Hoa Ban Không TànC.38 / 38
Chương 38

Ca làm đầu tiên

Tờ giấy báo dán ở bảng tin công cộng đầu hồi nhà B7 chỉ vướng víu một góc băng dính ố vàng, mép giấy xơ tước rung lên bần bật theo từng ngọn gió lùa qua vòm cổng sắt. Nét mực xanh viết vội ba chữ “cần người làm ca tối”, kèm theo một địa chỉ ngoằn ngoèo nằm sâu trong ngõ và mức thù lao mười hai nghìn một giờ. Đối với đám sinh viên năm trên đang tụ tập chơi đá cầu dưới sân bê tông, con số ấy có lẽ chẳng bõ dính răng, chỉ đáng một bao thuốc lá Thăng Long hay hai cữ trà đá ven vỉa hè. Nhưng đối với tôi, từng nét bút run rẩy ấy lại hiện hình rõ mồn một như một bát cơm nóng có thể sờ thấy, có thể ngửi thấy, một điểm tựa mong manh để tôi không bị cuốn phăng khỏi giảng đường đại học ngay trong tháng đầu tiên đặt chân về chốn thị thành.

Tôi cẩn thận miết phẳng mép giấy, gập làm tư rồi nhét sâu vào túi ngực chiếc áo sơ mi bộ đội đã sờn rách đường chỉ quanh cổ áo. Bước chân tôi vội vã lướt qua cánh cổng sắt hoen rỉ của khu ký túc xá B7. Cơn mưa rào bất chợt lúc chập tối vừa dứt, để lại trên mặt đường nhựa một lớp nước mỏng manh, loang loáng phản chiếu những quầng sáng vàng vọt từ cột đèn cao áp. Không khí Hà Nội vào cữ đầu thu này ngột ngạt đến khó thở, ngai ngái mùi xăng xe chưa kịp tan, mùi rác rưởi ủng nước và thứ hơi ẩm nồng nặc bốc lên từ những miệng cống hở ven đường. Đó là một thứ mùi vị hoàn toàn xa lạ đối với khứu giác của tôi — nó đặc quánh, bức bối, khác hẳn với mùi sương lạnh ngậm lá mục ẩm mục hay mùi vỏ quế cay nồng quen thuộc của thung lũng Nà Ban mỗi độ đông về. Tôi kéo sụp mép chiếc mũ lưỡi trai đã bạc màu vải bạt xuống sát chân mày, co ro cất bước men theo chân bờ tường gạch dẫn lối ra con ngõ nhỏ thông sang đường Trần Đại Nghĩa.

Con ngõ sâu hun hút, quanh co như một đoạn ruột thừa bị bỏ quên giữa lòng khu phố sinh viên. Hai bên bờ tường chật ních những tấm biển hiệu chen chúc, sáng choang đèn huỳnh quang: quán net chật ních người ngồi, tiệm photocopy bốc mùi mực in hắc nồng, và những dãy hàng cơm bình dân ngổn ngang bàn ghế nhựa bốc khói nghi ngút bên cạnh những chảo mỡ sôi xèo xèo vàng quánh. Càng dấn bước vào sâu, tiếng còi xe inh ỏi ngoài trục đường Giải Phóng càng lùi xa, nhường chỗ cho mớ thanh âm hỗn tạp, rạo rực mà nhếch nhác của đời sống trọ học: tiếng chửi thề văng mạng vọng ra từ một căn phòng trọ ẩm thấp, tiếng gõ bàn phím cơ lách cách dồn dập sau tấm rèm vải đen của quán game, tiếng bát đũa khua lanh lảnh và cả tiếng rao đêm khàn đặc của người bán bánh khúc dạo đạp xe lướt qua vũng nước tù đọng.

Quán cà phê mang tên Mùa Gió nằm nép mình ở một khúc quanh hẹp, nơi có hai cây bàng còi cọc vươn những tán lá cằn cỗi che khuất gần trọn tầng lửng. Đó là một ngôi nhà ống hai tầng quét vôi vàng đã tróc lở từng mảng lớn, để lộ ra những thớ gạch chỉ đỏ sẫm loang lổ rêu xanh. Tấm biển hiệu bằng gỗ thông treo nghiêng lệch trên móc sắt, mang dòng chữ vẽ tay bằng sơn trắng đã bắt đầu rạn nứt. Qua lớp cửa kính bám đầy hơi nước mờ đục và những vệt ố tròn của ngón tay khách khứa, ánh đèn sợi đốt vàng ấm áp hắt ra ngoài thềm xi măng, rọi sáng vài chiếc xe máy Dream và Wave cũ kỹ xếp san sát nhau không một kẽ hở.

Tôi đứng chôn chân trước bậc tam cấp một thoáng, lúng túng nhìn xuống đôi giày vải Thượng Đình mòn vẹt gót đang bết chặt bùn non, rồi lại nhìn đến ống quần bò bạc phếch dính vài vệt đất đỏ khô cong từ trưa. Cảm giác mặc cảm nghèo hèn quen thuộc như một bàn tay lạnh ngắt lại trồi lên bóp nghẹt lồng ngực tôi. Trong khoảnh khắc ấy, tôi đã muốn quay đầu lủi nhanh vào bóng tối của con ngõ. Nhưng rồi hình ảnh chiếc ví da giả đã sờn chỉ giấu trong góc hòm tôn ở phòng 314 — chiếc ví chỉ còn vỏn vẹn chín mươi lăm nghìn đồng tiền mặt — lập tức kéo giật tôi lại với thực tại trần trụi. Chín mươi lăm nghìn ấy, nếu tằn tiện mỗi ngày chỉ dám nuốt một đĩa cơm sáu nghìn gồm một bìa đậu phụ luộc và ít rau muống xào tóp mỡ, cũng chỉ đủ sức giúp tôi cầm cự đúng ba ngày rưỡi nữa. Sau ba ngày rưỡi, tôi sẽ chẳng còn lại gì ngoài cái bụng rỗng và sự bất lực. Ý nghĩ cay đắng ấy đẩy mạnh đôi chân tôi bước tới. Tôi co mu bàn tay lại, cẩn thận gạt nhẹ vào khung nhôm của cánh cửa kính.

Tiếng chuông đồng nhỏ treo phía trên then cửa rung lên một tiếng *keng* khô khốc, đanh gọn.

Một luồng không khí ấm nồng xộc thẳng vào cánh mũi tôi. Mùi cà phê rang cháy khét quyện chặt với mùi sữa đặc ngọt lịm, hơi khói thuốc lá ẩm ướt và mùi gỗ thông ngâm nước lâu ngày phả ra một thứ không khí đặc trưng của những quán cóc sinh viên Hà Nội. Quán có bề ngang hẹp nhưng chạy rất sâu vào phía trong, chia làm hai dãy bàn gỗ thô ráp đóng bằng gỗ pallet kê sát chân tường. Phía trên là một căn gác lửng thấp lè tè bằng ván ép, nơi những đôi dép lê nhựa xếp lộn xộn dưới chân cầu thang sắt rỉ sét. Khách ngồi kín quá nửa số bàn. Phần lớn họ là sinh viên các trường đại học lân cận, người thì cắm cúi vùi đầu vào những tập giáo trình dày cộp có mép quăn queo, kẻ lại túm tụm quanh bàn cờ tướng bằng gỗ ép, vừa rít thuốc lào sòng sọc vừa tranh cãi nảy lửa về một nước đi sai lầm.

Phía sau chiếc quầy pha chế ốp gạch men trắng toát ở góc trong cùng, một người đàn ông trạc ngoài ba mươi tuổi đang thoăn thoắt lắc một chiếc bình inox bóng loáng. Anh ta mặc chiếc áo phông cộc tay màu đen làm lộ rõ đôi bắp tay cuồn cuộn gân guốc, mái tóc cắt húi cua lấm tấm vài sợi bạc sớm, và đôi mắt ti hí sắc lẹm lướt thoăn thoắt qua từng bàn khách trước khi dừng lại trân trân trên khuôn mặt ngơ ngác của tôi.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, rụt rè bước lại gần mặt quầy, hai bàn tay siết chặt quai chiếc cặp vải bạt đến trắng bệch cả đầu ngón.

"Em chào anh ạ," tôi cất tiếng, cố ghìm bớt âm vực nghẹn đặc của tiếng Mường bản xứ để giọng mình không quá chói gắt giữa tiếng nhạc Trịnh Công Sơn đang rè rè phát ra từ cặp loa thùng bọc nỉ treo ở góc tường. "Em... em thấy tờ giấy tuyển người dán ở bảng tin ký túc xá B7 bên Bách khoa."

Người đàn ông dằn chiếc bình lắc xuống mặt bàn inox phát ra một tiếng *cạch* dứt khoát. Anh ta tiện tay vớ lấy chiếc khăn bông trắng ngả màu cháo lòng vắt trên vai, chầm chậm lau khô từng ngón tay gầy nhưng rắn chắc. Ánh mắt anh ta dò xét tôi từ đỉnh chiếc mũ vải sờn rách, lướt qua sống mũi gãy, chiếc cổ gầy trơ xương quai xanh, rồi dừng lại thật lâu ở đôi giày bết bùn đất. Cái nhìn ấy không hẳn là khinh miệt hay xua đuổi, nhưng nó sắc lạnh, tỉnh táo và cân nhắc như cái nhìn của một người thợ mộc già đang xem xét từng thớ gỗ tạp trước khi quyết định có nên đặt lưỡi cưa xuống hay không.

"Đến tìm việc ca tối à?" Anh ta lên tiếng, chất giọng trầm khàn, đặc sệt ngữ điệu mòn mỏi của người phố cổ lâu năm bươn chải. "Tên gì? Dân Bách khoa năm nhất đúng không?"

"Dạ, em tên Nam. Nguyễn Văn Nam, sinh viên K58 ngành Khoa học máy tính ạ." Tôi run run rút mẩu giấy đã nhàu nhĩ trong túi ngực ra, vuốt lại thật phẳng phiu rồi đặt ngay ngắn lên mặt kính của quầy thu ngân. "Em... em muốn xin làm chân bưng bê, chạy bàn ạ."

"Tôi tên Tuấn. Vừa làm chủ vừa kiêm quản lý cái quán này." Anh Tuấn liếc qua mẩu giấy rồi ngước mắt nhìn thẳng vào đồng tử tôi. "Dân Bách khoa học hành nặng như đá tảng. Mấy thằng cu khóa trước xin vào đây làm, hứa hươu hứa vượn cho lắm rồi được dăm bữa nửa tháng là vác cặp chạy mất dép vì không gánh nổi đồ án với bài tập lớn trên lớp. Ca tối ở đây bắt đầu từ năm rưỡi chiều đến mười một giờ đêm, nhưng hôm nào khách ngồi dai dẳng hoặc phải dọn kho, kiểm hàng thì có khi nửa đêm mới được dắt xe ra về. Cậu trông như con dế mèn thế kia, trụ nổi không?"

Tôi hít một hơi sâu, lồng ngực phập phồng, cố gắng ưỡn thẳng lưng để giấu đi sự rệu rã sau một ngày dài căng mắt trước bảng đen và hàng loạt khái niệm đại số trừu tượng ở giảng đường D3. Đôi chân tôi sau chặng đường dài cuốc bộ từ ký túc xá sang đây vẫn còn đang mỏi nhừ, từng khớp gối buốt ran, nhưng tôi thừa hiểu rằng đằng sau cánh cửa kính này là bờ vực của sự thiếu thốn. Nếu không bám được vào công việc này, tôi sẽ phải cúi đầu gọi điện về bản Nà Ban xin tiền chú Lương — một việc mà thà tôi nhịn đói chết gục bên vệ đường còn hơn là phải mở lời chịu nhục thêm một lần nữa.

"Em làm được anh ạ," tôi đáp, giọng tuy chậm nhưng rành rọt từng tiếng. "Trước đây ở quê em quen việc nương rẫy nặng nhọc từ bé rồi, thức khuya dậy sớm em không sợ. Em có thể làm kín các buổi tối trong tuần, nhận làm cả thứ Bảy, Chủ nhật nếu quán thiếu chân gác đêm. Chỉ xin anh tạo điều kiện cho em... đừng bắt em phải bỏ những tiết học chính khóa trên trường."

Anh Tuấn khẽ nhướng một bên lông mày, khóe miệng nhếch lên một nụ cười nửa kín nửa hở, đầy vẻ trải đời.

"Ở cái đất Hà Nội này, chẳng ai rảnh rỗi mà đi ép cậu bỏ học. Muốn bỏ học thì cứ việc bắt xe đò về quê mà cuốc đất cho đỡ chật đất thủ đô. Nhưng tôi nói trước cho mà biết, cái quán Mùa Gió này không có chỗ cho những đứa làm việc theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa. Tôi đang thiếu chân chạy bàn vì thằng cu làm tuần trước đùng một cái bùng ca về quê cưới vợ. Cậu muốn làm thì xắn tay áo vào việc luôn từ tối nay, thử việc trong ba ngày."

Anh Tuấn quay lưng lại, chỉ ngón tay trỏ thô ráp vào tấm biển mica nhỏ dán bên cạnh giá úp ly tách:

"Quy tắc ở đây gói gọn trong ba điều, liệu mà ghi tạc vào đầu. Một: tuyệt đối đúng giờ. Năm giờ hai mươi lăm phút phải có mặt ở quán, chậm một phút là trừ mười nghìn vào tiền công, không có lý do tắc đường hay hỏng xe. Hai: sạch sẽ. Ly tách sau khi rửa phải tráng lại bằng nước nóng, bàn ghế lau đủ ba lần bằng khăn ẩm, không được để vương một hạt bụi hay vệt nước ngọt dính dưới đáy cốc. Ba: cấm chỉ chuyện bỏ ca ngang xương. Dù cậu có ốm liệt giường hay có bài thi đột xuất cũng phải nhắn cho tôi trước nửa ngày để tôi còn liệu đường tìm người trám vào. Tiền công tính mười hai nghìn một giờ, thanh toán sòng phẳng theo tuần vào tối Chủ nhật. Không nhiều nhặn gì đâu, nhưng nếu biết tằn tiện thì cũng đủ tiền cơm bụi với mua vài ba cuốn tập vở. Có gánh nổi không?"

"Dạ được. Em làm được, anh cứ để em làm ạ." Tôi gật đầu lia lịa, trong lòng dấy lên một niềm vui mừng khôn tả lấn át cả nỗi sợ hãi. Mười hai nghìn một giờ, cộng với dòng chữ nhỏ bao một bữa cơm tối mà mẩu thông báo ban nãy đã hứa hẹn, đối với một kẻ đang cận kề miệng hố đói khát như tôi lúc này chẳng khác nào một chiếc cọc gỗ chắc chắn giữa dòng nước xiết.

"Được thì đi vòng ra góc cầu thang cất cặp sách, lấy cái tạp dề màu nâu móc sau cánh cửa khoác vào người." Anh Tuấn hất cằm về phía góc tối dưới chân cầu thang sắt. "Xong thì ra đây tôi chỉ cho thực đơn. Quán này bán chủ yếu cho sinh viên với mấy ông già quanh phường chơi cờ thế, đồ uống không cầu kỳ hoa mỹ như mạn phố cổ, nhưng cũng phải thuộc làu làu mặt chữ để còn biết đường báo vào quầy."

Tôi lách người bước vào gian xép hẹp dưới gầm cầu thang, nơi chất ngổn ngang những két vỏ chai nước ngọt bằng thủy tinh phủ đầy bụi bặm, mấy bao tải gai đựng hạt cà phê thô và những thùng xốp giữ nhiệt bốc mùi đá lạnh ẩm xì. Tôi cẩn thận tháo chiếc cặp vải bạt đã sờn rách mép, đặt nó lên nóc một két bia Hà Nội, rồi với tay gỡ chiếc tạp dề vải thô màu nâu treo trên chiếc đinh rỉ. Chiếc tạp dề quá rộng so với khổ người gầy gò của tôi, sợi dây vải buộc ngang hông phải quấn vòng ra sau lưng rồi thắt thêm một nút nữa trước bụng mới chịu ôm sát lấy người. Khi kéo thẳng nếp vải thô ráp trước ngực, tôi ngửi thấy một mùi cà phê phin nồng nặc quyện với mùi bột giặt bám chặt vào từng thớ chỉ — một thứ mùi đắng đót, ngai ngái nhưng sạch sẽ, hoàn toàn khác hẳn với mùi cám lợn ôi thiu và mùi khói củi ngo ẩm ướt từng ám chặt lấy da thịt tôi suốt những năm tháng chui rúc ở gian chái phụ nhà chú Lương.

Trở lại quầy pha chế, tôi đứng nép sát vào mép bàn gỗ, căng hết các giác quan để lắng nghe từng lời dặn dò của anh Tuấn. Trên chiếc giá gỗ ba tầng đóng áp sát bức tường vôi lở là cơ man nào là các loại ly tách: cốc lùn bằng thủy tinh dày cộp chuyên dùng cho cà phê đen nóng, ly thủy tinh cao có khía dọc thân dùng cho món nâu đá, tách sứ trắng quai cong dùng cho ca cao hoặc sắn dây quấy chín, và một chồng cốc nhựa màu xanh lơ dùng để rót trà đá khuyến mãi cho khách.

"Nhìn cho kỹ cái sơ đồ này," anh Tuấn gõ mạnh ngón tay lên mặt bàn gỗ đã mòn vẹt lớp véc-ni. "Bàn chẵn nằm bên tay trái, bàn lẻ nằm bên tay phải. Trên gác lửng đánh số từ mười một đến mười lăm. Khách gọi 'nâu' tức là cà phê sữa, 'đen' là cà phê nguyên chất không đường hoặc ít đường. Người ta bảo 'nâu ít sữa nhiều đá' thì đánh dấu trừ cạnh chữ S, thêm dấu cộng cạnh chữ Đ vào cuốn sổ này. Nhớ cho kỹ, tuyệt đối không được bưng nhầm cốc của ông bàn ba sang ông bàn năm. Mấy lão già chơi cờ đang lúc thua nước bí mà bị đưa nhầm đồ uống là họ chửi vuốt mặt không kịp đâu."

Tôi run run đón lấy cuốn sổ tay nhỏ bằng nửa bàn tay cùng chiếc bút bi nắp nhựa đã mòn vẹt đầu bấm. Đôi bàn tay tôi — đôi bàn tay vốn chỉ quen cầm cán rựa phát rẫy, dùng kìm vặn những con ốc hoen rỉ trên bo mạch máy tính cũ hay gõ mổ cò từng phím nhựa lỏng lẻo ở phòng máy trường huyện — bỗng trở nên lóng ngóng, ngượng nghịu khi phải tiếp xúc với chiếc khay nhôm tròn láng bóng. Mặt khay nhẵn thín, trơn tuột như bôi mỡ. Khi anh Tuấn đặt thử ba chiếc cốc chứa đầy nước lã lên khay để tôi bưng thử, các thớ cơ ở cẳng tay tôi lập tức gồng cứng lại, run rẩy theo từng nhịp thở vì sợ làm rơi vỡ.

"Thả lỏng cái bả vai ra xem nào!" Anh Tuấn liếc xéo tôi một cái, giọng gắt gỏng. "Bưng khay bằng cả lòng bàn tay và xòe rộng năm đầu ngón tay ra làm trụ đỡ phía dưới, đừng có ôm cứng lấy nó như ôm bó củi khô thế kia. Mày gồng người như khúc gỗ thế thì đi chưa qua nổi cái bậc cửa đã hắt sạch nước vào mặt người ta rồi."

Ca làm việc đầu tiên trong đời tôi chính thức bắt đầu vào lúc sáu giờ tối, khi dòng người ngoài con ngõ nhỏ bắt đầu đông nghẹt và khách khứa nườm nượp đổ vào quán để trốn tránh cái oi nồng sau cơn mưa.

Chiếc chuông đồng trên cửa kêu leng keng liên hồi không ngớt. Tiếng hai chiếc quạt trần cũ kỹ quay vù vù trên trần nhà chẳng thể nào xua nổi bầu không khí hầm hập, bức bối. Mùi khói thuốc lá bắt đầu bảng lảng dâng lên khắp các ngóc ngách, cuộn lấy những chùm đèn sợi đốt mờ ảo thành những quầng sáng nhờ nhờ. Tiếng gọi đồ, tiếng giục giã vang lên dồn dập, đan cài vào nhau từ khắp các góc quán:

"Cho bàn bốn một nâu đá nhiều sữa em ơi!"

"Bàn bảy thêm cốc trà nóng với bao Thăng Long dẹt xem nào!"

"Này cậu phục vụ mới kia, mang cho cốc nước lọc đá ra góc này, gọi từ đời tám hoánh nào rồi!"

Tôi quay cuồng giữa những tiếng gọi í ới. Đôi tai tôi vốn chỉ quen thuộc với tiếng gió xào xạc qua rặng nứa đầu bản Nà Ban hay tiếng chuông đồng hồ báo hết tiết ở trường cấp ba, nay bỗng như bị ném thẳng vào một cỗ máy nghiền âm thanh khổng lồ đang hoạt động hết công suất. Tôi cầm cuốn sổ tay nát bấy, lách mình qua những khoảng trống chật hẹp giữa các dãy bàn ghế gỗ, chốc chốc lại vấp phải chân ghế của khách, ngượng ngùng cúi đầu lí nhí xin lỗi rồi cuống cuồng ghi lại từng ký hiệu viết tắt mà anh Tuấn vừa truyền dạy. Nhưng khốn nỗi, mỗi lần bước chân lộn trở lại quầy pha chế, nhìn thấy hàng chục chiếc phin nhôm đang rỉ từng giọt cà phê đen đặc xuống đáy những chiếc cốc sứ trắng phau xếp thành hàng dài, đầu óc tôi bỗng chốc trở nên trống rỗng, trắng xóa như một tờ giấy lộn.

Tôi không tài nào phân biệt nổi cốc nâu đá có cắm chiếc ống hút màu đỏ là của người đàn ông trung niên mặc áo bay ở bàn hai, hay là của hai cậu sinh viên đeo tai nghe đang cắm mặt vào màn hình máy tính xách tay ở bàn số sáu.

"Bàn nào đây?" Anh Tuấn dằn mạnh hai chiếc cốc thủy tinh sóng sánh cà phê sữa đầy ắp đá bào lên mặt khay nhôm của tôi, gằn giọng hỏi, ánh mắt hằn lên vẻ sốt ruột.

"Dạ... hình như là của bàn sáu... à không, hình như bàn tám ạ," tôi ấp úng, mồ hôi hột bắt đầu vã ra ướt đẫm hai bên thái dương và chảy ròng ròng xuống cằm.

"Làm ăn kiểu gì thế hả? Đã bảo là ở đây không có cái chữ 'hình như'! Đi ra ngoài đấy mà nhìn lại mặt khách rồi hỏi cho rõ ràng!"

Tôi cắn chặt môi dưới, hai tay bưng chiếc khay nhôm bước nhanh ra khỏi quầy. Trọng lượng của hai chiếc cốc thủy tinh dày cộp đầy ắp đá vụn đè nặng lên các đầu ngón tay chưa quen việc của tôi, khiến chúng mỏi nhừ và bắt đầu run rẩy. Khi bước qua một khe hẹp giữa hai chiếc bàn, chiếc khay hơi nghiêng đi một chút. Một dòng nước cà phê nâu sẫm lập tức sánh ra ngoài mép cốc, rỉ xuống mặt phẳng nhôm bóng loáng, khiến chiếc cốc thủy tinh trượt nhẹ một đoạn dài sang mép khay. Tim tôi đập thót lên một nhịp kinh hoàng, tôi phải vội vã dùng đầu ngón tay cái ghì chặt lấy chân cốc, nghiến răng giữ thăng bằng, suýt chút nữa thì làm đổ ụp cả hai ly nước xuống nền nhà.

Sự cố tai hại đầu tiên xảy ra vào khoảng hơn tám giờ tối, đúng vào thời điểm quán đông khách nhất trong ca.

Ở chiếc bàn số năm kê sát góc tường gạch lở, có ba người đàn ông trung niên đang ngồi vây quanh một bàn cờ tướng bằng gỗ ép. Một người mặc áo sơ mi kẻ sọc cộc tay, khuôn mặt đỏ gay gắt vì hơi men hay vì vừa để mất một nước cờ hiểm, đột ngột cầm chiếc quân xe bằng gỗ gõ mạnh một tiếng *chát* xuống mặt bàn:

"Này cái thằng ranh con kia! Cốc đen nóng của tao đâu hả? Chúng mày ngâm hạt cà phê trong thùng rác hay sao mà bố mày ngồi đợi rách mép nửa tiếng đồng hồ chưa thấy vác mặt ra?"

Tiếng quát tháo chát chúa, đầy vẻ hằn học vang lên giữa không gian kín khiến cả một góc quán bỗng chốc im bặt. Mấy cậu sinh viên đang cắm cúi gõ phím ở bàn bên cạnh giật mình ngước mắt lên nhìn, ánh mắt dồn cả về phía tôi, vừa tò mò vừa ái ngại.

Tôi đứng chết trân tại chỗ, giật thót mình lật vội cuốn sổ tay con con đã ướt đẫm mồ hôi tay. Trên trang giấy chi chít những vệt mực lem nhem, gạch xóa méo mó, mắt tôi hoa lên khi nhìn thấy dòng chữ "B5 - ĐN" bị bỏ sót nằm chơ vơ ở góc dưới cùng. Lúc nãy, vì mải cuống cuồng bưng ấm trà đào nóng lên gác lửng cho một nhóm nữ sinh trường Kinh tế, tôi đã hoàn toàn quên bẵng mất dòng ghi chú ấy. Tôi đã để chiếc phin cà phê của người đàn ông này nằm chỏng trơ trên bệ đá của quầy pha chế suốt hai mươi phút đồng hồ mà không hề đụng tới. Giờ đây, giọt cà phê cuối cùng chắc chắn đã nguội ngắt từ lâu.

"Em... em xin lỗi anh ạ, em sơ ý quá, em mang ra ngay đây ạ," tôi luống cuống quay ngoắt người định chạy thục mạng về phía quầy pha chế.

"Thôi khỏi cần!" Người đàn ông mặc áo kẻ sọc đứng bật dậy, dùng mu bàn chân đá mạnh chiếc ghế nhựa ra phía sau, tạo nên một tiếng *rít* chói tai trên nền gạch hoa trơn tuột. "Quán xá làm ăn kiểu mẹ gì thế này không biết! Tuyển ở đâu ra cái thằng nhà quê ngơ ngơ ngác ngác ra đây bưng bê phục vụ hả? Tao gọi có mỗi cốc đen nóng cỏn con mà ngồi đợi từ lúc tàn nửa bao thuốc lá! Tuấn đâu? Mày ra đây tao bảo!"

Cả người tôi như bị một luồng điện giật chạy dọc sống lưng, đông cứng lại ngay giữa lối đi hẹp. Máu nóng dồn hết lên mặt, hai tai tôi ù đặc đi như thể có hàng ngàn con ve sầu đang đồng thanh gào thét giữa trưa hè bỏng rát trên đỉnh Pha Luông. Từng từ ngữ cay nghiệt — "cái thằng nhà quê ngơ ngơ ngác ngác" — như một cái tát giáng thẳng vào lòng tự trọng non nớt mà tôi đã cố gắng gom góp, bấu víu để bước chân vào giảng đường đại học. Tôi đứng trân trân ra đó, hai tay ôm ghì lấy chiếc khay nhôm trống không trước ngực như một tấm khiên che chở vô vọng, cảm thấy từng ánh mắt dò xét, ái ngại xung quanh đang găm chặt vào đôi giày vải rách mõm và bộ quần áo bạc phếch của mình. Sự nhục nhã ê chề ấy thậm chí còn bỏng rát và buốt nhức hơn cả những lằn roi dẻ gai mà chú Lương từng quất thẳng vào lưng tôi trong những đêm mưa gió năm nào ở bản cũ.

Anh Tuấn từ phía sau quầy pha chế lập tức bước nhanh ra. Gương mặt anh ta không hề lộ ra một nét bối rối nào, nụ cười xã giao xởi lởi lập tức nở trên khóe môi một cách vô cùng thuần thục:

"Ấy chết, anh Long bớt giận, hạ hỏa giùm em chút. Thằng em họ cháu ở trên quê mới ra phụ việc quán, tay chân còn ngượng nghịu chưa quen nếp, có gì sơ suất mong các anh giơ cao đánh khẽ bỏ qua cho cháu nó một lần. Để em tự tay pha lại cho anh một cốc đen mới tinh nhé, mẻ hạt mộc này nhà em vừa rang chiều nay thơm nức mũi, tiện thể em gửi anh thêm bao Thăng Long hút tạm cho đỡ nhạt mồm nhé."

Anh Tuấn vừa đon đả nói vừa kín đáo đưa tay ra hiệu cho tôi lùi sâu vào phía trong góc quầy. Bàn tay rắn rỏi của anh vỗ nhè nhẹ lên bờ vai người đàn ông nọ với một cử chỉ xoa dịu đầy kinh nghiệm. Bằng một vài câu nói đưa đẩy khéo léo và một bao thuốc lá mới tinh được đẩy nhẹ sang mép bàn cờ, cơn lôi đình của vị khách dần dần lắng xuống. Tiếng lách cách gõ quân cờ lại tiếp tục vang lên đều đặn, che lấp đi bầu không khí căng thẳng vừa mới chực bùng nổ.

Tôi lầm lũi đứng nép mình sau vách ngăn bằng gỗ dán của quầy pha chế, hai bàn tay run bần bật bấu chặt vào mép bàn inox lạnh ngắt. Sống mũi tôi cay xè, nước mắt chực trào ra rát bỏng khóe mi, nhưng tôi nghiến chặt răng, cắn chặt vào môi trong đến mức bật máu tươi để nuốt ngược từng giọt tủi hờn vào trong cuống họng.

Anh Tuấn quay trở lại quầy. Anh không hề lớn tiếng mắng mỏ gắt gỏng như cách chú Lương vẫn thường trút giận lên đầu tôi mỗi độ mất mùa, cũng không buông những lời chì chiết cay độc như mợ Sương mỗi lần tôi lỡ tay làm đổ thúng ngô hay để trâu ăn lúa ngoài bãi. Anh chỉ lẳng lặng giật chiếc khăn khô trên giá, ném thẳng vào trước ngực tôi. Giọng nói của anh trầm đều, lạnh băng như một lưỡi dao cạo:

"Cầm lấy khăn ra lau sạch chỗ nước đổ trên mặt bàn số năm đi. Xong việc thì quay vào đây tráng lại toàn bộ đống ly tách đang ngập trong bồn kia."

Tôi cúi gầm mặt xuống, hai mắt nhìn trân trân vào mũi đôi giày rách, lí nhí trong cổ họng:

"Em xin lỗi anh... Tại em lơ đễnh nên quên mất..."

"Ở cái quán này, và ở cả cái thành phố này nữa, không có chỗ cho hai chữ 'quên mất'," anh Tuấn vừa thoăn thoắt đong từng muỗng bột cà phê đen nhánh vào lòng chiếc phin nhôm vừa nói, ánh mắt dán chặt vào dòng nước sôi đang chảy ra từ vòi bình đun, tuyệt nhiên không thèm liếc nhìn tôi lấy một cái. "Mày từ trên rừng trên rú xuống đây, mày quen cái thói làm nương làm rẫy tự do, chắc mày đang nghĩ bụng cuốc đất trồng sắn nó cực nhọc hơn cái việc bưng bê mấy cái cốc nước nhẹ hều này chứ gì? Mày nhầm to rồi con ạ. Làm nương làm rẫy thì nó mệt cái xác, nó mỏi cái lưng, nhưng mày có cuốc chậm năm mười phút thì cây ngô nó cũng không biết mở mồm ra chửi rủa mày. Cây sắn nó không biết nhảy dựng lên đòi đuổi cổ mày đi. Còn ở cái chốn thị thành chen chúc này, người ta bỏ tiền túi ra là để mua thời gian, mua sự phục vụ chu đáo. Mày chậm trễ của người ta một phút là mày đang ăn cắp thời gian của người ta, và người ta có toàn quyền nhét sự bực tức, cay cú vào thẳng mặt mày. Đã thông cái đầu ra chưa?"

Từng lời, từng chữ của anh Tuấn như những mũi đinh sắc nhọn găm thẳng vào tâm trí tôi, đau điếng nhưng tỉnh táo đến rợn người. Tôi siết chặt chiếc khăn ẩm trong lòng bàn tay, chầm chậm bước từng bước ra phía góc quán, cúi người lau sạch từng vệt nước trà ố vàng loang lổ trên mặt chiếc bàn gỗ số năm.

Đúng là như vậy. Lao động ở chốn thị thành này vận hành theo một thứ luật lệ nghiệt ngã và tàn nhẫn hoàn toàn khác với nương rẫy quê nhà. Trên những triền dốc đá cheo leo của dãy Pha Luông, sức mạnh của con người nằm ở cơ bắp, ở sự bền bỉ chịu đựng cái đói, cái rét thấu xương và sự cô độc giữa rừng già. Nhưng ở nơi đô hội này, giữa muôn vàn những con người xa lạ đang cuống cuồng chạy đua với miếng cơm manh áo, sự tồn tại đòi hỏi một thứ phản xạ sắc bén như dao cạo, sự chính xác đến từng phần mười giây, và trên hết, là khả năng nuốt trôi mọi sự tự ái, dẫm đạp lên lòng kiêu hãnh của bản thân để làm vừa lòng người khác. Một sai lầm nhỏ nhặt ở đây không đơn thuần chỉ làm hỏng một cốc nước uống dở, nó có thể ngay lập tức tước đoạt đi bữa cơm ngày mai của chính bản thân tôi.

Suốt bốn tiếng đồng hồ đằng đẵng sau đó, tôi không dám để tâm trí mình lơ là dù chỉ trong một cái chớp mắt. Mỗi khi hai mí mắt bắt đầu nặng trĩu vì mệt mỏi, tôi lại bấm thật mạnh đầu móng tay cái vào lòng bàn tay trỏ cho đến khi cảm thấy cơn đau nhói buốt truyền lên não để tự ép mình phải tỉnh táo.

Tôi bắt đầu học cách quan sát và ghi nhớ mọi thứ một cách máy móc nhưng chuẩn xác: tôi học cách sắp xếp các cốc nước trên chiếc khay nhôm theo thứ tự bàn xa xếp trước, bàn gần xếp sau; học cách ghi nhớ từng khuôn mặt, từng bộ quần áo của khách thay vì chỉ chăm chăm nhìn vào những con số viết nguệch ngoạc trên mặt bàn; và học cả cách cúi đầu thật thấp, thốt ra những lời xin lỗi một cách trơn tru, lễ phép mỗi khi phải lách người qua một lối đi chật hẹp đầy khói thuốc. Hai bắp chân tôi căng cứng, đau nhức như có hàng ngàn mũi kim châm, các khớp ngón tay mỏi nhừ và tê dại vì phải gồng mình nâng đỡ chiếc khay nhôm nặng trịch suốt nhiều giờ liền, nhưng tuyệt nhiên tôi không dám buông mình ngồi nghỉ dù chỉ là nửa phút.

Ca làm việc đầu tiên ấy kéo dài lê thê qua mười một giờ đêm. Khi vị khách cuối cùng lục tục đứng dậy, bước ra khỏi ngưỡng cửa để trả lại không gian cho màn đêm tàn tạ của phố xá, chiếc kim phút trên mặt đồng hồ treo tường đã chậm chạp nhích qua vạch mười một giờ hai mươi lăm phút.

Anh Tuấn không nói một lời, tiến lại gần cửa chính, dằn mạnh hai cánh cửa kính cường lực dày cộp vào nhau rồi kéo then cài bên trong. Khóa sắt cọt kẹt sập xuống, cách ly hoàn toàn mớ âm thanh hỗn tạp hiếm hoi ngoài ngõ với khoảng không gian tù đọng bên trong. Cả quán cà phê rộng thênh bỗng chốc chìm vào một thứ im lặng ngột ngạt đến phát sợ, thứ im lặng chỉ còn bị khuấy động bởi tiếng rung vo ve trầm đục từ lốc máy của chiếc tủ lạnh cũ kỹ kê góc quầy pha chế và tiếng nước róc rách chảy không ngừng từ chiếc vòi nước ở góc bồn rửa bát.

Tôi đứng chôn chân giữa gian nhà, ngực phập phồng sau mấy tiếng đồng hồ quay cuồng như chong chóng. Không có thời gian để buông một tiếng thở phào. Tôi với lấy chiếc chổi đót dựng ở chân cầu thang, bắt đầu cặm cụi quét dọn từ góc gác lửng xuống tận mép sàn tầng trệt. Từng bậc thang gỗ ọp ẹp vang lên kẽo kẹt dưới đế giày bata mòn vẹt. Tôi gom từng mẩu tàn thuốc lá cháy dở ám vàng, những mảnh giấy ăn vò nát thấm đẫm vệt nước cà phê sẫm màu, cùng hằng hà sa số những mảnh vỏ hạt hướng dương bị giẫm nát vụn vương vãi khắp nơi dưới gầm bàn ghế. Bụi bặm quyện với mùi khói thuốc còn sót lại lởn vởn trong không khí bốc lên mũi ngai ngái, khô khốc.

Quét dọn xong xuôi bề mặt, cơn ác mộng thực sự mới bắt đầu hiện hình bên bồn rửa bát phía sau quầy. Hàng chồng ly tách ngổn ngang chất cao như những ngọn tháp chực sụp đổ, ngập ngụa trong bồn rửa bằng inox hoen rỉ. Mùi cà phê chua loét bốc lên từ những chiếc phin chưa kịp gõ bã, hòa lẫn với thứ cặn sữa đặc bắt đầu lên men và lớp váng trà xanh nhờn nhợt, tạo thành một thứ xú khí nồng nặc đến lợm giọng.

Tôi xắn cao hai ống tay áo sơ mi đã sờn rách, nhúng hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì sương gió miền biên viễn vào chậu nước rửa chén đầy bọt xà phòng buốt lạnh. Nước máy mùa đông lạnh như châm kim, ngấm thẳng vào những vết xước răm ở kẽ móng và đầu ngón tay làm da thịt xót buốt đến thấu tận tủy sống. Nhưng tôi không dám dừng tay lại dù chỉ là nửa nhịp. Tôi cặm cụi dùng miếng xơ mướp kỳ cọ từng chiếc ly thủy tinh cao thành, cọ sạch lớp váng cà phê bám chặt ở đáy phin, rồi tỉ mẩn tráng qua hai lần nước lạnh cho đến khi miết ngón tay lên thân cốc nghe thấy tiếng kin kít sạch bong. Từng chiếc ly, từng chiếc đĩa sứ nhỏ được xếp ngay ngắn, thẳng tắp lên giàn giá inox phía trên.

Mười hai nghìn một giờ. Sáu mươi sáu nghìn cho một buổi tối đày đọa thân xác.

Tôi lẩm nhẩm dãy số ấy trong miệng, lặp đi lặp lại như một thứ kinh chú cứu rỗi, một điểm tựa duy nhất để xua tan đi cơn buồn ngủ rũ rượi đang kéo chùng hai bờ mi và sự rã rời đang gặm nhấm từng khớp xương. Sáu mươi sáu nghìn đồng, con số ấy đồng nghĩa với sáu bữa cơm bụi ở cổng ký túc xá, hoặc một nửa tiền giáo trình photo cho kỳ học mới. Nó quá đỗi lớn lao so với nỗi nhọc nhằn cơ bắp mà tôi đang phải oằn mình gánh chịu.

Gần nửa đêm, tiếng bước chân nặng nề từ trên cầu thang gác lửng gõ nhịp đi xuống. Anh Tuấn xách theo chiếc túi da màu nâu sẫm, khuôn mặt vẫn giữ vẻ lạnh băng thường trực. Anh đứng ở mép quầy, đưa mắt quét một lượt từ sàn nhà gạch hoa đã được lau sạch bóng loáng không còn một vệt nước, cho đến những hàng ly tách sáng loáng úp đều tăm tắp trên kệ. Khẽ gật đầu một cái gần như không thể nhận ra, anh cất giọng khàn đặc:

"Tạm được. Chân tay còn vụng về, chậm chạp nhưng được cái chịu khó, biết việc. Mai năm giờ hai mươi lăm phút chiều có mặt tiếp. Cầm lấy chiếc chìa khóa cổng này, tối mai đến sớm thì mở cửa dọn dẹp trước."

Nói rồi, anh rút từ túi quần ra một chiếc chìa khóa nhỏ bằng đồng đã mòn vẹt răng cưa ném nhẹ lên mặt bàn gỗ. Tôi vội vã lau hai bàn tay còn ướt sũng vào mép tạp dề, cẩn thận đón lấy chiếc chìa khóa. Kim loại lành lạnh, nhưng khi nằm gọn trong lòng bàn tay chai sần của tôi, nó lại nặng trịch như một bản giao kèo sinh tồn mà tôi vừa đánh đổi bằng toàn bộ sức lực của một buổi tối.

"Dạ, em cảm ơn anh Tuấn. Mai em sẽ đến đúng giờ ạ."

Anh Tuấn không buồn đáp lại, chỉ xua xua tay ra hiệu cho tôi nhanh chóng rời đi rồi quay vào trong kiểm tra lại két tiền. Tôi lập tức cởi chiếc tạp dề đồng phục màu nâu treo lên mắc sắt, với lấy chiếc cặp vải bố cũ mèm nằm lăn lóc ở góc tường rồi lao nhanh ra khỏi cửa ngách.

Vừa bước chân ra đến mặt ngõ, một luồng gió đêm lạnh ngắt thổi thốc thẳng vào mặt khiến tôi rùng mình ớn lạnh. Phố xá Hà Nội về đêm chìm trong thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù của những cột đèn cao áp thưa thớt. Tôi cắm đầu chạy thục mạng. Đôi chân rã rời sau nhiều giờ đứng chôn chân bỗng bị ép phải vận hết công suất, giẫm đạp lên những vũng nước mưa tù đọng trên vỉa hè nứt toác, vượt qua những đống rác sinh hoạt bốc mùi nồng nặc chưa kịp dọn.

Mười hai giờ kém mười lăm phút. Chiếc đồng hồ trong tiềm thức tôi điểm từng giây hối hả. Tôi chỉ còn vỏn vẹn mười lăm phút ngắn ngủi trước khi bác bảo vệ ký túc xá B7 kéo xích sắt khóa cổng. Quy định ở đây nghiệt ngã đến tàn nhẫn: sau mười hai giờ đêm, cánh cổng sắt sẽ cài chặt then chốt, và không một lời van xin nào có thể lay chuyển được người gác cổng già khó tính. Nếu bị nhốt ở bên ngoài, tôi sẽ chẳng còn nơi nào để dung thân ngoài việc co ro ngủ trên bậc thềm hành lang ẩm ướt hoặc tá túc ở mép vỉa hè đường Tạ Quang Bửu đầy rẫy tệ nạn, trộm cắp. Điều đó đồng nghĩa với việc tôi có thể bị tước đoạt sạch sẽ mớ sách vở ít ỏi, hoặc tệ hơn là bị ghi tên vào cuốn sổ kỷ luật đen sì của ban quản lý ký túc xá — một án phạt có thể hủy hoại toàn bộ tư cách xét học bổng nghèo của tôi.

Phổi tôi rát buốt như có ai cào xé khi tôi quẹo gấp qua góc ngã tư cuối cùng, nhìn thấy bóng dáng tòa nhà năm tầng xám xịt của khu B7 sừng sững hiện ra trong đêm. Tôi thở không ra hơi, lồng ngực thắt lại nghẹn ngào, vừa kịp lách cả thân hình gầy guộc qua khe hẹp của cánh cổng sắt đang từ từ khép lại. Ngay sau lưng tôi, tiếng dây xích sắt to bản va vào khung kim loại loảng xoảng, lạnh lùng, kèm theo tiếng ổ khóa cơ khí sập mạnh khô khốc.

Thoát nạn, tôi dựa lưng vào bức tường rêu mốc của chân cầu thang, thở dốc từng cơn đứt quãng. Khi nhịp tim dần chậm lại, tôi lê từng bước chân nặng như đeo đá trèo lên tầng ba.

Cả dãy hành lang dài dằng dặc tối om như mực, chỉ có ánh trăng mờ nhạt hắt qua những ô chớp thông gió rọi xuống nền xi măng loang lổ. Căn phòng 314 đã hoàn toàn chìm vào bóng tối đặc quánh. Đèn điện toàn khu nhà đã bị ngắt tự động từ lúc mười một giờ mười lăm phút theo quy định tiết kiệm năng lượng ngặt nghèo của trường. Trong không gian chật hẹp chưa đầy hai mươi mét vuông, tám con người chen chúc nhau sinh hoạt; lúc này, tiếng thở nặng nề cùng tiếng ngáy ngủ trầm bổng của bảy cậu sinh viên hòa lẫn vào nhau, tạo nên một bầu không khí ngột ngạt, bức bối đến nghẹt thở.

Tôi rón rén cởi đôi giày bata sũng nước, sợ hãi từng tiếng lạo xạo nhỏ nhất có thể đánh thức những người khác. Mò mẫm trong bóng đêm quen thuộc, tôi dùng tay bám chặt vào thanh giằng sắt rỉ sét, cẩn trọng trèo từng bậc lên chiếc giường tầng hai của mình. Tấm dát giường bằng gỗ tạp khẽ rên lên một tiếng ken két khe khẽ dưới sức nặng của thân thể tôi.

Cả người tôi lúc này nhớp nháp mồ hôi chua loét quyện chặt với mùi cà phê rang khét bám dai dẳng vào từng sợi vải áo thô. Tệ hại hơn cả, dạ dày tôi bắt đầu cào réo dữ dội, co bóp từng cơn rỗng tuếch. Tối nay, vì quá bỡ ngỡ, luống cuống trong ca làm đầu tiên và sau cú xốc nảy lửa từ vụ va chạm với gã khách thô bạo ở bàn số năm, tôi đã hoàn toàn quên khuấy mất bữa cơm tối bao ăn mà dòng thông báo tuyển dụng dán trên bảng tin từng hứa hẹn. Đến khi tan ca, nhìn vẻ mặt lạnh lùng, nghiêm nghị của anh Tuấn, tôi lại không đủ dũng khí để mở lời xin một bát cơm nguội hay mẩu bánh mì thừa.

Nằm co quắp trên chiếc giường sắt chật hẹp, tôi với tay ra góc đầu giường, quờ quạng tìm thấy chai nước khoáng bằng nhựa đã tái sử dụng nhiều lần. Tôi mở nắp, ngửa cổ tu một hơi dài ừng ực cho đến khi nước lạnh tràn xuống lồng ngực, đánh lừa cái bụng đang sôi lên ùng ục bằng thứ chất lỏng không vị. Khi lưng tôi áp hẳn xuống tấm chiếu cói ráp rụa, hai bắp chân bắt đầu giật giật liên hồi; những cơn chuột rút đột ngột rút căng từng thớ cơ khiến tôi phải cắn chặt môi để không bật ra tiếng rên rỉ.

Tôi nhắm nghiền hai mắt lại, nhưng bóng tối không mang lại sự bình yên. Hiện ra trước mắt tôi lúc này là một chuỗi hình ảnh chập chờn, hỗn loạn: chiếc khay nhôm trơn trượt nghiêng ngả trên đầu ngón tay, những giọt cà phê đen đặc nhỏ giọt chậm chạp qua phin nhôm, và khuôn mặt đỏ gay cùng ánh mắt trừng trừng, gắt gỏng của người đàn ông ở bàn số năm. Sự mệt mỏi cùng cực rốt cuộc cũng đè bẹp những suy nghĩ ngổn ngang, kéo tuột tôi chìm sâu vào một giấc ngủ chập chờn, đầy mộng mị và lo âu.

***

Tôi choàng tỉnh giấc khi những tia nắng sớm gay gắt rọi thẳng qua khung cửa sổ vỡ kính của phòng 314, chiếu rọi những vệt sáng bụi bặm lên khuôn mặt tôi.

Tiếng còi xe inh ỏi cùng tiếng động cơ gầm rú từ ngoài trục đường Tạ Quang Bửu đã râm ran dội vào phòng tự bao giờ. Đầu tôi đau buốt như có búa bổ. Tôi giật mình, đưa tay quờ quạng dưới gối tìm chiếc đồng hồ điện tử Casio cũ kỹ trầy xước màn hình. Dãy số điện tử hiện lên mờ nhạt: **6:42**.

Tim tôi như thắt lại, lồng ngực hẫng đi một nhịp kinh hoàng. Bảy giờ sáng nay là buổi học đầu tiên của môn Kiến trúc máy tính tại giảng đường lớn D5. Trong buổi sinh hoạt lớp đầu khóa, thầy giáo chủ nhiệm đã nghiêm khắc cảnh báo rằng đây là môn học tiên quyết sống còn của ngành công nghệ thông tin, một môn học do một vị giáo sư khét tiếng nghiêm khắc phụ trách. Giảng đường sẽ khóa sổ điểm danh chỉ sau mười lăm phút vào tiết, và bất cứ ai đi muộn quá số buổi quy định sẽ lập tức bị tước quyền thi giữa kỳ mà không có bất kỳ ngoại lệ nào.

Tôi bật dậy khỏi giường như thể vừa bị một luồng điện cao thế giật tung người. Cơn choáng váng ập đến ngay tức khắc vì thiếu ngủ trầm trọng và hạ đường huyết, khiến trời đất quanh tôi chao đảo một thoáng. Hai bắp chân vẫn còn căng cứng, đau buốt như có hàng ngàn chiếc kim nhọn cắm sâu vào thớ thịt sau chặng đường dài chạy thục mạng đêm qua.

Không còn lấy một giây để làm vệ sinh cá nhân tử tế, tôi chỉ kịp lao xuống sàn, vớ lấy chiếc ca nhựa múc một ngụm nước lạnh từ xô nước dùng chung dội thẳng lên mặt cho tan biến cơn mơ màng. Nước lạnh làm tôi run bắn, nhưng đầu óc phần nào giật mình tỉnh táo lại. Tôi giật phắt chiếc áo sơ mi cộc tay đang vắt hờ trên sợi dây thép căng ở đầu giường tròng vội vào người. Chiếc áo vải thô dệt dày cộp chưa kịp khô ráo sau trận mưa chiều qua, vẫn còn ẩm ướt, lạnh ngắt và bốc lên một thứ mùi ngai ngái khó chịu của sợi vải mốc meo lẫn với mùi cà phê rang khét từ ca làm đêm trước.

Tôi quơ vội cuốn sổ tay ghi chép và cây bút bi duy nhất nhét tọt vào chiếc cặp rách, rồi lao như bay xuống những bậc cầu thang bê tông.

Sân ký túc xá lúc này đã nêm chặt người. Hàng trăm sinh viên từ các tòa nhà đang hối hả túa ra các ngả đường để kịp giờ lên lớp. Mùi bánh mì kẹp thịt nướng thơm lừng, mùi xôi ngô béo ngậy xào hành phi hành mỡ ngào ngạt bốc lên từ những chiếc xe đẩy nghi ngút khói ven đường khiến tuyến nước bọt của tôi ứa ra cay đắng. Dạ dày tôi lại quặn lên trong một cơn co thắt dữ dội vì đói khát. Tôi bấm chặt đầu ngón tay cái vào lòng bàn tay để lấy cơn đau thể xác lấn át đi cảm giác đói lả đang chực quật ngã mình, rồi cắm đầu chạy thục mạng qua con đường nhựa dẫn thẳng sang khu giảng đường D.

Gió sớm hanh hao thổi ngược chiều tạt thẳng vào mặt làm lồng ngực tôi ran rát. Tôi vừa chạy vừa thở dốc từng hơi dài, mỗi nhịp thở dường như vẫn phả ra thứ mùi cà phê đắng ngắt còn ứ nghẹn nơi cuống họng từ tối hôm qua. Đôi giày vải rách toác ở mép cọ xát dữ dội vào gót chân trần khiến da thịt tưa máu buốt nhức, nhưng tôi không dám giảm tốc độ dù chỉ là nửa bước.

Khi bàn tay tôi đẩy mạnh cánh cửa gỗ nặng trịch của giảng đường D5 bước vào, một hồi chuông điện dài chói tai báo hiệu bắt đầu tiết học cũng vừa dứt.

Một luồng không khí lạnh từ những chiếc quạt trần công suất lớn phả thẳng vào mặt tôi. Hơn hai trăm sinh viên đã ngồi chật kín các dãy bàn bậc thang trải dài từ thấp lên cao như một khán đài thu nhỏ. Trên bục giảng uy nghiêm, vị giáo sư lớn tuổi với mái tóc bạc phơ mặc chiếc áo sơ mi trắng thẳng thớm đang cắm chiếc USB vào máy tính xách tay. Ánh sáng xanh lạnh lẽo từ chiếc máy chiếu công suất lớn rọi thẳng lên tấm màn chiếu khổng lồ, làm nổi bật những dòng chữ in hoa sắc lạnh: *“BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC VÀ TỔ CHỨC MÁY TÍNH - TẬP LỆNH VÀ THANH GHI”*.

Giáo sư ngước mắt lên, ánh nhìn sắc như dao lướt qua tôi qua gọng kính lão dày cộp:

"Cậu sinh viên kia, vào lớp thì nhanh cái chân lên. Buổi học mở đầu mà đã chạy thục mạng, áo xống xộc xệch thế kia à?"

"Em... em xin lỗi thầy ạ," tôi cúi gầm mặt xuống đất, lí nhí buông một câu tạ lỗi rồi lầm lũi nép người sang lối cầu thang nhỏ bên rìa lớp học, bấm bụng trèo ngược lên những dãy bàn phía trên cùng.

Không còn sót lại một chỗ trống nào ở các dãy bàn phía dưới. Tôi đành lủi thủi ngồi vào góc trong cùng của chiếc bàn gỗ dài ở hàng ghế sát vách tường cuối lớp, nơi lớp vôi quét tường màu vàng đã bong tróc từng mảng lớn để lộ ra lớp gạch chỉ ẩm mốc. Cậu bạn ngồi kế bên tôi — một thanh niên thành phố bảnh bao mặc chiếc áo phông trắng hàng hiệu phẳng phiu, trước mặt đặt một chiếc máy tính xách tay Dell vỏ nhôm sáng loáng — khẽ nhăn mũi lại ngay khi tôi vừa đặt người ngồi xuống. Cậu ta không nói gì, nhưng động tác lại vô cùng dứt khoát: kín đáo nhích người sang mép ghế bên kia, đồng thời kéo chiếc balo đắt tiền về sát phía lòng mình như để dựng lên một bức tường ngăn cách.

Tôi hiểu rõ lý do của sự kỳ thị thầm lặng ấy. Trên người tôi lúc này đang tỏa ra một thứ mùi hỗn tạp đặc trưng của sự nghèo hèn: mùi mồ hôi chua nồng đọng lại sau một đêm thức trắng, mùi ẩm mốc của chiếc áo sơ mi chưa kịp ráo nước mưa, và trên hết là thứ mùi cà phê vương vãi bám chặt đến từng chân tơ kẽ tóc.

Nuốt khan một ngụm nước bọt đắng chát, tôi lẳng lặng mở chiếc cặp sờn mép, lấy cuốn vở Bãi Bằng bìa xanh cùng chiếc bút bi Kim Thành đặt lên mặt bàn gỗ chi chít những dòng chữ khắc bậy của các thế hệ sinh viên đi trước.

Giọng nói trầm ổn, lạnh lùng của vị giáo sư bắt đầu vang vọng khắp giảng đường qua hệ thống loa phóng thanh gắn trên tường:

"Chúng ta bắt đầu bài học với mô hình von Neumann kinh điển. Cấu trúc nền tảng bao gồm ba khối chính yếu: Bộ xử lý trung tâm (CPU), Bộ nhớ chính, và Hệ thống vào/ra. Hãy đặc biệt chú ý đến chu kỳ xử lý lệnh cơ bản của hệ thống: tìm nạp lệnh (Fetch), giải mã lệnh (Decode), và thực thi (Execute)..."

Những slide bài giảng bằng tiếng Anh chuyên ngành nhảy liên tục trên màn chiếu lớn. Những sơ đồ khối phức tạp với các đường bus dữ liệu mười sáu bit, ba mươi hai bit đan xen chằng chịt vào nhau tựa như một ma trận không lối thoát. Xung quanh tôi, tiếng gõ bàn phím lách cách giòn giã vang lên không ngớt từ hàng chục chiếc máy tính xách tay đời mới. Những sinh viên thành thị với phong thái tự tin thoăn thoắt gõ lệnh, ghi chú lại từng thuật ngữ chuyên sâu một cách trơn tru, điêu luyện.

Tôi run rẩy bấm đầu bút bi, cố gắng ghì ngòi mực xuống trang giấy xơ xác để ghi chép lại những dòng chữ trên bảng. Nhưng đôi mắt tôi cay xè, rát bỏng như bị rắc cát; mi mắt nặng trĩu tựa hồ chỉ chực sụp xuống sau mỗi cái chớp mắt nặng nề. Bàn tay cầm bút của tôi cứng đờ, từng ngón tay hôm qua vừa phải gồng mình nâng đỡ chiếc khay nhôm nặng trịch và ngâm hàng giờ trong chậu nước xà phòng buốt lạnh nay cứ run rẩy từng hồi, hoàn toàn bất lực trong việc điều khiển những nét chữ cho ngay ngắn.

Mỗi khi vị giáo sư nhắc đến một khái niệm trừu tượng: *“Thanh ghi con trỏ lệnh IP... Thanh ghi tích lũy AX...”*, đầu óc tôi lại quay cuồng một cách dữ dội.

Tiếng giảng bài đều đều, từ tốn phát ra từ chiếc loa trên tường bỗng nhiên méo mó, biến dạng thành tiếng quát tháo chát chúa của người đàn ông ở bàn số năm tối qua: *“Cốc đen nóng của tao đâu?”*

Những chuỗi số nhị phân 0 và 1 hiển thị trên màn chiếu bỗng chốc nhòe đi trước mắt tôi, tan biến thành những ký hiệu viết vội, nguệch ngoạc trong cuốn sổ tay bồi bàn nhàu nát: *“B4 - NĐ ít sữa”, “B7 - Trà nóng thêm bao dẹt”*.

Mùi cà phê rang khét như vẫn đang quẩn quanh chóp mũi, nồng nặc và bức bối đến nghẹt thở. Dạ dày tôi lại co bóp dữ dội trong cơn đói cồn cào, đẩy một luồng khí chua loét ngược lên tận vòm họng. Tôi phải nghiến chặt hai hàm răng đến mức đau nhức, tỳ thật mạnh xương ức vào cạnh bàn gỗ sắc nhọn để mượn cơn đau đớn thể xác giữ cho bản thân không gục đầu xuống mặt bàn mà lịm đi giữa giảng đường.

Trước mặt tôi, bài giảng về kiến trúc của những cỗ máy thông minh bậc nhất thời đại vẫn tiếp diễn một cách xa hoa, tráng lệ và hoàn toàn xa lạ. Còn trong thực tại trần trụi của tôi, cái giá của sự sinh tồn vẫn đang gõ từng nhịp buốt nhức vào thái dương: sáu mươi sáu nghìn đồng cho một buổi tối, một bữa cơm chưa kịp ăn để lót dạ, và một ca làm việc mới toanh đang đợi tôi vào đúng năm giờ hai mươi lăm phút chiều nay.

***

Đến ca làm việc chiều hôm sau, trong lúc quán tạm vơi khách vào giờ nghỉ giải lao giữa ca, anh Tuấn đứng ở góc quầy bất chợt để ý thấy tôi chỉ lẳng lặng rót một cốc nước lọc cầm hơi và tuyệt nhiên né tránh khay cơm nhân viên đặt ở góc bàn soạn đồ.

Anh không hề hỏi dồn, cũng chẳng dùng ánh mắt dò xét để soi mói. Anh chỉ lẳng lặng lật cuốn sổ ghi chép của bếp ăn, gạch dứt khoát một nét bút mực đỏ vào cột suất ăn, tính dư thêm một phần cơm rồi với tay đẩy hộp cơm xốp còn bốc khói nghi ngút về phía mép bàn trước mặt tôi. Anh lạnh lùng bảo đó là tiêu chuẩn cứng, là quyền lợi mặc định của bất kỳ ai đứng trọn ca tối ở cái quán này.

Tôi nhìn hộp cơm trắng ngần đầy đặn cùng vài miếng thịt kho cháy cạnh, ngập ngừng toan cất lời từ chối. Sâu thẳm trong lòng, tôi sợ hãi cái cảm giác phải đón nhận sự thương hại quen thuộc — thứ lòng trắc ẩn trịch thượng từng làm tổn thương lòng kiêu hãnh non nớt của tôi không biết bao nhiêu lần kể từ ngày đặt chân xuống chốn thị thành.

Nhưng anh Tuấn dường như đã đọc thấu sự ngập ngừng ấy. Anh chẳng thèm ngước mắt lên, chỉ lạnh lùng gạt phắt đi bằng một giọng nói thô ráp:

"Ăn đi. Mày mà đói lả rồi ngất lăn quay ra sàn quán thì tao lấy đâu ra người dọn dẹp, bưng bê lúc đông khách? Tao bỏ tiền mua cơm là để mua sức lao động của mày, trả cho cái công mày làm việc cho tao, chứ tao không rỗi hơi đi làm từ thiện."

Cách nói thực dụng, tàn nhẫn và sòng phẳng đến trần trụi ấy lại vô tình cởi bỏ đi gánh nặng ngột ngạt trong lòng tôi. Nó cho phép tôi cầm đôi đũa tre lên, gắp từng miếng cơm nóng hổi đưa vào miệng mà không phải cảm thấy bản thân đang cúi đầu nuốt trôi nỗi nhục nhã của một kẻ đi xin xỏ lòng thương.

Đêm hôm đó trở về ký túc xá sau khi vượt qua cánh cổng sắt trước giờ giới nghiêm, tôi ngồi bó gối trên chiếc giường sắt kêu cọt kẹt, lẩm nhẩm tính lại số tiền công mình có thể kiếm được trong tháng. Sáu mươi sáu nghìn đồng cho mỗi buổi tối đày ải thân xác dĩ nhiên không thể giúp tôi đổi đời hay bớt đi cảnh nghèo túng bần hàn, nhưng chí ít, con số ấy cũng đủ để giữ cho tôi không phải muối mặt gọi điện về bản làng xa xôi xin từng đồng trợ cấp từ bác Lương, hay để Lan phải thắt lòng lo lắng cho tôi nơi đất khách quê người. Tôi siết chặt nắm tay, quyết định sẽ cắn răng bám trụ lấy công việc này bằng mọi giá.

Phong, cậu bạn cùng phòng nằm ở chiếc giường tầng đối diện, nhìn tờ lịch phân chia ca làm việc buổi tối kín mít cả tuần mà tôi vừa cẩn thận dùng băng dính dán lên đầu giường. Cậu ta lắc đầu ngán ngẩm, cất giọng cảnh báo đầy ái ngại:

"Cậu đang đem toàn bộ giờ tự học đổi lấy tiền ăn đấy à? Chương trình Bách khoa này không dễ thở đâu, lơ là một chút là rớt môn như chơi đấy."

Tôi cúi đầu nhìn xuống hai bàn tay mình — những ngón tay thô ráp, chai sần vì cầm cuốc làm nương từ nhỏ, nay lại chằng chịt thêm những vết xước răm buốt giá vì nước tẩy rửa và bưng bê khay nhôm. Tôi khẽ đáp, giọng trầm xuống như một lời tự thú cay đắng:

"Tớ không có khoản tiền nào khác để đổi lấy sự sống cả."

Vừa lúc đó, Phong với tay kéo từ trong chiếc cặp dày cộp ra một tập tài liệu bài tập lớn môn lập trình nhóm in trên giấy A4 dày cộp. Cậu ta ném mạnh tập tài liệu xuống mặt bàn gỗ ở giữa phòng, phát ra một tiếng "bộp" khô khốc, rồi buông thõng một câu lạnh tanh:

"Hạn chót nộp toàn bộ phần thuật toán này là ngay sáng ngày mai đấy."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn