Kiếm Tâm Vấn ĐạoC.39 / 40
Chương 39

Thanh Kiếm Của Chính Mình

Ánh lam quang thuần khiết từ lòng lò Cổ Lô hắt lên khuôn mặt đẫm mồ hôi của Lục Thanh khi cậu bình tĩnh gạt bỏ vụn kim loại rạn nứt.

Không gian trong lòng Cổ Lô Đài sau cơn bạo động vừa rồi bỗng chìm vào một cõi tĩnh lặng lạ thường, một sự tĩnh lặng thâm u tựa hồ đáy vực ngàn trượng sau khi cuồng phong dứt hạt. Tiếng rít gầm dữ dội của ngọn địa hỏa ngàn năm từng xé toạc không gian sảnh lò nay đã hoàn toàn dịu lại, từ sắc đỏ tía gay gắt hung hiểm chuyển hóa thành một quầng lửa biếc lung linh như ngọc bích lỏng, êm đềm liếm quanh những phiến sa thạch cổ sơ đã ngả màu rêu phong qua hàng thế kỷ. Hơi nóng bức bách từng suýt thiêu rụi kinh mạch, từng chực cắn nuốt thần thức của người thợ rèn, nay trở nên ấm áp lạ kỳ, phập phồng nhịp nhàng tựa hơi thở sâu thẳm của lòng đất mẹ dưới đáy núi Vân Phong. Mỗi một đợt sóng nhiệt dâng lên không còn mang theo cuồng nộ hủy diệt, mà như một luồng sinh khí ấm nồng vỗ về từng tấc da thịt, từng phiến đá hoa cương lát nền.

Trên mặt đe đá hoa cương xám tro sừng sững giữa sảnh, khối phôi kiếm dài hơn ba thước vừa trải qua một kiếp nạn thập tử nhất sinh đang từ từ sẫm màu lại. Ánh đỏ cam rực rỡ thuở ban đầu lùi dần, nhường chỗ cho sắc hồng tím thâm trầm của kim loại đang nguội đi trong tĩnh tại. Thế nhưng, chạy dọc theo mép lưỡi kiếm còn chưa kịp thành hình là những đường rạn chân chim li ti đan xen chằng chịt như mạng nhện. Những vết nứt ấy không đơn thuần là sự co giãn cơ học của sắt thép; chúng chính là dấu vết mà cơn mê muội ban nãy để lại—khi ký ức kim loại chôn sâu dưới tầng tầng lớp lớp linh khoáng của Tâm Minh Thiết trỗi dậy, kéo theo chấp niệm ngút trời muốn chứng minh bản thân, cùng nỗi oán hờn cay đắng của phụ thân Lục Viễn Sơn năm xưa.

Mỗi vết rạn nhỏ nhoi ấy đều mang theo một luồng xỉ khí u ám, đục ngầu như khói độc bốc lên từ đầm lầy tăm tối. Nó tỏa ra một thứ từ trường vặn vẹo, gắt gỏng, như muốn níu giữ tâm can người thợ vào vòng xoáy muôn thuở của sự báo thù, của lòng hiếu thắng mù quáng và sự kiêu ngạo rỗng tuếch đã từng chôn vùi biết bao bậc kỳ tài luyện khí của đất Thanh Vân.

Lục Thanh khẽ cúi đầu, đôi mắt đen láy phản chiếu ánh lửa biếc, chăm chú nhìn thật kỹ từng thớ thép đang run rẩy trên mặt đe. Cậu hít vào một hơi thật sâu qua cánh mũi, luồng không khí ấm áp thấm đẫm mùi khoáng thạch thanh khiết lấp đầy lồng ngực. Cậu không vội, từng nhịp thở đều tăm tắp như tiếng đồng hồ cát nhỏ giọt. Khí tức ngũ hành tương sinh bên trong cơ thể cậu chậm rãi cuộn trào, ba trăm sáu mươi huyệt đạo trên khắp chu thân nhẹ nhàng đóng mở theo tiết tấu tự nhiên của đất trời, duy trì mức nạp khí trọn vẹn ở ngưỡng bảy phần mười vững chãi—ngưỡng cửa của sự tự chủ tuyệt đối, không dư thừa một tia xốc nổi, không thiếu hụt một chút sức tàn.

Bàn tay phải của cậu buông chiếc búa tạ huyền thiết nặng trịch xuống giá đỡ bằng gỗ lim cạnh mép đe rèn. Cú chạm giữa kim loại và gỗ phát ra một tiếng *cục* trầm đục, dứt khoát. Cậu đưa tay với lấy chiếc đục thép cán dài tôi lạnh đặt trên khay dụng cụ bên tả. Lưỡi đục làm bằng hàn thiết sắc lẹm, mỏng tang nhưng cứng rắn khôn cùng, bề mặt lạnh tanh không gợn một tia khói bụi hay một vết ố mờ.

"Ngươi muốn làm gì?"

Tiếng Hàn Dung vang lên từ phía sau, thanh âm trầm thấp, khàn khàn nhưng sắc sảo và mang theo uy lực sắc lạnh cố hữu của một đại tông sư luyện khí. Nữ luyện khí sư đứng khoanh tay bên bờ gờ đá của lò Cổ Lô, tà áo choàng đen sẫm rủ xuống không một nếp gấp. Đôi mắt đen thẳm của bà khóa chặt vào từng chuyển động nơi khớp ngón tay của cậu thiếu niên. Bà không bước tới can thiệp, không buông một lời can gián hay chỉ trích, nhưng từng đường gân xanh nổi rõ trên mu bàn tay khẳng khiu của bà cho thấy tâm can bà vẫn chưa hoàn toàn thả lỏng sau biến cố chấn động vừa qua.

"Phần thép này đã bị nhiễm độc bởi chấp niệm cũ rồi, Hàn tiền bối." Lục Thanh không quay đầu lại. Giọng nói của cậu cất lên bình thản, trong trẻo như mặt nước Kính Hồ lúc sớm mai sau một đêm dông bão mịt mùng. "Cha con năm xưa muốn rèn một thanh kiếm vô song để chém đứt mọi lời khinh miệt của thế gian, muốn dùng lưỡi kiếm sắc bén nhất để bắt vạn người phải cúi đầu khuất phục. Người dồn hết hận thù, uất ức và cả tham vọng cuồng si vào từng thớ sắt. Nếu con vì tiếc rẻ mà giữ lại phần rìa sắc nhọn này, thanh kiếm dù có rèn xong, dù có lộng lẫy và sắc bén đến đâu, cũng chỉ là một thứ hung khí tự diệt. Nó sẽ ngày đêm gặm nhấm, cắn xé tâm can người cầm kiếm, biến người thành nô lệ cho chính vũ khí của mình."

Dứt lời, Lục Thanh bước lên nửa bước, thế chân đứng nghiêng một góc nửa thước, vững chãi tựa bàn thạch. Cậu đặt mũi đục hàn thiết lạnh ngắt vào ngay gốc của đường nứt lớn nhất—nơi giao thoa đầy mâu thuẫn giữa lớp Canh Kim bạo phát hung hãn và phần phôi Tâm Minh Thiết cốt lõi bên trong.

*Keng!*

Một tiếng gõ dứt khoát, thanh thoát vang lên khi chiếc búa con trên tay phải cậu giáng chuẩn xác xuống đuôi đục.

Một mảng thép xám đục, lấm tấm những bọt khí li ti sinh ra từ sự xung khắc của lửa giận năm xưa, lập tức vỡ tung ra dưới mũi đục của Lục Thanh. Tia lửa đỏ sẫm bắn ra rồi lụi tàn ngay tức khắc trên nền đá lạnh. Cậu không hề vội vã, động tác nhịp nhàng như một người thợ mộc đang cẩn trọng gọt giũa khối gỗ quý. Đôi mắt cậu chăm chú quan sát từng đường vân kim loại đang dần lộ ra, đôi tai nhạy bén lắng nghe từng âm sắc dội lại từ khối phôi qua thân đục. Nơi nào thép ngân lên tiếng đục khàn, mang theo sự gắt gỏng của tà khí và tạp chất, mũi đục của cậu liền chuẩn xác lách qua, tách rời nó ra khỏi thân kiếm như người thầy thuốc nhẹ nhàng bóc tách phần thịt hoại tử trên một vết thương cũ lâu ngày.

Vụn kim loại rớt xuống nền đá lách tách, từng tiếng lanh canh khô khốc vang vọng giữa lòng vòm đá Cổ Lô Đài. Từng mẩu thép xỉ mang theo những tiếng thở dài u uất của dĩ vãng, những tham vọng không thành của một kiếp người, cứ thế rơi rụng, vỡ vụn và tan biến vào hư không. Lục Thanh không nhìn vào những mảnh vụn rơi rớt ấy; ánh mắt cậu chỉ dõi theo phần cốt tủy đang dần dần hiện hình dưới bàn tay mình.

Sau gần một khắc kiên nhẫn đục tỉa, khối phôi trên mặt đe hoa cương đã vơi đi gần một phần tư thể tích ban đầu. Không còn bóng dáng của những đường lượn sóng hung hãn từng chực cắn xé không gian, cũng chẳng còn những mép thép mỏng tang, sắc lẹm đến gai người từng khiến người ta run rẩy. Thứ còn lại trên mặt đe hoa cương lúc này là một thanh phôi thô ráp nhưng thuần khiết tuyệt đối: sắc kim loại mang màu xám chì trầm mặc, tĩnh tại như lòng đất mẹ, thỉnh thoảng lại ánh lên những tia bạc li ti như ánh sao mờ ẩn hiện dưới tầng mây biếc lúc nửa đêm. Đó chính là phần tinh túy nhất của Tâm Minh Thiết—thứ sắt thép có linh tính nhận biết lòng người, nay đã hoàn toàn trút bỏ lớp vỏ bọc oán hận và kiêu ngạo, ngoan ngoãn hấp thụ ngọn lửa lam quang dịu dàng của Cổ Lô.

Hàn Dung khẽ chớp mắt, trong đáy mắt sâu thẳm ánh lên một tia chấn động khó giấu. Là một bậc thầy luyện khí đã kinh qua trăm ngàn lò lửa, bà từng thấy vô số thợ rèn danh tiếng trong thiên hạ, vì tiếc nuối từng lạng linh kim quý giá, từng giọt tinh huyết khổ luyện mà cố tình giấu giếm tì vết. Họ dùng trận pháp hào nhoáng để che đậy những vết rạn nứt bên trong, dùng linh thạch đắt tiền dát lên bề ngoài để tạo ra những món binh khí lấp lánh nhằm mị dân cầu danh. Nhưng thiếu niên mười sáu tuổi mang tạp linh căn trước mặt bà lại thẳng tay gọt bỏ phần thép quý ấy mà không một chút do dự, không một thoáng tiếc nuối. Đó tuyệt đối không phải là sự hoang phí vô tri, mà là lòng dũng cảm chí tôn của một người thợ biết kính sợ nghề rèn—thà giữ lại một khúc sắt thô vụn chân thật, còn hơn lưu lại một thanh thần binh giả dối mang mầm mống họa tai.

"Tốt lắm," Hàn Dung khẽ lẩm bẩm, thanh âm nhẹ đến mức hòa lẫn vào tiếng reo êm đềm của ngọn địa hỏa. "Biết buông bỏ những thứ rực rỡ mục ruỗng mới thực là bắt đầu của đại đạo."

Lục Thanh buông đục sắt, hai tay cầm kẹp lớn gắp khối phôi Tâm Minh Thiết đã được thanh lọc hoàn toàn, chậm rãi đặt trở lại vào giữa lòng lò Cổ Lô.

Làn địa hỏa màu lam biếc lập tức bùng nhẹ lên, ôm trọn lấy khối phôi như dòng nước ấm ôm lấy hòn ngọc thô. Không có tiếng gầm rít bài xích hung bạo, không có linh lực bạo động cắn trả kinh mạch người luyện. Thớ thép Tâm Minh Thiết khẽ giãn nở ra, mềm dần dưới nhiệt độ tinh thuần vô tạp niệm, bắt đầu hòa quyện một cách tự nhiên với những hạt linh khoáng Canh Kim nhu hòa và Xích Đồng tinh luyện mà Hội Đồng Hành cùng các huynh đệ ngoại môn đã dốc lòng gom góp, tinh luyện suốt mấy tháng ròng.

Trong tâm trí Lục Thanh, bản thiết kế cũ mà Lục Viễn Sơn từng cẩn thận vẽ trong cuốn sổ tay bìa da dê ố vàng hiện lên rõ mồn một từng nét mực: đó là một thanh kiếm mỏng manh, dẹp lép, hai lưỡi sắc bén cùng cực đến mức gió thoảng qua cũng rách toạc, mũi kiếm thuôn dài nhọn hoắt như nanh vuốt loài kền kền săn mồi, sinh ra chỉ với một mục đích duy nhất là xuyên thủng mọi hộ giáp để chứng minh uy lực nghịch thiên của người rèn. Bản vẽ ấy đẹp đẽ, kiêu kỳ nhưng lạnh lẽo và tàn nhẫn khôn cùng.

Lục Thanh khẽ lắc đầu. Cậu nhắm mắt lại một thoáng, xóa nhòa hình ảnh thanh kiếm ấy khỏi tâm khảm. Cậu không rèn thanh kiếm ấy. Cậu sẽ không bước lại vết xe đổ đã nghiền nát cuộc đời cha mình.

Khi phôi thép trong lò đạt đến độ đỏ hồng hoàn mỹ—một sắc đỏ ấm áp, nhu hòa tựa như ráng chiều mùa thu phủ trên đỉnh núi Vân Phong—Lục Thanh dùng kẹp sắt rút kiếm ra. Khối kim loại đỏ rực được đặt vững chãi, ngay ngắn lên trung tâm mặt đe rèn.

Thế đứng của Lục Thanh chùng xuống, hai chân bám rễ sâu vào từng phiến đá hoa cương như hai gốc tùng già ngàn năm. Trọng tâm cơ thể hạ thấp, cột sống thẳng tắp, bờ vai buông lỏng tự nhiên. Tay trái cậu ghì chặt kẹp sắt giữ cho khối phôi không xê dịch mảy may, tay phải từ tốn nhấc chiếc búa tạ huyền thiết lên cao.

Thay vì vung búa đập bẹt hai bên rìa để kéo dài lưỡi kiếm mỏng manh sắc bén theo lối rèn truyền thống nhằm tìm kiếm sát thương bộc phát, nhát búa đầu tiên của Lục Thanh lại giáng thẳng góc xuống đỉnh sống phôi.

*Keng!*

Âm thanh trầm đục, hùng tráng vang lên, dội vào các vách đá hoa cương của Cổ Lô Đài một thanh âm vững chãi lạ thường. Tiếng búa không chói tai, không đay đả, mà vang vọng, ngân dài như tiếng chuông đồng vọng lại từ ngàn xưa.

Cậu bắt đầu định hình thân kiếm mới. Thân kiếm này không hề thanh mảnh, mỏng manh để cầu trục tốc độ cực hạn, mà dày dặn, bản kiếm rộng gần ba ngón tay khép chặt. Lục Thanh nghiêng đầu búa một góc ba mươi độ chuẩn xác, gõ miệt mài, đều đặn theo mép trên để tạo nên một sống kiếm vuông vức, đầm chắc khác thường. Sống kiếm ấy dày hơn hẳn mọi quy chuẩn linh kiếm thông thường mà Kiếm Đường Nội Môn hằng ca tụng, tựa như một sống lưng kiên cường, bất khuất của một người gánh vác, có thể chống đỡ ngàn cân áp lực từ trên trời giáng xuống mà không bao giờ chịu uốn cong hay gãy gập.

Và quan trọng hơn cả là phần mũi kiếm.

Khi dẫn đường búa dần về phía chóp nhọn, Lục Thanh không vuốt nhọn hoắt nó như mũi giáo hay vuốt sắc như nanh vuốt loài mãnh thú hung tợn. Cậu khéo léo dùng mặt phẳng của đầu búa nắn chỉnh từng li từng tí, bo tròn nhẹ nhàng phần mũi kiếm, biến điểm nhọn đoạt mệnh thành một đường cong thoai thoải, đầy đặn và bao dung. Mũi kiếm hơi tù ấy không sinh ra để đâm thủng lồng ngực đối phương, không sinh ra để gieo rắc tử vong hay đoạt mạng người trong chớp mắt. Nó sinh ra là để đón đỡ, để trượt lực, để chuyển hóa sát khí hung bạo của đối thủ thành hư không, phân tán áp lực hủy diệt vào lòng đất mẹ.

Đó là dáng hình của một thanh kiếm lấy việc gìn giữ làm gốc, lấy sự che chở làm tâm.

*Keng... cắc... keng!* *Keng... cắc... keng!*

Từng nhát búa của Lục Thanh giáng xuống mặt đe mang theo một nhịp điệu kỳ diệu và chuẩn xác đến kinh ngạc: ba chẵn một lẻ, không nhanh hơn một khắc, không chậm hơn một giây.

Đó là nhịp búa mộc mạc mà người cha thợ rèn từng cầm tay cậu chỉ bảo bên bếp than hồng Trấn Thanh Khê thuở cậu còn là một đứa trẻ lên năm; đó là nhịp thở sâu thẳm, nhẫn nại mà Quý Thủ Chuyết đã mài giũa cho cậu qua hàng vạn nhát chổi quét lá trúc trên Sân Lá Rụng của Tàng Kinh Các suốt những năm tháng tăm tối nhất; và đó cũng chính là quy luật "ba chẵn một lẻ" mà Hội Đồng Hành đã đúc kết thành cẩm nang, cứu sống biết bao đệ tử ngoại môn yếu thế trước những đòn chèn ép tàn nhẫn nơi tông môn.

Theo mỗi cú nện búa dứt khoát, năm luồng linh khí trong đan điền Lục Thanh cuộn trào nhịp nhàng, êm ả như một dòng sông lớn: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa lại quay về bồi dưỡng cho Thổ. Chu kỳ ngũ hành tương sinh luân chuyển liên miên bất tuyệt, không hề có lấy một tia xung đột nghịch hành hay nghẽn tắc.

Linh khí ngũ hành ấm áp từ lòng bàn tay cậu men theo cán búa làm bằng gỗ thiết mộc lâu năm, truyền thẳng vào đầu búa huyền thiết nặng trịch, rồi thẩm thấu sâu vào từng phân tử kim loại, từng thớ thép đang đỏ rực của Tâm Minh Thiết. Mỗi nhát búa hạ xuống không chỉ là sức mạnh của cơ bắp, mà là một tâm niệm sâu sắc được người thợ khắc ghi vĩnh viễn vào cốt tủy của thanh gươm.

*Keng!*

Nhát búa này, trong tâm trí cậu hiện lên buổi chiều mưa dông giá lạnh nơi sườn núi sau Tàng Kinh Các. Khi ấy, Mộc An hai bàn tay bỏng rộp vì thức trắng ba ngày ba đêm bên nồi thuốc sôi sùng sục, kiên trì gom góp từng cọng cỏ thuốc rẻ tiền để kéo cậu từ quỷ môn quan trở về. Lục Thanh muốn thân kiếm này phải vững chãi như một tòa thành trì kiên cố, đủ sức dang tay che chở cho những người bạn hiền lành, yếu ớt của mình không bị giông bão cuộc đời xé nát.

*Keng!*

Nhát búa này, cậu nhớ đến dáng vẻ cặm cụi, tỉ mỉ của Ninh Tố Tâm bên những chồng ngọc giản nứt vỡ dưới ánh đèn dầu leo lét; nhớ mô hình trận pháp tiêu tán áp lực mà nàng đã thức trắng bao đêm ròng rã, tính toán từng đường vân linh lực để hoàn thiện cho cậu. Cậu nắn thớ thép uốn lượn thành từng lớp rãnh vảy cá góc ba mươi độ chạy dọc hai bên thân kiếm, để mọi chấn động bạo liệt khi va chạm nơi chiến trường đều có thể men theo những rãnh thép ấy mà tiêu tán êm thấm vào hư không, hóa giải sát chiêu mà không làm tổn thương đến cốt lõi thanh kiếm và kinh mạch người cầm.

*Keng!*

Nhát búa này, cậu nhớ đến ánh mắt chân thành, hối hận của Phùng Đại Xảo khi quỳ sụp xuống nhận lỗi và run rẩy trao đi những thỏi Xích Đồng mà huynh đệ đã chắt chiu từng viên linh thạch gom góp; nhớ đến mười đệ tử ngoại môn kiên trì giữ vững nhịp thở trước uy áp kinh hoàng của Kiếm Đường; và nhớ đến lằn ranh kiếm khí lạnh lùng mà Tạ Vân Khê đang vạch ra ngoài cửa đá kia để bảo vệ không gian cho cậu rèn kiếm. Cậu rèn vào mũi kiếm sự kiên nhẫn vô tận, lòng bao dung độ lượng và ý chí mở đường—mở ra một lối đi bằng phẳng, công bằng cho những kẻ mang thân phận bình phàm, những người sinh ra bị phán xét là phế vật mang tạp căn, để họ có thể ngẩng cao đầu bước đi trên con đường vấn đạo đầy chông gai.

Thớ thép Tâm Minh Thiết dưới tác động của đạo tâm thuần khiết và ngọn lửa ngũ hành bỗng cất lên những âm thanh vi diệu lạ lùng.

Đó không phải là tiếng rít thê lương, gắt gỏng của kim loại bị bạo lực cưỡng ép uốn nắn như thông thường. Đó là một chuỗi kiếm minh trầm bổng, trong trẻo tựa tiếng chuông chùa ngân nga trong sương sớm đầu non, vang vọng khắp vòm đá Cổ Lô Đài. Mặt thép dưới ánh lam quang dịu dàng dần dần hiện lên những đường vân cuộn tròn tinh xảo như vân gỗ của một cây cổ thụ ngàn năm tuổi, tầng tầng lớp lớp xếp chồng lên nhau tới sáu mươi tư tầng đàn hồi tuyệt đối. Không một bọt khí nào tồn tại, không một ứng lực ngầm nào bị giấu kín dưới bề mặt. Mọi mâu thuẫn nghiệt ngã giữa cứng và mềm, giữa công và thủ, giữa Canh Kim sắc bén cực đoan và Thổ khí dày nặng thâm trầm đều đã được dung hòa hoàn mỹ dưới từng nhịp búa ngũ hành tương sinh khoan thai của Lục Thanh.

Đứng bên cạnh đe rèn, vạt áo đen sẫm của Hàn Dung khẽ lay động theo từng luồng gió linh lực êm đềm tỏa ra từ mỗi nhát búa giáng xuống.

Nữ luyện khí sư đứng lặng người như một pho tượng đá, đôi mắt không rời khỏi bóng lưng ướt đẫm mồ hôi của thiếu niên mười sáu tuổi.

Đã hai mươi năm đằng đẵng trôi qua, kể từ cái ngày định mệnh Lục Viễn Sơn vung búa đập gãy thanh kiếm tâm huyết của mình trong cơn tuyệt vọng cùng cực tại Kiếm Trủng, Hỏa Mạch Phường và Cổ Lô Đài này chưa từng chứng kiến một cảnh tượng nào như thế. Năm xưa, Lục Viễn Sơn rèn kiếm bằng tất cả sự cuồng nộ ngút trời và tài hoa trác tuyệt hiếm thấy, nhưng đôi mắt ông khi ấy luôn rực cháy ngọn lửa tham vọng mù quáng, đôi vai ông luôn trĩu nặng sự cay đắng, uất hận vì bị tông môn chối bỏ. Viễn Sơn muốn dùng thanh kiếm sắc bén nhất thiên hạ để bắt cả thế gian phải quỳ gối cúi đầu nhận sai, muốn chém nát sự bất công bằng bạo lực. Nhưng kết cục nghiệt ngã là, sắt thép dù cứng rắn đến đâu cũng không chịu nổi sự hẹp hòi, u uất của lòng người mà tự rạn nứt, vỡ tan tành, hủy hoại cả một đời tài hoa cái thế.

Nhưng Lục Thanh thì hoàn toàn khác biệt.

Ánh mắt của cậu thiếu niên này trong veo, phẳng lặng như dòng suối đầu nguồn không vướng một hạt bụi trần. Đôi vai cậu buông lỏng tự nhiên, từng động tác vung búa, hạ búa đều khoan thai, thuần thục tựa như người thợ mộc đang bào từng thớ gỗ, như người nông phu đang bình thản cày cuốc trên mảnh ruộng của mình, như chính cậu ngày ngày cầm chiếc chổi đót quét từng chiếc lá trúc rơi trên sân đá Tàng Kinh Các. Cậu không rèn kiếm để chứng minh bất kỳ điều gì với ai, cậu không rèn kiếm để tranh đoạt danh vọng hay rửa hận cho dòng họ. Cậu rèn kiếm vì cậu thực lòng yêu quý từng thớ thép, vì cậu muốn tạo ra một công cụ che chở sinh mệnh, nâng đỡ những bước chân bằng hữu đang đồng hành cùng mình.

"Viễn Sơn ơi Viễn Sơn..."

Khóe môi Hàn Dung khẽ cong lên thành một nụ cười hiền hậu hiếm thấy, một nụ cười ấm áp xóa tan vẻ băng lãnh, khắc nghiệt thường ngày trên gương mặt đầy vết sẹo lò rèn. Bà khẽ lắc đầu, trong khóe mắt dâng lên một giọt lệ mờ đục rồi nhanh chóng bốc hơi trước sức nóng của lò Cổ Lô. "Ngươi cả đời đi tìm kiếm tâm hoàn mỹ, mải miết đuổi theo sự sắc bén tuyệt đối, rốt cuộc lại thua chính đứa con trai của mình. Thằng bé không phải là cái bóng của ngươi nữa... Nó đã là một người thợ thực thụ rồi, một người thợ vượt xa cả ngươi lẫn ta."

Tiếng búa rèn trên mặt đe hoa cương dần thưa lại, chậm rãi và lắng đọng.

*Keng... cắc... keng.*

Nhát búa cuối cùng hạ xuống thật êm, chuẩn xác gõ nhẹ vào chỏm chuôi kiếm để khóa chặt toàn bộ cấu trúc phân tử linh kim vừa được sắp xếp lại.

Thanh kiếm đã thành hình hoàn chỉnh trên mặt đe đá xám tro.

Nó dài ba thước hai tấc, thân kiếm rộng hai ngón tay rưỡi, sống kiếm vuông vức dày dặn, tỏa ra ánh sáng xanh biếc thâm trầm tựa như làn nước nơi hồ sâu đáy vực. Hai bên mặt kiếm, các đường vân vảy cá ẩn hiện tinh tế, mềm mại như những gợn sóng lăn tăn; mũi kiếm tròn trịa, đầm chắc và bao dung, không hề có nửa điểm sát khí bức người nhưng lại toát lên một cảm giác trầm hùng, sừng sững bất khả xâm phạm.

Lục Thanh thở ra một hơi dài, lồng ngực cậu khẽ phập phồng. Trán và thái dương cậu lấm tấm mồ hôi, mái tóc đen dính bết vào trán, nhưng thần sắc trong đôi mắt lại sáng rỡ, tĩnh lặng như vầng trăng rằm soi bóng nước. Cậu quay sang nhìn Hàn Dung, khẽ cúi đầu hành lễ:

"Tiền bối, đã đến lúc tôi kiếm."

Hàn Dung gật đầu thật chậm, ánh mắt tràn ngập vẻ tán thưởng chân thành: "Bể nước suối nguồn đã mở. Nhớ kỹ lời ta, nước tôi không phải dùng để dập tắt ngọn lửa, mà là để thép lưu giữ lấy linh hồn và sinh mệnh của nó. Đừng dùng linh lực ép nước, hãy để dòng nước tự ôm lấy thân kiếm."

"Vâng, con đã hiểu."

Lục Thanh dùng kẹp sắt nhấc thanh kiếm đang đỏ rực ánh lam quang lên khỏi mặt đe. Cậu xoay người, bước từng bước vững chãi, trầm tĩnh về phía góc đông của Cổ Lô Đài—nơi có một bể đá hoa cương nguyên khối chứa đầy nước suối nguồn Vân Phong, dòng nước được dẫn trực tiếp từ mạch suối ngầm thanh khiết nhất chảy xuyên qua lòng núi đá hoa cương ngàn năm. Mặt nước trong bể phẳng lặng như một tấm gương soi, tỏa ra từng làn hơi mát lạnh thấu xương, đối lập hoàn toàn với hơi nóng bức xạ xung quanh.

Lục Thanh hít sâu một hơi, tâm trí cậu lúc này phẳng lặng, trống rỗng và thuần khiết. Cậu từ từ, cẩn trọng hạ mũi kiếm nóng đỏ xuống mặt nước.

Thông thường trong giới luyện khí, khi một thanh linh kiếm bậc cao chạm vào nước tôi, nhiệt độ cực hạn gặp phải hàn khí băng lãnh sẽ tạo ra những tiếng thét gào chói tai xé ruột, linh lực xung khắc bạo phát làm nước trong bể sôi sùng sục, bắn tung tóe khắp nơi, thậm chí hơi nước bốc lên cuồn cuộn kèm theo kiếm khí sắc lẹm có thể cắt đứt da thịt của bất kỳ ai đứng gần.

Thế nhưng ngay lúc này, một điều kỳ diệu chưa từng thấy đã diễn ra ngay trước mắt Hàn Dung.

Thanh kiếm từ từ chìm sâu vào lòng nước biếc trong vắt.

Không hề có một tiếng xì xèo gắt gỏng nào vang lên!

Chỉ có một tiếng thở dài êm ả, dịu dàng tựa như giọt mưa đầu mùa rơi xuống mặt hồ phẳng lặng:

*Xèo... o... o...*

Một làn hơi nước màu trắng muốt bốc lên từ mặt bể, mềm mại và uyển chuyển như một dải lụa mỏng, lững lờ lan tỏa khắp không gian sảnh lò Cổ Lô Đài. Làn khói sương ấy không hề mang theo mùi hôi khét của kim loại cháy hay mùi xỉ than ngột ngạt, mà tỏa ra một mùi hương thanh khiết lạ lùng—mùi của khoáng thạch mát lạnh hòa quyện với hương thơm của cỏ cây rừng sâu sau cơn mưa rào.

Cùng lúc đó, từ tận đáy sâu của bể nước tôi, một tiếng ngân trầm hùng, sâu lắng vang lên:

*Uông... uông... uông...*

Đó không phải là tiếng kiếm minh bén nhọn xé toạc màng nhĩ khiến người nghe rợn tóc gáy, mà là một trường âm ấm áp, khoan thai, ngân nga tựa tiếng chuông đồng cổ kính rung chuyển từ ngôi chùa cổ ngàn năm dội về giữa thung lũng hoang sơ. Âm thanh ấy lan tỏa khắp Cổ Lô Đài, thấm qua từng phiến đá sa thạch, xoa dịu đi tất cả những căng thẳng, mỏi mệt và bức bối còn vương lại trong tâm can người thợ rèn. Đứng giữa làn sương trắng mờ ảo, Hàn Dung ngỡ ngàng cảm thấy từng đường kinh mạch toàn thân mình như được một dòng suối ấm tưới mát, tâm thần bình an đến mức kỳ lạ, như thể mọi gánh nặng của hai mươi năm qua vừa được trút bỏ.

Thanh kiếm Tâm Minh Thiết đã uống no dòng nước suối nguồn thanh khiết. Nó nằm im lìm dưới đáy nước, không tỏa ra một tia sát khí hay áp lực cảnh giới nào nhằm đe dọa thế gian, nhưng bất kỳ ai đứng trước nó lúc này cũng đều cảm nhận được một sự kiên định vững vàng như núi Thái Sơn, một sức sống bền bỉ, dẻo dai không gì trên đời có thể lay chuyển nổi.

Lục Thanh chậm rãi rút thanh kiếm ra khỏi lòng bể nước.

Những giọt nước suối trong vắt trượt dài trên thân kiếm màu xám tro ánh lam biếc, rơi lách tách xuống nền đá hoa cương. Lưỡi kiếm không sắc lẻm đến mức chém đứt sợi tóc bay qua như thanh kiếm của Kiếm Đường, nhưng sống kiếm vuông vức và độ đầm chắc lạ thường của nó khiến người ta có một cảm giác an tâm tuyệt đối—rằng dù trời có nghiêng, đất có sụp, thanh kiếm này vẫn có thể giơ lên để chống đỡ cả vòm trời cho những người đứng sau lưng nó.

Lục Thanh mang thanh kiếm đặt lên chiếc bàn gỗ thao tác bằng tùng sam cạnh đó. Cậu với lấy chiếc đục trổ nhỏ bằng ngọc thạch tôi lạnh, hít một hơi thật sâu để tâm thần hoàn toàn lắng đọng, rồi bắt đầu khắc chữ lên phần gốc kiếm, ngay sát vị trí chuôi cầm.

Từng nét chữ hiện ra dưới bàn tay khéo léo, kiên nhẫn của người thiếu niên thợ rèn: không bay bướm kiêu sa, không rồng bay phượng múa để khoe khoang nét bút, mà vuông vức, chân phương, rắn rỏi và mộc mạc như chính con người cậu.

Hai chữ cổ từ từ thành hình dưới ánh lam quang dịu dàng của lò rèn:

**Minh Đạo.**

*Minh*—là thấu suốt bản tâm, là sự chân thật không dối mình, không dối người, là ánh sáng soi tỏ con đường gập ghềnh đầy bóng tối phía trước. *Đạo*—không phải là con đường nghịch thiên đoạt mệnh viển vông xa vời, mà là con đường thực tế ngay dưới chân: con đường của sự kiên nhẫn, của tình bằng hữu hoạn nạn có nhau, của trách nhiệm che chở và nâng đỡ những người bình phàm bước đi tìm kiếm lẽ sống.

Khắc xong nét chữ cuối cùng, Lục Thanh đặt đục ngọc xuống, dùng ngón tay cái nhẹ nhàng miết qua hai chữ "Minh Đạo" còn vương chút mạt kim loại. Khối linh kim Tâm Minh Thiết khẽ rung lên một nhịp ngắn ngủi, ấm nóng áp vào lòng bàn tay cậu, phát ra một tiếng râm ran khe khẽ như một lời đáp từ đầy thấu hiểu của một tri kỷ tri âm.

Cậu với lấy chiếc vỏ kiếm đặt ở góc bàn. Đó là chiếc vỏ kiếm do chính tay cậu đẽo gọt từ một khúc gỗ tùng sam mộc mạc lấy từ rừng trúc sau Tàng Kinh Các suốt những đêm rảnh rỗi. Vỏ kiếm không khảm ngọc quý, không nạm vàng ròng, không vẽ bùa chú cầu kỳ, chỉ có những đường vân gỗ tự nhiên uốn lượn được mài nhẵn thín và đánh bóng bằng sáp ong rừng phẳng phiu.

*Cách.*

Thanh kiếm trượt êm ái vào trong lòng vỏ gỗ, vừa vặn khít khao đến từng li từng tấc, phát ra một tiếng khóa cơ quan giòn tan, chắc nịch.

Đúng lúc ấy, cánh cửa đá khổng lồ của Cổ Lô Đài phát ra tiếng *ầm ầm* trầm nặng rồi từ từ dịch chuyển sang hai bên. Khói sương lành lạnh bên ngoài ùa vào sảnh lò, mang theo luồng không khí trong lành, se lạnh của buổi sớm mai trên đỉnh núi cao mây phủ.

"Lục Thanh!"

"Lục sư đệ! Đệ có sao không?!"

Những tiếng gọi dồn dập, đứt quãng vì hoảng hốt vang lên từ phía cửa.

Bóng dáng của Mộc An lao vào đầu tiên, hai vạt áo bào xộc xệch, trên tay vẫn còn ôm khư khư chiếc hộp thuốc bằng gỗ đào quen thuộc, đôi mắt tròn xoe đầy vẻ lo lắng tột cùng. Ngay sát sau lưng cậu là Ninh Tố Tâm, mái tóc nàng hơi rối, chiếc la bàn trận pháp bằng ngọc trên tay nàng vẫn đang phát ra những tia sáng nhấp nháy liên hồi, vạt áo màu xanh nhạt còn dính vài vệt bụi than đen nhẻm. Phía sau nữa, Phùng Đại Xảo đang thở hồng hộc chống hai tay lên đầu gối, mồ hôi nhễ nhại chảy dài trên trán, và Trương Đống cùng nhóm mười đệ tử ngoại môn của Hội Đồng Hành đều đang ùa vào sảnh lò với nét mặt vừa hoang mang, vừa căng thẳng đến nghẹt thở.

Thế nhưng, ngay khoảnh khắc bước chân qua ngưỡng cửa đá hoa cương, tất cả bọn họ đều đồng loạt khựng lại, ngơ ngác nhìn quanh.

Không có đống đổ nát tan hoang gạch đá ngổn ngang như họ từng lo sợ suốt nửa canh giờ qua. Không có ngọn địa hỏa bạo động điên cuồng thiêu rụi mọi sinh linh. Càng không có một Lục Thanh toàn thân đẫm máu hay ngã quỵ vì tẩu hỏa nhập ma.

Trước mắt họ, Cổ Lô Đài ngập tràn một làn sương trắng thơm mùi khoáng thạch và thảo mộc thanh khiết. Lò rèn ngàn năm đang reo vui với ngọn lửa màu lam biếc lung linh, êm ả liếm láp những phiến sa thạch. Và ở trung tâm sảnh đá, thiếu niên mang tạp linh căn ngũ hành trong bộ áo thô màu xám tro giản dị đang đứng sừng sững bên cạnh bàn gỗ, nét mặt điềm đạm, hai tay đang bình thản dùng một tấm vải mềm lau khô những giọt nước còn vương trên chiếc vỏ kiếm mộc mạc.

Khí tức toát ra từ người Lục Thanh êm ả, tròn đầy và vững chãi tựa một gốc tùng cổ thụ cắm rễ sâu vào lòng đất mẹ. Đan điền Trúc Cơ của cậu vận hành tự nhiên, từng vòng tuần hoàn ngũ hành chảy trôi nhịp nhàng, không một chút gợn sóng hay biến động bất thường.

"Mọi người đến rồi à?"

Lục Thanh ngẩng đầu lên, ánh mắt lấp lánh niềm vui chân thành. Cậu nở nụ cười hiền lành quen thuộc, giơ thanh kiếm nằm gọn trong vỏ gỗ tùng sam lên khẽ vẫy chào. "Làm mọi người phải lo lắng rồi."

Mộc An chớp chớp mắt liên tục, chiếc hộp thuốc trên tay suýt chút nữa tuột khỏi kẽ tay rơi xuống đất. Cậu chàng như bừng tỉnh khỏi cơn mê, chạy vụt tới, vươn hai tay nắm chặt lấy bả vai Lục Thanh lắc mạnh mấy cái, đôi mắt đảo liên hồi từ đỉnh đầu xuống tận gót chân cậu thiếu niên:

"Trời đất quỷ thần ơi! Ban nãy cả sườn núi rung chuyển dữ dội như sắp sập đến nơi, đất đá rơi lộp độp, Vân Khê sư huynh lại mặt lạnh như tiền rút kiếm cắm phập xuống đất chắn ngang cửa không cho bất kỳ ai bước vào nửa bước! Huynh làm ta sợ đến mức suýt chút nữa uống nhầm cả lọ thuốc xổ! Đệ... đệ thật sự không bị thương ở đâu chứ? Địa hỏa ngàn năm hung hiểm thế kia không làm đệ bỏng kinh mạch đấy chứ?"

"Ta hoàn toàn không sao, Mộc huynh." Lục Thanh bật cười, đưa tay vỗ nhè nhẹ lên mu bàn tay đang run rẩy của người bạn chí cốt. "Chỉ là... ta vừa tìm ra con đường đúng đắn nhất để hạ từng nhát búa mà thôi."

Ninh Tố Tâm bước chậm rãi lại gần. Nàng không vồ vập, cuống quýt như Mộc An, nhưng đôi mắt trong trẻo đầy vẻ thông tuệ của nàng lập tức dừng lại trên thanh kiếm mộc mạc đang đeo bên hông Lục Thanh. Bàn tay cầm chiếc la bàn ngọc thạch của nàng khẽ run lên khi nhìn thấy kim chỉ nam trên mặt la bàn hoàn toàn đứng yên bất động, không hề dao động trước một tia nhiễu loạn linh lực nào—điều đó chứng tỏ thanh kiếm kia sở hữu một kết cấu ổn định đến mức hoàn hảo tuyệt đối, không có lấy nửa điểm rò rỉ hay xung đột ngũ hành.

"Thanh kiếm này..." Ninh Tố Tâm khẽ thốt lên, giọng nói mang theo sự ngạc nhiên và thán phục sâu sắc. Đôi mắt nàng sáng rỡ khi nhìn vào phần sống kiếm dày dặn và mũi kiếm tròn trịa. "Huynh đã không rèn lại dáng kiếm cũ của lệnh phụ?"

"Phải," Lục Thanh mỉm cười, ánh mắt cậu nhìn xuống chuôi kiếm gỗ tùng sam, ngón tay khẽ miết nhẹ lên đường gờ mộc mạc. "Thanh kiếm của cha ta đã hoàn thành sứ mệnh của nó trong quá khứ đau thương kia rồi. Đây là thanh kiếm mới... thanh kiếm của chính chúng ta, của những người đang cùng nhau bước đi hôm nay."

Phùng Đại Xảo đứng nép phía sau, đôi mắt mở to nhìn chằm chằm vào hai chữ "Minh Đạo" khắc chân phương lộ ra ở phần gốc kiếm sát miệng vỏ. Gã nuốt nước bọt một cái đánh *ực*, lẩm bẩm với giọng điệu đầy thán phục:

"Lạ thật... Rõ ràng là không có sát khí bức người, không có kiếm ý sắc lẻm làm người ta lạnh gáy như linh kiếm của các đệ tử nội môn... nhưng tại sao khi đứng trước nó, trong lòng ta lại cảm thấy an tâm, vững chãi đến thế này? Cứ như thể... dù có gặp phải kiếm khí cấp ba hung bạo của đám đệ tử Kiếm Đường giáng xuống, thanh kiếm này cũng có thể dễ dàng cản lại được vậy."

"Đương nhiên là cản được!"

Tiếng Hàn Dung vang lên đanh thép từ phía sau lò rèn. Bà bước ra, cởi bỏ đôi găng tay da trâu đã sém lửa ném lên bàn đá. Ánh mắt nghiêm nghị cố hữu của bà quét qua một lượt đám đệ tử trẻ tuổi đang ngơ ngác, nhưng nơi khóe môi bà vẫn vương lại một nụ cười nhẹ đầy kiêu hãnh:

"Thanh kiếm này được rèn bằng chính đạo tâm gìn giữ và chia sẻ của các ngươi, dung hợp trọn vẹn ngũ hành tương sinh của đất trời. Nếu nó không cản nổi kiếm khí của đám nhóc ngạo mạn bên Kiếm Đường kia, thì Cổ Lô Đài này của lão bà ta đã chẳng cần phải mở lại làm gì cho uổng công!"

Cả nhóm đệ tử nhìn nhau, rồi đồng loạt bật cười rạng rỡ. Những tiếng cười giòn giã vang vọng khắp vòm đá Cổ Lô Đài. Không khí căng thẳng, u ám và lo âu suốt mấy ngày đêm qua bỗng chốc tan biến sạch sẽ không còn tì vết, nhường chỗ cho niềm tự hào rạng ngời và sự gắn kết ấm áp tràn ngập gian sảnh đá hoa cương.

Ngoài cửa Cổ Lô Đài, một bóng người vận trường bào màu trắng tuyết đang đứng dựa lưng vào vách đá hoa cương phủ đầy rêu phong.

Tạ Vân Khê từ tốn thu hồi thanh huyền sam kiếm cắm sâu dưới nền đá, tra kiếm vào vỏ phát ra một tiếng *cách* sắc gọn. Cậu không bước vào trong để hòa cùng tiếng cười đùa rôm rả của nhóm đệ tử ngoại môn, nhưng đôi mắt sắc sảo như chim ưng của cậu đang xuyên qua làn sương mỏng buổi sớm, nhìn thẳng vào thanh "Minh Đạo" đang đeo bên hông Lục Thanh.

Một tia sáng rực rỡ, mãnh liệt bùng lên trong đáy mắt của thiên tài kiếm đạo kiêu hãnh họ Tạ.

Cậu cảm nhận được sự vững chãi thâm trầm của thanh kiếm ấy. Cậu cảm nhận được nhịp thở khoan thai, vững vàng, không một tì vết toát ra từ người thiếu niên thợ rèn mà trước đây cả tông môn từng coi là kẻ bất tài vô dụng. Canh Kim Kiếm Cốt ẩn sâu trong lồng ngực Vân Khê bỗng khẽ rung lên một nhịp đồng điệu đầy phấn khích—đó không phải là sự hiếu thắng mù quáng muốn đè bẹp đối thủ bằng mọi giá như những ngày tháng trước kia, mà là niềm khao khát thuần khiết, thiêng liêng của một kiếm khách chân chính khi nhận ra tri kỷ và đối thủ lớn nhất của đời mình đã hoàn toàn sẵn sàng bước lên vũ đài.

"Minh Đạo..." Tạ Vân Khê khẽ nhếch môi, lẩm bẩm cái tên ấy trong miệng. "Được lắm, Lục Thanh. Ngươi quả thực không làm ta thất vọng."

*Đoong... Đoong... Đoong...*

Đúng lúc ấy, ba hồi chuông đồng trầm hùng, vang dội từ đỉnh Kiếm Phong cao ngất bất ngờ gióng lên, tiếng chuông ngân nga, trầm bổng lan tỏa khắp mười hai ngọn núi điệp trùng của Thanh Vân Kiếm Tông.

Tiếng chuông xua tan màn sương mù bảng lảng của buổi sớm mai, vang vọng khắp các hẻm núi, báo hiệu giờ Thìn đã điểm—thời khắc khai mạc ngày hội Luận Kiếm Thường Niên lớn nhất trong năm của toàn thể môn sinh tông môn đã chính thức bắt đầu.

Lục Thanh đưa tay nắm chặt lấy chuôi kiếm Minh Đạo bên hông. Cậu cùng Mộc An, Ninh Tố Tâm, Phùng Đại Xảo và nhóm huynh đệ Hội Đồng Hành cất bước đi ra khỏi Cổ Lô Đài.

Đi ngang qua cửa đá, nơi Tạ Vân Khê đang đứng đợi, hai thiếu niên dừng bước trong chớp mắt. Họ đưa mắt nhìn nhau, ánh mắt chạm nhau giữa không trung. Không cần một lời ước hẹn thừa thãi, không cần những lời tuyên chiến đao to búa lớn, chỉ một cái gật đầu thấu suốt giữa hai kiếm tâm kiên định đã đủ thay cho vạn lời nói trong cõi thế gian.

Cả hai cùng sánh vai bước xuống những bậc đá xanh rêu phong, hướng về phía trước.

Nắng sớm chiếu rọi Kiếm Bình, nơi hàng trăm đệ tử đang chờ đón trận luận kiếm cuối cùng của năm.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn