối mùa”*.

Trên các diễn đàn cà phê đặc sản và các nhóm mạng xã hội, bức thư ngỏ đính kèm bảng dữ liệu lỗi của Bản Đỏ nhanh chóng được chụp màn hình và lan truyền với tốc độ chóng mặt. Những lời khen ngợi dành cho sự minh bạch hiếm có bắt đầu thay thế hoàn toàn cho nỗi sợ hãi ban đầu về một cuộc khủng hoảng truyền thông tẩy chay thương hiệu.

“Tỷ lệ giữ cọc và chuyển đổi bảo lưu đạt bảy mươi mốt phẩy tư phần trăm,” Lâm vừa gõ phím thoăn thoắt để xuất file dữ liệu vừa đọc to, đôi mắt sau tròng kính cận ánh lên nét kinh ngạc tột độ. “Tao đã chuẩn bị sẵn kịch bản xấu nhất là chín mươi phần trăm khách hàng sẽ đòi tiền ngay trong buổi sáng hôm nay. Thị trường này… hóa ra vẫn còn niềm tin và sự bao dung cho những kẻ làm ăn tử tế.”

Khôi thở phào một hơi dài. Hai bả vai anh gồng cứng suốt mấy ngày đêm qua khẽ chùng xuống. Cảm giác như vừa thoát khỏi một bản án treo lơ lửng. Nhưng nụ cười nhẹ nhõm chưa kịp nở trọn vẹn trên môi anh thì giọng nói lạnh như băng của Lâm lại vang lên, kéo tuột thực tế tàn khốc trở lại căn phòng ẩm mốc.

“Đừng vội mừng, Khôi. Bài toán đạo đức mày đã thắng rực rỡ, nhưng bài toán dòng tiền thì chúng ta vừa chính thức bước một chân vào cửa tử.”

Lâm xoay ngang màn hình laptop về phía Khôi và Bảo Ngọc. Một biểu đồ cột màu đỏ rực, dựng đứng một cách nghiệt ngã đập thẳng vào mắt họ.

“Hai mươi tám phẩy sáu phần trăm khách hàng còn lại yêu cầu hoàn tiền ngay lập tức,” đầu ngón tay Lâm gõ cộc cộc lên mặt bàn gỗ theo từng nhịp đếm. “Đó là chín mươi mốt đơn hàng cá nhân. Cộng với một số chi phí cổng thanh toán phát sinh, tổng số tiền mặt chúng ta buộc phải chuyển trả về tài khoản của họ trong vòng hai mươi bốn giờ tới là hai mươi ba triệu tám trăm ngàn đồng. Mày có nhớ tài khoản Bản Đỏ sáng nay còn lại chính xác bao nhiêu không?”

Khôi im lặng. Cổ họng anh nghẹn ứ. Con số ấy đã ám ảnh anh suốt từ nửa đêm: *Mười bốn triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng.*

“Chưa hết đâu,” Lâm tiếp tục bóc tách từng vết thương tài chính mà không một chút kiêng nể hay giảm xóc. “Tiền dầu diesel chạy máy phát điện suốt ba ngày ba đêm chống bão còn nợ cây xăng ngã ba là mười ba triệu tròn. Tiền thuê máy phát điện dã chiến mười hai triệu của bên cơ khí họ vừa gọi điện đòi thanh lý dứt điểm trước năm giờ chiều nay. Và nghiêm trọng nhất: cuối tuần này, đại lý vật tư Năm Cường yêu cầu Bản Đỏ phải thanh toán trước ba mươi sáu triệu trong tổng số bảy mươi hai triệu tiền nợ phân bón vi sinh, nếu không họ sẽ cho xe tải vào trẫm giữ chiếc máy bơm D24 và toàn bộ hệ thống ống tưới.”

Lâm di chuột, dứt khoát nhấn nút thực hiện lệnh thanh toán hàng loạt cho đợt khách hàng pre-order đầu tiên thông qua cổng VietQR tự động.

Một tiếng *ting* vang lên khô khốc từ chiếc điện thoại đặt trên mặt bàn của Khôi.

Tin nhắn biến động số dư từ ngân hàng hiện lên trên màn hình khóa: *Tài khoản 102xxx... Số dư khả dụng: 312.450 VND.*

Ba trăm mười hai ngàn bốn trăm năm mươi đồng.

Đó là toàn bộ số tiền còn lại trong tài khoản pháp nhân của một công ty cà phê đang vận hành một cửa hàng bán lẻ tại trung tâm Sài Gòn, một trạm sơ chế thử nghiệm tại Cư M’Rao và cam kết bao tiêu cho hàng chục hécta rẫy của bà con nông dân trong buôn.

“Tao đã phải vét sạch khoản hạn mức dự phòng cuối cùng từ hai chiếc thẻ tín dụng cá nhân của tao để bù vào phần thiếu hụt mười triệu hoàn cọc vừa rồi,” Lâm tựa lưng vào thành ghế, đưa hai tay lên xoa thái dương, buông một tiếng thở dài não nề. “Hiện tại, Bản Đỏ chính thức rỗng túi. Không còn một đồng vốn lưu động. Bất kỳ một sự cố nào phát sinh từ giờ đến cuối tuần, dù chỉ là một cái cánh quạt bị gãy, một cuộn băng keo bị hết hay một bóng đèn sấy bị cháy, chúng ta cũng hoàn toàn bất lực.”

Bảo Ngọc nhìn con số ba trăm mười hai ngàn trên màn hình, đôi môi cô mím chặt lại thành một đường chỉ trắng bệch. “Thế còn dòng tiền doanh thu hàng ngày từ quán Tú Xương thì sao Lâm?”

“Thảo My vừa gửi báo cáo tổng kết ca sáng nay về,” Lâm đáp cụt ngủn, giọng mệt mỏi cùng cực. “Doanh thu trừ sạch chi phí mua sữa tươi thanh trùng, đá lạnh, trái cây và bánh ngọt nhập hàng ngày, nộp về tài khoản vận hành được một triệu tám trăm ngàn. Số tiền đó chỉ vừa khít để thanh toán tiền điện ba pha và chi trả lương tính theo ngày công cho hai bạn nhân viên pha chế bán thời gian. Chúng ta không được phép rút một đồng nào từ quán về Buôn Ma Thuột lúc này, trừ phi mày muốn quán Tú Xương phải đóng cửa vì cạn kiệt nguyên liệu ngay ngày mai.”

Sự im lặng lại bao trùm căn kho. Cảm giác thanh thản ngắn ngủi sau bức thư ngỏ nhanh chóng bị nghiền nát dưới sức nặng nghìn cân của bài toán sinh tồn cơ học.

Khôi đứng dậy, đẩy cửa bước ra ngoài hiên kho. Mưa đã ngớt hẳn, chỉ còn những hạt bụi nước li ti bay lơ lửng trong không trung. Bầu trời Cư M’Rao vẫn một màu xám xịt như chì nung. Những rặng muồng đen trồng che gió quanh các triền rẫy rũ rượi, từng nhánh lá gãy gập tơi tả sau trận cuồng phong.

Từ khúc quanh của con đường mòn dẫn sâu vào buôn Cư M’Rao, bóng một người đàn ông dong dỏng cao, mặc chiếc áo mưa cánh dơi rách tơi tả ở bả vai, đang lầm lũi dắt chiếc xe máy Honda Cub cà tàng dính đầy bùn đỏ đi tới. Bánh xe trước bết đất đến mức kẹt cứng vào dè chắn bùn, người đó phải gồng mình đẩy từng bước nặng nhọc. Đó là anh Tư.

Anh Tư dựng chân chống xe bên mép hiên, tháo chiếc nón cối sũng nước, quệt ngang dòng mồ hôi pha lẫn nước mưa đang chảy ròng ròng trên trán. Gương mặt người nông dân kỳ cựu hằn sâu những nếp nhăn lo âu:

“Khôi ơi… thằng Y Bih… nó ngồi bệt ngoài góc sân từ sáng tới giờ, không chịu ăn uống hột cơm nào hết. Con H’Lan vợ nó khóc lóc quá trời quá đất. Ba đứa bây thu xếp vào với nó một chuyến đi, tao sợ nó nghĩ quẩn làm bậy thì khổ.”

Khôi khựng lại, tim thắt lại một nhịp. “Có chuyện gì nghiêm trọng vậy anh Tư? Lô quả hái chọn lọc sườn Tây hôm trước của nhà Y Bih thế nào rồi?”

Anh Tư thở dài sườn sượt, hai tay vò nát chiếc nón cối:

“Thì hôm bão đổ bộ, nó tiếc công thợ hái lựa được hơn tạ rưỡi quả chín mọng sườn Tây, mang về nhà tính chờ tạnh mưa rồi chở ngay qua trạm mình giao. Ai dè nửa đêm nước lũ từ suối dâng tràn ngập cả góc sân, tấm bạt ni lông che chắn bị gió giật rách toang hoác. Quả ngâm trong nước lũ suốt hai ngày một đêm. Sáng nay tao chạy qua coi thử… nứt vỏ, bốc mùi men chua lòm hết cả rồi. Không thể nào làm hàng đặc sản cho tụi bây được nữa đâu. Thằng nhỏ đang rầu thúi ruột thúi gan, sợ mang nợ đợt này chết đứng luôn.”

Khôi quay ngoắt lại nhìn Lâm và Bảo Ngọc.

Không cần một lời giải thích thêm, Lâm gập chiếc laptop lại, nhét vội vào balô chống nước. Bảo Ngọc cúi xuống xỏ chân vào đôi ủng cao su lấm lem bùn đất dựng ở góc tường.

“Đi thôi anh Tư,” Khôi nói dứt khoát.

Con đường đất đỏ xuyên qua thung lũng Cư M’Rao sau trận bão không khác gì một bãi lầy khổng lồ. Đất bazan ngậm no nước mưa quánh dẻo lại như sáp, bám chặt lấy từng đế ủng, mỗi bước nhấc chân lên đều nghe tiếng bì bõm nặng trịch như có người níu lại từ lòng đất. Khôi, Lâm, Bảo Ngọc và anh Tư phải mất gần bốn mươi phút đánh vật với những con dốc trơn trượt mới vào đến cổng nhà Y Bih Niê.

Ngôi nhà dài truyền thống bằng gỗ của gia đình Y Bih nằm lặng lẽ bên triền dốc thoải. Khác hẳn với không khí rộn ràng, rôm rả tiếng cười nói thường ngày của mùa thu hoạch, không gian nơi đây u ám và nặng nề đến nghẹt thở.

Trên khoảng sân đất nện trước nhà, bảy tám bao tải gai rách miệng nằm chỏng trơ, xiêu vẹo giữa vũng sình lầy. Một mùi hương nồng nặc, ngột ngạt xộc thẳng vào mũi Khôi ngay từ đầu cổng: mùi đường mía lên men chua loét pha lẫn mùi thối rữa nồng nặc của vỏ quả cà phê bị ngâm nước lâu ngày. Hàng đàn ruồi nhặng bắt đầu vo ve bu kín những đống quả đã chuyển sang màu đen thẫm, vỏ nhũn nát, đang rỉ ra thứ nước nhờn nhợt màu cánh gián sẫm, tanh nồng.

Bên bậc thang gỗ dẫn lên sàn nhà, H’Lan—vợ của Y Bih—đang ngồi bệt dưới đất, hai tay ôm chặt đứa con nhỏ mới hơn hai tuổi vào lòng, đôi mắt sưng mọng, đỏ hoe vì khóc suốt từ đêm qua.

Còn Y Bih thì ngồi thụp giữa sân bùn, ngay bên cạnh những bao cà phê hỏng. Hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì sương gió của người đàn ông Ê-đê trẻ tuổi ôm chặt lấy đầu, những ngón tay gầy guộc vò nát mái tóc bờ phờ dính đầy đất cát. Lưng anh run lên từng chập.

Nghe tiếng bước chân lội bì bõm trong bùn, Y Bih từ từ ngẩng đầu lên. Gương mặt vốn luôn rạng rỡ nụ cười hồn hậu và nét cương nghị của chàng trai buôn làng nay xám ngoét, hai hốc mắt trũng sâu vằn lên những tia máu đỏ lòm vì kiệt sức và tuyệt vọng.

“Anh Khôi… anh Tư…” Giọng Y Bih nghẹn ứ nơi cổ họng, méo mó và lạc đi. “Hỏng… hỏng hết sạch rồi anh ơi. Cả tạ rưỡi quả chín sườn Tây… công tám đứa thợ hái lựa từng quả đỏ au… hỏng sạch bách rồi.”

Khôi bước tới, không ngần ngại quỳ một gối xuống nền đất bùn nhão nhoét ngay trước mặt Y Bih. Anh đưa bàn tay trần bốc một nắm quả cà phê từ miệng bao tải lên kiểm tra.

Vỏ quả bên ngoài đã mềm nhũn, trơn tuột như thạch rữa. Lớp thịt nhớt bên trong đã bị vi khuẩn yếm khí phân hủy hoàn toàn, bốc lên mùi men chua gắt của giấm hỏng và rượu ôi. Khôi dùng ngón tay cái bóp nhẹ một hạt: phần nhân xanh bên trong lộ ra màu xám xịt như chì, mềm nhũn, mầm phôi đã chết úng do thiếu oxy trong nước ngập.

Lô quả này hoàn toàn vô giá trị đối với tiêu chuẩn chế biến cà phê đặc sản của Bản Đỏ. Nếu đưa vào xát vỏ và phơi sấy, nó sẽ lây nhiễm nấm mốc sang toàn bộ hệ thống giàn phơi. Thậm chí nếu đem bán xô cho các thương lái thu gom ngoài chợ ngã ba, họ cũng sẽ ép giá xuống mức rẻ mạt như cho không vì tỷ lệ nhân thối quá cao.

“Thằng Y Bih nó dại dột quá,” anh Tư đứng bên cạnh chép miệng, giọng xót xa đến nghẹn ngào. “Nó tin lời tụi mình hướng dẫn, muốn đạt chuẩn để lấy trọn tiền thưởng chín ngàn rưỡi một ký quả chín của Bản Đỏ, nên nó gom hết tiền, thuê hẳn tám người thợ hái lành nghề nhất trong buôn. Nó trả công nhật tới hai trăm tám mươi ngàn một ngày, lại còn hứa thưởng thêm năm mươi ngàn một người nếu gùi cà phê nào mang về cũng đạt tỷ lệ quả đỏ trên chín mươi lăm phần trăm. Tiền công thợ hai ngày hết gần năm triệu bạc, nó phải sang vay nóng của thím Bảy ngoài ngã ba để trả tiền tươi cho người ta ngay trong chiều bão.”

Y Bih đấm mạnh nắm tay xuống nền đất bùn nhão nhoét, bùn đỏ văng lên cả ống quần Khôi. Người đàn ông trẻ tuổi bật khóc nức nở, tiếng khóc uất nghẹn xé toạc không gian tĩnh mịch:

“Tiền công thợ em đã trả dứt điểm cho người ta rồi… mà giờ cà phê thành đống rác thối thế này… Hồi sáng lão Năm Cường cho xe ngang qua, ghé vô coi rồi trả có ba ngàn một ký cà xô ủng, mà lão còn chê ỏng chê eo không thèm bốc lên xe. Bán hết đống này không nổi một triệu bạc anh Khôi ơi… Em lấy đâu ra bốn triệu mấy trả nợ cho thím Bảy? Tiền lãi ngày của bả cắt cổ… Rồi tiền sữa, tiền gạo cho con bé tháng này tính sao đây trời ơi…”

Tiếng khóc của người đàn ông trụ cột gia đình rơi vào khoảng sân sau bão nghe buốt nhói. H’Lan bên hiên nhà cũng sụt sùi ôm con chặt hơn, kéo vạt áo rách che mặt đứa nhỏ đang ngơ ngác nhìn bố.

Lâm đứng cạnh Khôi, bàn tay siết chặt lấy quai balô. Là một người làm công tác quản trị tài chính, trong đầu Lâm lập tức nhảy số với tốc độ của một cái máy tính: chi phí thực tế mà gia đình Y Bih đã bỏ ra cho nhân công hái lựa lô này là bốn triệu chín trăm ngàn đồng. Nếu bán tháo đống quả hỏng làm phế phẩm, họ thu về tối đa chín trăm ngàn. Nghĩa là họ cầm chắc một khoản lỗ âm tiền mặt đúng bốn triệu đồng.

Đối với một nông hộ nhỏ ở vùng sâu Cư M’Rao, bốn triệu đồng tiền mặt không đơn thuần là một con số trên giấy. Nó là học phí đầu năm của đứa trẻ, là tiền mua phân bón thúc cho đợt hoa sau, là tiền mua gạo ăn dè sẻn của cả một gia đình trong suốt hai tháng giáp hạt mùa đông.

Và bi kịch trớ trêu nhất nằm ở chỗ: họ lâm vào bước đường cùng này chính vì họ đã quá thật thà, quá nỗ lực làm theo đúng quy trình chất lượng cao mà Bản Đỏ đã kiên trì vận động suốt một năm qua. Nếu Y Bih cứ tuốt cành bừa bãi, hái lẫn lộn cả quả xanh quả chín rồi tống khứ cho thương lái Năm Cường từ trước khi bão đổ bộ như thói quen canh tác cũ, anh đã thu về tiền tươi thóc thật, không bao giờ phải chịu một đồng chi phí nhân công hái tỉa đắt đỏ kia.

Khôi nhìn đống quả rữa nát dưới chân, rồi nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu, tuyệt vọng của Y Bih.

Lời hứa về một “chuỗi liên kết giá trị công bằng” mà anh từng say sưa thuyết trình trong các buổi họp buôn bỗng dội về trong tâm trí anh, bỏng rát như than hồng.

Thế nào là giá trị công bằng? Chẳng lẽ giá trị công bằng chỉ tồn tại khi trời yên biển lặng, khi mùa màng thuận hòa, công ty ung dung hưởng lợi từ những hạt cà phê chất lượng cao thượng hạng của nông dân; còn khi thiên tai bão lũ bất ngờ ập xuống, người nông dân thấp cổ bé họng phải tự mình gánh chịu toàn bộ rủi ro hay sao?

Nếu Bản Đỏ quay lưng bỏ đi lúc này, với một lý do hoàn toàn hợp pháp, hợp lý và đúng chuẩn mực thương mại rằng “chất lượng sản phẩm không đạt tiêu chuẩn thu mua theo hợp đồng”, thì Bản Đỏ có khác gì những thương lái tàn nhẫn ngoài kia? Sự khác biệt giữa một mô hình nông nghiệp trách nhiệm và một kẻ đầu cơ cơ hội chỉ lộ rõ nhất vào chính những thời khắc nghiệt ngã như thế này.

Khôi hít sâu một hơi đất ẩm, đứng thẳng người dậy. Anh quay lại nhìn Lâm.

Bốn mắt nhìn nhau. Lâm giật thót người. Với sự nhạy cảm của một người bạn tri kỷ đã cùng Khôi lăn lộn từ những ngày đầu khởi nghiệp ở giảng đường đại học, Lâm đọc được ngay suy nghĩ điên rồ và nguy hiểm đang bùng lên trong đầu bạn mình.

“Khôi… mày tỉnh táo lại đi,” Lâm hạ giọng, bước tới sát bên Khôi, nói rất nhanh qua kẽ răng, âm lượng chỉ vừa đủ cho hai người nghe. “Tài khoản công ty vừa trừ sạch tiền hoàn cọc, chỉ còn đúng ba trăm mười hai ngàn đồng. Mày không có tư cách hay thẩm quyền để chi thêm bất kỳ một đồng nào lúc này nữa đâu.”

“Lâm,” Khôi nhìn thẳng vào mắt bạn, giọng anh trầm xuống nhưng kiên định đến mức lạ kỳ. “Trong quy chế tài chính nội bộ mà tao với mày ký hồi đầu mùa vụ, chúng ta đã thống nhất trích lập Quỹ dự phòng rủi ro thiên tai và bảo vệ nông hộ liên kết. Mày còn nhớ điều khoản đó không?”

“Tao nhớ rất rõ!” Lâm gằn giọng, khuôn mặt trắng trẻo của dân văn phòng đỏ bừng lên vì ức chế. “Nhưng cái quỹ chết tiệt đó chỉ tồn tại trên bảng cân đối kế toán! Trên thực tế, bốn mươi ba triệu tiền mặt của quỹ đó đã bị mày đốt sạch vào tiền dầu máy phát điện, tiền thuê quạt gió và tiền mua bạt nilon để cứu tám tấn quả ngoài trạm suốt ba ngày qua rồi! Chúng ta đang âm vốn lưu động nghiêm trọng! Mày định lấy tiền âm phủ ra để kích hoạt cái quỹ đó à?”

“Tao chịu trách nhiệm cá nhân với tư cách Giám đốc điều hành,” Khôi nói, từng từ rơi xuống nặng như chì. “Nếu pháp nhân Bản Đỏ không còn tiền mặt, tao sẽ ký giấy nhận nợ với công ty. Hoặc tao sẽ đem chiếc xe máy của tao đi cắm, tao đi vay mượn bạn bè dưới danh nghĩa cá nhân Đoàn Minh Khôi để bù vào sau. Nhưng gia đình Y Bih tuyệt đối không thể bị đẩy vào bước đường cùng vì đã đặt trọn niềm tin vào Bản Đỏ.”

Bảo Ngọc bước lên một bước, đặt bàn tay mảnh khảnh nhưng rắn rỏi lên cánh tay đang run lên vì giận dữ của Lâm.

Cô không lên tiếng giải thích hay khuyên can một lời nào. Nhưng ánh mắt kiên định của cô, cùng một cái gật đầu thật chậm, mang sức nặng của một sự đồng thuận tuyệt đối. Bảo Ngọc là người giữ cổng chất lượng khắt khe nhất của Bản Đỏ, cô là người vừa lạnh lùng ký vào biên bản loại bỏ bảy mẻ cà phê không đạt chuẩn, cô từ chối nhận lô quả hỏng này vào trạm sơ chế. Nhưng cô cũng là người hiểu sâu sắc hơn ai hết: phẩm giá và linh hồn của một tách specialty coffee phải bắt đầu từ chính phẩm giá của người nông dân đổ mồ hôi gieo trồng ra nó.

Lâm nhìn Khôi. Rồi nhìn sang Bảo Ngọc. Cuối cùng, ánh mắt anh dừng lại trên dáng ngồi co quắp, tuyệt vọng của Y Bih giữa vũng bùn lầy, bên cạnh người vợ trẻ đang ôm con khóc thầm.

Bàn tay đang nắm chặt quai balô của Lâm khẽ buông lỏng. Anh thở hắt ra một hơi dài cay đắng, đưa tay vuốt ngược mái tóc ướt sũng nước mưa ra sau gáy.

“Mẹ kiếp… kiếp trước chắc tao nợ nần gì cái thằng kỹ sư nông nghiệp gàn dở như mày,” Lâm lẩm bẩm chửi thề một câu bằng giọng Nam bộ đặc sệt.

Nhưng nét mặt căng thẳng, gay gắt của anh đã biến mất, nhường chỗ cho sự quyết đoán và trầm tĩnh của một người làm tài chính chuyên nghiệp đã chấp nhận cuộc chơi.

Lâm kéo khóa ngăn phụ của chiếc balô chống nước. Anh thò tay vào sâu bên trong, lôi ra một xấp tiền mặt gồm toàn những tờ tiền mệnh giá một trăm ngàn đồng còn mới, được kẹp phẳng phiu bằng một chiếc kẹp giấy kim loại. Đó là khoản tiền mặt cuối cùng mà Lâm vừa ứng trước từ hạn mức thẻ tín dụng cá nhân tại cây ATM trung tâm thị trấn sáng nay để phòng thân cho những ngày bám trụ ở rẫy.

Lâm đếm nhanh qua các ngón tay rồi đưa trọn xấp tiền cho Khôi, không nói thêm một lời thừa thãi nào.

Khôi đón lấy xấp tiền từ tay bạn. Anh quay lại, ngồi xổm xuống trước mặt Y Bih, hai bàn tay giữ chặt lấy bờ vai gầy gò của người nông dân Ê-đê.

“Y Bih. Ngẩng mặt lên nghe anh nói này.”

Y Bih từ từ ngước khuôn mặt đẫm nước mắt và lấm lem bùn đất lên nhìn Khôi.

“Lô cà phê này của em bị ngâm nước lũ, cấu trúc nhân và phẩm chất thịt quả đã hỏng hoàn toàn. Bản Đỏ là thương hiệu cà phê đặc sản, tụi anh tuyệt đối không thể thu mua số quả này để đưa vào trạm sơ chế. Nếu đưa vào, uy tín của hạt cà phê Cư M’Rao mà mấy anh em mình gầy dựng bấy lâu nay sẽ mất sạch.”

Tia hy vọng mong manh vừa lóe lên trong mắt Y Bih bỗng vụt tắt lịm. Anh gục đầu xuống, chuẩn bị đón nhận đòn giáng cuối cùng của số phận. Nhưng giọng nói trầm ấm của Khôi lại vang lên, rõ ràng và dõng dạc giữa khoảng sân:

“Nhưng em đã làm đúng quy trình. Em thuê thợ hái tỉa cẩn thận từng quả chín đỏ, em trả công nhật đàng hoàng để bà con không bẻ cành tuốt lá, bảo vệ mắt mầm cho cây vụ sau. Em làm tất cả những điều đó vì em tin vào lời hứa chất lượng của Bản Đỏ. Mưa bão ngập úng là thiên tai, là rủi ro bất khả kháng, tuyệt đối không phải lỗi của em. Bản Đỏ đã cam kết đồng hành cùng bà con thì dứt khoát không bao giờ để nông dân của mình phải gánh chịu thiệt hại một mình.”

Khôi mở xấp tiền trên tay, đếm đủ bốn mươi chín tờ một trăm ngàn đồng, rồi cầm lấy bàn tay chai sần, run rẩy của Y Bih, đặt trọn vẹn xấp tiền vào lòng bàn tay anh và gập các ngón tay thô ráp của anh lại.

“Đây là bốn triệu chín trăm ngàn đồng, trích từ Quỹ dự phòng rủi ro thiên tai của Bản Đỏ. Công ty hỗ trợ chi trả toàn bộ một trăm phần trăm chi phí nhân công hái lựa mà gia đình em đã bỏ ra. Số quả hỏng này, em cứ mang ra phơi khô rồi bán cho thương lái làm cà xô loại ba để lấy thêm ít tiền mua gạo cho cháu. Phần vốn nhân công của em, Bản Đỏ gánh trọn.”

Y Bih ngồi chết lặng. Anh trừng trừng nhìn xấp tiền dày cộp nằm trong lòng bàn tay mình, rồi ngước nhìn Khôi như thể không tin vào đôi tai và đôi mắt mình nữa.

“Anh… anh Khôi… Tụi anh không lấy cà phê… mà vẫn trả đủ tiền công thợ cho em thật sao?”

“Thật,” Khôi mỉm cười, vỗ mạnh vào bả vai săn chắc của Y Bih. “Bản Đỏ không bao giờ mua hàng hỏng để lừa dối người tiêu dùng, nhưng Bản Đỏ dứt khoát bảo vệ mồ hôi nước mắt của người làm thật. Cầm lấy tiền, sang ngã ba trả dứt điểm cho thím Bảy đi, rồi về dọn dẹp lại vườn tược. Mùa này coi như mất đợt quả sớm sườn Tây, nhưng rẫy sườn Đông tuần sau mới bắt đầu chín rộ. Anh với anh Tư sẽ lại cùng em đón đợt quả mới.”

H’Lan đứng bên bậc thang nhà dài bỗng òa khóc nức nở, nhưng lần này là những giọt nước mắt của sự giải thoát tột cùng. Chị vội vã bế đứa con nhỏ chạy xuống thang gỗ, bước tới định sụp lạy cảm tạ khiến Bảo Ngọc phải vội vàng bước tới ôm lấy hai mẹ con, đỡ chị đứng thẳng dậy.

Y Bih nắm chặt xấp tiền trong tay. Những ngón tay chai cứng của anh siết chặt lấy cổ tay áo Khôi, bờ vai anh rung lên bần bật. Một người đàn ông Tây Nguyên kiêu hãnh, dạn dày nắng gió, lúc này hoàn toàn không nói nên lời, chỉ biết gục trán vào vai Khôi mà nấc nghẹn từng cơn dài.

Toàn bộ cảnh tượng ấy không chỉ diễn ra trước mắt nhóm sáng lập Bản Đỏ.

Từ lúc nào không hay, ngoài hàng rào dâm bụt bao quanh sân nhà Y Bih, rất đông bà con nông dân trong buôn Cư M’Rao đã kéo đến đứng xem.

Đứng đầu hàng rào là già Ama H’Rin, hai tay chống lên chiếc gậy gỗ mun quen thuộc đã mòn nhẵn; đứng sát phía sau ông là Y Khen, Y Lem, Ma BLao và gần chục người đàn ông, phụ nữ khác trong buôn. Họ đã đứng lặng lẽ ở đó từ lúc Khôi quỳ xuống bốc nắm cà phê thối. Họ đã chứng kiến từng cử chỉ, nghe rõ từng lời phân trần dứt khoát của Khôi, và tận mắt nhìn thấy xấp tiền mặt bốn triệu chín trăm ngàn được trao đi mà không đòi hỏi lấy lại dù chỉ một hạt cà phê mang về.

Một sự im lặng tuyệt đối bao trùm khắp đám đông người làng.

Suốt bao nhiêu thế hệ canh tác cà phê trên mảnh đất Cư M’Rao này, người nông dân chỉ quen thuộc với một quy luật nghiệt ngã duy nhất của kinh tế thị trường: được mùa thì bị thương lái ép giá, mất mùa thì bị đại lý siết nợ. Những thương lái lọc lõi hay các đại diện thu mua của các công ty lớn chỉ xuất hiện khi quả chín đỏ trĩu cành, mang theo những bản hợp đồng in sẵn hào nhoáng và những cọc tiền mặt tạm ứng nhằm trói buộc sổ đỏ và đất đai của buôn làng; nhưng hễ mưa bão tràn qua làm hỏng mùa màng, họ lập tức là những kẻ đầu tiên ép giá cà phê ngậm nước xuống mức rẻ mạt như bùn rác, hoặc lạnh lùng quay lưng phủi tay bỏ mặc người nông dân tự xoay xở với nợ nần vật tư chất chồng.

Những lời hứa hẹn về “chuỗi liên kết bền vững”, “chia sẻ rủi ro” mà Khôi nói suốt một năm qua, trước ngày hôm nay, trong suy nghĩ của già Ama H’Rin và nhiều người già trong buôn vẫn chỉ là thứ lý thuyết viển vông, êm tai của mấy đứa kỹ sư trẻ từ thành phố về rẫy. Họ nghe thì thích, nhưng trong bụng vẫn luôn thường trực một sự hoài nghi và đề phòng sâu sắc.

Nhưng lúc này, xấp tiền mặt thấm mồ hôi nằm gọn trong tay Y Bih đã đập tan hoàn toàn bức tường nghi kỵ vô hình ấy.

Già Ama H’Rin chậm rãi đẩy cánh cổng rào bằng tre, bước vào sân. Tiếng gậy gỗ mun gõ lộc cộc đều đặn trên nền đất lầy lội. Đám đông nông dân phía sau lặng lẽ bước theo chân ông.

Già dừng lại ngay trước mặt Khôi. Đôi mắt già nua, đục mờ vì năm tháng nhưng tinh anh phi thường của người chủ buôn nhìn sâu vào khuôn mặt lấm lem bùn đất và đôi mắt mệt mỏi của chàng trai trẻ.

Bàn tay gầy guộc, nổi đầy gân xanh như rễ cây rừng của già Ama H’Rin từ từ giơ lên, đặt thẳng lên ngực áo Khôi, ngay phía trên trái tim đang đập dồn dập.

“Cái bụng của mày… thẳng như cây kơ-nia đứng trên đỉnh núi Cư M’Rao,” già Ama H’Rin cất giọng trầm đục, từng lời phát âm bằng tiếng Kinh lơ lớ nhưng vang vọng khắp khoảng sân. “Xưa nay, tao sống trên đất này gần tám mươi mùa rẫy, tao chỉ thấy người ta mang xe tải lớn đến đây để chở đi hạt cà phê và bòn rút công sức của dân làng tao. Mày là người đầu tiên đến Cư M’Rao để giữ lại cái danh dự và cái bát cơm cho người trồng cây. Bà con Cư M’Rao mắt đã thấy, tai đã nghe, cái bụng đã hiểu hết rồi.”

Già Ama H’Rin quay ngoắt người lại, chiếc gậy gỗ mun chỉ thẳng vào đám đông nông dân đang đứng vây quanh:

“Bà con nghe già dặn đây! Từ nay về sau, đứa nào trong buôn này hái quả xanh bán tháo cho người khác thì tao không thèm nói. Nhưng hễ đứa nào đã nhận lời hái lựa cà chín cho thằng Khôi Bản Đỏ, mà còn dám lén lút trộn quả xanh, trộn cà đất bậy bạ làm mất uy tín của nó, thì cái buôn này sẽ phạt vạ, không coi đứa đó là người Cư M’Rao nữa!”

Những tiếng xì xào, gật đầu đồng tình vang lên rầm rộ từ đám đông. Y Khen siết chặt nắm tay hưởng ứng. Ma BLao—người nông dân tuần trước còn đang dao động trước những cọc tiền mặt chào mời tạm ứng của đại diện tập đoàn Đại Nguyên—lúc này cũng lặng lẽ cúi gầm mặt xuống, ánh mắt ánh lên sự hổ thẹn sâu sắc xen lẫn niềm nể phục chân thành.

Lời hứa của Bản Đỏ, được bảo chứng bằng những đồng vốn khả dụng cuối cùng và sự hy sinh lợi ích tài chính sát sườn, đã cắm một chiếc rễ sâu bền chặt vào lòng đất mẹ Cư M’Rao. Một liên minh tự nhiên, không thể bị phá vỡ bằng tiền bạc hay sự đe dọa, đã chính thức được tôi luyện qua tâm bão.

Mười hai giờ trưa.

Mặt trời bắt đầu hé rạng sau tầng mây xám, rọi những tia nắng gắt gỏng đầu tiên xuống thung lũng, làm hơi nước từ mặt đất bốc lên ngùn ngụt như một lò xông hơi khổng lồ.

Khôi, Lâm và anh Tư lảo đảo bước bộ trở về trạm sơ chế Bản Đỏ. Chiếc bụng đói cồn cào sau nhiều ngày ăn uống thất thường bắt đầu quặn thắt, đôi chân mỏi nhừ vì phải liên tục kéo lê những đôi ủng ngập bùn, nhưng trong lồng ngực Khôi, cảm giác thanh thản và nhẹ nhõm chưa từng có đang lan tỏa.

Anh biết rất rõ con đường phía trước trong vài ngày tới sẽ là một cuộc chiến sinh tồn vô cùng khốc liệt: tài khoản công ty rỗng tuếch không còn một xu dính túi, khoản nợ vật tư ba mươi sáu triệu của đại lý Năm Cường đang treo lơ lửng như một lưỡi gươm phạt, và họ phải tìm cách xoay xở từng đồng tiền lẻ để mua dầu vận hành máy móc cho đợt quả chín rộ vào tuần tới. Nhưng đổi lại, anh biết mình đã có trọn vẹn sự đồng lòng và niềm tin tuyệt đối của bà con Cư M’Rao.

“Mày tính thế nào với khoản nợ ba mươi sáu triệu của lão Năm Cường vào cuối tuần này?” Lâm vừa gạt mồ hôi trên trán vừa hỏi, giọng anh đã lấy lại sự bình thản, lý trí vốn có. “Dù sao thì… chuyện mày làm với nhà Y Bih lúc nãy, tao không phản đối nữa. Đứng về góc độ tài chính thuần túy, chúng ta vừa mua được thứ tài sản vô hình đắt giá nhất của một doanh nghiệp nông nghiệp: niềm tin tuyệt đối của toàn bộ chuỗi cung ứng cơ sở. Nhưng niềm tin thì không thể rút ra từ cây ATM để trả nợ phân bón cho lão Cường.”

“Tao sẽ có cách tính,” Khôi đáp, quệt ngang giọt mồ hôi đang chảy cay xè vào khóe mắt. “Chiều nay tao sẽ trực tiếp lên gặp chú Năm Cường ở ngã ba. Tao sẽ xin chú cho khất nợ thêm một tuần nữa, hoặc tao sẽ dùng chính số nhân xanh đạt chuẩn tám mươi tư điểm của hai mẻ L-01 và L-05 đang nằm trong kho để làm tài sản thế chấp—”

Khôi chưa kịp nói hết câu thì bước chân anh đột ngột khựng lại ngay trước lối rẽ vào trạm.

Từ phía cổng kho nông cụ Bản Đỏ, tiếng gầm rú chói tai của một động cơ xe bán tải công suất lớn phá vỡ hoàn toàn bầu không khí yên ả của buổi trưa cao nguyên.

Một chiếc xe bán tải Ford Ranger Wildtrak đời mới màu đen bóng, bốn bánh xe bám đầy bùn đỏ nhưng phần thân xe được lau chùi bóng loáng, đỗ xịch chắn ngang cổng chính của trạm sơ chế. Ống xả của chiếc xe phả từng làn khói dầu xám xịt, khét lẹt thẳng vào khu vực giàn phơi mẫu.

Cánh cửa xe bên ghế lái bật mở kèm theo một tiếng *cạch* dứt khoát.

Phạm Đức Sang bước xuống xe. Lão mặc một chiếc áo sơ mi lụa ngắn tay in hoa văn sặc sỡ, quần âu là ủi phẳng phiu cắm thùng, miệng ngậm một que tăm nhọn hoắt. Đôi mắt ti hí của lão lướt qua trạm sơ chế xơ xác sau bão một lượt từ trên xuống dưới, rồi dừng lại trên người Khôi với một nụ cười nửa miệng đầy vẻ giễu cợt và đắc thắng.

Dưới nách Sang kẹp một tập hồ sơ dày cộp, bìa bọc da màu đỏ thẫm sang trọng, bên trên dập nổi logo mạ vàng sáng loáng của Chuỗi Cà phê Đại Nguyên.

Sang thong thả rút que tăm ra khỏi miệng, búng tay một cái tanh tách vào không khí, rồi cất giọng oang oang, sang sảng át cả tiếng gió rừng:

“Khôi đấy à cháu? Nghe nói Bản Đỏ vụ này chơi sang quá ta, đem sạch tiền mặt trong tài khoản đi hoàn cọc cho thiên hạ, rồi trưa nay lại còn mang tiền đi phát từ thiện cho thằng Y Bih nữa hả? Chú mày tốt bụng quá, tử tế quá trời quá đất, nhưng tiếc là cái thị trường cà phê khốc liệt này xưa nay chưa bao giờ sống được bằng lòng tốt đâu cháu ơi!”

Sang sải bước tiến thẳng vào sân kho, không thèm để ý đến những vũng bùn lầy, rồi đập mạnh tập hồ sơ bọc da màu đỏ lên mặt chiếc bàn cân cơ học đặt trước cửa trạm:

“Đại diện cấp cao của Tập đoàn Đại Nguyên vừa ký giấy ủy quyền toàn phần cho tao sáng nay. Toàn bộ vùng nguyên liệu Cư M’Rao này, từ tiền phân bón vi sinh, tiền cước xe vận chuyển cho đến toàn bộ đầu ra hạt thô, Đại Nguyên sẽ bao trọn gói bằng một hợp đồng độc quyền thời hạn ba năm. Chú mày cạn sạch vốn lưu động rồi thì đừng có cố đấm ăn xôi làm gì cho khổ thân. Ký ngay vào cái biên bản thỏa thuận chuyển giao quyền khai thác trạm sơ chế này cho Đại Nguyên đi, tao sẽ nói với sếp Đạt duyệt chi cho mày một cục tiền tươi ngay chiều nay. Đủ để mày trả sạch nợ nần vật tư, và còn dư một món kha khá mang về thành phố mà lo cho ông bà già mày ở nhà!”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn