Kẻ Giữ Ký Ức — Phần 1: Bản Chép Của Người Đã QuênC.14 / 36
Chương 14

Tông môn sống bằng gì

Gian phòng làm việc của Quản sự Chu Kính tại tầng cao Tàng Ký Các không bày biện pháp bảo lộng lẫy, cũng chẳng có những bức bình phong cẩn xà cừ hay những giá bày kỳ hoa dị thảo thường thấy nơi thư phòng của các bậc tiền bối Trúc Đài trong tông môn. Toàn bộ không gian rộng lớn và u tối ấy bị choán ngợp bởi những kệ tủ kịch trần bằng gỗ sồi già và những chồng sổ cái chi thu bằng gỗ mun nặng nề, xếp tầng tầng lớp lớp tựa như một trận đồ sách đá vây hãm lấy người ngồi bên trong.

Gió đêm từ sườn núi phía tây lùa qua khung cửa sổ chấn song gỗ hình hoa văn chữ vạn, mang theo hơi lạnh buốt giá của sương rừng đầu thu và mùi khoáng thạch tanh nồng, sắc lịm phả ra từ các vỉa lưu ngân ngầm lộ thiên dọc theo vách đứt gãy. Bên trong phòng, không có lấy một viên dạ minh châu tỏa sáng lung linh hay một lư trầm bằng đồng hun nhả khói an thần. Ánh sáng duy nhất gom lại trên mặt chiếc bàn gỗ lê xám đồ sộ là ngọn lửa vàng đục, chao đảo của một chiếc đèn dầu cá thô sơ, bấc đèn đã cháy xém một nửa, chốc chốc lại lách tách nổ nhỏ một tiếng, hắt bóng những gờ nẹp đồng sắc cạnh trên các giá sách lên bốn bức tường đá chưa hề mài nhẵn. Lớp bụi mịn của giấy bản mục và mạt gỗ lâu năm bám thành một màng mỏng xám xịt trên các mép tủ, quyện chặt lấy mùi ngai ngái của keo da trâu dùng để bồi gáy sách. Trên chiếc kiềng sắt ba chân han gỉ đặt ở góc phòng sát vách đá ẩm, một chiếc ấm nước thô bằng gang đen đang sôi lục bục, nắp ấm rung lên từng nhịp run rẩy, phả ra một làn hơi trắng mỏng manh cùng mùi lá trà già chát ngắt, thứ trà đắng chỉ có phu mỏ và thư lại cấp thấp dưới chân núi mới thường xuyên dùng để xua đi cơn buồn ngủ giữa những ca trực thâu đêm.

Lục An bước qua bậu cửa đá xanh mòn vẹt. Bước chân cậu khẽ khựng lại trong một phần mười cái chớp mắt theo phản xạ thâm căn cố đế của một thợ lưu ký quen thói dò xét từng ly từng tí những nơi mình đặt chân tới.

Đôi mắt cậu đảo nhanh qua từng góc tối của gian phòng: cửa thoát duy nhất sau lưng là lối cầu thang xoắn ốc bằng đá hẹp trơn trượt mà cậu vừa bước lên, nơi chỉ đủ một người đi lọt; khung cửa sổ rộng mở phía sau lưng bàn làm việc nhìn thẳng xuống vực sâu hun hút của sườn tây, nơi những ngọn thông đá bám mình chênh vênh giữa màn sương mù dày đặc; không có dao động linh lực gợn sóng của các loại bùa chú giăng ngầm, không có mùi chu sa tươi của bẫy trận, và tuyệt nhiên không có tiếng thở nông giấu giếm hay áp lực kình khí phục kích từ đám đệ tử chấp pháp của đội thu hồi.

Bàn tay phải của Lục An vẫn được nẹp chặt bằng bốn thanh tre ngâm dầu trẩu già, quấn nhiều lớp băng vải thô tẩm dịch hồ tiêu cùng rượu thuốc cay nồng để giữ ấm xương khớp gãy, giấu cẩn thận bên dưới vạt áo ngắn màu tro tàn. Mỗi một nhịp bước đi, mỗi một cử động của bả vai lại khiến vết nứt chẻ dọc nơi xương mu bàn tay dội lên một cơn đau buốt âm ỉ, nhức nhối thấu tận tủy sống, liên tục nhắc nhở cậu về kình lực sắc bén, hiểm độc như lưỡi dao cạo của Hàn Tố trong bóng tối ẩm thấp của hành lang Giáp-Bảy đêm hôm trước.

Chu Kính ngồi sau chiếc bàn gỗ đồ sộ, bóng lưng hơi còng xuống dưới chiếc đạo bào màu nâu sẫm dệt bằng sợi gai thô, không hề có bất kỳ hoa văn mây chỉ bạc hay phù hiệu phân cấp nào của một chấp sự nội vụ. Mái tóc đã điểm nhiều sợi bạc của ông ta được búi lại một cách cẩn thận, chặt chẽ bằng một thanh trâm gỗ đào mộc mạc trầy xước vài chỗ. Gương mặt của vị quản sự năm mươi hai tuổi chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt, trán và rãnh cười—đó không đơn thuần là dấu vết bào mòn của năm tháng phàm trần, mà là những vết hằn nghiệt ngã của một tu sĩ đã trải qua nhiều lần tiến cảnh cưỡng ép. Nơi đó, thiên luật vận hành tàn nhẫn đã từng bước bóc tách, tước đoạt đi từng mảng ký ức tự truyện sâu đậm nhất về tình thân, về thời niên thiếu, về những rung động đầu đời, chỉ để lại trong đôi mắt sâu hoắm kia một sự điềm đạm đến mức tàn nhẫn, lạnh lẽo của một kẻ coi trật tự hành chính, sự cân đối của các trang sổ và bổn phận duy trì bộ máy là thước đo duy nhất còn sót lại cho sự tồn tại của bản thân.

Thấy tiếng bước chân của Lục An dừng lại trước bàn, Chu Kính không hề ngẩng đầu lên ngay. Bàn tay phải gầy guộc đầy những đốm đồi mồi của ông ta đang kẹp chặt một chiếc bút lông thỏ cán trúc mảnh, đầu bút khẽ gạt nhẹ vào miệng chiếc nghiên đá xám để trút bỏ một giọt mực thừa sẫm màu, rồi nắn nót, chậm rãi viết nốt một con số chiết khấu cuối cùng vào góc dưới của trang sổ đang mở dở trước mặt.

Không hề có một tia sát khí nào rò rỉ. Không có uy áp linh lực nặng nề của một tu sĩ Trúc Đài sơ kỳ giáng xuống để đè bẹp một kẻ chỉ mới ở tầng Dẫn Khí sơ kỳ như Lục An. Mọi cử chỉ, từng hơi thở, từng nhịp lật cổ tay của Chu Kính đều thong dong, chuẩn xác và lạnh nhạt như một người thầy đồ già ở trường làng đang cặm cụi chấm bài tập của môn sinh vào một đêm mưa gió lạnh lẽo.

"Ngồi đi," Chu Kính đặt chiếc bút lông thỏ lên giá đỡ bằng đồng đúc hình một dãy núi trập trùng, khẽ nâng mi mắt lên nhìn Lục An, đoạn hất cằm về phía chiếc ghế đẩu bốn chân bằng gỗ sồi xám đặt đối diện bên kia bàn. "Đường dốc từ bờ rào Giám Ký Viện lội tuyết sương sang tận đỉnh Tàng Ký Các này gió độc lắm. Khí lạnh ngấm vào xương thì kinh mạch tắc nghẽn, tay chân đã gãy lại càng thêm buốt. Uống ngụm trà nóng cho ấm lại lồng ngực."

Nói đoạn, Chu Kính vươn bàn tay thô ráp nhấc chiếc ấm gang khỏi kiềng sắt, tự tay nghiêng vòi rót một dòng nước trà màu hổ phách đậm đặc, bốc khói nghi ngút vào một chiếc bát sứ hoa lam đã sứt một miếng nhỏ ở vành miệng. Nước trà chạm đáy bát kêu thành một tiếng *róc rách* khô khan, rồi ông ta dùng đầu ngón tay đẩy nhẹ cái bát trượt trên mặt bàn gỗ lê xám, dừng lại ngay ngắn trước mép bàn phía Lục An.

Lục An không hề đưa tay chạm vào bát nước. Cậu chậm rãi kéo chiếc ghế đẩu lại gần nửa bước rồi ngồi xuống mép ngoài, hai chân đặt vững chãi trên nền đá hoa cương mấp mô, sống lưng giữ thẳng tắp như một thân trúc đứng trước gió. Cánh tay trái lành lặn đặt hờ trên đầu gối, các ngón tay khẽ co lại để duy trì trọng tâm cơ thể ở trạng thái sẵn sàng bật lùi về phía sau nếu có biến cố. Giọng cậu cất lên, bình thản, khô khốc và gãy gọn như tiếng gõ của hai thanh gỗ khô:

"Chu quản sự hẹn ta đến đây vào đúng giờ Hợi canh ba, chắc chắn không phải chỉ để biểu diễn lòng hiếu khách bằng một bát trà thô pha nước giếng lưu huỳnh."

"Ngươi lúc nào cũng đa nghi như vậy, Lục An. Ngay từ bốn năm trước, khi ngươi còn là một đứa trẻ mất hết ký ức, co ro ngồi ở buồng đối chiếu ẩm mốc dưới chân tháp chuông phụ việc cho lão Phùng, ngươi đã có cái tật nhìn đâu cũng thấy cạm bẫy, nhìn ai cũng thấy như đao phủ giấu lưỡi lê sau lưng áo." Chu Kính khẽ cười, một nụ cười nhạt thếch chỉ làm xô lệch những nếp nhăn quanh khóe miệng chứ tuyệt nhiên không chạm tới đôi đồng tử đen đục, phẳng lặng như nước giếng cạn. "Nhưng đêm nay, trong căn phòng này, ta không chuẩn bị bất kỳ cái bẫy rập hay thanh kiếm nào cho ngươi cả. Cậu bé ngoại môn Mạnh Du mà ngươi cố công bảo bọc đã được Giám Ký Viện tạm thời ra trát bảo lãnh, hoãn thi hành lệnh cưỡng chế lao dịch; chiếc bàn sao chép số bốn ở tầng một hành lang lưu trữ cũng đã bị người của gã Bùi Sâm kia dán bùa niêm phong theo đúng trình tự tố giác. Ngươi và cô nương Tạ Thanh Nghi đã thắng được một nước cờ nhỏ rất đẹp trên mặt giấy tờ hành chính. Nhưng giấy tờ... muôn đời nay chưa từng nuôi nổi một tông môn."

Dứt lời, Chu Kính vươn cánh tay gầy guộc kéo xấp sổ cái dày cộm bọc da bò thô màu vàng sẫm từ góc bàn sang đặt ngay ngắn trước mặt Lục An. Bàn tay ông ta vỗ nhẹ lên bìa da phát ra tiếng *bộp* nặng trịch, rồi thong thả lật mở trang bìa đầu tiên.

Đó không phải là các bản sao chép hồ sơ nợ thứ cấp hay những tờ khế ước cá nhân được ngụy tạo bằng thứ màng cá tuyết tinh xảo như ở bàn số bốn.

Đó là một hệ thống sổ sách kế toán đại cương nguyên bản của chính Thanh Khê Tông, được ghi chép bằng loại mực chu sa pha bột khoáng thần sa đỏ quạch chống ẩm mốc và chống phai màu, từng trang giấy đều mang đầy đủ con dấu giáp lai hình bán nguyệt của Chưởng quản Nội vụ viện cùng dấu triện vuông khắc chìm bằng ngọc bích của đích thân Chưởng môn Vệ Hoài qua từng niên độ, kéo dài liên tục suốt mười hai năm.

"Ngươi là thợ lưu ký, ngươi ăn cơm nhờ việc đọc hiểu các con chữ và đối chiếu con số, ngươi hẳn biết một cuốn sổ thế nào là thật, thế nào là giả," Chu Kính thong thả gõ ngón tay trỏ mang móng tay vàng ố xuống mặt giấy bản dày cộp. "Ngươi tự mở mắt ra mà xem đi. Đây mới là thực tế trần trụi, tanh tưởi của cái tông môn mang tên Thanh Khê này trong suốt mười hai năm qua, chứ không phải mấy lời tụng ca về tiên đạo trường sinh hay thanh danh môn phái mà các trưởng lão thường rêu rao trên đài giảng pháp."

Lục An rũ mi mắt, ánh nhìn chăm chú rơi xuống mặt giấy. Từng cột số liệu chi thu, từng dòng mực chu sa đỏ sẫm như vệt máu khô hiện lên rõ mồn một dưới ánh đèn dầu cá chập chờn. Là một người đã dành trọn bốn năm cuộc đời để làm bạn với bút mực, thước đo, giấy bản và các phép toán đối chiếu sổ sách phức tạp, chỉ cần lướt mắt qua ba hàng số đầu tiên ở cột tổng kết niên độ, lồng ngực Lục An đã khẽ thắt lại thành một khối ngột ngạt.

Toàn bộ trang sổ được phân chia rành mạch thành ba cột biểu lớn bằng nét kẻ mực đen sắc cạnh:

Cột thứ nhất: *Thu nhập linh thạch tự nhiên từ hệ thống linh nhãn toàn sơn môn.* Cột thứ hai: *Chi phí vận hành tối thiểu của Cửu Khúc Hộ Sơn Đại Trận và các cơ cấu dẫn khí.* Cột thứ ba: *Thâm hụt thực tế tích lũy qua từng chu kỳ trăng tròn.*

Chu Kính lật lật mấy ngón tay, mở sang một trang gấp lớn hơn ở giữa cuốn sổ, nơi vẽ chi tiết sơ đồ trắc địa mạng lưới linh mạch ngầm chạy ngoằn ngoèo dưới lòng dãy núi Thanh Khê:

"Linh mạch chủ uốn lượn dưới chân ngọn núi này, nguồn cội duy nhất nuôi sống tông môn từ thời tổ sư khai sơn lập phái ba trăm năm trước đến nay, đã thực sự bước vào giai đoạn suy kiệt cuối cùng. Nhìn vào các vết chấm đỏ này đi. Sáu phần linh nhãn trên tổng số mười linh nhãn trọng yếu đã chết hoàn toàn, hóa thành những hốc đá vôi xám xịt, khô cằn và không còn rỉ ra lấy nửa giọt linh khí. Bốn phần linh nhãn còn sót lại thì linh áp suy giảm đến mức thảm hại, mỗi ngày chỉ có thể sản sinh ra thứ linh khí tạp nham, loãng toẹt cấp hạ phẩm. Thứ linh khí cặn bã đó gom góp lại, đến việc cung ứng nguyên liệu nấu luyện đan dược cơ bản cho vài chục đệ tử chân truyền nội môn còn thiếu trước hụt sau, nói gì đến chuyện chu cấp bổng lộc, linh thạch tu luyện định kỳ cho hàng ngàn đệ tử ngoại môn và đám tạp dịch như các ngươi."

Đầu ngón tay khẳng khiu của Chu Kính trượt dài trên mặt giấy, dừng lại ở một con số khổng lồ viết bằng mực đỏ tươi, nằm chót vót ở cột chi phí bảo trì thường niên:

"Mỗi tháng trôi qua, để duy trì Cửu Khúc Hộ Sơn Đại Trận bao bọc toàn bộ chu vi ba ngàn dặm của sườn núi, tông môn bắt buộc phải đốt cháy tối thiểu ba ngàn khối hạ phẩm linh thạch hoàn toàn tinh khiết, không được lẫn một mảy may tạp chất. Ngươi có bao giờ tự hỏi, cái trận pháp ngốn linh thạch như tằm ăn rỗi ấy tồn tại để làm cái gì không? Ngươi nghĩ nó chỉ để bảo vệ mấy tòa lầu son gác tía của các vị trưởng lão trên đỉnh núi sao?"

Chu Kính cười khẩy, tiếng cười khô khốc như tiếng cọ xát của hai mảnh ngói vỡ:

"Trận pháp ấy dựng lên là để đẩy lùi những đợt thú triều cuồng loạn từ sâu trong dãy Hoang Ngạc tràn xuống mỗi độ mùa mưa lũ về; để ngăn chặn từng dải chướng khí độc hại từ đầm lầy phương Bắc không thể tràn qua đèo, ăn mòn hủy hoại toàn bộ các khu canh tác lúa nước và dược thảo hạ tầng. Nhưng quan trọng hơn tất cả những điều đó: trận pháp ấy chính là cỗ máy bơm linh lực khổng lồ duy nhất, ngày đêm vận hành không ngừng nghỉ để lọc sạch độc chất lưu ngân tanh tưởi hòa tan trong các mạch nước ngầm từ lòng núi, ép dòng nước ngọt tinh khiết chảy ngược về mạng lưới mương máng của thung lũng Hạ Khê."

Chu Kính ngước mắt lên, ánh nhìn sắc lạnh, trũng sâu xoáy thẳng vào từng đường nét trên khuôn mặt của Lục An:

"Dưới thung lũng Hạ Khê đó có cái gì? Có hơn mười vạn phàm nhân và thân quyến ruột thịt của chính các đệ tử ngoại môn đang bám đất sinh sống. Mẹ già mù lòa của thằng nhóc Mạnh Du đang ở đó, trông chờ từng gáo nước tưới cho mảnh ruộng rau sau nhà. Vợ con nheo nhóc của gã thư lại còng lưng Phương Mậu mà các ngươi vừa buông lời thương hại ở Giám Ký Viện cũng đang ở đó. Mười vạn miệng ăn ấy, mười vạn sinh mạng bằng xương bằng thịt ấy sống sót được qua từng mùa đông giá rét, không bị thối rữa lục phủ ngũ tạng vì ngộ độc thủy ngân, hoàn toàn là nhờ vào kết giới che chở và dòng nước ngọt ngào mà Thanh Khê Tông rót xuống mỗi ngày. Nhưng linh thạch tinh khiết để đốt vào lò trận pháp lấy ở đâu ra khi linh mạch dưới đáy vực đã cạn trơ đáy đá?"

Không đợi Lục An lên tiếng, ngón tay Chu Kính đã lật mạnh sang tập hồ sơ thứ hai đặt bên cạnh—một xấp văn bản dày cộp, mép giấy bản đã ngả sang màu vàng cháy vì thời gian, nhưng ở góc dưới bên phải của mỗi trang đều phát ra một vệt huỳnh quang màu lam nhạt sắc nét, tỏa ra một mùi tanh lạnh đặc trưng của loại mực phong ấn độc quyền do các đại thương hội xuyên vùng chế tạo.

"Lấy từ đây," Chu Kính gằn giọng, thanh âm trầm đục như tiếng đá tảng lăn dưới đáy vực sâu. "Bán dư vang."

Không khí bên trong gian phòng dường như lập tức đông cứng lại thành một khối băng lạnh toát. Mùi dầu cá cháy khét lẹt quyện với hơi nước trà bốc lên tạo thành một thứ mùi ngột ngạt đến lợm giọng.

"Khi một tu sĩ đột phá cảnh giới, vượt qua ngưỡng cửa từ Dẫn Khí lên Tụ Mạch, hay từ Tụ Mạch bước lên Trúc Đài, thiên luật khắc nghiệt giáng xuống tâm thức sẽ tước đoạt đi vĩnh viễn một mảng ký ức tự truyện quan trọng nhất của họ. Đó là cái giá bắt buộc phải trả cho quyền năng nắm giữ linh khí đất trời, là đạo lý vận hành từ thuở hồng hoang, không một ai, kể cả Chưởng môn hay các bậc Thiên Nhân, có thể dùng sức phàm mà cưỡng lại được," Chu Kính nói, giọng điệu của ông ta đều đều, lạnh lùng và chuẩn xác đến rợn người, tựa như một viên đao phủ đang thản nhiên giải thích về độ sắc của từng nhát chém. "Phần lớn tu sĩ trên cõi đời này đều xem sự mất mát ấy là một nỗi bi kịch, là cái giá nghiệt ngã phải cắn răng chấp nhận rồi dần dà chôn vùi nó vào quên lãng. Nhưng đối với những kẻ hiểu rõ cơ cấu của thần hồn, những mảng ký ức bị thiên luật tước đoạt ấy, khi bị ép đi qua các luồng đồng dẫn linh khí của tháp Tĩnh Chuông, không hề tan biến vào hư không như khói sương."

Chu Kính khẽ ngả người về phía trước, ánh đèn dầu cá soi rõ từng sợi gân xanh giật giật trên mu bàn tay ông ta:

"Chúng để lại những mảnh tàn dư dao động linh hồn vô cùng đậm đặc—chính là thứ mà chúng ta gọi là dư vang. Thương hội ngoài núi thèm khát thứ đó hơn bất kỳ mỏ linh thạch nào. Các đại tông môn trâm anh thế phiệt ở trung châu cần những luồng dư vang thuần khiết ấy để làm nguyên liệu tối thượng luyện chế các loại tiên đan định thần kinh thế hãi tục; các thế gia vọng tộc cần chúng để tôi luyện linh tính cho các thanh thần binh tâm thức; những kẻ tu luyện tà pháp hay bí thuật thượng thừa cần chúng để nghiên cứu các tầng sâu kín nhất của thức hải con người. Một bình dư vang tinh khiết loại Giáp thu thập từ một tu sĩ Tụ Mạch có giá trị quy đổi ngang bằng với cả một năm lao dịch cật lực của một trăm phàm nhân tráng kiện nơi mỏ đá. Dư vang tích trữ từ các chu kỳ Tĩnh Chuông cũ... chính là dòng máu duy nhất âm thầm nuôi sống cái tông môn tàn tạ, rách nát này suốt bốn năm ròng rã kể từ ngày tháp chuông ngưng tiếng gõ công khai."

Lục An siết chặt bàn tay trái trên đầu gối. Các khớp ngón tay cậu trắng bệch ra vì lực siết. Cậu cảm nhận rõ một luồng hàn khí lạnh buốt chạy dọc từ thắt lưng lên thẳng đỉnh đầu.

Đây không còn là những lời đồn thổi mập mờ, nửa kín nửa hở nơi các sạp hàng đen ẩm ướt ở bến cạn Hà Phường mà cậu từng nghe lỏm được. Đây là lời tự thú trần trụi, không chút che đậy của chính viên quản sự quyền lực nhất Tàng Ký Các—người đang thản nhiên thừa nhận rằng toàn bộ sự thịnh vượng giả tạo, toàn bộ sự bình yên mong manh của Thanh Khê Tông bấy lâu nay được bôi trơn bằng việc đem những mảnh hồn phách, những ký ức máu thịt bị tước đoạt của chính đệ tử đồng môn ra làm một món hàng trao đổi thương mại định kỳ trên bàn cân buôn bán.

"Và các ông... đã bán sạch sành sanh số dư vang tích trữ từ bốn năm trước vào những khoang thuyền buôn lậu rồi, đúng không?" Lục An cất giọng, thanh âm của cậu trầm thấp, khô khốc và lạnh lùng như tiếng băng nứt dưới chân núi.

"Phải. Bán sạch không còn một giọt cặn để trả chi phí mua quặng linh thạch vận hành kết giới, và quan trọng hơn cả: để trả lãi cho những khoản vay ngập đầu," Chu Kính không hề có lấy một tia chớp mắt hay một cử chỉ chối bỏ. Ông ta bình thản lật mở tờ giấy cuối cùng, nằm ở đáy tập hồ sơ có vệt huỳnh quang màu lam nhạt.

Đó là một văn bản khế ước nợ khổng lồ được dập nổi bằng con dấu sắt đen hình ba ngọn sóng cát cuộn lồng vào nhau—biểu tượng quyền uy tuyệt đối và tàn nhẫn của Thương hội Bạch Sa, tổ chức tài chính ngầm khổng lồ đang thao túng huyết mạch kinh tế của ba châu phủ phụ cận.

Mắt Lục An đanh lại khi nhìn thấy con số nợ gốc được khắc bằng lối chữ triện sắc bén như dao nhọn: *Bốn vạn khối trung phẩm linh thạch.*

Bốn vạn khối trung phẩm—một con số thiên văn đủ để mua đứt cả một tòa thành trì phàm trần cỡ trung, đủ để trang bị giáp trụ linh khí cho một đạo quân tu sĩ từ đầu đến chân.

Kèm theo đó là một phụ lục ràng buộc pháp lý với những dòng chữ son tươi rói, sắc lẹm: *Kỳ hạn thanh toán đợt bốn: Giờ Hợi ngày mười tám tháng Bảy.*

Tức là đúng ba ngày sau khi Đại lễ Tiến cảnh Tập thể tại tháp Tĩnh Chuông kết thúc theo lịch trình định sẵn.

Ngay bên dưới điều khoản thanh toán chết chóc ấy là mục tài sản bảo chứng. Từng dòng chữ viết tay ngay ngắn, rành mạch tựa như những chiếc đinh gỉ hoen ố đóng thẳng vào đại não của Lục An, tàn nhẫn và dứt khoát:

*Tài sản bảo chứng đợt bốn: Toàn bộ quyền sở hữu đất canh tác nông nghiệp, quyền khai thác hệ thống giếng nước ngầm và quyền quản hộ cư dân tại toàn bộ phân khu dân cư Hạ Khê (bao gồm mười hai thôn làng ngoại vi chân núi Thanh Khê). Trường hợp bên vay không cung ứng đủ định ngạch vật phẩm đối ứng (mã hàng Dư Vang loại Giáp) hoặc trễ hạn thanh toán quá ba ngày kể từ mốc thời gian quy định, bên cho vay có toàn quyền kích hoạt Lệnh Phát Mại liên vùng, trục xuất toàn bộ dân cư ra khỏi phạm vi bảo hộ hoặc chuyển giao toàn bộ nhân khẩu thành lao dịch khai khoáng nợ không thời hạn tại Hắc Thạch Lĩnh.*

"Nhìn cho thật kỹ đi, Lục An. Đọc từng chữ một cho thấm vào óc," Giọng của Chu Kính hạ thấp xuống một bậc, mang theo một sức nặng ngột ngạt, đè nén đến mức khiến lồng ngực người đối diện muốn vỡ tung ra. "Khoản nợ bốn vạn linh thạch này không phải do một mình Chu Kính ta tự tiện lén lút ký kết. Nó mang dấu triện đỏ của Chưởng môn Vệ Hoài và chữ ký bằng máu của cả ba vị trưởng lão tối cao trong Nội các từ sáu năm trước. Cái năm mà đợt thú triều cuồng nộ nhất trong vòng một trăm năm quét qua chân núi, cắn vỡ toang bờ kè linh mạch, đe dọa biến toàn bộ cái thung lũng này thành một bãi tha ma khổng lồ. Ngày đó, chúng ta buộc phải vay tiền của Bạch Sa để mua trận bàn hộ mệnh, để cứu mạng sống của hàng vạn con người. Và thứ tài sản duy nhất mà một tông môn đang trên đà lụi tàn có thể đem ra thế chấp cho lũ cá mập ngoài biển cát kia... chính là mảnh đất dưới chân họ, và chính bản thân họ."

Chu Kính chống hai cùi chỏ lên mặt bàn gỗ, rướn nửa thân trên về phía trước, đôi mắt đục ngầu như mắt loài thú ăn đêm nhìn xoáy vào từng biểu cảm trên gương mặt Lục An:

"Đại lễ rằm tháng Bảy này chưa bao giờ là một buổi lễ vinh danh tu vi hay ban phát ân huệ cao quý của tông môn như lũ đệ tử ngây thơ các ngươi vẫn hằng mơ tưởng. Năm mươi ba đệ tử ngoại môn tham gia tiến cảnh đồng loạt đợt này, năm mươi ba luồng dư vang mới tinh khôi, nguyên vẹn nhất sẽ được các luồng dẫn ngầm thu thập trọn vẹn vào kho sâu dưới móng tháp Tĩnh Chuông. Đó chính là chuyến hàng định ngạch bắt buộc phải bàn giao tận tay cho đoàn thuyền buôn đáy bằng của Bạch Sa đang thả neo chờ sẵn ở bến cạn Hà Phường vào đúng đêm ngày mười tám. Nếu chuyến hàng đó giao đủ số lượng, đủ phẩm cấp Giáp, thương hội sẽ chấp thuận đóng băng khoản nợ gốc, gia hạn thời gian trả lãi thêm một chu kỳ ba năm nữa. Đất đai Hạ Khê sẽ không bị tịch thu. Nguồn nước sạch không bị cắt đứt. Hàng vạn sinh mạng đang run rẩy dưới kia sẽ tiếp tục có hạt gạo để nuốt vào bụng, có mái nhà tranh để che mưa che nắng."

"Và để có thể gom cho đủ số lượng định ngạch tàn nhẫn ấy," Lục An ngắt lời, giọng cậu đanh lại, lạnh lùng và cứng cỏi như một thanh kiếm thép vừa nhúng qua nước lạnh, "các ông bắt buộc phải ngụy tạo ra những bản khế ước 'tự nguyện hiến tặng' trắng trợn, hoặc dựng lên những khoản nợ khống từ trên trời rơi xuống như trường hợp của Mạnh Du! Các ông cần phải biến những đứa trẻ vừa mất đi một phần ký ức sau tiến cảnh—những kẻ còn đang ngơ ngác, bàng hoàng vì thiên luật—thành những con nợ cùng đường mạt lộ trên mặt giấy tờ. Các ông tước đoạt nốt quyền tự do, tước đoạt nhân phẩm và tiếng nói của họ, đẩy họ vào các mỏ đá lao dịch hẻo lánh để hợp thức hóa nguồn cung dư vang trên các trang sổ sách giao tế gửi cho Bạch Sa!"

Gian phòng rơi vào một khoảng im lặng chết chóc.

Ngọn lửa đèn dầu cá run rẩy chao đảo sang một bên khi một cơn gió luồn qua khe cửa sổ. Chiếc ấm gang trên kiềng sắt phát ra một tiếng rít the thé kéo dài như tiếng kêu khóc nghẹn ngào của loài chim ăn đêm, rồi lịm dần khi tàn than phía dưới chuyển thành màu xám tro nguội ngắt.

Chu Kính không hề nổi cơn thịnh nộ. Ông ta không đập bàn, không trừng mắt. Vị quản sự già chỉ chậm rãi thở ra một hơi dài, một tiếng thở dài nặng trĩu, chứa đựng toàn bộ sự mệt mỏi, chai sạn của một kẻ đã dành nửa đời người để ngồi đếm từng đồng xu, cân đo từng mạng người trên một bàn tính bằng đá lạnh tanh.

"Ta chưa từng phủ nhận thủ đoạn của ta là tàn nhẫn, Lục An. Nhưng một tông môn đang chìm dần xuống đáy bùn lầy của sự suy tàn, muốn giữ cho phần đầu không bị ngạt thở, thì luôn luôn phải có những ngón chân, ngón tay bị nghiền nát bên dưới đáy bánh xe để giữ cho cỗ xe tang ấy tiếp tục lăn bánh. Ngươi thương xót cho thằng nhóc Mạnh Du? Ngươi căm phẫn, sục sôi uất ức vì một vài chục đệ tử bị gài bẫy nợ nần, bị tước đoạt tương lai? Được thôi, sự phẫn nộ của tuổi trẻ bao giờ cũng đẹp đẽ và đáng trân trọng. Nhưng nếu đêm nay ta nghe lời ngươi, nếu ta ra lệnh dừng cỗ máy lại, nếu ngày mười tám tháng Bảy này không có đủ năm mươi ba bình dư vang giao cho đám thuyền buôn Bạch Sa... ngươi có biết điều gì sẽ xảy ra không?"

Chu Kính gõ mạnh lưng bàn tay xuống xấp khế ước:

"Chủ nợ sẽ không thèm nghe ngươi phân trần về đạo lý hay công bằng! Chúng sẽ mang theo chiến thuyền bọc thép và đội ngũ chấp pháp liên vùng thiện chiến nhất tràn vào thung lũng để siết nợ theo đúng luật lệ tu chân giới. Khi đó, kết giới bảo hộ sẽ sụp đổ, nước độc lưu ngân sẽ tràn ngập các giếng làng, và mười vạn con người nghèo khổ ở Hạ Khê sẽ bị lùa đi như súc vật, bị xích cổ kéo vào những lò khai khoáng chết chóc ở Hắc Thạch Lĩnh để làm việc cho đến giọt máu cuối cùng. Ai sẽ đứng ra thương xót cho mười vạn mạng người đó? Ngươi sao? Hay là cô nương Giám Ký Viện họ Tạ kia với những tờ trát kiểm chứng thanh cao, không vướng một hạt bụi trần của nàng ta?"

Chu Kính ngả hẳn lưng ra sau chiếc ghế tựa bằng gỗ sồi, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên bụng, ánh mắt nhìn Lục An như nhìn một đứa trẻ bướng bỉnh chưa từng nếm trải mùi vị của sự đói khát:

"Ta cho gọi ngươi đến đây vào giờ này, là vì ta biết trong cái đám đệ tử ngoại môn ngu muội kia, ngươi là kẻ duy nhất có đầu óc để hiểu chuyện. Ngươi không giống Tạ Thanh Nghi—nàng ta xuất thân danh môn, mang trong lòng mối hận thù mù quáng về cái chết bất minh của chị gái Tạ Vân bốn năm trước, nàng ta sẵn sàng đốt cháy cả tông môn này chỉ để tìm kiếm một sự thật pháp lý tuyệt đối vốn dĩ chưa từng tồn tại trên cõi đời hỗn loạn này. Nhưng ngươi thì khác, Lục An. Ngươi là một thợ lưu ký phàm trần. Ngươi sống sót được đến ngày hôm nay là nhờ việc quan sát thế giới qua sự lạnh lùng của các con số, qua sự va đập thực tế của cuộc đời cơm áo gạo tiền."

Nói xong, Chu Kính thò tay vào ngăn kéo sâu bên dưới gầm bàn, chậm rãi rút ra một chiếc hộp gỗ trắc nhỏ nhắn, nước gỗ bóng loáng tỏa ra một lớp vân như mây cuộn. Ông ta cẩn thận mở nắp chiếc hộp ra rồi đẩy nhẹ nó qua mặt bàn, dừng lại ngay bên cạnh bát nước trà đã nguội ngắt.

Bên trong chiếc hộp, nằm gọn gàng trên một tấm lụa đỏ thêu kim tuyến, là ba viên đan dược tròn trịa to bằng đầu ngón tay cái. Thân đan dược phát ra một thứ ánh sáng xanh biếc dịu mắt, huyền ảo như ngọc bích ngâm dưới đáy hồ sâu, cùng với đó là một mùi hương thảo dược thanh khiết, thơm ngát lan tỏa khắp gian phòng, làm dịu hẳn cơn đau nhức buốt đang cắn xé nơi bàn tay phải của Lục An.

Nằm kế bên ba viên đan dược là một tấm lệnh bài bằng bạc nguyên chất sáng loáng, mặt trước khắc nổi hai chữ *Cấp Ngân* bằng lối chữ triện sắc sảo của Nội vụ viện.

"Đây là ba viên Cố Cốt Tục Cân Đan thượng phẩm của Y đường Vọng Sinh," Chu Kính cất giọng chậm rãi, từng từ từng chữ rót vào tai Lục An êm ái như mật ngọt nhưng lại mang theo một cảm giác ớn lạnh buốt tận tủy sống. "Là đan dược do chính tay Diệp Trầm trưởng lão bế quan bảy ngày bảy đêm luyện chế từ các loại cốt tủy linh thú và dược thảo quý hiếm mang về từ vùng cực bắc tuyết phủ. Ngươi biết rõ tình trạng của lão già Phùng Nghiêu hiện tại hơn bất kỳ ai. Đêm qua, thanh xà nhà bằng gỗ sến nghìn cân bốc cháy sụp xuống đã đè nát vụn toàn bộ khớp xương và ống chân trái của lão. Đám y sư phàm nhân ở trạm xá tạm bợ dưới chân đồi đã chuẩn bị sẵn cưa sắt và kìm rút xương; bọn họ chỉ có thể cưa cụt cái chân thối rữa ấy đi để giữ lại cái mạng tàn của lão, biến lão thành một kẻ phế nhân cụt chân, suốt đời còn lại chỉ có thể bò lê trên nền đất ẩm mốc mà ăn xin từng mẩu bánh thừa. Nhưng với ba viên Cố Cốt Tục Cân Đan này... chỉ cần nghiền nát một viên đắp ngoài, hai viên còn lại hòa với nước suối ấm uống vào, toàn bộ kinh mạch và xương cốt vỡ vụn của lão sẽ tự động liên kết, tái tạo hoàn toàn trong vòng chưa đầy nửa tháng. Lão sẽ lại có thể tự đứng vững trên đôi chân của mình, lại có thể chống gậy bước đi trên đường làng."

Ngón tay Chu Kính khẽ chạm vào mép tấm lệnh bài bằng bạc:

"Còn tấm lệnh bài Cấp Ngân này, nó cho phép ngươi đường hoàng bước vào khố phòng trung tâm, lĩnh đủ năm mươi khối trung phẩm linh thạch nguyên chất. Năm mươi khối trung phẩm—số tiền ấy dư sức để ngươi thuê thợ giỏi nhất vùng, mua gỗ tốt nhất, dựng lại một xưởng lưu ký Phùng Nghiêu mới to đẹp hơn, khang trang hơn, kiên cố gấp ba lần cái xưởng rách nát vừa bị bà hỏa thiêu rụi đêm qua. Ngươi sẽ có đủ giấy bản thượng hạng, có đủ mực lưu ngân loại tốt nhất để làm nghề cho đến hết đời."

Chu Kính ngước mắt lên, đưa ra điều kiện ngã giá cuối cùng với một giọng điệu chắc nịch như đinh đóng cột:

"Về phần thằng bé Mạnh Du, ta có thể nhượng bộ ngươi một bước. Bản giao ước nợ Canh-Chín mang dấu huyết ấn của nó sẽ được âm thầm tiêu hủy, quy toàn bộ trách nhiệm về sự cẩu thả, sai sót trong việc sao chép hành chính của một vài tên thư lại cấp thấp ở bàn số bốn. Thằng bé sẽ được tự do tham gia đại lễ tiến cảnh, tự do tiếp nhận linh lực, và sau khi bước lên Tụ Mạch, nó sẽ được nhận đầy đủ bổng lộc hàng tháng để gửi về nuôi dưỡng người mẹ già mù lòa ở Hạ Khê mà không phải gánh trên lưng một đồng tiền nợ nào cả. Đổi lại tất cả những thứ đó... Lục An, ngươi chỉ cần làm một việc duy nhất: dừng lại tại đây."

"Dừng lại thế nào?" Lục An hỏi, ánh mắt cậu vẫn dán chặt vào ba viên đan dược xanh biếc, thanh âm không hề có một gợn sóng dao động.

"Rút toàn bộ các bản đối chiếu văn thư và tang vật màng cá tuyết khỏi Giám Ký Viện ngay trong đêm nay," Chu Kính nói rành rọt từng tiếng. "Khép lại toàn bộ vụ việc này trong phạm vi sai phạm quy trình cá nhân của bàn sao chép số bốn. Đừng tiếp tục bới móc những gì nằm phía sau cánh cửa sắt ở cuối hành lang Giáp-Bảy. Tuyệt đối không được bén mảng tới khu vực móng tháp Tĩnh Chuông. Hãy để cho Đại lễ Tiến cảnh rằm tháng Bảy được diễn ra một cách êm thấm, suôn sẻ theo đúng lộ trình mà tông môn đã vạch sẵn từ một năm trước. Làm như vậy, ngươi vừa cứu được tính mạng và đôi chân của sư phụ ngươi; ngươi vừa giữ trọn lời hứa bảo bọc cho khách hàng Mạnh Du; ngươi vừa có tiền dựng lại cơ nghiệp xưởng sách cho riêng mình; và trên hết: ngươi trở thành ân nhân thầm lặng cứu sống mười vạn sinh mạng vô tội ở thung lũng Hạ Khê khỏi thảm cảnh nhà tan cửa nát."

Chu Kính mỉm cười, một nụ cười ấm áp, đầy vẻ độ lượng và thấu hiểu của một bậc trưởng bối nhìn xuống một hậu sinh hữu tài:

"Một sự đánh đổi quá hời, quá trọn vẹn cho một đệ tử ngoại môn chỉ mang tu vi Dẫn Khí sơ kỳ như ngươi, có đúng không?"

Gian phòng lại một lần nữa chìm vào sự im lặng tuyệt đối.

Tiếng gió rít qua những khe chấn song gỗ hình hoa văn chữ vạn nghe như tiếng thở dài não nuột của màn đêm dày đặc đang trùm lên ngọn núi Thanh Khê—ngọn núi tưởng chừng sừng sững uy nghiêm giữa mây ngàn nhưng thực chất bên trong đã mục ruỗng, rỗng tuếch tựa như một thân cây cổ thụ chết khô đang chờ một cơn bão quét qua để đổ sụp.

Lục An từ từ cúi đầu, ánh mắt cậu dừng lại nơi chiếc hộp gỗ trắc.

Mùi thảo dược thanh khiết của ba viên Cố Cốt Tục Cân Đan vẫn phảng phất bay lên, quẩn quanh nơi đầu mũi cậu. Hình ảnh người thầy già Phùng Nghiêu cả đời cặm cụi bên bàn đóng sách, người đã lượm cậu về từ bãi rác ven suối bốn năm trước khi cậu chỉ là một cái xác không hồn mất hết ký ức, hiện lên rõ mồn một trong tâm trí Lục An. Cậu nhớ lại cảnh tượng kinh hoàng đêm qua: khi ngọn lửa bùng lên thiêu rụi xưởng sách, trong khoảnh khắc thanh xà nhà bằng gỗ sến nặng trịch bốc cháy ngùn ngụt gãy sụp xuống đầu cậu, chính đôi bàn tay gầy guộc đầy vết chai sạn của lão Phùng đã dùng hết chút tàn lực đẩy mạnh cậu văng ra khỏi cửa sổ. Rồi tiếng *rắc* khô khốc của xương cốt vỡ vụn vang lên dưới đống xà than đỏ rực, tiếng gầm gừ đau đớn đến nghẹn thở của lão khi máu tươi nhuộm đỏ chiếc chõng tre ở trạm xá...

Lão Phùng đã dạy cậu từng đường kim mũi chỉ để khâu gáy sách, dạy cậu cách ngửi mùi để phân biệt mực thật mực giả, bao bọc một kẻ tàn phế kinh mạch như cậu giữa chốn ngoại môn đầy rẫy sự khinh miệt và tàn nhẫn.

Ba viên đan dược xanh biếc kia thực sự có thể cứu được đôi chân của lão. Năm mươi khối linh thạch trung phẩm kia thực sự có thể dựng lại xưởng sách, đem lại cho hai thầy trò một cuộc sống ấm êm, an toàn, không còn phải lo lắng về những bữa cơm đói rách hay những đêm đông lạnh thấu xương. Hơn thế nữa, lời đề nghị của Chu Kính thậm chí còn khoác lên mình một chiếc áo choàng đạo đức vĩ đại đến mức hoàn hảo: sự im lặng của cậu sẽ góp phần bảo vệ mười vạn con người vô tội dưới chân núi.

Đó là một lối thoát êm đẹp nhất. Một kẻ thực dụng, có lý trí bình thường sẽ lập tức chộp lấy nó mà không cần đắn đo suy nghĩ lấy nửa khắc.

Thế nhưng, bàn tay của Lục An vẫn không hề nhấc lên.

Cậu từ từ ngẩng đầu. Đôi mắt đen láy của cậu nhìn thẳng vào đáy mắt sâu hoắm, đầy những toan tính già đời của vị quản sự Trúc Đài. Trong ánh mắt của người thợ lưu ký trẻ tuổi, không hề có lấy một tia dao động, không có sự thèm khát đan dược, cũng chẳng có nỗi sợ hãi trước uy quyền. Ở đó chỉ có một sự lạnh lùng kiên định đến tàn nhẫn—thứ kiên định của một kẻ đã dành trọn những năm tháng tỉnh táo nhất của đời mình để đối mặt với những trang giấy trắng bóc trần sự thật.

"Chu quản sự," Lục An cất tiếng, giọng cậu không hề lớn nhưng từng từ rơi xuống mặt bàn gỗ mun nặng nề tựa như những nhát búa sắt gõ dứt khoát lên mặt đá lạnh. "Ông nói rất hay. Những con số trong các trang sổ cái của ông cũng rất đẹp, rất logic và không hề có một kẽ hở nào về mặt toán học sinh tồn của một cỗ máy cai trị."

Lục An khẽ lắc đầu, khóe môi nhếch lên một nụ cười lạnh lùng:

"Nhưng ông đã ngồi ở cái ghế quản sự này quá lâu, lâu đến mức ông quên mất một điều sơ đẳng nhất của nghề lưu ký: một bản ghi chép mà ngay từ dòng đầu tiên đã được viết nên bằng sự lừa dối, thì toàn bộ những trang giấy tiếp theo, dù có dùng thứ mực chu sa đắt tiền nhất hay những lời lẽ ngụy biện hoa mỹ đến đâu, cũng vĩnh viễn chỉ là một tờ giấy lộn vô giá trị."

Nụ cười trên gương mặt đầy nếp nhăn của Chu Kính từ từ đông cứng lại. Đôi lông mày hoa râm của ông ta khẽ nhíu lại thành một đường thẳng tắp đầy vẻ nguy hiểm.

Lục An vẫn nhìn thẳng, giọng nói đanh thép tiếp tục vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch:

"Ông nói tước đoạt ký ức và tự do của Mạnh Du, của chị Tạ Vân, của năm mươi ba đệ tử ngoại môn kia là để cứu vãn cuộc sống của mười vạn dân nghèo ở thung lũng Hạ Khê. Nhưng ta muốn hỏi ông: ai cho phép các ông cái quyền tự tiện đem số phận và sự lựa chọn của họ lên bàn cân để định giá? Mạnh Du bước vào tháp Tĩnh Chuông, cậu ấy chấp nhận rủi ro mất đi một phần ký ức tự truyện theo quy luật tự nhiên của thiên luật, nhưng cậu ấy làm điều đó là để đổi lấy tu vi Tụ Mạch, để dùng chính mồ hôi và sức lao động chân chính của một tu sĩ mà nhận bổng lộc gửi về mua thuốc cho mẹ. Các ông lén lút tráo đổi ấn huyết trên màng cá tuyết, gài bẫy nợ nần, biến cậu ấy thành một món hàng gán nợ, tống cậu ấy vào cảnh ngục tù lao dịch ở Hắc Thạch Lĩnh mà đến tận lúc chết cậu ấy cũng không hiểu nổi vì sao mình lại rơi vào bước đường cùng đó! Cậu ấy không hề 'hy sinh vì đại cục'. Cậu ấy đơn giản là bị các ông cướp đoạt!"

Lục An chống bàn tay trái lành lặn xuống mép bàn gỗ, hơi rướn người về phía trước, đối diện trực tiếp với ánh mắt u tối của Chu Kính:

"Ký ức của con người, nhân phẩm và quyền được biết sự thật của con người, không phải là những khối quặng sắt hay những bó linh thảo vô tri để các ông có thể tùy tiện khấu trừ vào bảng cân đối thu chi hàng năm của tông môn! Nếu một tông môn mang danh danh môn chính phái mà chỉ có thể duy trì sự tồn tại thảm hại của mình bằng cách ăn thịt chính những đệ tử yếu thế nhất trong lúc họ đang mê man bất tỉnh; biến những đứa trẻ tin tưởng vào môn quy thành những món hàng đổi chác để trả nợ cho sự bất lực, thối nát của tầng lớp cai trị... thì cái tông môn ấy, trên thực tế, đã chết rũ xương từ bốn năm trước rồi! Nó không xứng đáng được cứu vớt bằng sự im lặng nhục nhã của ta."

"Lục An!"

Chu Kính gằn giọng ngắt lời cậu. Âm thanh bỗng chốc trầm đục và nặng nề như tiếng sấm rền giấu trong lòng đất. Một luồng kình lực vô hình thuộc về cảnh giới Trúc Đài từ thân thể ông ta bộc phát ra, khiến ngọn lửa đèn dầu cá trên bàn chao đảo dữ dội, chực tắt ngấm. Không khí trong căn phòng lập tức đặc quánh lại như keo tụ, áp lực linh lực vô hình tựa như ngọn núi nhỏ đè nặng lên đôi vai gầy của Lục An, ép cho những thớ cơ trên lưng cậu căng cứng lại, lồng ngực khó thở đến nghẹn ngào.

Đôi mắt Chu Kính bừng lên một tia giận dữ sắc lạnh:

"Ngươi có biết cái miệng phàm nhân của ngươi vừa thốt ra những lời đại nghịch bất đạo gì không? Ngươi nghĩ ngươi khước từ lời đề nghị này là ngươi giữ được sự thanh cao, trong sạch cho bản thân mình sao? Ngươi nghĩ cái Giám Ký Viện mục nát của con nhóc họ Tạ kia chỉ dựa vào vài mảnh màng cá tuyết vụn vặt và mấy lời tố giác vu vơ mà có thể lật đổ được toàn bộ cơ cấu vận hành đã tồn tại hàng trăm năm nay của Thanh Khê Tông sao?"

"Ta chưa từng quan tâm đến sự thanh cao hay trong sạch của bản thân mình," Lục An đáp, hơi thở của cậu có phần dồn dập dưới áp lực linh lực nghẹt thở, nhưng sống lưng cậu vẫn thẳng tắp như một ngọn giáo cắm sâu vào lòng đất đá, không hề có lấy nửa phần cong gập. "Và ta cũng biết rất rõ một điều: nếu đêm nay ta nhận lấy ba viên đan dược này, nếu lão Phùng tỉnh lại mà biết được đôi chân lành lặn của mình được mua bằng sự phản bội đối với Mạnh Du, được đánh đổi bằng việc ta đặt bút ký tên vào một bản thỏa hiệp dối trá... thì chính tay lão Phùng sẽ cầm chiếc búa đóng sách mà đập nát đôi chân ấy một lần nữa!"

Lục An hít sâu một hơi, mùi hồ tiêu cay nồng từ vết thương ở tay xốc thẳng lên khoang mũi:

"Lão Phùng dạy ta nghề đóng sách, dạy ta cách mài mực, nhưng bài học đầu tiên mà lão bắt ta phải khắc cốt ghi tâm khi bước chân vào nghề lưu ký là: 'Người ghi chép không bao giờ được phép sửa lời của người kể chuyện chỉ để cho trang giấy trông có vẻ sạch sẽ, êm đẹp hơn'. Ta là thợ lưu ký. Ta không sửa lời trăng trối của Mạnh Du. Và ta lại càng không bao giờ dùng sự im lặng của ngòi bút để che đậy cho tội ác có hệ thống của các ông!"

Chu Kính nhìn chằm chằm vào Lục An.

Thời gian trong gian phòng như ngừng trôi suốt mười nhịp thở dài dằng dặc. Áp lực Trúc Đài nặng nề, ngột ngạt dần dần thu hồi lại vào cơ thể vị quản sự già, tựa như thủy triều rút lui khỏi bờ đá. Gương mặt đầy những nếp nhăn sâu hoắm của Chu Kính nhanh chóng lấy lại vẻ phẳng lặng, lạnh lẽo và vô cảm đến rợn người.

Ông ta không nói thêm một lời tranh biện nào nữa. Bàn tay gầy guộc đầy đốm đồi mồi chậm rãi vươn ra, nhẹ nhàng đậy nắp chiếc hộp gỗ trắc đựng ba viên Cố Cốt Tục Cân Đan lại, phát ra một tiếng *cạch* dứt khoát, rồi kéo cả chiếc hộp lẫn tấm lệnh bài bằng bạc trở về mép bàn phía mình.

"Đáng tiếc," Chu Kính khẽ thốt lên hai chữ, giọng điệu lạnh băng như sương muối mùa đông. "Ngươi là một kẻ thông minh hiếm thấy ở chốn ngoại môn, ngươi có con mắt quan sát tinh tường của một thợ giỏi, nhưng ngươi lại mắc phải cái chứng bệnh cố chấp, ấu trĩ và ngu xuẩn nhất của những kẻ phàm nhân thích nói chuyện đạo lý ở đời. Ngươi nghĩ ngươi đang dũng cảm làm việc nghĩa, ngươi nghĩ ngươi đang đứng về phía những kẻ yếu thế để đòi lại công lý. Nhưng sự thật là... ngươi hoàn toàn mù tịt về sức nặng tàn khốc thực sự của cái thế giới tu tiên này."

Lục An không đáp lại nửa lời. Cậu lẳng lặng đứng dậy khỏi chiếc ghế đẩu bằng gỗ sồi, dùng bàn tay trái kéo lại vạt áo ngắn màu tro tàn để che kín những thanh tre nẹp chặt bàn tay phải bị thương. Cậu khẽ cúi đầu chào theo đúng quy lễ hành chính nghiêm ngặt của một đệ tử ngoại môn đối với quản sự viện, rồi dứt khoát xoay người, bước những bước vững chãi về phía cánh cửa đá đang mở rộng.

Bóng lưng gầy guộc, đơn độc của cậu in thành một vệt đen thẳng tắp trên nền đá hoa cương mòn vẹt, rồi chìm dần vào bóng tối sâu thẳm của khúc ngoặt cầu thang xoắn ốc dẫn xuống tầng dưới.

Chu Kính vẫn ngồi bất động sau chiếc bàn gỗ lê xám đồ sộ.

Ánh sáng vàng vọt, tù mù của ngọn đèn dầu cá hắt bóng chiếc thân hình còng còng của ông ta lên bức tường đá thô ráp phía sau lưng, kéo dài thành một hình thù khổng lồ, méo mó tựa như một con quái thú đang âm thầm gặm nhấm những trang sách cũ.

Ông ta với tay nhấc tập hồ sơ nợ bọc viền huỳnh quang lam của Thương hội Bạch Sa lên, những ngón tay khô khốc lướt qua dòng chữ khắc ghi con số bốn vạn khối trung phẩm linh thạch và kỳ hạn thanh toán ba ngày sau đại lễ tiến cảnh.

Một tiếng *tách* khô khốc, sắc lẹm vang lên khi bàn tay Chu Kính khép mạnh tập sổ nợ lại. Thanh âm lạnh lẽo, vô tình của vị quản sự già xuyên qua khung cửa chấn song hoa văn chữ vạn, đuổi theo từng bước chân của Lục An trong màn sương đêm buốt giá:

"Ngươi nghĩ ngươi đang cứu người, Lục An... nhưng khi kết giới trận pháp sụp đổ, dân Hạ Khê sẽ là những kẻ chết đầu tiên."

***

Lục An bước qua khỏi cổng vòm đá nặng nề ở tầng trệt của Tàng Ký Các.

Gió đêm từ vực sâu lập tức thốc thẳng vào mặt cậu, lạnh buốt và rát rạt như hàng ngàn mũi kim châm vào da thịt. Bầu trời đêm trên đỉnh núi Thanh Khê quang đãng đến kỳ lạ, không có lấy một gợn mây che phủ, để lộ ra vầng trăng khuyết méo mó, nhợt nhạt đang treo lơ lửng giữa tầng không, tỏa xuống thứ ánh sáng bạc lạnh lẽo, ma quái phủ trùm lên những mái ngói rêu phong của các dãy nhà lưu trữ và những rặng trúc đá đang xào xạc nghiêng ngả trong gió lạnh.

Lục An cắm cúi bước đi trên con đường lát đá dốc đứng, gập ghềnh dẫn từ đỉnh tháp xuống sườn núi phía tây. Từng bước chân của cậu nện xuống mặt đá trơn trượt nghe nặng trĩu.

Cơn đau nhức buốt từ vết nứt xương nơi bàn tay phải bị thương lại bắt đầu co giật từng hồi theo nhịp đập của lồng ngực; dịch hồ tiêu tẩm trong lớp băng vải thô dường như đã nguội ngắt dưới cái lạnh của sương núi, biến thành một khối băng dính chặt vào da thịt cậu. Thế nhưng, mọi nỗi đau đớn về mặt thể xác lúc này dường như hoàn toàn tan biến, chẳng thấm tháp vào đâu so với gánh nặng khổng lồ, nghẹt thở vừa mới đổ sụp xuống tâm trí cậu sau cuộc đối thoại nơi gian phòng tầng cao.

Chu Kính không hề nói dối. Những con số trong sổ cái không hề nói dối.

Là một người đã dành nhiều năm ròng rã để đối chiếu các bản thảo, kiểm tra niên đại của các loại giấy bản và phân tích độ ngấm của từng loại mực, Lục An hiểu rất rõ tính xác thực tàn khốc chứa đựng trong từng trang sổ mà Chu Kính đã lật mở. Mực chu sa cổ pha thần sa không thể làm giả trong ngày một ngày hai; vết ố vàng mục của mép giấy qua mười hai năm không thể ngụy tạo bằng bất kỳ loại huyễn thuật cấp thấp nào; và quan trọng nhất: những con dấu triện giáp lai của Chưởng môn cùng ba vị đại trưởng lão đều mang theo những sợi tơ linh lực phòng hộ chân thực, không hề có bất kỳ dấu vết cạo sửa, bóc tách hay dời ấn nào.

Linh mạch chủ nuôi sống toàn bộ dãy núi Thanh Khê thực sự đã suy kiệt tới sáu phần.

Khoản nợ khổng lồ bốn vạn khối trung phẩm linh thạch ký với Thương hội Bạch Sa là một sự thật pháp lý không thể chối cãi. Kỳ hạn thanh toán đợt bốn vào giờ Hợi ngày mười tám tháng Bảy—đúng ba ngày sau khi đại lễ tiến cảnh kết thúc—là một cái thòng lọng thực sự đang siết chặt lấy cổ họng của toàn bộ sơn môn. Và điều khoản tịch biên đất đai, cắt đứt mạng lưới dẫn nước sạch, biến mười vạn cư dân phàm trần ở thung lũng Hạ Khê thành những người nô lệ đào đá ở Hắc Thạch Lĩnh cũng là một bản án bằng xương bằng thịt đang treo lơ lửng trên đầu họ.

Cậu đã khước từ Chu Kính một cách dứt khoát. Cậu đã bảo vệ được lương tâm và nguyên tắc thiêng liêng nhất của một thợ lưu ký. Cậu đã giữ trọn vẹn lời hứa danh dự đối với Mạnh Du và không phản bội lại đạo lý làm người mà lão Phùng đã truyền dạy.

Thế nhưng... cái giá phải trả cho sự kiên định đạo đức ấy là gì?

Lục An dừng bước bên lan can đá xám của một khúc đèo quanh co vắng lặng. Cậu vịn bàn tay trái lành lặn vào bờ đá lạnh ngắt, phóng tầm mắt nhìn xuống vực sâu bên dưới.

Ở đằng xa kia, sâu hút dưới thung lũng Hạ Khê đang chìm ngập trong làn sương đêm mờ mịt, những đốm lửa vàng le lói từ hàng ngàn nếp nhà tranh của các gia đình phàm nhân vẫn đang lập lòe, run rẩy tựa như một đàn đom đóm yếu ớt giữa màn đêm vô tận.

Ở nơi đó, có người mẹ già mù lòa của Mạnh Du, người đàn bà đã chắt chiu từng đồng tiền đồng, bán đi chiếc trâm bạc kỷ vật gia truyền duy nhất để gom góp thành một túi linh thạch vụn gửi lên núi cho con trai an tâm tu học. Ở nơi đó, có vợ con nheo nhóc của gã thư lại còng lưng Phương Mậu, có những đứa trẻ ngây thơ đang lớn lên từng ngày nhờ vào dòng nước ngọt tinh khiết được thanh lọc từ trận pháp hộ sơn.

Nếu cậu và Tạ Thanh Nghi tiếp tục dốc toàn lực đẩy nhanh tiến độ điều tra; nếu Giám Ký Viện thành công mang những mảnh màng cá tuyết ngụy tạo và các chứng từ khống ra trước Hội đồng chấp pháp; nếu đại lễ tiến cảnh tập thể vào đêm rằm tháng Bảy bị cưỡng chế đình chỉ theo đúng quy trình pháp lý... thì cỗ máy thu thập năm mươi ba luồng dư vang sẽ lập tức bị bẻ gãy.

Chuyến hàng định ngạch giao cho đoàn thuyền buôn Bạch Sa vào đêm ngày mười tám sẽ hoàn toàn đổ vỡ.

Và khi ấy, đúng như lời cảnh báo sắc lạnh của Chu Kính: lũ cá mập tài chính ngoài biển cát sẽ không bao giờ bận tâm xem ai đúng ai sai trong một vụ án giả mạo hồ sơ nội bộ của Thanh Khê Tông. Chúng chỉ nhìn vào các điều khoản khế ước đã được ký kết bằng máu. Chúng sẽ kích hoạt lệnh siết nợ liên vùng, mang theo vũ lực để tịch thu toàn bộ đất đai, nguồn nước; và mười vạn con người vô tội dưới thung lũng Hạ Khê kia sẽ là những kẻ đầu tiên bị nghiền nát, bị xua đuổi vào chốn địa ngục trần gian không lối thoát.

"Chứng cứ pháp lý... là không đủ," Lục An lẩm bẩm một mình giữa cơn gió đêm gầm rít. Hơi thở nóng hổi của cậu phả ra thành một làn khói trắng mỏng manh, tan biến chớp nhoáng vào bóng tối vô tận.

Cậu siết chặt nắm tay trái lại, những móng tay găm sâu vào da thịt lòng bàn tay đến mức bật máu, cơn đau rát buốt giúp đầu óc cậu duy trì được sự tỉnh táo tột độ giữa cơn bão loạn của những suy tính.

Muốn lật đổ Chu Kính, muốn cứu vãn sinh mạng và tương lai của Mạnh Du, muốn đòi lại công lý cho cái chết oan khuất của Tạ Vân và hàng chục đệ tử đã bị tước đoạt ký ức suốt bốn năm qua, nhóm của cậu tuyệt đối không thể chỉ đơn thuần đóng vai những kẻ chấp pháp ngây thơ, mang những mảnh màng cá tuyết hay những trang sổ ngụy tạo ra trước Hội đồng ba ghế để gào thét đòi một chiến thắng đạo đức thuần túy.

Một chiến thắng danh nghĩa trên mặt giấy tờ hành chính sẽ ngay lập tức châm ngòi cho một thảm họa kinh tế toàn diện, quét sạch và hủy diệt toàn bộ vùng đất này.

Muốn đập tan cỗ máy cưỡng đoạt tàn nhẫn của Chu Kính một cách triệt để mà không biến mười vạn sinh mạng vô tội ở Hạ Khê thành những vật tế thần bất đắc dĩ, nhóm của cậu bắt buộc phải giải được một bài toán kép tưởng chừng như hoàn toàn bất khả thi:

Bên cạnh một chuỗi chứng cứ thép không thể chối cãi để luận tội và phong tỏa quyền lực của Chu Kính trước mặt Chưởng môn và Hội đồng, họ bắt buộc phải tìm ra được một phương án kinh tế thay thế—một nguồn tài chính hợp pháp, đủ sức khỏa lấp hoặc tái cấu trúc lại khoản nợ bốn vạn khối trung phẩm linh thạch kia trước khi thời hạn ba ngày sau đại lễ điểm tiếng chuông báo tử cho toàn bộ tông môn.

Lục An chậm rãi ngước mắt nhìn lên đỉnh núi cao nhất.

Nơi đó, bóng đen sừng sững, lạnh lẽo của tháp Tĩnh Chuông đang vươn thẳng lên nền trời đêm u tối tựa như một tấm bia mộ khổng lồ bằng đá, im lìm chờ đợi chu kỳ hiến tế ký ức mới bắt đầu vận hành.

Thời gian thực sự không còn nhiều nữa.

Chỉ còn đúng hai ngày ngắn ngủi nữa là đến đêm rằm tháng Bảy.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn