Kẻ Giữ Ký Ức — Phần 1: Bản Chép Của Người Đã QuênC.24 / 36
Chương 24

Chu kỳ không phải thời gian

Con dấu sắt hình bánh xe tám nan đóng trên tờ niêm lệnh tỏa ra hàn khí nhàn nhạt, ép chặt một lớp phù chỉ xám lạnh chưa từng thấy tại Thanh Khê Tông.

Dưới ánh sáng lạnh lẽo của ngọn đèn thạch anh treo nghiêng trên vách đá, mặt giấy trúc xám dày dặn hiện lên những đường vân chìm tựa như mạng nhện đóng băng. Loại phù chỉ này không làm từ bột trúc ngâm vôi thông thường của vùng núi non bản địa, mà được nghiền từ vỏ cây huyền thiết mộc pha lẫn bột khoáng cách linh phương xa, mặt giấy lỳ đanh, miết ngón tay lên chỉ thấy một cảm giác khô khốc, trơ trượt. Mỗi thớ sợi dường như đều bị ngâm qua nước muối khoáng và ép dưới trục lăn nặng ngàn cân, khiến cho linh khí xung quanh không thể thẩm thấu vào bên trong, cũng không để cho bất kỳ tia dao động tàn dư nào rò rỉ ra ngoài.

Tạ Thanh Nghi đeo găng tay lụa cách linh dệt từ tơ tằm băng tuyết, dùng đầu nhíp bạc cẩn thận nâng mép góc trên của tờ lệnh. Nét chữ khắc triện bằng mực chu sa pha bột chì chìm sâu vào từng thớ giấy, từng nét gãy gọn, dứt khoát như vết dao xẻ trên đá cuội:

*“Khảo hạch định ngạch chu kỳ mười hai năm — Thanh Khê phân cục — Niên hiệu Khang Định nguyên niên.”*

Lục An cúi sát xuống mặt bàn đá, hơi thở khẽ phả ra làn khói mờ giữa buồng chì ẩm mốc. Tay phải của hắn vẫn quấn chặt ba lớp băng gạc trắng cố định xương mu bàn tay, các khớp ngón tê buốt mỗi khi gió lùa qua khe thông hơi. Từng cơn đau nhức âm ỉ từ vết nứt xương chạy dọc lên cổ tay, nhắc nhở hắn về cú va chạm với cơ quan bằng đồng dưới đáy giếng nước hai canh giờ trước. Hắn dùng ngón trỏ tay trái lần theo từng dòng lạc khoản, đối chiếu với từng mốc niên đại đã ghi nhận trong cuốn sổ nợ da cá đuối của Đào Khuê và tập nhật trình ca trực vừa tìm thấy.

“Không phải là phép quay ngược thời gian,” Lục An thì thầm, thanh âm trầm đục dội khẽ vào bốn bức tường chì. “Bốn năm trước, khi ta tỉnh dậy giữa đống hoang tàn của Tàng Ký Các với thức hải trống rỗng, ta từng nghĩ chữ ‘chu kỳ’ mà bản chép tay nhắc tới là một bí thuật nghịch chuyển thiên đạo, một thứ đại trận xoay vần thời khắc để rửa sạch quá khứ.”

Tạ Thanh Nghi khẽ lắc đầu, ánh mắt sắc lạnh dừng lại ở bảng kê số lượng đính kèm: “Thời gian chưa bao giờ quay lại. Nhìn vào cột định ngạch này xem: năm mươi bình phẩm Ất, sáu bình phẩm Giáp, tương ứng với khoản chiết khấu hai vạn trung phẩm linh thạch cho kỳ hạn mười hai năm của địa mạch. Cái gọi là ‘chu kỳ’ thực chất là một chu kỳ tài chính khép kín. Mỗi mười hai năm, các hợp đồng bảo chứng linh mạch giữa tông môn và thương hội liên vùng lại đáo hạn một lần. Địa mạch suy thoái thì phải bù đắp bằng linh áp nhân tạo; và thứ linh áp đậm đặc nhất, dễ thu hoạch và có giá trị thanh khoản cao nhất ngoài thị trường tự do chính là dư vang tước đoạt từ thức hải của tu sĩ khi vượt ngưỡng tiến cảnh.”

Từng ngón tay của Lục An siết chặt gờ bàn đá. Sự thật trần trụi phơi bày trên mặt giấy không mang chút huyền bí tiên gia nào, chỉ có sự tính toán cơ học đến tàn nhẫn.

Linh mạch chủ của Thanh Khê Tông đã chết sáu phần từ ba thập kỷ trước. Vết nứt ngầm dưới lòng thung lũng không ngừng rò rỉ chướng khí độc hại từ vực sâu, gặm nhấm gốc rễ của các ngọn núi hộ pháp. Để duy trì Cửu Khúc Hộ Sơn Đại Trận ngăn chướng khí từ vực sâu tràn lên thung lũng, tông môn buộc phải vay mượn lượng lớn linh thạch tinh khiết từ các thế lực tài chính ngoài biên giới. Nhưng linh thạch không bao giờ được cho mượn không công. Khoản nợ ấy được bảo chứng bằng chính hạ tầng tháp Tĩnh Chuông và nguồn sống của mười vạn dân Hạ Khê. Cứ sau mười hai năm, khi tiền lãi tích tụ thành núi, một đợt “đại lễ tiến cảnh tập thể” lại được mở ra.

Núp bóng thiên luật tước đoạt ký ức khi đột phá cảnh giới, một cỗ máy ngầm được kích hoạt dưới móng tháp để cưỡng bức hút cạn toàn bộ dao động linh hồn của hàng chục đệ tử ngoại môn. Ký ức về gia đình, đạo tâm, những lời ước hẹn thuở thiếu thời bị xé toạc thành từng dòng dư vang lỏng, nén vào các bình huyền đồng để đem đi gán nợ.

“Chu Kính không phải kẻ sáng lập ra hệ thống này,” Tạ Thanh Nghi chỉ vào vết mực phê duyệt ở lề dưới tờ niêm lệnh. “Bút tích của lão chỉ xuất hiện ở mục ‘Thực thi bàn giao hạ tầng’. Lão chỉ là một người điều hành địa phương, một viên quản lý kho bãi bị kẹp giữa sự suy tàn không thể cứu vãn của tông môn và áp lực đòi nợ tàn khốc từ bên ngoài. Bốn năm trước, chu kỳ thứ chín bị đổ vỡ giữa chừng do muội muội và ngươi kháng lệnh, khiến đợt giao hàng thất bại, tháp chuông sụp một góc và khoản nợ bị đóng băng trong hỗn loạn. Hiện tại, khoản nợ bốn vạn trung phẩm linh thạch đã đến kỳ hạn chót vào ngày mười tám tháng Bảy. Chu Kính đang liều mạng dồn hết năm mươi ba đệ tử ngoại môn vào đại lễ lần này để vét sạch đủ định ngạch dư vang bàn giao cho thuyền buôn Vân Mộng của Thương hội Bạch Sa.”

“Lão nghĩ rằng cắt bỏ ký ức của vài chục kẻ yếu thế là cái giá quá rẻ để giữ lại kết giới bảo hộ cho hàng vạn người,” Lục An cay đắng nói. “Một bài toán sổ sách hoàn hảo, nếu như những con số trên giấy không phải là con người bằng xương bằng thịt.”

Hắn lật tiếp sang tờ thứ hai của tập văn bản. Lớp vải sáp chống ẩm vừa tách ra đã để lộ một trang văn thư kiểm kê đặc biệt.

Ở phần đề mục tối cao, không hề có danh xưng của bất kỳ trưởng lão hay chưởng môn nào thuộc Thanh Khê Tông. Thay vào đó là một chức danh xa lạ được dập bằng ấn sắt hình chiếc cân gãy đĩa lồng trong ba vòng xích sắt:

*“Thẩm quyền tài phán tối cao: SỨ THU KÝ — Giám sát phân vùng Bạch Sa và phụ cận.”*

Dưới con dấu sắt là một điều khoản ngắn gọn nhưng lạnh lẽo đến gai người:

*“Các kho đối chiếu địa phương có trách nhiệm niêm phong, phân loại và lưu trữ tài sản thế chấp sống theo đúng mã định danh. Tu sĩ mất ký ức sau tiến cảnh được quy chuẩn thành các khoản mục bảo chứng loại Đinh; mọi tranh chấp khế ước dân sự phát sinh sau thời điểm thu hồi dư vang đều chịu sự điều chỉnh của Quy chế Thu hồi Liên vùng. Người đối chiếu chưa hoàn tất sổ sách phải chịu trách nhiệm bàn giao trước khi hết kỳ.”*

“Sứ Thu Ký…” Tạ Thanh Nghi khẽ đọc lại ba chữ ấy, giọng nàng đanh lại. “Đây là chức danh kiểm kê cấp cao thuộc một mạng lưới liên vùng vượt ra ngoài phạm vi một tông môn. Chúng coi các tu sĩ sau khi bị tước đoạt ký ức không khác gì những kiện hàng thế chấp vô tri. Nếu khế ước bị vỡ nợ, người sẽ bị đưa đi lao dịch tại các mỏ quặng như Hắc Thạch Lĩnh để trừ nợ dần. Bọn chúng không cần biết ai đúng ai sai, chỉ cần biết sổ sách có cân bằng hay không.”

Lục An nhìn dòng chữ cuối cùng: *Người đối chiếu chưa hoàn tất sổ sách phải chịu trách nhiệm bàn giao trước khi hết kỳ.*

Vết sẹo chéo ba mươi độ ở lóng tay thứ hai của hắn khẽ giật nhói. Vết sẹo ấy dài chừng một đốt ngón tay, mép sẹo trắng bệch, lõm sâu vào phần thịt mềm nối giữa hai khớp xương — dấu tích của một chiếc kẹp khắc dấu bằng thép nguội từng cắn ngập vào da thịt hắn bốn năm về trước. Ấn huyết của hắn bốn năm trước nằm trên phiếu xuất kho ngầm không phải vì hắn tham gia trục lợi, mà vì trong guồng máy ấy, chức danh “Người đối chiếu số 3” của hắn chính là người bị buộc phải ký xác nhận các khoản mục bàn giao cho Sứ Thu Ký trước khi chu kỳ khép lại. Khi hắn từ chối ký cho Thương hội Bạch Sa, hệ thống đã nghiền nát hắn, xóa sạch tám năm tu vi Trúc Đài và biến hắn thành một phế nhân ở ngoại môn.

Và hiện tại, chu kỳ mới lại điểm. Sứ Thu Ký đang đợi đợt bàn giao tiếp theo.

Đúng lúc đó, một tiếng kim loại khẽ rung lên từ góc trần hầm ngầm.

*Coong! Coong!*

Sợi dây đồng nhỏ luồn qua ống dẫn khí rung lên hai nhịp ngắt quãng rồi giật mạnh nhịp thứ ba. Dây căng bật vào vách đá tạo nên một chuỗi âm thanh lanh lảnh, sắc nhọn, xé toạc không gian ngột ngạt của buồng chì. Đó là ám hiệu khẩn cấp của Mạnh Du từ cửa giếng cống xả bùn.

“Có biến,” Lục An lập tức khép tập văn bản lại.

Tạ Thanh Nghi phản ứng cực nhanh. Nàng rút chiếc tráp đồng thau pha chì từ dưới áo choàng ra, đặt tập niêm lệnh của Sứ Thu Ký, bảng phân ca chu kỳ chín và văn bản cảnh báo quá tải của Tạ Vân vào bên trong. Nắp tráp sập xuống với một tiếng *cạch* dứt khoát, hai chốt khóa cơ học và một ấn phù băng hàn lập tức khóa chặt khe hở.

Lục An với tay lấy chiếc chổi lông nhỏ quét sạch bụi chì vương vãi trên mặt bàn, đẩy nắp chiếc tủ sắt ba ngăn trở lại vị trí cũ, cài chốt lò xo giả khớp như chưa từng có người chạm tới. Hắn lấy lại chiếc đục sắt và túi dụng cụ nhét vào thắt lưng, rồi cùng Tạ Thanh Nghi luồn qua khe tường nứt, tiến thẳng vào đường cống xả nước ngầm.

Bên ngoài cửa hầm ngách, Mạnh Du đang nép mình sau một tảng đá phủ rêu xanh trơn trượt. Gương mặt thanh niên ngoại môn tái nhợt dưới ánh sáng mờ đục của bầu trời trước rạng đông, hơi thở dồn dập kìm nén trong lồng ngực:

“Đội tuần tra Tàng Ký Các đổi phiên sớm hơn nửa canh giờ,” Mạnh Du thì thầm gấp gáp qua kẽ răng. “Hàn Tố đã đưa toán đệ tử chấp pháp về tới chân tháp. Bọn họ đang mang theo chó săn khứu giác linh thú đi rà soát dọc theo chân móng phía đông!”

“Đi đường cống ngầm số bảy, men theo rãnh thoát nước thải hướng về phía hạ lưu sông Ngọa Hổ,” Tạ Thanh Nghi quyết định dứt khoát. Nàng vung tay, một đạo thanh phong phù dán lên mắt cá chân của cả ba người, làm giảm trọng lượng cơ thể và triệt tiêu tiếng bước chân trên nền bùn lầy.

Nước cống ngầm đen ngòm, bốc mùi lưu huỳnh và khoáng thạch thối rữa ngập ngang bắp chân. Dòng nước quánh đặc chảy lững lờ, cuốn theo những mảng váng mỡ xám xịt và cặn bã từ các lò luyện đan phía trên xả xuống. Ba người lầm lũi cúi rạp người bước đi dưới những vòm đá vôi nứt nẻ, nơi từng giọt nước lạnh buốt thi thoảng lại nhỏ tong tỏng xuống cổ áo. Bàn tay bị thương của Lục An nhức nhối dữ dội khi chạm phải hơi ẩm lạnh buốt, nhưng hắn nghiến chặt răng, một tay giữ chặt tráp tài liệu trước ngực, một tay dùng đoạn gậy tre dò dẫm từng hốc đá để tránh những hố sụt bất ngờ.

Đường cống số bảy vốn là một nhánh thoát nước cũ kỹ được xây dựng từ thời lập tông, thành cống ghép bằng những tảng đá xanh xù xì đã bị axít khoáng ăn mòn nham nhở. Càng đi sâu vào lòng đất, không khí càng trở nên loãng và nồng nặc mùi kim loại rỉ sét. Những con rết mù màu trắng đục bò lổm ngổm trên vách đá ướt át, vội vã lẩn trốn vào các khe nứt khi cảm nhận được dao động linh lực yếu ớt từ lá bùa phong hành dưới chân họ.

Phía sau lưng họ, sâu trong lòng đất dưới chân tháp Tĩnh Chuông, tiếng chó săn sủa ran từng chập vọng qua các ống dẫn khí rồi chìm nghỉm vào bóng tối đặc quánh. Tiếng móng vuốt cào trên nền đá hoa cương và tiếng quát tháo của đệ tử Chấp Pháp Đường dội lại thành những âm thanh méo mó, đứt quãng, tựa như tiếng gầm gừ của một loài quái vật đang lùng sục con mồi trong mê cung.

Mạnh Du đi sau cùng, thỉnh thoảng lại dừng lại rải một nắm bột tiêu trừ mùi bọc trong lá chuối khô xuống dòng nước thải. Cậu thiếu niên cắn chặt môi dưới đến rướm máu, đôi mắt căng tròn nhìn chằm chằm vào bóng tối phía sau, cảnh giác từng bóng đen chập chờn do ánh sáng lân tinh hắt ra từ những mảng rêu độc bám trên trần cống.

Sau gần nửa canh giờ lần mò trong lòng đất u tối, dòng nước cống bắt đầu chảy xiết hơn, đáy cống dốc dần về phía trước. Mùi tanh nồng của bùn sông và ngọn gió tươi mát mang theo hơi ẩm của cỏ dại từ khe hở phía trước ùa vào, xua tan mùi lưu huỳnh ngột ngạt.

Khi ba người chui ra khỏi cửa cống ngầm phủ đầy lau sậy ở bãi bồi ven sông Ngọa Hổ, ánh bình minh đầu tiên của ngày mới vừa le lói rạch ngang bầu trời xám xịt phía đông. Màn sương sớm bốc lên từ mặt sông che phủ những bóng người ướt sũng, bùn đất bám đầy ống quần và vạt áo. Dòng sông Ngọa Hổ mùa này cạn nước, để lộ những cồn cát đỏ quạch và những gốc cây mục gãy chĩa lên trời như những cánh tay khô đét.

Họ không dừng lại nghỉ ngơi, lập tức luồn theo bờ rào chuối hoang và các lối mòn cắt qua khu vườn thuốc bỏ hoang, đi vòng về phía xưởng lưu ký đổ nát của Phùng Nghiêu.

***

Gian nhà lưu ký chỉ còn lại một nửa mái ngói âm dương sau trận hỏa hoạn do thuộc hạ của Hàn Tố gây ra. Mùi gỗ thông cháy dở và tro tàn ẩm ướt vẫn lảng vảng trong không khí, quyện với mùi giấy ẩm và mực cũ tạo nên một bầu không khí u ám, lạnh lẽo. Những cột kèo cháy xém đứng trơ trọi giữa trời sương, vài thanh xà gồ gãy gục cắm nghiêng xuống đống gạch vỡ nát. Dưới sàn đất nện, những mảnh giấy vụn bị lửa táp nham nhở bay tản mác, dính bết vào lớp bùn nhão do cơn mưa đêm qua để lại.

Phùng Nghiêu ngồi tựa lưng vào chiếc chõng tre kê ở góc hiên còn nguyên vẹn, nơi duy nhất còn sót lại một mảnh bạt rách che chắn sương gió. Cẳng chân trái của ông bó chặt bằng hai nẹp gỗ sến dày cộp, cố định bởi những vòng dây gai bện thô ráp. Lớp vải lót bên trong đã ngả sang màu vàng ố vì dịch thuốc nam rỉ ra, nhưng khuôn mặt khắc khổ đầy nếp nhăn của lão thợ già vẫn không lộ một chút đau đớn. Nghe tiếng bước chân khẽ khàng ngoài rào dâm bụt, ông lão chậm rãi đặt chiếc dùi đóng sách xuống chiếc bàn con, đôi mắt đục mờ ngước lên nhìn ba người bước vào.

Ông không hỏi một lời về những gì họ đã thấy dưới tháp. Lão thợ già chỉ với tay nhấc chiếc ấm đất nung trên bếp than củi đang âm ỉ đỏ, rót ba bát nước chè xanh nghi ngút khói đẩy về phía mép bàn. Khói chè bốc lên nhè nhẹ, mang theo vị chát đượm và mùi lá tươi, làm dịu đi phần nào cái lạnh buốt đang ngấm vào da thịt ba kẻ vừa thoát khỏi cống ngầm.

Lục An đặt chiếc tráp sắt niêm phong lên mặt bàn đóng sách bằng gỗ nghiến đã sứt sẹo một góc. Bề mặt gỗ này đã nhẵn bóng qua hàng chục năm chịu đựng những nhát búa gõ gáy sách và những đường dao rọc giấy chuẩn xác của hai thầy trò. Tạ Thanh Nghi cởi bỏ áo choàng ướt đẫm bùn, ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng tre đối diện, trong khi Mạnh Du đứng chốt chặt ở ngưỡng cửa, ánh mắt cảnh giác hướng ra con đường đất dẫn vào xóm thợ.

“Chúng ta đã nắm được toàn bộ cơ chế của tháp,” Lục An mở lời, giọng hắn khàn đặc vì lạnh nhưng từng chữ đều rõ ràng. “Nhưng chúng ta không thể dùng hạ sách phá hoại cơ học.”

Mạnh Du quay đầu lại, đôi lông mày nhíu chặt, trong mắt ánh lên vẻ bối rối và kích động: “Ý huynh là sao, Lục ca? Nếu chúng ta đã biết buồng điều khiển ngầm và các van chuyển dòng, tại sao không dùng bộc phá phù hoặc kích nổ đường ống để phá hủy toàn bộ cỗ máy trước giờ khai lễ? Chỉ cần cỗ máy vỡ tan, đại lễ sẽ bị hủy bỏ, Chu Kính sẽ không thể thu gom dư vang của năm mươi ba người bọn đệ! Huynh sợ Chấp Pháp Đường truy cứu sao? Bọn đệ đã không còn đường lùi nữa rồi!”

“Ngươi phá vỡ cỗ máy một cách thô bạo, mười vạn người ở Hạ Khê sẽ chôn cùng nó,” Tạ Thanh Nghi lạnh lùng ngắt lời, giọng điệu sắc bén của một kiểm chứng sư Giám Ký Viện lộ rõ. Nàng ngẩng đầu nhìn thẳng vào Mạnh Du, từng câu chữ đều mang sức nặng của sự phân tích kỹ thuật: “Hàn Tố đã không nói dối. Bản thân Chu Kính đã hàn thêm một đoạn ống bạch đồng nối từ cổ van xả chính Đo đạc Bính-Ba đâm thẳng vào mạch nước ngầm dẫn về hồ chứa nước sinh hoạt của toàn bộ thung lũng Hạ Khê. Kho rỗng ba ngàn phương của chị Tạ Vân đã bị đổ bê tông trám kín. Nếu phá hủy bộ thu hoặc ngắt van khẩn cấp khi trận pháp đang vận hành áp suất âm, toàn bộ năm mươi ba luồng dư vang bị nén nghẽn và độc chất lưu ngân đậm đặc sẽ dội ngược qua ống bạch đồng, tràn thẳng vào nguồn nước uống. Mười vạn phàm nhân và đệ tử tạp dịch sẽ chết vì ngộ độc thần thức và thối rữa tạng phủ chỉ trong vòng ba ngày.”

Mạnh Du sững sờ, hai bàn tay buông thõng bên sườn khẽ run lên. Hắn lùi lại nửa bước, lưng tựa vào khung cửa cháy sém. Ký ức về người mẹ già Mạnh Liên ở Hạ Khê dù đã bị thiên luật xóa sạch phần cảm xúc gắn kết, nhưng những dòng ghi chép bằng mực lưu ngân trên tờ giấy ủy thác của Lục An vẫn còn nguyên vẹn trong túi áo hắn. Hắn nhớ rằng mình có một người mẹ đang sống dựa vào dòng nước ấy. Người mẹ mù lòa ngày ngày giặt giũ bên bến nước đầu làng, người đàn bà phàm trần đã gom góp từng hào bạc vụn để gửi hắn lên núi cầu đạo. Nếu dòng nước đó bị nhiễm độc, mẹ hắn sẽ là một trong những người ngã xuống đầu tiên.

“Phá hoại cơ học là rơi thẳng vào cái bẫy của Chu Kính,” Lục An tiếp lời, ánh mắt dừng lại trên mặt tráp sắt. “Nếu cỗ máy nổ tung và nước ngập độc, Chu Kính sẽ lập tức đổ toàn bộ tội danh khủng bố và tàn sát cho chúng ta. Khi đó, danh nghĩa bảo vệ tông môn sẽ thuộc về lão, và Thương hội Bạch Sa sẽ danh chính ngôn thuận tiếp quản toàn bộ đất đai Hạ Khê dưới hình thức siết nợ khắc phục hậu quả. Khi toàn bộ thung lũng biến thành bãi tha ma, không còn ai sống sót để làm chứng, không còn ai cất tiếng đòi lại ký ức đã mất. Con đường duy nhất để vừa cứu năm mươi ba đệ tử, vừa bảo vệ mười vạn cư dân, là phải đình chỉ đại lễ một cách hợp pháp trước khi trận pháp được khởi động.”

“Đình chỉ hợp pháp?” Phùng Nghiêu bấy giờ mới khẽ lên tiếng, giọng ông khàn khàn như tiếng cưa xẻ gỗ. Lão thợ già cầm chiếc tẩu thuốc bằng rễ tre đã cạn đóm, gõ nhẹ vào cạnh bàn nện những tiếng *cộc cộc* khô khốc. “Ở cái tông môn này, ai có quyền ra lệnh đình chỉ một đại lễ đã được định ngày từ bốn năm trước? Kẻ nắm kiếm là Chu Kính, kẻ nắm luật là Hàn Tố, còn đám đệ tử ngoại môn thì chỉ như cỏ rác ven đường.”

“Hội đồng Tông môn ba ghế,” Tạ Thanh Nghi đáp ngay không cần suy nghĩ. Nàng rút từ túi ngực ra bản sao Thanh quy tông môn được đóng dấu đỏ giáp lai. Tấm da cừu thuộc đã ngả màu vàng sẫm trải ra bên cạnh chiếc tráp sắt, để lộ những điều khoản quy định về quyền hạn tối cao trong các tình huống khẩn cấp. “Theo điều lệ Khang Định thứ mười hai, đối với các nghi lễ có huy động nguồn lực công và liên quan đến tài sản bảo chứng sinh mạng của cư dân phụ thuộc, chỉ cần hội đồng gồm ba ghế độc lập cùng đặt bút ký vào Lệnh Đình Chỉ Khẩn Cấp, toàn bộ quyền điều hành thực địa của Chu Kính sẽ bị tước bỏ ngay tại chỗ. Chấp Pháp Đường và Hộ Sơn Đội buộc phải phong tỏa đài hành lễ để chờ tái thẩm tra.”

Lục An lấy một tờ giấy trắng phẳng phiu đặt lên bàn, dùng ngón tay chấm vào bát nước chè xanh còn ấm, vẽ ba vòng tròn tạo thành một thế chân vạc trên mặt giấy:

“Ba chiếc ghế độc lập trong hội đồng: Chưởng môn Vệ Hoài, Kiểm chứng sư Bùi Sâm của Giám Ký Viện, và Ninh Thục — người đại diện cho cư dân Hạ Khê. Mỗi người nắm giữ một quyền phủ quyết. Nhưng muốn cả ba người cùng ký vào một tờ lệnh đình chỉ, chúng ta phải giải được bài toán của từng chiếc ghế.”

Hắn chỉ vào vòng tròn đầu tiên bên trái, nơi giọt nước chè đang thấm dần vào thớ giấy:

“Ghế thứ nhất: Chưởng môn Vệ Hoài.”

Tạ Thanh Nghi gật đầu, tiếp lời: “Vệ Hoài đã bảy mươi ba tuổi, tu vi Kết Đan sơ kỳ nhưng kinh mạch đã khô kiệt vì phải một mình chống đỡ Cửu Khúc Trận suốt bốn năm qua. Lão không phải kẻ chủ mưu cướp ký ức như Chu Kính, nhưng lão là một kẻ nhu nhược và coi trọng thể diện tông môn hơn sinh mạng của từng cá nhân đệ tử. Lão biết việc Chu Kính bán một phần dư vang ra ngoài, nhưng lão nhắm mắt làm ngơ vì cần số linh thạch đó để duy trì kết giới hộ sơn. Lão lo sợ sự sụp đổ của tông môn, sợ trở thành vị chưởng môn làm tiêu vong cơ nghiệp tổ tiên. Nếu chúng ta chỉ đưa ra những bằng chứng về sự đau khổ hay bất công của đệ tử ngoại môn, Vệ Hoài sẽ gạt đi như cái giá phải trả cho đại cục.”

Nàng dừng lại một chút, ngón tay lụa miết nhẹ lên mặt bàn: “Người già nắm quyền lực thường có một điểm yếu chí mạng: họ sợ bị lịch sử phán xét là kẻ làm mất đất, mất nghiệp. Bốn năm trước, khi tháp sụp, Vệ Hoài đã phải bế quan ba tháng để tránh né dư luận. Lão thà chấp nhận một sự giả dối êm thấm còn hơn một sự thật hỗn loạn làm lung lay chiếc ghế chưởng môn.”

“Vậy làm sao để thuyết phục lão?” Mạnh Du hỏi dồn, bước tới gần bàn hơn. “Một kẻ đã nhắm mắt làm ngơ suốt bốn năm thì làm sao chịu mở mắt vào lúc này?”

“Phải chứng minh cho lão thấy đại lễ này không hề cứu vãn tông môn, mà là bản án tử hình đối với Thanh Khê Tông,” Lục An trầm giọng, ánh mắt lóe lên sự sắc bén của một người làm nghề rà soát khế ước. “Tập tài liệu của Sứ Thu Ký và bản sao sổ nợ của Đào Khuê chứng minh rõ ràng: năm mươi ba luồng dư vang này chỉ đủ để đóng băng nợ gốc trong ba năm, nhưng đổi lại, quyền tài phán đối với đất đai, nguồn nước và toàn bộ quyền chuyển giao lao dịch của Hạ Khê đã bị Chu Kính bí mật ký gán cho mỏ quặng Hắc Thạch Lĩnh. Nói cách khác, Chu Kính đang bán dần từng phần của tông môn cho bên ngoài để đổi lấy sự tồn tại giả tạo. Khi Sứ Thu Ký kích hoạt toàn bộ quyền thu hồi, Thanh Khê Tông sẽ trở thành một vỏ ốc rỗng không có đệ tử, không có dân cư, và kết giới hộ sơn cũng sẽ bị tịch thu. Phải đánh vào nỗi sợ mất thể diện và diệt môn của Vệ Hoài. Lão phải hiểu rằng ký lệnh đình chỉ là cơ hội duy nhất để giữ lại tính chính danh của chức vị chưởng môn.”

Hắn nhìn thẳng vào Phùng Nghiêu: “Chúng ta không cầu xin lòng từ bi của Vệ Hoài. Chúng ta đặt trước mặt lão một lựa chọn sinh tử: hoặc ký lệnh để bảo toàn danh phận chưởng môn và tước quyền Chu Kính để đàm phán lại, hoặc trở thành tội đồ thiên cổ dâng nộp toàn bộ tông môn cho Thương hội Bạch Sa.”

Lục An chuyển ngón tay sang vòng tròn thứ hai ở giữa, vòng tròn lớn nhất và đậm nét nhất:

“Ghế thứ hai: Bùi Sâm.”

Không khí trong gian hiên bỗng chùng xuống. Bùi Sâm không phải người xa lạ, nhưng lại là nhân vật khó đoán định nhất.

“Bùi Sâm không có lập trường chính trị, cũng không màng đến thể diện của Thanh Khê Tông,” Tạ Thanh Nghi nói, giọng nàng lộ rõ sự kính trọng lẫn dè chừng đối với người đồng nghiệp cấp cao. “Huynh ấy là chuẩn mực thép của Giám Ký Viện. Huynh ấy lạnh lùng, chính xác và chỉ tin vào những gì có thể chứng minh được bằng chuỗi bàn giao tang vật. Bùi Sâm từng bác bỏ yêu cầu của chúng ta tại phiên điều trần trước không phải vì huynh ấy theo phe Chu Kính, mà vì tại thời điểm đó, chúng ta chưa có chứng cứ vật chất trực tiếp chứng minh hệ thống thu ký ức đang thực sự vận hành ở thì hiện tại. Huynh ấy thà để một tội ác trôi qua còn hơn ký vào một bản án thiếu căn cứ pháp lý để rồi bị viện dẫn làm tiền lệ xấu.”

Nàng nhớ lại những ngày làm việc dưới trướng Bùi Sâm tại phân viện: “Bùi Sâm từng thẳng tay hủy bỏ một bản hợp đồng khai thác khoáng thạch trị giá mười vạn linh thạch chỉ vì con dấu niêm phong bị lệch một ly so với quy chuẩn. Đối với huynh ấy, quy trình chính là chân lý. Huynh ấy không ghét chúng ta, cũng không ưa Chu Kính. Thứ duy nhất điều khiển ngòi bút của Bùi Sâm là tính toàn vẹn của chuỗi chứng cứ.”

“Nhưng giờ chúng ta đã có đủ,” Lục An gõ nhẹ đầu ngón tay lên chiếc tráp sắt. Tiếng kim loại vang lên đanh gọn giữa không gian tĩnh mịch. “Chúng ta có bảng phân ca nguyên bản mang chữ ký của Chu Kính; có văn bản cảnh báo quá tải của Tạ Vân bị Chu Kính bác bỏ bằng mực son; có tập niêm lệnh kiểm kê mang con dấu sắt của Sứ Thu Ký; và quan trọng nhất, chúng ta đã phát hiện ra đoạn ống bạch đồng nối tắt vào nguồn nước Hạ Khê. Đó không còn là nghi vấn hay giả thuyết, đó là hành vi ngụy tạo hạ tầng đe dọa sinh mạng hàng loạt, vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Kiểm chứng Tông môn. Bùi Sâm sẽ không thể từ chối tính hợp pháp của chuỗi chứng cứ này. Điều duy nhất cần làm là đảm bảo tang vật được trình ra trước mặt huynh ấy theo đúng trình tự tố tụng, không để Chu Kính kịp thời tiêu hủy hoặc đánh tráo.”

“Ta sẽ đích thân trình nộp số tài liệu này cho Bùi Sâm,” Tạ Thanh Nghi khẳng định. “Với tư cách là phó kiểm chứng sư, ta có quyền yêu cầu mở một phiên thẩm tra kỹ thuật đặc biệt trước khi nghi lễ diễn ra hai canh giờ. Chu Kính không thể ngăn cản quy trình nội bộ của Giám Ký Viện nếu như Bùi Sâm đã tiếp nhận thụ lý.”

Cuối cùng, Lục An đặt ngón tay lên vòng tròn thứ ba, nằm ở vị trí thấp nhất nhưng lại nặng nề nhất:

“Ghế thứ ba: Ninh Thục.”

Mạnh Du khẽ siết chặt quai hàm. Ninh Thục là người đại diện cho thung lũng Hạ Khê, người phụ nữ phàm nhân duy nhất ngồi ngang hàng với hai vị tu sĩ cấp cao trong hội đồng ba ghế.

“Ninh Thục đại diện cho sinh mạng của mười vạn cư dân,” Lục An nói, ánh mắt nhìn thẳng vào Mạnh Du. “Bà ấy là người biết tính toán từng bát linh cốc, từng gầu nước sạch. Bà ấy không thần tượng những kẻ tố cáo như chúng ta, cũng không có ảo tưởng về lòng từ bi của giới tu tiên. Điều bà ấy quan tâm duy nhất là: nếu đại lễ bị đình chỉ, khoản nợ bốn vạn linh thạch không được thanh toán, ai sẽ bảo vệ nguồn nước và kết giới chống chướng khí cho Hạ Khê? Hàn Tố đang dùng chính điều này để gây sức ép lên bà ấy. Một bộ phận cư dân thậm chí sẵn sàng chấp nhận việc đệ tử ngoại môn bị tước đoạt ký ức, miễn là gia đình họ ở dưới chân núi không bị đuổi ra khỏi mảnh đất tổ tiên.”

“Đó là sự thật tàn nhẫn của Hạ Khê,” Mạnh Du nghẹn ngào, giọng nói chùng xuống. “Người phàm ở dưới đó đã quá mệt mỏi vì đói nghèo và sợ hãi. Họ thấy chướng khí mỗi mùa đông lại tràn vào làm chết lúa, thấy trẻ con sinh ra bị dị tật vì khí độc. Chu Kính và Hàn Tố vẽ ra cho họ một bức tranh rằng sự hy sinh của đệ tử ngoại môn là vinh dự, là để bảo vệ quê hương. Nếu Ninh Thục thấy việc ký lệnh đình chỉ sẽ khiến kết giới sụp đổ ngay ngày mai, bà ấy sẽ thà chọn nhìn năm mươi ba người bọn đệ mất ký ức.”

“Bà ấy sợ sự chia rẽ sẽ khiến chủ nợ ép giá,” Tạ Thanh Nghi bổ sung. “Muốn Ninh Thục đặt bút ký, chúng ta không thể chỉ mang đến sự thật tàn nhẫn. Chúng ta phải mang đến cho bà ấy một phương án thay thế có thể thực thi được: một phương án tái cấu trúc nợ, chấp nhận cắt giảm một phần phòng hộ không thiết yếu, bán quyền khai thác các mỏ đá phụ để trả bớt nợ gốc, nhưng giữ lại quyền tự quyết cho con người. Bà ấy cần thấy rằng cư dân Hạ Khê không phải là món hàng thế chấp vô tri nằm dưới quyền định đoạt của Sứ Thu Ký.”

Lục An gật đầu: “Ta đã rà soát lại toàn bộ khế ước địa mạch cũ. Vùng đệm phía nam của thung lũng có ba mỏ đá hoa cương và hai dải rừng phong đỏ chưa từng được định giá đúng mức. Nếu chuyển nhượng quyền khai thác hữu hạn các khu vực này cho các thương lái tự do từ mỏ quặng lân cận, số tiền thu về đủ để trang trải tiền lãi trong hai năm, tạo khoảng trống thời gian để tái thiết lại Cửu Khúc Trận bằng phương pháp tự nhiên. Ninh Thục là một người thực tế. Khi nhìn thấy những con số khả thi thay thế cho sự bóc lột của Chu Kính, bà ấy sẽ hiểu rằng tiếp tục thỏa hiệp chỉ dẫn đến sự diệt vong hoàn toàn của Hạ Khê.”

Ba vòng tròn nước chè trên mặt bàn gỗ dần bay hơi dưới làn gió sớm, để lại những vệt ố tròn mờ nhạt nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau. Ba thế lực, ba lợi ích khác biệt, nhưng đều bị trói buộc trong cùng một cỗ máy nghiền nát của thời đại suy tàn.

Cả gian phòng chìm vào sự im lặng nặng nề. Phùng Nghiêu nhìn học trò của mình, bàn tay già nua chai sần khẽ vỗ lên mu bàn tay trái của Lục An. Lão thợ già không nói gì, nhưng cái gật đầu chậm rãi của ông chứa đựng sự đồng thuận tuyệt đối đối với con đường mà người lưu ký đã chọn: không phá hủy trong mù quáng, không nhân danh đạo đức để gây ra thảm họa, mà dùng chính sự thật, luật lệ và trách nhiệm để đối đầu với guồng máy tàn bạo.

Một cơn gió núi sớm thốc qua rặng dâm bụt cháy sém ngoài sân, mang theo hơi sương lạnh ngắt từ đỉnh núi Thanh Khê thổi tràn vào gian hiên.

Bất chợt, một thanh âm vang lên phá vỡ sự tĩnh lặng của thung lũng.

*Keng... Keng... Keng...*

Đó không phải tiếng chuông đồng trầm đục của giờ điểm canh thường nhật, mà là tiếng khánh lệnh bằng ngọc thanh thúy, dồn dập vang lên từ quảng trường trung tâm trên đỉnh núi cao. Tiếng khánh mang theo linh lực khuếch đại, vang vọng qua từng hẻm núi, rền rĩ dội xuống các khu nhà trọ ngoại môn, đánh thức hàng ngàn đệ tử còn đang chìm trong giấc ngủ.

Đại lễ chỉ còn bốn ngày; tiếng khánh triệu tập đệ tử tham dự đã bắt đầu vang lên từ đỉnh núi.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn