Con đường đất đến trường
Ngày đầu đi học, tôi không có cặp sách; tôi ôm quyển vở vào ngực, đi trên con đường đất còn ướt sương như sợ nó bị bùn bắn bẩn.
Quyển vở ấy là nửa phần còn lại sau những trang thơ chép dở của mẹ Mai, mép giấy đã ố vàng màu khói bếp và quăn lại như tai nấm mèo phơi khô, nhưng ở cuối vẫn còn nguyên bốn trang trắng tinh khôi mà tôi gìn giữ như một báu vật thiêng liêng nhất dưới gầm chõng tre. Cùng với nó là một mẩu bút chì cụt chỉ dài bằng ngón tay út của người lớn, đầu chì được gọt nham nhở bằng mũi dao quắm cùn, và manh áo bông cũ màu chàm trần chỉ quả trám mà bác dâu Sương đã thức trắng đêm độn thêm bông gạo rồi bí mật gửi cái Lan đem sang cho tôi dạo trước.
Chiếc áo bông ấy vốn của thằng Tùng bỏ lại từ hai mùa rét trước, lớp vải phin đen lót bên trong đã mủn ra từng mảng, phơi ra những túm bông gạo vón cục xam xám như tro bếp. Đêm ấy, bên ngọn đèn dầu hỏa tù mù cạn bấc, bác Sương vừa run rẩy luồn từng mũi kim to bản qua nẹp áo sờn rách, vừa đảo mắt canh chừng tiếng ngáy phì phò của chồng ở gian ngoài. Bác cẩn thận nhồi thêm hai nắm bông gạo sót lại từ chiếc gối cưới cũ vào hai bên bả vai và ngực áo, miết thật phẳng phiu rồi dặn con Lan sáng sớm hôm sau lén nhét qua khe nứa buồng chái cho tôi. Tấm áo khoác lên người tôi rộng thùng thình, hai tay áo dài thượt phải xắn lên ba bốn gấu cộm dày, nhưng cái hơi ấm chắp vá của sợi vải mục và những túm bông gạo xơ xác ấy là tất cả những gì bao bọc lấy tôi trước cái rét căm căm của núi rừng thung lũng.
Việc tôi được cắp sách đến điểm trường bản không phải là một ân huệ hiển nhiên, càng không bắt nguồn từ một quyết định sốt sắng nào của gia đình bác Lương. Nó bắt đầu vào một buổi chiều muộn ba hôm trước, khi ông trưởng bản ghé qua hiên nhà, tay cầm theo cuốn sổ bìa cứng đã sờn gáy ghi danh sách trẻ trong độ tuổi phổ cập được thôn lập để nộp lên phòng giáo dục huyện.
Trời nhá nhem tối, sương từ đỉnh Pha Luông bắt đầu tràn xuống thung lũng Bản Nà Ban như những dải khói đặc quánh, lạnh buốt. Đứng bên bờ rào dâm bụt khẳng khiu trơ trụi lá, ông trưởng bản rút chiếc điếu cày nứa giắt bên hông, châm đóm rít một hơi thuốc lào giòn giã rồi nhìn về phía bác Lương đang ngồi chẻ lạt dưới gốc xoan cằn cỗi:
— Nhà chú Lương vụ này có hai đứa đủ tuổi đến lớp xóa mù rồi đấy. Con Lan với thằng Nam con chú Hòa. Xã bảo đợt này thầy giáo dưới xuôi tăng cường lên cắm bản, gom trẻ từ năm, sáu tuổi lại học cái chữ, nhà nước hỗ trợ một phần sách bảng, không phải đóng học phí gì đâu. Để thằng bé đi học đi, kẻo sau này lại mù chữ như đời bố nó thì khổ. Người trong họ ngoài bản nhìn vào, người ta lại dị nghị chú phân biệt con đẻ con nuôi.
Bác Lương dừng tay dao, lưỡi thép gõ cộc một tiếng khô khốc vào khúc nứa bánh tẻ đang chẻ dở. Gương mặt bác đanh lại, những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt và vầng trán gồ ghề giật giật dưới ánh hoàng hôn đỏ quạch như máu đọng. Người đàn ông cả đời chỉ biết đến nương ngô, ruộng vầu và những món nợ truyền đời ấy ghét nhất là bị xóm giềng xì xào về danh dự dòng tộc họ Nguyễn. Trong thâm tâm bác, việc cưu mang một đứa cháu côi cút sau cái chết của bố mẹ nó đã là một sự hy sinh tột cùng của một người anh cả, nhưng bác không thể chịu nổi tiếng xấu rằng mình tước đoạt cơ hội bước ra ánh sáng của đứa trẻ mồ côi mang giọt máu ruột rà. Bác không ngẩng đầu lên, bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần tiếp tục tước sợi lạt nứa mỏng tang, chỉ hắng giọng một tiếng đục ngầu qua kẽ răng:
— Thì xã bảo đi thì cho nó đi. Nhưng tôi nói trước với bác trưởng bản, nhà này chỉ cho đi học buổi sáng thôi, còn trưa về vẫn phải gánh nước, lên nương mà cuốc đất trả phần cơm. Không có chuyện ngồi không ăn bám đâu.
Sự cho phép được ném ra một cách cộc cằn, sắc lạnh và hoàn toàn trần trụi. Nó không đi kèm với bất kỳ một khoản chuẩn bị nào: không có chiếc cặp may bằng vải bạt lính, không có bảng con viền gỗ thông, không có hộp phấn trắng tinh hay một manh áo mới tinh tươm như những đứa trẻ khác trong bản được bố mẹ sắm sửa.
Chiều hôm ấy, khi cái Lan hớn hở kéo tôi ra sau vại nước để khoe chiếc túi vải hoa nhỏ nhắn do chính tay mẹ nó may cho bằng mảnh vải thừa của chiếc chăn con công cũ, niềm hân hoan non nớt của chúng tôi đã nhanh chóng bị dập tắt. Bác Sương đứng tựa lưng vào bậu cửa bếp ám khói đen sì, một tay chống nạnh, tay kia cầm chiếc muôi gỗ mun gõ mạnh vào thành nồi cám lợn đang sôi ùng ục, đay nghiến buông thõng từng lời buốt rát:
— Đã cho đi học là phúc bảy đời nhà mày rồi. Cơm trong nồi còn chẳng đủ ba bữa no, liệu mà mở mắt to ra nhìn cái thân ăn nhờ ở đậu. Đi học mà để trâu đói hay thiếu một bó củi thì đừng hòng bước chân vào cửa!
Tôi cúi gằm mặt xuống đôi bàn chân gầy guộc đang bấm chặt vào nền đất ướt, hai tai nóng bừng nhưng lồng ngực lạnh ngắt. Tôi hiểu trọn vẹn sức nặng của từng lời cay nghiệt ấy. Đó không phải là lời đe dọa suông; nó là bản giao kèo nghiệt ngã mà tôi buộc phải tuân theo nếu muốn bước chân qua ngưỡng cửa lớp học. Bởi thế, để có thể giữ chặt quyển vở bốn trang trắng trong lồng ngực bước ra khỏi cổng rào mỗi sáng, tôi phải đánh đổi bằng một cái giá không hề nhỏ mỗi bình minh.
Khi màn sương mù Pha Luông còn đặc quánh như dải bông ướt trùm kín thung lũng Bản Nà Ban, khi con gà rừng đầu tiên trên đỉnh vách đá còn chưa buồn cất tiếng gáy gọi mặt trời, tôi đã phải bật dậy khỏi chiếc chõng tre ọp ẹp kê đá hộc ở gian chái phụ. Căn chái này vốn là nơi che chắn tạm bợ cho đống củi mục và mấy chiếc cày cùn, một bên dựa vào vách đất trát rơm đã nứt toác, một bên áp sát vách đá taluy rỉ nước quanh năm.
Cơn buốt giá từ vách đá rỉ nước ngấm thẳng vào da thịt qua manh chiếu rách khiến các khớp ngón tay, ngón chân tôi sưng múp, cứng đờ như những cành củi khô. Hơi thở phả ra thành từng luồng khói trắng đục. Tôi vội vã quấn chặt chiếc áo bông vá víu quanh người, cài chặt từng chiếc cúc gỗ cộc lệch rồi xỏ chân trần vào khoảng sân đầy đất nhão lạnh như băng tuyết, chạy thốc xuống chuồng trâu dựng bằng những cọc tre già xiêu vẹo ở góc vườn.
Công việc đầu tiên trong ngày bao giờ cũng là dắt con trâu mộng to xác của bác Lương ra bãi cỏ ven suối. Con trâu đực hung dữ phì phò từng hơi thở nóng hổi đầy mùi cỏ nát và bùn lầy, giậm những móng guốc nặng nề xuống nền chuồng nhão nhoét. Tôi run rẩy tháo nút dây thừng xỏ mũi trâu, đôi bàn tay tê cóng suýt nữa đánh rơi đoạn chão gai dính đầy phân ướt. Con trâu kéo tôi lảo đảo qua những gộp đá tai mèo trơn trượt ven đường mòn.
Tôi phải vừa chăn trâu gặm lớp cỏ gianh ướt đẫm sương men theo bờ ta luy dốc đứng, vừa căng mắt canh chừng trong bóng tối lờ nhờ không để nó bước chệch chân sang ăn lấn ruộng ngô non nhà lão Thào bên xóm Mo. Đứng giữa bờ suối râm ran tiếng nước xiết, từng cơn gió đông bắc luồn qua khe núi quất thẳng vào mặt rát buốt, hai hàm răng tôi đánh vào nhau lập cập thành từng tràng dài không dứt. Đôi chân trần ngâm trong cỏ ướt tê dại đi đến mức không còn cảm giác đau đớn khi va quẹt vào những gốc gai tầm gai hay đá dăm lởm chởm.
Chăn trâu xong, khi rặng mây phía đông bắt đầu chuyển sang màu xám tro nhờ nhợ, tôi lại phải lùa nó về chuồng, cào sạch lớp phân trâu nhão nhoét chất thành đống bên gốc chuối rồi quảy đôi thùng gỗ chạy xuống mó nước sâu ở chân dốc. Hai thùng nước bằng gỗ mít nặng trịch đè trĩu lên đôi vai năm tuổi bé bỏng gầy guộc. Từng bước chân trần bấm sâu vào bùn nhão, đôi đòn gánh tre uốn cong ken két như muốn gãy đôi theo từng nhịp thở dốc nghẹn ngào nơi cuống họng.
Dốc mó nước dựng đứng, trơn như đổ mỡ. Tôi phải cúi rạp người về phía trước, hai bàn tay nắm chặt lấy quai thùng để nước không sánh ra ngoài làm ướt manh áo rách. Sau khi đổ đầy hai chum nước lớn ở góc bếp và tiện tay ôm một bó củi dẻ gai khô nhét chặt vào gầm sàn để bác Sương không có cớ quở mắng, tôi mới dám bưng bát mèn mén vụn trộn sắn khô mà Lan lén chia phần đặt trên bậc cửa, vừa nhai trệu trạo vừa nuốt vội từng ngụm nước lã cho trôi qua cổ họng.
Lúc ấy, mặt trời mới chỉ le lói một vệt đỏ nhạt như sợi chỉ mỏng sau đỉnh núi đá xa mờ.
— Nhanh cái chân lên, thằng Nam! Con Lan nó sắp đi rồi kìa! — Tiếng bác Sương từ trong bếp vọng ra, the thé và gắt gỏng như tiếng kim loại cạo vào đá ráp. — Chậm chân thầy giáo gạch tên thì về đây mà cuốc nương cả ngày, đừng có đứng đấy mà ngơ ngác!
Tôi giật thót mình, vội vàng đặt chiếc bát sành mẻ xuống góc thềm, quệt vội mu bàn tay áo lau đi những hạt ngô vụn còn dính bên khóe môi. Tôi luồn tay vào hốc đá bí mật dưới chân chõng tre, lôi bọc vở bọc cẩn thận trong lớp ni lông rách nhặt được ngoài bãi rác đem áp chặt vào trước lồng ngực. Mẩu bút chì cụt được tôi nhét sâu vào túi trong của chiếc áo bông chàm, những ngón tay gầy guộc luôn khép chặt miệng túi như sợ nó sẽ rơi tuột mất giữa con đường mòn gập ghềnh sỏi đá.
Con đường từ bản trong ra đến điểm trường trung tâm dài hơn bốn cây số, vắt vẻo qua hai con suối cạn và men theo sườn đồi dốc đứng lởm chởm đá hộc. Mùa khô, đất đỏ cứng lại thành những bờ rãnh gồ ghề cứa rách toạc da chân; nhưng khổ sở nhất là những ngày mưa phùn gió bấc kéo dài triền miên. Đất sét đỏ quyện với nước mưa biến toàn bộ lòng đường thành một bãi bùn nhão đặc quánh, sâu đến tận mắt cá chân. Mỗi bước chân nhấc lên nặng trịch như bị mặt đất níu ghì lại, bùn đất bám chặt vào bắp chân thành từng mảng dày cộp, lạnh ngắt và nhớp nháp.
Cái Lan đi trước tôi một đoạn, chân đi đôi dép nhựa màu xanh đã mòn vẹt đế nhưng có quai hậu chắc chắn, tay cắp chiếc túi vải hoa nhỏ. Thỉnh thoảng, con bé lại ngoái đầu nhìn lại, thấy tôi lom khom bước từng bước trượt ngã trên những đoạn dốc lầy lội, nó lại dừng chân đứng chờ bên một phiến đá lớn:
— Anh Nam ơi, đi sát vào bờ cỏ kia kìa! Chỗ ấy cỏ dày, đỡ lầy hơn! Đi nhanh lên, khéo muộn trống trường đấy!
Tôi cắn chặt môi, mồ hôi túa ra hòa lẫn với nước mưa lạnh toát chảy ròng ròng trên trán. Tôi không dám bước mạnh, hai cánh tay co lại ghì chặt quyển vở trước bụng, cả thân người hơi gập về phía trước như một con thú nhỏ đang bảo vệ miếng mồi duy nhất của mình. Tôi sợ nhất là bị trượt chân ngã sấp mặt xuống rãnh nước ven đồi. Bùn đất có thể gột sạch bằng nước suối, vết trầy da chảy máu có thể tự liền lại sau vài ngày rét, nhưng nếu bốn trang giấy trắng tinh của mẹ Mai bị nước bùn làm hoen ố, tôi biết mình sẽ không bao giờ có thể tìm lại được một trang giấy nào khác trong căn nhà này.
Những ngày mưa to gió lớn, nước từ khe núi đá đổ xuống biến con suối đầu bản thành dòng nước đục ngầu cuồn cuộn chảy xiết, bọt tung trắng xóa qua những gờ đá ngầm. Đứng trước mép suối gầm vang dữ dội, cái Lan sợ hãi nép chặt vào sau lưng tôi, đôi môi con bé tái ngắt đi vì lạnh và hoảng sợ. Tôi phải cõng Lan trên lưng, một tay vòng ra sau giữ chặt đùi em, một tay ôm bọc vở trước ngực rồi dò dẫm bước xuống dòng nước lạnh thấu xương.
Đôi chân non nớt run rẩy bấu chặt vào từng hòn đá cuội trơn tuột dưới đáy suối; dòng nước xiết quẩn quanh bắp chân như muốn cuốn phăng cả hai đứa xuôi về phía vực sâu. Tôi cắn răng, từng bước từng bước đạp lên sỏi nhọn buốt nhói, vừa giữ thăng bằng vừa cố che chắn cho bọc vở khô ráo. Những hôm như thế, dù đã cố thức dậy từ lúc trời chưa rạng, tôi vẫn đến lớp muộn khi tiếng trống trường bằng thùng phuy đã điểm dồn dập từ lâu.
Âm thanh trầm đục của chiếc thùng phuy sắt rỉ vang rền qua những rặng cọ, dội vào vách núi như xé toạc bầu không khí ảm đạm của buổi sớm. Đứng nép bên ngoài vách nứa của lớp học, nhìn qua khe hở thấy thầy giáo đang nắn nót viết từng chữ cái lên tấm bảng gỗ đen nhánh, tim tôi thắt lại trong một nỗi kinh hoàng câm lặng.
Tôi đứng chôn chân dưới mái hiên dột nát, nước mưa từ mép lá cọ mục nhỏ tong tòng xuống vai áo bông sũng nước, toàn thân run bần bật không phải chỉ vì rét mướt, mà vì một nỗi sợ hãi mơ hồ nhưng khủng khiếp: sợ thầy giáo sẽ bực bội xua tay đuổi tôi về, sợ bác Lương biết chuyện đi muộn sẽ vin vào đó mà tuyên bố tôi vô tích sự, tước đi quyền được đi học và bắt tôi ở nhà vĩnh viễn để cầm cuốc rựa lên nương.
— Sao đứng đấy thế em? Vào lớp đi chứ, Nam! — Giọng thầy giáo trẻ cắm bản từ bên trong bỗng cất lên, ấm áp và bất ngờ kéo tôi ra khỏi cơn hoảng loạn.
Tôi rụt rè bước qua bậc cửa gỗ, đầu cúi gằm xuống đôi bàn chân lấm lem bùn đất đỏ au, bàn tay vẫn không rời khỏi quyển vở giấu kín trong vạt áo.
Lớp học xóa mù chữ của bản thực chất chỉ là một gian nhà kho cũ trước đây dùng để chứa ngô và thóc giống của hợp tác xã, được bà con trong bản dọn dẹp lại, lợp bằng những lớp lá cọ ken dày và che chắn bằng những tấm liếp nứa gió lùa tứ phía. Mỗi khi có cơn gió lạnh thốc qua sườn đồi, những tấm liếp nứa lại rung lên bần bật, kêu ken két như muốn sụp đổ. Bên trong xếp khoảng bốn dãy bàn dài ghép bằng những tấm ván xẻ thô ráp, mặt bàn còn hằn nguyên những vết cưa nham nhở và những mắt gỗ lồi lõm dính đầy bụi bặm.
Đám trẻ con trong bản ngồi chen chúc nhau trên những chiếc ghế băng dài ọp ẹp, đứa năm tuổi, đứa sáu tuổi, thậm chí có cả những đứa bảy, tám tuổi chưa từng biết mặt chữ cũng được gom vào đây. Không khí trong lớp học sực nức mùi lá cọ ẩm mốc, mùi đất bùn bốc lên từ những đôi chân trần của học trò và mùi khói củi vương vất trên áo quần của những đứa trẻ vùng cao.
Thế nhưng, vừa bước vào lớp và ngồi xuống chiếc ghế băng dài kêu cọt kẹt ở dãy bàn cuối, sự thiếu thốn trần trụi của tôi lập tức bị phơi bày ra giữa thanh thiên bạch nhật, rõ ràng và nhức nhối đến tàn nhẫn.
Ngồi ngay cạnh tôi là thằng Dũng, con trai của một gia đình thợ săn khá giả ở xóm ngoài. Nhà nó có súng kíp săn hoẵng, có đàn dê béo tốt thả rông trên núi đá và có cả một chiếc xe đạp mi-ni màu xanh cánh cam mà bố nó mua từ thị trấn về. Thằng Dũng khoác trên mình chiếc áo len dệt màu đỏ tươi nổi bật giữa gian phòng ảm đạm xám xịt.
Trước mặt nó là một chiếc cặp giả da màu nâu sẫm có hai chiếc khóa bấm bằng sắt sáng loáng, tay cầm bọc nhựa đen bóng loáng. Khi thằng Dũng đưa tay bật tanh tách hai chiếc khóa cặp, một mùi nhựa mới thơm phức ngào ngạt lan tỏa ra không gian ẩm ướt xung quanh, lấn át cả mùi ẩm mốc của mái lá cọ.
Từ trong chiếc cặp da sang trọng ấy, nó lôi ra một chiếc hộp bút bằng nhựa cứng màu xanh da trời in hình siêu nhân rực rỡ. Bên trong hộp bút, ba chiếc bút chì gỗ vàng óng đã được chuốt nhọn hoắt bằng gọt bút chì hiện đại xếp ngay ngắn thành một hàng, một cục tẩy cao su màu trắng muốt mềm mại hình chữ nhật và cả một chiếc thước kẻ nhựa trong veo có in những vạch xăng-ti-mét đỏ chót tinh xảo. Đặt cạnh chiếc hộp bút là hai quyển vở ô ly bốn mươi tám trang mới tinh, bìa in hình phong cảnh hồ Gươm lộng lẫy, mép giấy phẳng phiu trắng lóa cả mắt dưới ánh sáng mờ nhạt lọt qua liếp nứa.
Những đứa trẻ khác trong lớp, dù không giàu có như thằng Dũng, ít nhất đứa nào cũng có một chiếc bảng con viền gỗ màu đen bóng, một hộp phấn trắng bọc giấy cẩn thận và một miếng giẻ lau bảng cắt từ vải xốp êm ái cột tòng teng bằng sợi len đỏ bên góc bảng.
Tôi ngồi thu mình lại ở góc mép bàn ngoài cùng, cố thu hai chân lấm lem bùn đất đỏ au vào sâu dưới gậm ghế gỗ. Chiếc áo bông chàm mà tôi đang mặc vốn là áo cũ của thằng Tùng thải ra, tay áo quá dài so với cánh tay ngắn ngủn của tôi nên phải xắn lên nhiều gấu dày cộp, những miếng vá bằng vải phin đen đắp chéo trước ngực nổi bần bật dưới ánh sáng ban ngày.
Nhìn quanh một lượt, lồng ngực tôi bỗng nghẹn lại, một cảm giác tủi hổ buốt nhói dâng lên tận khóe mắt. Lần đầu tiên trong đời, tôi chạm mặt với thế giới bên ngoài bờ rào dâm bụt nhà bác Lương, và cũng là lần đầu tiên tôi thấu hiểu sâu sắc thế nào là sự cách biệt xuất phát điểm.
Cùng một độ tuổi, cùng ngồi chung trên một chiếc ghế băng ọp ẹp trong gian nhà kho dột nát, nhưng những đứa trẻ kia đến đây với tư thế của những đứa con được gia đình chăm chút, nâng niu, được chuẩn bị tươm tất từng mẩu phấn, manh áo; còn tôi, tôi bước vào lớp học này như một kẻ lưu đày vừa trốn chạy khỏi đống củi mục và chuồng trâu hôi hám, mang theo toàn bộ sự bần cùng, nhếch nhác và cay đắng của thân phận một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu.
Thằng Dũng liếc nhìn sang tôi, ánh mắt tò mò của nó nhanh chóng biến thành vẻ kinh ngạc rồi chuyển sang khinh khỉnh. Ánh mắt nó dừng lại ở đôi bàn tay cáu bẩn vì vừa dọn chuồng trâu và bọc vải rách tôi đang ôm khư khư trước bụng. Nó hơi nhích người sang một bên, kéo chiếc cặp da bóng lộn và hộp bút siêu nhân về phía mình như sợ bùn đất từ manh áo rách rưới của tôi sẽ quẹt bẩn vào đồ dùng đắt tiền của nó.
Hành động vô tình nhưng dứt khoát ấy hệt như một mũi kim sắc nhọn đâm thẳng vào lòng tự trọng non nớt của tôi. Tôi cắn chặt môi dưới đến suýt bật máu, không dám ngẩng mặt lên nhìn ai, chỉ lặng lẽ đặt bọc đồ của mình lên mặt bàn gỗ sần sùi đầy vết nứt.
Tôi cẩn thận mở lớp ni lông cũ rách mép ra. Quyển vở của mẹ Mai hiện ra với những trang thơ chép dở bằng mực tím đã phai màu thời gian, những vần thơ dịu dàng viết về quê hương miền xuôi xa xôi mà mẹ từng nắn nót chép lại những năm tháng thanh xuân. Mẩu bút chì cụt ngủn chỉ dài hơn hai đốt ngón tay, lớp vỏ gỗ nham nhở vết gọt dao quắm được tôi đặt nhẹ nhàng lên một rãnh nứt sâu của mặt bàn để nó khỏi lăn long lóc xuống nền đất nện.
— Nào, các em mở vở hoặc bảng con ra, hôm nay chúng ta sẽ tập viết chữ cái đầu tiên: chữ O và chữ Ô! — Tiếng thầy giáo cắm bản vang lên dõng dạc từ trên bục giảng bằng gỗ ghép.
Tiếng mở cặp xột xoạt, tiếng lách cách của nắp hộp bút nhựa và tiếng phấn gõ rộn rã trên mặt bảng đen vang lên khắp gian phòng. Thằng Dũng kiêu hãnh mở trang đầu tiên của quyển vở mới tinh, mùi giấy mới thơm nức mũi. Nó cầm chiếc bút chì vàng óng, đặt ngón tay thon thả nắn nót tô từng nét tròn xoe, rộng rãi chiếm trọn cả một ô vuông lớn bốn ô ly. Cứ mỗi lần viết sai một nét nhỏ hay đường cong hơi lệch, nó lại thản nhiên cầm cục tẩy trắng tinh miết nhẹ vài cái cho sạch bóng rồi viết đè lên; lớp giấy vở dày dặn láng bóng không hề để lại dù chỉ một vết hằn nhỏ.
Tôi nhìn bốn trang giấy trắng hiếm hoi ở cuối quyển vở của mẹ, tim tôi thắt lại từng cơn buốt nhói. Bốn trang giấy. Chỉ có vỏn vẹn bốn trang giấy trắng tinh này là toàn bộ gia tài học tập mà tôi có được trên cõi đời này.
Nếu tôi viết to như thằng Dũng, nếu tôi để con chữ choán hết các dòng kẻ thênh thang, chỉ cần ba buổi học là bốn trang giấy sẽ cạn kiệt, biến thành những vệt chì đen đặc. Và sau đó, tôi sẽ lấy gì để viết tiếp?
Bác Lương chắc chắn sẽ không bao giờ bỏ ra dù chỉ một đồng hào hay nửa bát gạo để mua cho tôi quyển vở mới ở quầy bách hóa xã. Với bác, việc tôi được phép bước chân đến đây nửa buổi sáng đã là sự ban ơn quá lớn của dòng tộc; bất kỳ một đòi hỏi tiền bạc nào cho sách vở, mực bút cũng sẽ là cái cớ hoàn hảo nhất để bác tuyên bố tôi chỉ là một đứa đua đòi tốn kém, tống khứ tôi vĩnh viễn về với nương ngô và những bờ đá tai mèo khô cằn.
Tôi cầm mẩu bút chì cụt bằng ba đầu ngón tay khẳng khiu, chai sần vì cầm cán dao quắm và quai thùng nước. Ngón trỏ của tôi phải ấn sát vào đầu chì nham nhở vì thân bút quá ngắn, không có đủ chiều dài để tựa vào hõm tay như những người bình thường. Tôi ghé sát mặt xuống mặt bàn gỗ, nín thở đặt mũi chì mòn vẹt lên góc trên cùng bên trái của trang giấy trắng đầu tiên.
Thay vì viết to rõ ràng chiếm trọn một ô ly vuông vắn như nét chữ mẫu của thầy giáo trên bảng đen, tôi ép ngòi chì viết thật sát, thật nhỏ. Từng chữ O tròn được tôi thu nhỏ lại chỉ bằng nửa hạt đỗ đen, nằm nép sát rạt vào đường kẻ ngang màu xanh mờ nhạt của trang vở. Tôi không dám chừa ra bất kỳ một khoảng trống lãng phí nào. Cứ hết một chữ O, tôi chỉ cách ra một khoảng cách mỏng như sợi tóc rồi lại nắn nót viết tiếp chữ tiếp theo. Từng con chữ li ti nối đuôi nhau thành một dải hẹp, bám chặt lấy lề giấy, chen chúc nhau trên từng milimét khoảng trống.
Trang giấy cũ của mẹ đã ngả sang màu vàng ố theo năm tháng ẩm ướt ở vùng cao, thớ giấy giòn rụm và mỏng manh như cánh ve sầu mùa hạ. Mũi bút chì của tôi chỉ cần ấn mạnh một chút là mặt giấy sẽ rách toạc ra ngay. Tôi phải điều khiển lực của từng ngón tay một cách cẩn trọng đến nghẹt thở: vừa phải đủ đậm để nét chì không bị mờ nhạt dưới ánh sáng nhờ nhờ của lớp học, vừa phải nhẹ nhàng, lướt khẽ như một làn gió mỏng để bảo toàn từng thớ giấy quý giá.
Cứ mỗi lần mẩu chì mòn vẹt đi, để lộ ra phần gỗ cản trở nét viết, tôi lại cẩn thận dùng móng tay cái bấm nhẹ vào lớp gỗ thông mềm xung quanh để đầu chì nhô ra thêm một chút xíu. Tôi tuyệt đối không dám dùng dao quắm gọt hay mài xuống đá, vì sợ phí hoài từng vụn than chì đen nhánh rơi rụng xuống đất.
Thằng Dũng bên cạnh đang mải mê tô nét chữ tròn to bỗng quay sang nhìn vào trang vở của tôi. Mắt nó tròn xoe kinh ngạc rồi bật ra một tiếng cười khẩy đầy chế giễu:
— Sao mày viết chữ bé tí như con kiến thế kia hả Nam? Viết thế thì ai mà đọc được? Nhìn vở tao này, to đẹp thế này cơ mà!
Lời trêu chọc the thé của nó khiến mấy đứa trẻ ngồi ở bàn trên cũng tò mò ngoái đầu lại nhìn. Những ánh mắt ngây thơ nhưng vô tình đổ dồn vào quyển vở cũ rách bìa, mép giấy ố vàng và mẩu bút chì ngắn ngủn gọt nham nhở trong tay tôi.
Tôi thấy mặt mình nóng bừng như bị lửa táp, hai tai lùng bùng ù đi vì xấu hổ. Bàn tay đang cầm mẩu bút chì bất giác co rúm lại, vội vàng lấy mu bàn tay áo bông chàm cáu bẩn che kín lấy trang giấy nhỏ, hệt như một kẻ có tội đang cố giấu đi vết tích vụng trộm của mình.
Tôi không thể cất lời giải thích cho chúng nó hiểu. Chúng nó làm sao hiểu được cảm giác của một đứa trẻ phải đếm từng trang giấy để sống, phải chắt chiu từng vụn chì như chắt chiu từng hạt cơm cháy độn sắn rơi vãi dưới sàn nhà?
Với chúng nó, trang giấy chỉ là thứ để vẽ vời, để tô tẩy và vứt bỏ bất cứ lúc nào; còn với tôi, từng khoảng trắng trên trang giấy này chính là hơi thở, là chiếc phao cứu sinh duy nhất để tôi bấu víu vào mà mơ về một cuộc đời khác, thoát khỏi sự ngột ngạt tăm tối của những bờ nương đá hộc và tiếng chửi rủa triền miên nơi căn nhà gỗ xám xịt kia.
Thầy giáo cắm bản bước chầm chậm xuống từng dãy bàn để kiểm tra nét chữ của từng học trò. Tiếng bước chân thầy nện đều trên nền đất nện ẩm ướt mỗi lúc một gần khiến tim tôi đập thình thịch liên hồi trong lồng ngực. Tôi sợ thầy sẽ nhìn thấy trang vở chép sát rạt kỳ quặc của tôi, sợ thầy sẽ phê bình trước mặt cả lớp rằng tôi không làm đúng quy cách, và trên hết, tôi sợ sự chú ý của thầy sẽ làm lộ ra cái nghèo nàn trần trụi mà tôi đang ra sức che giấu dưới manh áo vá này.
Khi cái bóng cao gầy của thầy dừng lại ngay bên mép bàn của tôi, tôi chỉ biết cúi gằm mặt xuống thấp hơn nữa, cằm gần như chạm hẳn vào mặt gỗ thông lạnh ngắt, hai bàn tay siết chặt lấy nhau dưới gầm bàn run rẩy không ngừng.
Nhưng thầy giáo không hề mắng mỏ hay gắt gỏng. Bóng thầy trùm qua trang giấy vàng ố, mang theo mùi phấn bảng lẫn với mùi mưa rừng thoang thoảng bay trên đỉnh đầu tôi. Thầy cúi người xuống thấp, ngón tay gầy gầy có dính chút bụi phấn trắng chấm nhẹ vào mép trang vở, nơi những con chữ O li ti ken đặc như đàn kiến bò thẳng tắp bám chặt lấy lề giấy.
— Chữ đều lắm, — giọng thầy trầm và ấm, hoàn toàn không có vẻ gì là chê bai hay giễu cợt. — Nhưng sao em viết sít thế này? Giấy vẫn còn chỗ mà.
Tôi không dám ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt thầy, hai bàn tay giấu dưới gầm bàn gỗ bấm chặt vào hai bên đầu gối tê buốt. Tôi làm sao có thể nói rằng mình chỉ có đúng bốn trang trắng của mẹ Mai để lại, dùng hết bốn trang này là hết chữ, hết đường đến trường, hết cơ hội bước ra khỏi thung lũng mù sương này? Cổ họng tôi khô rát như có nắm cát nhét vào, chỉ biết lí nhí một câu vụng về:
— Dạ… em quen tay ạ.
Thầy khẽ thở dài một tiếng thật khẽ, tiếng thở dài kín đáo của một người từ miền xuôi lên cắm bản giữa vùng núi đá heo hút này, dường như đã nhìn thấy quá nhiều sự túng quẫn, nhọc nhằn quanh thung lũng Bản Nà Ban để không gặng hỏi thêm làm tổn thương đứa trẻ.
Thầy đứng thẳng dậy, quay bước lên bục giảng, bắt đầu vẽ một bài toán bằng những que tính và vòng tròn trên nền bảng đen nhánh. Đó là những phép tính cộng trừ đơn giản với số nhỏ, rồi bất ngờ thầy viết ra một phép chia đầu tiên: mười hai quả cam chia đều cho ba bạn, mỗi bạn được mấy quả?
Cả lớp học bỗng chốc im phăng phắc. Đám trẻ con xóm ngoài ngơ ngác nhìn nhau, mắt chớp chớp như chưa hiểu quả cam là thứ gì và chia đều là chia thế nào. Thằng Dũng hí hoáy mở chiếc hộp bút siêu nhân lôi ra một bó que tính bằng nhựa đủ màu xanh đỏ tím vàng, lóng ngóng rải từng que lên mặt bàn rồi đếm đi đếm lại, chốc chốc lại gạt đi vì nhầm lẫn giữa mười hai và mười ba que.
Với tôi, mười hai quả cam là một thứ quả xa lạ, xa xỉ mà tôi chưa từng một lần được nhìn thấy hay nếm thử trong đời; nhưng con số mười hai thì lại hiển hiện rõ rệt, rành rọt đến từng hạt một trong trí óc.
Trong tâm trí non nớt của tôi, không có bóng dáng quả cam nào cả, chỉ có những hạt ngô răng ngựa màu vàng óng mà tôi từng phải nhặt từng hạt dưới vũng bùn trước sân nhà bác Lương sau mỗi trận mưa dông. Tôi nhớ như in cảm giác cúi rạp người nhặt từng hạt ngô vương vãi, nếu sót một hạt là bị ăn đòn roi tre.
Tôi chia mười hai hạt ngô ấy thành ba phần bằng nhau ngay trong đầu: bốn hạt cho phần thứ nhất, bốn hạt cho phần thứ hai, bốn hạt cho phần thứ ba. Một trật tự mạch lạc, dứt khoát tựa như nhịp gánh nước nhịp nhàng trên đôi vai gầy mỗi sớm khi tôi đếm từng bậc đá leo lên khỏi mó nước. Không cần que tính nhựa màu mè, không cần ngón tay phụ trợ, tôi cầm mẩu chì cụt, run rẩy viết một chữ số 4 bé xíu nhưng vô cùng sắc sảo ngay sát chân dòng kẻ ô ly trên trang giấy.
Thầy giáo quay lại, bước dọc lối đi giữa hai dãy bàn, mắt dừng trên góc giấy của tôi. Lông mày thầy khẽ nhướng lên, một sự ngạc nhiên và thán phục hiện rõ trong ánh nhìn ấm áp:
— Nam tính ra bằng cách nào thế? Thầy chưa dạy phép chia mà.
— Em… em đếm hạt ngô ạ, — tôi lí nhí đáp, hai gò má nóng ran như có than hồng hơ lửa. — Mười hai hạt chia ba đống, mỗi đống có bốn hạt.
Thầy nhìn tôi thật lâu, ánh mắt chứa đựng một điều gì đó vừa ngỡ ngàng vừa xót xa, dường như muốn hỏi thêm về hoàn cảnh của tôi, về những chuỗi ngày nhặt hạt ngô nhọc nhằn phía sau con số ấy. Nhưng đúng lúc đó, tiếng trống tan buổi học bất ngờ gióng lên dồn dập từ chiếc thùng phuy đặt góc sân trường, cắt ngang cuộc trò chuyện ngắn ngủi. Tiếng sắt rỉ vang lên từng hồi khô khốc xua tan sự yên tĩnh của gian nhà kho.
Lũ trẻ ùa ra cửa như đàn chim non vỡ tổ, tiếng cười đùa, tiếng hò hét và tiếng chân chạy thình thịch trên nền bùn ướt át đi mọi âm thanh của lớp học nghèo. Thầy giáo bị cuốn vào việc thu dọn giáo án trên bàn và nhắc nhở vài ba học sinh ở lại trực nhật quét dọn rác cọ, không kịp hiểu hết hoàn cảnh cùng nỗi sợ hãi đang đè nặng trong lòng đứa trẻ mang chiếc áo chàm rách rưới đang đứng nép bên góc bàn.
Tôi vội vàng gấp quyển vở lại, luồn vội vào trong lớp ni lông rồi áp chặt vào ngực, lách qua đám đông bước nhanh ra ngoài cửa lớp. Ngoài trời, mưa phùn lại bắt đầu rơi dày hạt hơn, từng giọt nước lạnh buốt theo gió đông quất thẳng vào mặt, nhưng trong lồng ngực tôi, cảm giác ấm sực từ ánh mắt và lời khen của thầy vẫn chưa hề tan biến.
Vừa ra đến cổng rào tre bao quanh sân trường, cái Lan đã đứng chờ sẵn dưới gốc cây sau sau cằn cỗi khẳng khiu. Con bé kéo tay áo tôi, dẫn tôi nép vào sau một phiến đá lớn nhô ra bên mép đồi dốc để tránh những cơn gió giật. Lan nhanh nhẹn tháo chiếc túi vải hoa nhỏ của nó ra; bên trong túi, con bé đã lót sẵn một mảnh bao tải dứa sạch sẽ mà nó xin được từ bồ thóc giống của mẹ dạo trước.
— Đưa vở đây em giữ cho! — Lan thì thầm, đôi mắt tròn xoe dáo dác nhìn quanh con đường mòn như sợ có ai trong bản trông thấy. — Mưa to thế này, anh ôm trước ngực thì ướt hết mép giấy đấy. Áo anh mỏng dính, lại rách ở ngực thế kia thì che làm sao nổi nước mưa.
Tôi ngập ngừng một thoáng, nhìn bàn tay gầy gò của Lan rồi cẩn thận trao bọc vở cho em họ. Lan nâng niu bọc kín quyển vở trong lớp bao tải dứa, nhét sâu vào đáy chiếc túi hoa của mình rồi kéo miệng túi lại thật chặt, ôm sát vào người.
— Về nhanh lên anh Nam, — Lan giục giã, giọng lộ rõ vẻ lo lắng, sốt ruột. — Quá trưa là bố đi nương về đấy. Bố mà thấy anh về muộn, không kịp gánh nước với thái rau lợn là lại ăn roi cho xem. Mau lên, em đi lối bờ cỏ, anh đi sát theo sau nhé!
Sự giúp đỡ của Lan bao giờ cũng kín kẽ và lặng lẽ như thế. Ở nhà, trước mặt thằng Tùng và bác Lương, con bé ít khi dám nói chuyện thân mật hay cười đùa với tôi, sợ Tùng hằn học mách mẹ rằng em gái bênh vực người ngoài, chia cơm cho đứa ăn bám. Nhưng trên con đường đất lầy lội bốn cây số từ trường về bản, từng bước chân nhỏ thó đi đôi dép nhựa mòn vẹt của Lan luôn dẫn đường cho tôi qua những vũng bùn sâu nhất, giữ cho báu vật duy nhất của tôi được khô ráo nguyên vẹn qua những trận mưa rừng.
Thế nhưng, vừa bước chân qua chiếc cổng rào dâm bụt dẫn vào khoảng sân đất nhà bác Lương, nỗi lo sợ thường trực trong tôi đã lập tức biến thành sự thật.
Tùng đã đứng sừng sững bên hiên nhà từ lúc nào. Thằng bé lớn hơn tôi ba tuổi, vóc dáng vạm vỡ, nước da ngăm đen, mặc chiếc áo vải bạt lính cũ nhưng lành lặn, trên môi nở nụ cười khẩy đầy ác ý. Nhìn thấy tôi lếch thếch bước vào sân với ống quần chàm bết đầy bùn đỏ au và đôi bàn chân trần tái ngắt, Tùng nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống rãnh nước trước thềm:
— A, ông tú tài đi học về rồi đấy à? Đi học mà không có nổi một quyển sách tập đọc hẳn hoi, ôm mỗi mẩu giấy rách với mẩu chì cụt thì học cái nỗi gì! Lũ bạn tao ở trường trên đồn bảo, đứa nào không có sách giáo khoa là đồ ăn xin đi học ké, thầy cô người ta chỉ thương hại cho ngồi nhờ thôi!
Lời chế giễu sắc nhọn như mảnh nứa cứa vào ngực tôi. Từng câu từng chữ của nó đào sâu thêm vào nỗi mặc cảm bần hàn mà tôi vừa cố quên đi trên lớp. Tôi cúi đầu thật thấp, hai tay bấu chặt vào gấu áo bông sũng nước mưa, không đáp lại một lời. Tôi biết rõ bất kỳ sự phản kháng nào lúc này, dù chỉ là một cái liếc mắt hay một lời phân trần, cũng chỉ khiến mọi chuyện tồi tệ hơn và mang lại những trận đòn roi tàn nhẫn.
Thấy tôi câm lặng như một khúc gỗ mục, Tùng dường như chưa hả dạ. Nó bước phắt xuống sân, đá mạnh một cú trời giáng vào chiếc sọt tre đựng củ sắn nằm lăn lóc giữa sân khiến những củ sắn khô văng tung tóe ra nền đất ướt, rồi hất hàm ra lệnh bằng giọng kẻ cả:
— Chiều nay tao phải đi bẫy chim với thằng Thào bên xóm Mo. Mày ra sau vườn cọ sạch đống phân trâu khô bám ở vách chuồng đi, rồi chặt hết đống thân chuối đằng kia băm nhỏ cho lợn ăn. Không xong trước khi bố về thì đừng hòng có phần cơm tối!
Đó là những việc nặng nhọc mà bác Lương đã phân công cho Tùng phải hoàn thành trong buổi sáng, nhưng nó đã trốn đi chơi ném còn với đám bạn ở đầu bản, giờ trút hết lên đầu tôi để tiếp tục lêu lổng, cố tình đẩy tôi vào tình thế chậm trễ công việc gia đình nhằm biến tôi thành kẻ lười biếng, có lỗi trong mắt bố nó.
Tôi nhìn đống thân chuối xơ xác còn ứa nhựa chát ngắt nằm lăn lóc dưới gốc mít già, rồi nhìn sang chái bếp lạnh tanh không một ánh lửa. Tôi có thể mách với bác Lương khi bác đi nương về, nhưng tôi biết thừa kết quả sẽ ra sao. Với bác Lương, mọi lời than vãn của tôi đều sẽ bị quy kết thành thói lười biếng, tị nạnh và cãi vã vô ích giữa con cháu trong nhà. Một đứa ăn nhờ ở đậu, sống nhờ vào những bát mèn mén thừa thì vĩnh viễn không có quyền đòi hỏi sự công bằng.
Tôi lặng lẽ cởi chiếc áo bông ẩm ướt treo lên chiếc đinh rỉ nơi vách nứa chái phụ, đón lấy chiếc túi vải từ tay Lan để cất quyển vở vào khe đá sâu hoắm dưới chân chõng tre, rồi cầm lấy con dao quắm cùn bước ra sau vườn.
Trời mưa rả rích không ngớt. Tôi băm từng thân chuối bằng những nhát chém mệt mỏi, dầm mình trong gió lạnh cho đến khi hai bàn tay phồng rộp, rỉ máu vì cán dao xước xát, mùi nhựa chuối chát xộc lên cay xè sống mũi.
Mấy hôm sau, lớp học xóa mù chữ tổ chức bài kiểm tra con số và phép tính đầu tiên. Thầy giáo gọi tôi lên bảng đen, đọc cho tôi viết một dãy phép tính cộng trừ và một phép chia đơn giản có dư nhẹ. Đứng trước tấm bảng gỗ đen nhánh, trước ánh mắt tò mò của cả lớp, đầu óc tôi sáng rõ một cách lạ thường. Những con số đối với tôi không còn là những ký tự trừu tượng trên trang sách xa xỉ; chúng là những đống ngô chia đều, là những gánh nước từ mó sâu, là những nhịp thở đều đặn vượt qua dốc đồi.
Tôi cầm mẩu phấn trắng ngắn ngủn của thầy đưa cho, đặt từng con số ngay ngắn, thẳng tắp và hoàn thành toàn bộ bài làm chỉ trong chớp mắt, dứt khoát và chuẩn xác đến từng nét gạch ngang.
Thầy giáo mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ hiếm hoi giữa lớp học vùng cao lạnh giá. Thầy chấm cho tôi điểm mười đỏ chót bằng ngòi bút mực đỏ của trường, kèm theo một dòng chữ nhỏ nắn nót ở góc giấy: "Em Nam tính rất nhanh và chuẩn xác".
Cầm mẩu giấy được thầy xé ra từ cuốn sổ công tác làm bài kiểm tra, lòng tôi rộn rã một niềm vui sướng nghẹn ngào chưa từng có trong đời. Suốt dọc con đường đất dài hơn bốn cây số trở về nhà, dù bùn đỏ có ngập sâu đến mắt cá chân, dù gió bấc có thổi rát từng mảng da thịt, tôi vẫn cảm thấy bước chân mình nhẹ bẫng như đang bay trên những ngọn cỏ gianh.
Mẩu giấy gấp tư được tôi cất sâu trong túi áo ngực, nóng hổi bên nhịp tim đang đập dồn dập, rộn ràng. Nó là bằng chứng rõ ràng nhất, chân thực nhất chứng minh rằng những đêm tôi còng lưng nhổ cỏ nương trong sương lạnh, những rạng sáng buốt giá gánh nước từ mó sâu, và cả những đêm tôi lén lút lần giở từng trang chữ của mẹ dưới ánh đèn dầu leo lét ở gian chái phụ không hề là những nỗ lực vô nghĩa. Tôi không phải là một kẻ ăn hại chỉ biết cắm mặt vào bùn đất và phân trâu; tôi có thể học, và tôi học tốt hơn bất kỳ ai trong lớp học này.
Về đến đầu ngõ rào dâm bụt, tôi thấy bác Lương đang ngồi trước bậc thềm đá tước râu ngô khô để chuẩn bị nhóm lửa, chiếc điếu bát bằng đồng để bên cạnh bốc lên từng làn khói xanh mờ mờ nghi ngút. Khói thuốc lào bảng lảng bay trong chiều muộn, che khuất nửa khuôn mặt sạm đen vì nắng gió và những nếp nhăn khắc khổ của bác.
Tôi đứng chôn chân nơi góc sân một lát, lồng ngực đập thình thịch trong một niềm hy vọng ngây thơ rằng con số mười này có thể làm tan chảy phần nào sự lạnh lùng nghiệt ngã của người đàn ông chủ gia đình. Tôi gom hết chút can đảm non nớt tích tụ trong lồng ngực, bước chầm chậm lại gần bậc thềm đá.
Những ngón tay run rẩy thò vào túi áo bông chàm, rút mẩu giấy kiểm tra gấp tư đã hơi nhăn nheo vì mồ hôi nhưng còn phẳng phiu nét mực đỏ tươi. Tôi chìa hai bàn tay gầy gò ra trước mặt bác, giọng ngập ngừng, khe khẽ run lên vì hy vọng và xúc động:
— Bác ơi… hôm nay thầy giáo chấm điểm… con được điểm mười môn tính ạ. Thầy bảo con tính nhanh…
Bác Lương không vươn tay ra đón lấy mẩu giấy.
Ánh mắt người đàn ông lam lũ ấy lướt qua con số mười đỏ chói trên góc giấy một cách dửng dưng, lạnh lùng tựa như nhìn một chiếc lá khô mục rụng xuống sân gạch sau cơn mưa. Không một thoáng ngạc nhiên, không một lời khen ngợi hay một cái gật đầu khích lệ.
Bác chậm rãi cầm lấy chiếc que tre thông điếu, chọc mạnh vào nỏ điếu bát nghe sòng sọc từng hồi đục ngầu, rồi ngước nhìn tôi bằng ánh nhìn khô khốc, trần trụi của hiện thực cơm áo gạo tiền:
— Điểm chác thì có mài ra mà ăn được không? Phần đất nương bên dốc Ban Nà sáng nay bảo đi nhặt đá hộc, mày đã làm xong chưa?