Hoa Ban Không TànC.33 / 38
Chương 33

Người cần máy chạy lại

Người khách không nói máy của ông chứa những gì, chỉ thô bạo đặt cỗ máy xuống chiếc bàn gỗ tạp nơi góc phòng tin học rồi bảo nếu tôi làm cho nó sống lại được thì sẽ có tiền công sòng phẳng.

Đó là một người đàn ông trạc ngoài bốn mươi tuổi, vóc người thô đậm, mặc chiếc áo khoác bay Liên Xô đã sờn rách hết đường viền cổ, các đầu ngón tay đóng cáu những vệt dầu mỡ máy đen sì quyện chặt với bụi vôi vữa xây dựng. Sáng sớm hôm ấy, khi sương mù còn chưa kịp tan trên những rặng sa mộc, ông ta đã cưỡi chiếc xe Simson nhả khói xanh mù mịt và gầm rú đinh tai, sục sạo tìm vào tận bờ rào nà Ban chỉ để hỏi tên tôi. Đứng giữa mảnh sân đất ẩm ướt, nhìn người đàn ông lạ mặt với đôi mắt lồi đỏ ngầu vì thiếu ngủ, tôi đã không dám mở miệng gật đầu nhận lời ngay. Nỗi sợ hãi tích tụ từ những đêm thức trắng cuốc bộ mười cây số đường đèo heo hút, ánh thép lạnh tanh trên lưỡi rựa đi rừng của bác Lương và dư âm từ bài học đắt giá bên cỗ máy tính của cô Hạnh năm nào vẫn còn hằn nguyên vẹn trong từng thớ thịt, từng nhịp đập nơi lồng ngực. Tôi chỉ biết lùi lũi bảo ông ta chịu khó chạy xe ngược ra trường huyện mà tìm gặp thầy Dũng. Thế nhưng, đến khi tôi mải miết rảo bước cuốc bộ ra tới cổng trường, chiếc xe máy của ông ta đã nằm chỏng chơ dưới gốc xà cừ già rụng đầy lá úa. Còn thùng máy tính cáu bẩn kia — chỉ được bọc sơ sài trong một chiếc bao tải gai rách tơi tả ở mép — đã chễm chệ chiếm trọn mặt bàn gỗ cuối phòng thực hành.

— Tôi nghe mấy tay lái xe bên trạm vật tư kháo nhau thằng bé này có tay nghề mót, sờ vào máy tính một lúc là kiểu gì nó cũng sống lại, — người đàn ông nói, giọng khàn đặc và rạo rực như có cả nắm cát sỏi đang cọ xát trong thanh quản, đôi mắt ti hí liếc xéo về phía tôi với vẻ nửa ngờ vực, nửa sốt ruột không giấu giếm. — Cái máy này tôi để ở cửa hàng ngoài ngã ba thị trấn, từ chiều hôm qua bật lên chỉ nghe thấy tiếng quạt gió quay vù vù như xay lúa rồi đứng trơ mắt ếch, màn hình tối om đen ngòm. Tôi có đem ra cái quán sửa đồ điện tử ngoài phố huyện, người ta vừa tháo nắp ra dòm đã bảo cháy sạch cả ổ, đòi thay thế mất tiền triệu mà chưa chắc đã giữ lại được cái gì bên trong. Thầy giáo cứ để cho thằng bé này làm thử xem sao. Nó mà làm cho máy chạy lại được, tôi trả công tử tế, tuyệt đối không để nó phải chịu thiệt thòi đâu.

Tôi đứng nép mình tựa lưng vào mép cánh cửa gỗ lim chắp vá mốc thếch, hai bàn tay vẫn còn lấm lem những vệt đất đỏ quánh lại sau cả buổi sáng sớm đánh vật với việc dọn chuồng trâu và gùi từng thùng nước mó ngược dốc. Lồng ngực tôi bỗng thắt lại khi hai chữ “tiền công” rơi gọn vào tai. Trong túi ngực chiếc áo cộc rách chỉ còn lại vỏn vẹn một tờ giấy bạc mười nghìn đồng nhàu nát nộp cho bác Lương tối qua đã được tính toán dè sẻn đến từng hào, trong khi cỗ máy tính cũ kỹ tôi giấu nơi chái phụ ẩm thấp vẫn đang phải gánh bản án treo lơ lửng của hạn định mười ngày nghiệt ngã. Một món tiền công thực tế lúc này có thể lập tức đổi ra được vài tập vở giấy Bãi Bằng tinh tươm, vài hộp ngòi bút máy Kim Tinh, hay quý giá hơn cả là nửa yến gạo đỏ đủ để chống chọi qua những ngày giáp hạt đói quắt ruột.

Thế nhưng, trước khi những ngón tay run rẩy của tôi kịp chạm vào lớp vỏ sắt hoen gỉ của thùng máy, thầy Dũng đã từ tốn bước ra từ góc bàn giáo viên. Trên tay thầy là một mảnh giẻ lau máy xơ xác dính đầy dầu luyn đen và cây tô vít bake cán nhựa trong suốt đã mòn vẹt đầu cạnh. Thầy không hề liếc mắt nhìn cỗ máy lấy một lần, mà hướng ánh nhìn thẳng thắn, sắc lạnh vào người đàn ông lạ mặt.

— Anh Tính, nếu anh thực sự muốn cứu cỗ máy này để nó chạy lại bình thường, thì dứt khoát không thể vứt nó ở đây được, — giọng thầy Dũng cất lên trầm tĩnh, dứt khoát nhưng không hề pha chút gắt gỏng thừa thãi. — Máy móc ở cửa hàng buôn bán của anh còn dính dáng trực tiếp đến độ ổn định của nguồn điện tổng, dây cáp nối máy in hóa đơn và cả cái độ ẩm chết người tỏa ra từ cái kho hàng xập xệ bên ngã ba nữa. Mang một cái vỏ sắt trơ trọi không đầu không đuôi ra giữa phòng học này rồi cắm điện bừa bãi, ngộ nhỡ sốc nguồn gây chập cháy, mất sạch dữ liệu làm ăn thì ai đứng ra đền cho anh?

Người đàn ông tên Tính lập tức xua tay lia lịa, đôi lông mày rậm rạp cau có nhíu chặt lại:

— Thầy Dũng vẽ chuyện quá thể! Cứ việc cắm tạm cái màn hình với bàn phím ở đây thử xem nó có thèm lên hình hay không là xong chuyện chứ gì, cửa hàng ngoài kia của tôi khách khứa đang nườm nượp vào ra đòi lấy hàng, tôi lấy đâu ra thời giờ mà chạy đi chạy lại mãi thế này!

— Việc này tuyệt đối không thể xem là vẽ chuyện được, — thầy Dũng lạnh lùng bước tới, dứt khoát nhấc bổng chiếc thùng máy nặng trịch lên, đặt cẩn thận trở lại vào lòng chiếc bao tải gai, rồi thuần thục kéo sợi dây bẹ siết chặt miệng bao. — Với lại, tôi cũng nói thẳng một lời dứt khoát để anh khỏi phải lấn cấn: thằng Nam nó chỉ là một đứa học sinh đang trong giai đoạn học việc. Nó có tư duy thuật toán nhanh nhạy, biết cách tháo lắp linh kiện cơ bản, nhưng nó chưa phải là thợ lành nghề ăn lương của bất kỳ cửa hàng nào. Tôi sẽ đích thân đưa nó cùng anh quay về cửa hàng ngoài thị trấn. Từng thao tác nó làm, từng con ốc nó kiểm tra, anh bắt buộc phải đứng cạnh tận mắt chứng kiến và gật đầu đồng ý thì nó mới được phép đụng tay vào. Nếu anh không chấp nhận điều kiện sòng phẳng đó, xin mời anh chở máy về, tìm thợ khác mà sửa.

Ánh mắt nghiêm nghị và thái độ cương quyết của thầy giáo vùng cao khiến người chủ cửa hàng buôn bán sắc sảo phải chép miệng đánh thót một cái rõ to. Đứng chần chừ thêm một lát, cuối cùng ông ta cũng đành hậm hực gật đầu chịu lùi một bước:

— Thôi được rồi, trăm sự tùy thầy định liệu! Miễn làm sao nội trong sáng nay dứt điểm cho tôi là được việc. Tôi chằng thùng máy lên xe chở về trước, hai thầy trò khóa cửa rồi thu xếp cuốc bộ ra ngay cho tôi nhờ đấy nhé.

Khi tiếng nổ chát chúa và làn khói xanh khét lẹt của ống bô chiếc Simson nhỏ dần rồi tắt lịm hẳn phía con dốc đất đỏ dẫn ra phố huyện, thầy Dũng mới từ từ quay lại nhìn tôi. Trong đôi mắt thâm quầng của người thầy nghèo không hề có lấy một tia trách cứ vì thái độ ngập ngừng ban nãy, mà chỉ đọng lại sự thấu suốt sâu xa của một người từng trải, hiểu rõ cái nghèo truyền kiếp nơi xóm núi này có thể dễ dàng xô đẩy một đứa trẻ non nớt bước vào những cái bẫy bồng bột đến mức nào.

— Mày đã sáng mắt ra chưa hả Nam? — thầy khẽ hỏi, tay với lấy chiếc áo khoác gió bốn túi đã sờn bạc màu treo trên chiếc đinh gỉ đóng gá vào tường vôi. — Người ta bỏ công tìm đến mày không phải vì người ta tôn trọng mày, càng không phải vì coi mày là thợ thuyền giỏi giang gì đâu. Người ta tìm đến chỉ vì mày rẻ mạt, vì người ta nghĩ mày là một đứa học trò con nít dễ bề bắt nạt, làm được việc thì họ vứt cho vài đồng bạc lẻ xem như bố thí, mà lỡ làm hỏng thì họ dễ bề đè đầu cưỡi cổ bắt đền hoặc gạt phăng đi không trả một cắc. Nếu sáng nay tao để mày một mình ôm lấy cỗ máy này, chỉ cần một cọng cáp dữ liệu mục nát bị đứt ngầm hay một phân vùng ổ đĩa đã bị lỗi từ trước, mày đào đâu ra bạc triệu mà bồi thường danh dự và của cải cho người ta?

— Em hiểu rồi ạ, — tôi cúi gầm mặt lí nhí đáp, lồng ngực đau nhói nghẹn ứ trước sự thật trần trụi vừa được phơi bày. — Em hứa sẽ không bao giờ dám làm ẩu làm bừa nữa đâu thầy.

— Hiểu được bằng cái đầu là một chuyện, nhưng bước chân ra ngoài thực tế cuộc đời lại là chuyện hoàn toàn khác. Đi thôi, lấy chiếc cặp da đựng mấy cái đĩa mềm hệ thống với bộ kìm, tô vít mang theo người cho cẩn thận. Ra đến nơi, việc đầu tiên cần nhớ là tuyệt đối không được phép vội vàng cắm điện, nhớ kỹ chưa?

Hai thầy trò chúng tôi lầm lũi rảo bước bám theo mép đường liên huyện đầy sống trâu gập ghềnh. Sau hơn nửa tiếng đồng hồ cuốc bộ rát bỏng cả gót chân, cửa hàng của ông Tính dần hiện ra ngay ngã ba đường, nơi những đoàn xe tải hạng nặng gầm rú chở đầy ngô hạt và những chuyến xe khách liên tỉnh chạy tuyến Mộc Châu — Hà Nội rầm rập qua lại suốt ngày đêm, quăng quật từng luồng gió cuốn theo lớp bụi đất đỏ mù mịt đặc quánh. Đó là một gian nhà cấp bốn lợp mái tôn xi măng xám xịt đã nứt nẻ nhiều đường, bên ngoài dựng tấm biển hiệu xiêu vẹo giới thiệu nơi đây vừa làm đại lý tạp hóa bách hóa tổng hợp, vừa kiêm luôn việc bán buôn thức ăn gia súc và các loại vật liệu xây dựng.

Không khí bên trong gian nhà cấp bốn vừa bước vào đã sực lên thứ mùi nồng gắt, quánh đặc đến tức thở. Đó là sự pha trộn hỗn tạp giữa mùi cám ngô ủ lâu ngày bốc lên men chua mốc rơm rác, mùi khai nồng lợm giọng của những đống bao phân đạm urea xếp tầng chạm sát nóc nhà, và mùi khói dầu diesel khen khét, đặc quánh phụt ra từ chiếc máy phát điện Trung Quốc cũ kỹ đang rung bần bật ngoài góc hiên tây. Mỗi khi một chuyến xe tải chở vật liệu nặng nề bò qua khúc cua ngã ba phía trước, cả gian phòng lại rung lên bần bật, bụi vôi tường từ những vết nứt chân chim trên trần lả tả rơi xuống, hòa vào lớp bụi đất đỏ bay lơ lửng trong từng luồng sáng rọi xiên qua kẽ liếp.

Cỗ máy tính để bàn của ông Tính không được đặt ở nơi trang trọng như người ta thường thấy ở các phòng ban hành chính trên huyện, mà bị vứt chỏng chơ trên một chiếc bàn gỗ ép rẻ tiền đã phồng rộp, bong tróc từng mảng mùn cưa vàng vọt vì ngấm nước mưa dột. Nó nằm lọt thỏm giữa một bãi chiến trường ngổn ngang: những chồng sổ tay bìa da ghi nợ lem nhem dầu mỡ đã rách bươm gáy, từng cọc hóa đơn xuất kho xi măng xám ngoét đóng bụi cáu bẩn, và mấy bao bột mì trắng bệch xếp tựa hẳn vào sườn kim loại của thùng máy. Bụi cám ngô mịn như bột phấn bám thành một lớp màng màu vàng ệch, nhớp dính trên từng khe tản nhiệt của lớp vỏ tôn, bít kín các lỗ thoát khí phía sau dày đến nỗi nếu chỉ nhìn lướt qua, người ta khó lòng nhận ra được màu sơn ghi xám nguyên bản của cỗ máy khi mới xuất xưởng.

Khi thầy trò chúng tôi bước qua bậu cửa xi măng, ông Tính vẫn đang đứng chống nạnh ở giữa kho, chửi bới om sòm một gã tài xế xe tải vì tội giao thiếu ba bao đạm hạt ngọc trong chuyến hàng rạng sáng. Khuôn mặt vuông vức, đỏ gay vì rượu và bụi đường của ông giần giật từng cơn giận dữ. Thấy bóng hai thầy trò đứng chôn chân bên cạnh đống cám ngô, ông ta mới chịu buông tha cho gã lái xe, quẹt vội cánh tay đầy mồ hôi nhớp nháp lên vạt áo may ô lấm lem, rồi hất cằm về phía góc bàn gỗ ép:

— Đấy, hai thầy trò xem thế nào mà chữa nhanh hộ cái. Cứ hễ bật công tắc nguồn là trong ruột nó lại kêu è è một lúc rồi tắt lịm đi, cái màn hình tối thui không thèm nháy lấy một tia sáng nào. Chắc nó lại kẹt cái mạch hay đầy bộ nhớ gì đấy thôi. Cứ cài lại cái gì đó cho nó mượt mà, trơn tru như lúc mới mua là được! Thằng cháu nhanh tay hộ một tí, trưa trật đến nơi rồi, đầu giờ chiều tôi phải có máy để bấm xuất kho một chuyến hàng lớn chuyển ngược lên bản trên cho người ta rồi đấy.

Tôi đứng chôn chân trước chiếc bàn gỗ, hai bàn tay vô thức siết chặt quai chiếc cặp da cũ kỹ đựng đồ nghề. Cẩn thận nhấc từng xấp hóa đơn vương vãi sang một góc khô ráo hơn, tôi đặt chiếc cặp da xuống, lòng bàn tay bỗng túa ra một lớp mồ hôi lạnh ngắt.

Cái vẻ sốt ruột đầy trịch thượng ấy, và đặc biệt là câu nói cửa miệng “cứ cài lại cái gì đó” của ông Tính vừa thốt ra, chẳng khác nào một gáo nước buốt tạt thẳng vào gáy tôi giữa trưa hè oi ả. Ký ức về cái đêm định mệnh ở phòng làm việc của cô Hạnh cách đây chưa lâu lập tức dội về nhức nhối như một vết roi da quất thẳng vào da thịt. Đêm hôm đó, cũng chính sự nông nổi, kiêu ngạo của một đứa học trò mới biết tí chút về công nghệ, cùng một cú nhấn phím “Fresh Install” đầy vội vã, thiếu hiểu biết, tôi đã vĩnh viễn xóa sạch toàn bộ danh sách học sinh nghèo xin trợ cấp mà cô phải nhọc công gom góp suốt mấy tháng trời. Vết nhơ ấy, nỗi sợ hãi ấy vẫn còn nguyên độ nóng rát, nhắc nhở tôi về cái giá cắt cổ của sự cẩu thả trong cái nghề này.

Tôi nhắm mắt lại trong nửa giây, hít một hơi thật sâu để nén chặt sự hoảng loạn đang dâng lên trong lồng ngực. Mùi phân bón hóa học nồng nặc xộc thẳng vào mũi làm tôi tỉnh táo hẳn ra. Tôi mở khóa cặp, rút cuốn sổ tay bọc bìa giấy xi măng cắt từ bao xi măng Hoàng Thạch và cây bút bi Kim Thành mực xanh vừa mua tối qua, rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào khuôn mặt đang nhễ nhại mồ hôi của ông chủ đại lý:

— Bác Tính, trước khi em cắm điện kiểm tra xem bên trong nó hỏng hóc thế nào, bác cho em hỏi thật kỹ: trong cỗ máy này bác đang lưu những dữ liệu gì quan trọng nhất đối với việc làm ăn của bác ạ?

Ông Tính cau mày lại thật sâu, những nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại thành từng rãnh tối tăm. Bàn tay lông lá đang lật dở xấp hóa đơn đóng dấu đỏ bỗng dừng phắt lại giữa không trung. Một tia bực bội, khó chịu lóe lên rất nhanh trong đôi mắt ti hí của người đàn ông buôn bán lọc lõi:

— Mày hỏi lôi thôi làm cái gì? Một cái máy tính thì có cái quái gì bên trong ngoài mấy cái chữ gõ ra từ bàn phím! Cứ cắm điện chọc ngoáy làm sao cho nó hiện hình lên đi đã! Đang vội như cháy đồi đây này!

— Không được đâu bác, — tôi cố ghìm cho giọng mình không bị run rẩy, dù tim đang đập thình thịch từng hồi vào lồng ngực trước ánh nhìn trợn trừng, gắt gỏng của người đàn ông to lớn gấp đôi mình. — Bác bắt buộc phải nói rõ cho em biết. Trong máy có sổ sách theo dõi bán hàng, các bảng tính Excel ghi nợ của dân bản, hay có lưu trữ hình ảnh giấy tờ nhà đất gì của gia đình bác không? Cả cái phần mềm kế toán bán hàng mà hằng ngày bác vẫn hay mở lên để in phiếu xuất kho là phần mềm tên gì, do ai cài, và nằm ở phân vùng ổ đĩa nào nữa ạ.

— ơ hay cái thằng ranh con này! — Ông Tính đập mạnh tập hóa đơn xuống mặt bàn gỗ ép nghe một tiếng chát chúa, quay ngoắt sang nhìn thầy Dũng như muốn tìm kiếm một sự đồng tình từ người lớn để gạt phăng sự cản trở của tôi đi. — Thầy Dũng xem nó kìa, tôi nể tình làng nghĩa xóm mới gọi hai thầy trò sang sửa giúp kiếm ít tiền mua bút mực, chứ tôi có thuê nó đến đây để thẩm vấn, điều tra tông ti họ hàng nhà tôi đâu! Máy móc nó hỏng phần nào thì bổ ra mà sửa cho nó chạy, tự dưng đi xoi mói sâu vào chuyện làm ăn kín đáo của người ta làm cái trò gì?

Thầy Dũng từ đầu đến cuối vẫn đứng bất động, hai tay khoanh lại trước ngực, lưng tựa hờ vào một bao phân lân xếp sừng sững bên cạnh cửa ra vào. Gương mặt thầy dưới ánh sáng mờ đục của gian nhà kho lạnh tanh như một tảng đá núi, không gợn lên một chút biểu cảm dao động nào. Nghe ông Tính gắt gỏng, thầy chỉ khẽ nhếch mép, cất giọng trầm đục nhưng sắc lẹm:

— Anh Tính, chuyện này tôi đã nói rõ với anh từ lúc ở trên trường rồi. Thằng Nam nó hỏi anh từng câu từng chữ như thế là đang làm đúng theo nguyên tắc kỹ thuật mà tôi dạy nó. Cỗ máy tính này của anh không phải là cái cối xay ngô, cứ gãy răng nào thì hàn đắp răng ấy vào là xong chuyện. Nếu trong máy anh đang lưu sổ sách nợ nần vài ba tỷ bạc tiền phân bón của cả huyện, mà nó không hỏi han ngọn ngành, cứ thế cắm điện vào làm cháy ổ đĩa hay xóa nhầm phân vùng dữ liệu, thì anh có lột da nó, bắt nó cuốc nương bẻ ngô cả đời này cũng không đền nổi cái cơ nghiệp của anh đâu.

Thầy Dũng dừng lại một nhịp, ánh mắt sắc như dao cau nhìn thẳng vào đồng tử đang co lại vì bất ngờ của ông chủ cửa hàng:

— Anh muốn nó bắt tay vào sửa an toàn thì anh phải nói thật cho nó biết thứ gì trong cái hộp sắt kia làm anh sợ mất nhất. Còn nếu anh khẳng định trong đó chỉ toàn là thứ rác rưởi vô giá trị, mất đi không tiếc một xu, thì anh cầm lấy bút, ký cho tôi một dòng vào cuốn sổ tay của nó: “Nếu mất dữ liệu tôi hoàn toàn tự chịu trách nhiệm”. Lúc ấy, nó muốn chọc ngoáy, muốn xóa trắng cài lại theo kiểu gì cũng được.

Từng lời, từng chữ của thầy Dũng rơi xuống không gian ẩm mốc đanh gọn như những nhát búa nện trên đe sắt. Không khí ngột ngạt trong gian đại lý bỗng chốc chùng hẳn xuống, im ắng đến rợn người. Tiếng ồn ào của đám xe tải ngoài đường lộ dường như dạt ra xa, chỉ còn lại tiếng chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt cũ kỹ trên xà nhà đang quay kẽo kẹt từng vòng uể oải.

Ông Tính đứng chết trân mất vài giây dài đặc quánh. Ánh mắt láo liên của ông ta đảo liên tục từ vẻ mặt điềm nhiên đến lạnh lùng của thầy Dũng sang gương mặt hốc hác, nhợt nhạt nhưng ánh lên vẻ cương quyết không lùi bước của tôi, rồi cuối cùng dừng lại trân trối nơi thùng máy bám đầy bụi vàng ệch đang nằm im lìm trên bàn. Cái vẻ trịch thượng, hống hách của một gã trọc phú lắm tiền ban nãy từ từ sụp đổ, nhường chỗ cho một nỗi chột dạ, hoang mang rất đỗi chân thực của một kẻ buôn bán đang nhận ra điểm yếu chí mạng của mình vừa bị chạm trúng.

Ông ta thở hắt ra một hơi nặng nhọc, kéo lê chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp lại gần bàn máy tính, giọng nói chùng hẳn xuống, không còn sót lại chút gay gắt nào:

— ... Trong cái ổ C của nó, ngay ngoài màn hình có một cái cặp hồ sơ màu vàng tên là “SO_NO_2008”. Toàn bộ tiền người ta mua chịu vật liệu xây dựng, phân lân, thức ăn chăn nuôi của tôi rải rác từ đầu năm đến giờ nằm hết trong mấy cái tệp bảng tính Excel trong đó đấy. Mất cái thư mục ấy là tôi trắng mắt, coi như đứt từng khúc ruột, chẳng biết đường nào mà lần sổ để đi đòi nợ ai đâu. Mấy thằng cai thầu trên thị trấn nó quỵt nợ thì tôi chỉ có nước bán xới cái nhà này đi. Với lại... trong cái ổ D thì có một cái cặp tài liệu lưu toàn ảnh chụp, mấy chục tấm ảnh chụp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giấy phép đăng ký kinh doanh đợt nộp thuế má năm ngoái. Còn phần mềm thì máy này chẳng có gì cao siêu đâu, chỉ có mỗi cái Microsoft Word, cái Excel để cộng trừ con số với bộ gõ tiếng Việt Unikey thôi. Mấy thầy trò làm ơn làm phước... kiểm tra kiểu gì thì kiểm tra, đừng có động chạm làm biến mất mấy cái thứ đấy của tôi!

Ngồi nghe từng lời dãi bày gấp gáp của ông Tính, trong lòng tôi dâng lên một sự thấm thía sâu sắc đến run rẩy. Hóa ra, nghề sửa chữa máy tính chưa bao giờ đơn thuần là chuyện cầm chiếc tô vít bake vặn vài con ốc ren xoắn, tháo lắp vài thanh linh kiện điện tử hay gõ nhoay nhoáy vài dòng lệnh tìm lỗi trong màn hình xanh lét. Sửa máy tính, trước hết và trên hết, là phải đối diện trực tiếp với nỗi sợ hãi thầm kín nhất của con người.

Cái vẻ ngoài thô lỗ, cục cằn, những cái xua tay xua đuổi qua loa và câu nói cửa miệng “cứ làm đại cho nó chạy” thực chất chỉ là một tấm bình phong vụng về nhằm che đậy sự thiếu hiểu biết và nỗi bất an tột cùng trước một thứ công nghệ xa lạ. Họ hoàn toàn mù tịt về những khái niệm như thanh ghi vi xử lý, không biết một sector từ tính trên đĩa cứng vận hành ra sao, họ chỉ biết rằng cái hộp sắt xám xịt, bụi bặm kia đang âm thầm gánh vác toàn bộ mồ hôi nước mắt, tiền tài, và cả sự sống còn của cả gia đình họ. Và bổn phận đầu tiên của một người làm kỹ thuật chân chính không phải là phô trương sự sắc sảo, tài ba của bản thân, mà là buộc khách hàng phải dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói ra cái thứ mà họ run sợ nhất khi nghĩ đến viễn cảnh đánh mất nó.

Tôi cúi thấp đầu, kê mép cuốn sổ lên một góc phẳng phiu trên mặt bàn, nắn nót ghi từng nét mực rõ ràng, chuẩn xác: - *Chủ máy: Bác Tính (Đại lý vật tư ngã ba thị trấn).* - *Dữ liệu sống còn cần bảo toàn: Thư mục SO_NO_2008 (nằm tại phân vùng ổ C), thư mục ANH_GIAY_TO (nằm tại phân vùng ổ D).* - *Yêu cầu kỹ thuật bắt buộc: Tuyệt đối không được phép thao tác ghi đè, định dạng (Format) hoặc làm tổn hại đến các tệp dữ liệu có đuôi định dạng .XLS và .JPG.*

Ghi chép xong xuôi đâu vào đấy, tôi xoay ngược cuốn sổ lại, chìa cây bút bi Kim Thành về phía ông Tính:

— Bác Tính đọc lại kỹ những thông tin em vừa ghi trong này, nếu đúng hết rồi thì bác ký xác nhận hộ em một chữ bên dưới góc trang giấy ạ.

Ông Tính nhìn trân trối vào những dòng chữ mực xanh ngay ngắn trên mặt giấy xi măng thô ráp. Bàn tay thô kệch, chai sần của ông ta cầm lấy cây bút một cách ngượng ngùng, vụng về, rồi run run nguệch ngoạc một chữ ký to tướng, méo mó bên lề dưới. Khi ngòi bút vừa nhấc lên khỏi mặt giấy, tôi cảm nhận rất rõ một sự biến chuyển vô hình nhưng vô cùng nặng nề trong bầu không khí ngột ngạt của căn phòng. Sự hoài nghi, rẻ rúng và coi thường dành cho một đứa trẻ ranh ban nãy đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một sự căng thẳng mang tính cam kết nghiêm túc. Giờ phút này, tôi không còn là một đứa học trò phụ việc đến làm trò may rủi để xin mấy đồng bạc lẻ, mà đã trở thành một người thợ kỹ thuật mang trên vai toàn bộ sức nặng trách nhiệm của một bản giao kèo bằng văn bản.

***

Tôi bắt tay vào việc theo đúng năm bước của quy trình chẩn đoán phần cứng mà thầy Dũng đã bắt tôi chép tay rồi dán chặt cạnh màn hình chiếc máy tính Pentium III ở chái phụ nà Ban.

Bước một: Khảo sát hiện trạng nguồn điện và loại trừ các nguy cơ bên ngoài.

Tôi tuyệt đối không đụng tay vào công tắc nguồn ở mặt trước thùng máy. Tôi quỳ hẳn một bên đầu gối xuống nền xi măng ẩm ướt, lạnh ngắt đầy bụi cám, cúi rạp người quan sát ổ cắm điện nằm khuất sau gầm bàn gỗ ép. Quả đúng như những gì thầy Dũng đã dự đoán từ trước, ổ cắm bằng nhựa đen đã bị vỡ toác một góc lớn, để lộ cả lá đồng bên trong đã bị oxi hóa xanh rêu. Hai chân cắm cắm vào lỏng lẻo đến mức trễ hẳn xuống, chỉ cần dùng ngón tay đẩy nhẹ một lực là bên trong đã phát ra những tiếng xẹt lửa ngầm tí tách kèm theo mùi khét lẹt của nhựa cháy.

Nguy hiểm hơn, sợi dây dẫn kéo từ bảng điện chính ngoài cửa vào góc bàn này lại là loại dây nhôm bọc một lớp nhựa mỏng dính, chạy vắt ngang qua lối đi lại của xe rùa chở cám ngô. Lớp vỏ nhựa ngoài cùng đã bị bánh xe sắt nghiến qua nhiều lần, mòn vẹt để lộ ra cả những sợi kim loại sáng trắng, chực chờ chạm vào khung sắt giá để hàng gây chập cháy bất cứ lúc nào.

— Bác Tính, đường điện cấp cho máy này chập chờn và nguy hiểm quá, — tôi ngẩng đầu lên, nghiêm giọng nói. — Dây dẫn bằng nhôm tiết diện quá nhỏ nên sụt áp rất nặng, lại cắm chung nguồn trực tiếp với chiếc mô tơ của máy nghiền cám đặt ở góc tường đằng kia. Cứ mỗi lần bác đóng cầu dao cho máy nghiền khởi động, dòng điện sẽ bị kéo tụt đột ngột. Cỗ máy tính này mà cắm vào đây thì bộ nguồn bên trong không thể nào gánh nổi, rất dễ gây nổ tụ điện hoặc làm sốc điện làm cháy lớp từ tính của ổ đĩa cứng.

Ông Tính đưa bàn tay thô ráp lên gãi đầu lia lịa, nét mặt lộ rõ vẻ bàng hoàng:

— Thảo nào mà thỉnh thoảng tôi đang ngồi gõ số liệu thì bóng đèn tuýp trên trần lại chớp giật một cái rồi máy tự nhiên tắt ngóm! Tôi cứ ngỡ do điện lưới của huyện yếu quá. Được rồi, để tí nữa xong việc tôi bảo thằng bốc vác ra ngã ba mua ngay đoạn dây đồng tốt về đấu riêng một cái ổ cắm mới toanh cho nó.

Tôi không vội trả lời, với tay lấy chiếc chổi sơn lông mềm đã cắt tỉa gọn gàng trong cặp đồ nghề, cẩn thận quét sạch lớp màng bụi cám bám dính dày đặc quanh các cổng cắm ở mặt sau thùng máy. Khi tôi dùng hai ngón tay lay nhẹ rồi rút sợi dây cáp nguồn ba chấu màu đen ra khỏi đuôi máy, đập vào mắt tôi là phần chân cắm kim loại của bộ nguồn đã bị bám một lớp muội than đen sì do hiện tượng phóng điện hồ quang diễn ra liên tục trong thời gian dài. Tôi lấy ra một mẩu giấy ráp mịn cỡ số 400 mà thầy Dũng đưa cho trước khi đi, tỉ mẩn mài đi mài lại từng chân tiếp xúc bằng đồng thau cho đến khi lớp muội đen biến mất, ánh lên màu kim loại sáng loáng.

Bước hai: Mở thùng máy và tiến hành kiểm tra vật lý phần cứng ban đầu.

Tôi đặt cỗ máy nằm nghiêng trên mặt bàn, dùng chiếc tô vít bake cán nhựa màu đỏ vặn nhẹ hai con ốc giữ nắp hông bằng tôn. Vừa nhấc tấm tôn gỉ sét sang một bên, một luồng khí ẩm xú uế sặc mùi ẩm mốc lẫn mùi phân chuột khô lâu ngày bốc thẳng lên mặt khiến tôi phải nghiêng đầu nín thở. Bên trong khoang máy, bụi bẩn kết hợp với độ ẩm cao của vùng cao đã đóng thành từng mảng bùn cám keo đặc, xám xịt, giăng kín như mạng nhện phủ chụp lên toàn bộ cánh quạt tản nhiệt của con chip vi xử lý Intel Celeron.

Tôi không vội vàng đụng tay vào bo mạch chủ mà cúi rạp người xuống, đưa mắt rà soát từng chi tiết nhỏ nhất trên nền phíp đồng màu xanh sẫm. Dưới ánh sáng nhờ nhợ của bóng đèn tuýp hắt qua lớp bụi lơ lửng, các khối linh kiện điện tử hiện ra như một sa bàn thu nhỏ. Dàn tụ hóa hình trụ đứng quanh chân đế socket cắm vi xử lý trông vẫn phẳng phiu, phần nắp nhôm khía rãnh chữ thập trên đỉnh không hề có dấu hiệu phồng rộp hay xì ra chất điện phân màu nâu đen như những bo mạch từng bị quá nhiệt ở trường — đó là một tín hiệu đáng mừng đầu tiên, báo hiệu tầng mạch cấp nguồn nuôi cho lõi chip vẫn chưa bị đánh thủng sau những đợt trồi sụt điện thế.

Tôi lần ngón tay theo sợi cáp bẹ IDE tám mươi sợi màu xám tro, bản dẹt và mỏng như một dải lụa thô, nối từ chân cắm trên bo mạch chủ dẫn thẳng về phía chiếc ổ cứng Seagate dung lượng bốn mươi gigabyte đang nằm kẹp trong khung sắt. Đầu cắm bằng nhựa màu xanh lục phía sau đuôi ổ đĩa hơi lệch sang một bên, tạo thành một góc nghiêng chừng hai milimét. Tôi ghé sát mắt nhìn: một bên ngàm nhựa định vị đã gãy lìa từ bao giờ, mép nhựa gãy nham nhở để lộ ra hàng chân kim loại nhỏ li ti bên trong, khiến các điểm tiếp xúc không thể ngậm khít vào hàng lỗ cắm. Chưa dừng lại ở đó, đầu cắm Molex bốn chân cấp nguồn điện một chiều cho ổ đĩa cũng lỏng chỏng lơ lửng; hai sợi dây dẫn bọc nhựa màu đỏ và màu đen đã bị tuột khỏi lẫy giữ kim loại, chỉ chực rơi hẳn ra ngoài nếu có một chấn động nhỏ.

“Một kết nối bị lỏng,” tôi thầm reo lên một tiếng thật khẽ trong lồng ngực. Mọi phỏng đoán ban đầu của tôi lập tức tìm được điểm tựa vững chắc. Cỗ máy xay cám công suất lớn đặt sát vách tường gian kho mỗi lần khởi động đều tạo ra những đợt rung chấn liên hồi, truyền qua sàn xi măng thô rồi dội thẳng vào khung bàn gỗ. Chính những dao động cơ học ấy, diễn ra đều đặn ngày này qua tháng khác, đã làm tuột dần các khớp nối vốn dĩ đã bị rạn gãy chốt nhựa. Khi nguồn điện chập chờn và đường truyền tín hiệu dữ liệu bị ngắt quãng giữa chừng, hệ thống BIOS sẽ lập tức rơi vào trạng thái treo cứng trong chu trình kiểm tra thiết bị phần cứng ban đầu, quạt vẫn quay trơ trọi nhưng tín hiệu màn hình thì vĩnh viễn tối om.

Một cảm giác háo hức ngấm ngầm bùng lên trong huyết quản, làm các đầu ngón tay tôi râm ran. Nếu là tôi của một năm về trước, khi mới chân ướt chân ráo bước vào phòng thực hành máy tính với mớ kiến thức chắp vá từ mấy tờ báo mạng photocopy, tôi chắc chắn đã nhảy cẫng lên, vội vã ấn chặt đầu cáp lại, gạt công tắc nguồn rồi hãnh diện quay sang tuyên bố với ông chủ cửa hàng rằng mình đã bắt trúng bệnh chỉ sau vài phút ngó nghiêng. Tôi sẽ khoe khoang sự tinh tường của mình, say sưa đón nhận những lời tán dương trầm trồ và mơ màng nghĩ tới món tiền công hậu hĩnh mà một người buôn bán lớn sẽ hào phóng rút ra khỏi ví.

Nhưng ngay khoảnh khắc tôi định đưa tay đẩy mạnh đầu giắc cắm, ánh mắt của thầy Dũng đang đứng lặng lẽ phía sau lưng như một chiếc mỏ neo sắt nặng trịch ghì chặt lấy tôi. Thầy không nói một lời nào, hai tay khoanh trước ngực, đôi mắt sau cặp kính viền kim loại ánh lên vẻ bình lặng đến mức nghiêm khắc. Ánh nhìn ấy kéo tuột tôi trở về với ký ức về chiếc máy tính của thầy Khang — bài học đắt giá về sự may mắn mù quáng và sự chủ quan chết người của một kẻ mới biết chút ngón nghề.

Một sợi cáp lỏng có thể là nguyên nhân bề nổi khiến máy không lên hình, nhưng những cú sập điện đột ngột trong quá trình đĩa từ đang quay với tốc độ bảy nghìn hai trăm vòng một phút hiếm khi nào dừng lại ở một lỗi cơ học đơn thuần. Mỗi lần mất điện giữa chừng, đầu từ đọc ghi bằng hợp kim cực nhỏ sẽ bị giật phắt về điểm đỗ an toàn, hoặc tệ hơn, sượt nhẹ trên bề mặt đĩa từ được tráng lớp phủ nhạy cảm, để lại những tổn thương vật lý vô hình mà mắt thường không bao giờ thấy được.

Tôi nuốt sự bồng bột xuống đáy lòng, ép nhịp thở chậm lại cho đến khi khuôn mặt trở về vẻ phẳng lặng vốn có. Tôi rút ngón tay ra khỏi khoang máy, mở chiếc cặp da lấy cuốn sổ tay bìa cứng và cây bút bi Thiên Long, tỉ mẩn ghi lại từng dòng: - *Hiện trạng vật lý: Chốt giữ đầu cáp IDE ổ cứng gãy vỡ, lệch góc tiếp xúc; đầu cắm Molex 4 chân lỏng lẻo, tụt lõi dây đỏ và đen. Cánh quạt tản nhiệt CPU bám cặn bụi cám đậm đặc làm tắc nghẽn luồng khí.* - *Kế hoạch thao tác: Vệ sinh cơ học cụm tản nhiệt; làm sạch và cố định lại chân cắm nguồn; thay mới cáp tín hiệu dữ liệu; khởi động môi trường độc lập kiểm tra bề mặt đĩa từ trước khi nạp hệ điều hành chính.*

— Xong chưa cháu ơi? — Ông Tính đứng tựa mép bàn gỗ bên cạnh, giọng bắt đầu nhuốm vẻ sốt ruột thấy rõ. Ông ta gõ gõ bao thuốc lá Du Lịch vào mu bàn tay, nhìn chằm chằm vào chiếc vỏ máy tính đang mở toang. — Bác thấy mày cứ đứng ngắm nghía cái hộp sắt vụn ấy suốt nửa tiếng đồng hồ rồi mà tịnh không thấy cắm điện bật thử phát nào cả. Mấy cậu thợ kỹ thuật ngoài thị trấn họ cầm cái bút thử điện chọc ngoáy ngoáy có năm phút là phán ra vanh vách hỏng cái gì, thay cái gì rồi!

— Thợ ngoài phố phán năm phút rồi đòi anh bạc triệu để thay cả cụm đấy, — thầy Dũng cất giọng lạnh lùng, dập tắt ngay sự nóng nảy của người chủ cửa hàng. — Cứ để cho nó làm tuần tự theo đúng quy trình kỹ thuật. Nhanh một vài phút mà làm nát bấy cái ổ cứng, mất sạch toàn bộ sổ nợ thì anh chọn đằng nào?

Ông Tính nghẹn lời, hai hàm răng nghiến lại ken két rồi lúng búng rít một hơi thuốc lá thật dài, nhả ra một luồng khói khét lẹt trôi về phía cửa kho.

Không để những lời bàn tán làm xao nhãng, tôi lấy chiếc bình xịt khí nén tự chế — được thầy Dũng hoán cải khéo léo từ một chiếc vỏ bình cứu hỏa mini nối với đầu van bơm xe đạp — cẩn thận hướng vòi xịt vào từng khe kẽ của khối nhôm tản nhiệt CPU. Từng luồng khí nén khô và mạnh thổi bay những búi bụi cám xám ngoét, bốc mùi ẩm mốc ra ngoài không khí.

Tiếp đó, tôi dùng hai ngón tay cái ấn nhẹ vào hai đầu ngàm giữ của khe cắm bộ nhớ RAM dung lượng 256MB. Thanh mạch màu xanh lá khẽ bật lên. Tôi rút nó ra, đặt ngay ngắn trên một tờ báo giấy sạch, rồi lấy từ túi đồ nghề một cục tẩy học trò bằng cao su dẻo màu trắng. Đặt thanh RAM nằm nghiêng, tôi dùng cạnh cục tẩy miết dứt khoát và đều tay dọc theo hàng chân tiếp xúc mạ vàng đang bị một lớp oxit kim loại màu xỉn bám mờ. Mạt cao su rơi lả tả xuống mặt báo, để lộ ra những đường mạch đồng mạ vàng ánh lên sáng loáng dưới ánh đèn. Sau khi dùng chổi lông mềm quét sạch mạt tẩy, tôi lựa đúng rãnh định vị của khe cắm trên bo mạch, ấn đều hai đầu thanh RAM xuống cho đến khi hai chiếc lẫy nhựa màu trắng hai bên tự động sập vào, phát ra một tiếng “tách” khô giòn, đanh gọn.

Tôi chuyển sang khối ổ cứng Seagate. Dùng chiếc kìm mỏ nhọn nhỏ trong hộp đồ nghề, tôi nắn lại phần ngàm kim loại bên trong bốn lỗ cắm của sợi cáp nguồn Molex, bảo đảm khi cắm vào chân đực trên ổ cứng, các lá đồng sẽ ép chặt vào nhau mà không còn độ rơ. Thay vì cố tận dụng sợi cáp bẹ IDE màu xám đã gãy chốt — thứ có thể tuột ra bất cứ lúc nào khi máy xay bên cạnh lại gầm rú — tôi thò tay vào đáy chiếc cặp da của thầy Dũng, lấy ra một sợi cáp IDE chuẩn tám mươi sợi còn nguyên trong túi nilon chống tĩnh điện. Đây là sợi cáp tốt mà thầy trò tôi đã nhặt nhạnh, lau chùi cẩn thận từ đống linh kiện thanh lý của phòng giáo dục huyện trong đợt nâng cấp hè vừa qua. Tôi cắm một đầu sợi cáp vào cổng IDE phụ trên bo mạch chủ, đầu còn lại lựa khít vào chân ổ đĩa, tiếng khớp nối ăn vào nhau nghe thật êm và chắc nịch.

Bước ba: Khởi động môi trường cứu hộ và sao lưu dữ liệu sống còn.

Tôi rút từ ngăn nắp cặp ra một chiếc đĩa mềm 1.44MB màu đen, nhãn dán ghi nắn nót dòng chữ mực tím của thầy Dũng: *Đĩa khởi động MS-DOS 7.1 — Cứu hộ hệ thống*. Tôi trượt nhẹ nắp bảo vệ bằng kim loại của đĩa mềm, kiểm tra xem lớp màng từ bên trong có vết xước hay mốc ẩm không, rồi ấn chiếc đĩa vào khe ổ đĩa mềm ở mặt trước thùng máy. Một tiếng “khấc” cơ khí vang lên, chiếc đĩa đã khóa chặt vào trục quay.

Sợi dây nguồn của thùng máy sau khi được mài sạch lớp muội than được tôi kéo dài, cắm nhờ vào một ổ điện bằng sứ trên gian nhà chính của ông Tính — nơi có đường dây trục dẫn từ đồng hồ điện lực và không bị câu móc chung với hệ thống động cơ tải nặng.

Tôi đứng thẳng người, hít một hơi thật sâu để lồng ngực căng tràn rồi ấn ngón tay trỏ vào nút Power hình tròn ở mặt trước vỏ máy tính.

Tạch!

Tiếng rơ-le bên trong bộ nguồn đóng mạch một cách dứt khoát. Cánh quạt nguồn và quạt làm mát chip vi xử lý lập tức tăng tốc, phát ra một luồng gió rít êm ru, đều đặn, hoàn toàn biến mất tiếng rè rè ngột ngạt như bị bóp nghẹt lúc nãy. Chiếc màn hình CRT mười bốn inch nhấp nháy đèn nguồn, khử từ phát ra một tiếng “boong” trầm đục làm rung rinh cả mặt bàn gỗ.

Ngay sau đó, những dòng chữ màu trắng sắc nét bắt đầu tuôn trào trên nền màn hình đen tuyền đặc trưng của giao diện khởi động: `Award Modular BIOS v6.00PG, An Energy Star Ally` `Copyright (C) 1984-2003, Award Software, Inc.` `Detecting IDE Primary Master ... ST340014A (40.0 GB)` `Detecting IDE Secondary Master ... None` `Memory Test: 262144K OK`

Hệ thống đã nhận diện chính xác toàn bộ phần cứng cốt lõi! Đèn LED màu xanh lục trên ổ đĩa mềm lập tức bừng sáng. Tiếng motor bước bên trong bắt đầu kéo cụm đầu đọc dịch chuyển qua từng rãnh đĩa, phát ra chuỗi âm thanh cơ khí lạo xạo quen thuộc: “Rẹt... rẹt... tạch... rẹt...”. Hệ điều hành DOS từ chiếc đĩa mềm nhỏ bé đang từng bước nạp các tập lệnh cơ bản vào bộ nhớ trong.

Một thoáng im lặng trôi qua, rồi dấu nhắc lệnh màu trắng đơn độc hiện ra ở góc trái màn hình: `A:\>`

Nhìn thấy chiếc màn hình vốn đen ngòm suốt hai ngày qua bỗng dưng bừng sáng lên những dòng chữ trắng tinh khôi, ông Tính như người chết đuối vớ được cọc, mắt mở to trừng trừng, cả thân hình hộ pháp chồm hẳn về phía mặt bàn:

— Đấy! Cháu thấy chưa! Sáng trưng rồi! Tài thật! Nhanh thế cơ chứ lị! Nào, mở ngay cái sổ nợ ra cho bác xem có còn nguyên không! Mở nhanh lên xem nào!

— Chưa được đâu bác Tính, — tôi nghiêng nhẹ vai, dùng lưng che bớt tầm nhìn của ông ta vào bàn phím, giọng nói giữ vững sự trầm tĩnh tuyệt đối. — Máy mới chỉ nhận diện được linh kiện ở mức vật lý thô sơ nhất thôi. Bây giờ em phải kiểm tra xem các tệp dữ liệu sổ nợ của bác có bị đứt gãy cấu trúc tệp tin hay không, và em phải sao chép toàn bộ chúng sang một chỗ an toàn tuyệt đối trước khi cho nạp hệ điều hành Windows. Nếu đĩa cứng đang có vết nứt từ tính mà bác ép nạp Windows ngay, các tiến trình hệ thống sẽ tự động ghi đè tệp tạm lên các cung từ đó, lúc ấy các bảng tính Excel của bác sẽ biến thành rác vô phương cứu chữa.

Sự kiên quyết trong ánh mắt và lời lẽ của tôi dường như tạo ra một lực cản vô hình, khiến ông Tính phải rụt tay lại, đứng ngập ngừng ở khoảng cách nửa bước chân.

Tôi đặt mười đầu ngón tay lên bàn phím Mitsumi đã mòn bóng phím cách, gõ những dòng lệnh chuyển vùng một cách chuẩn xác: `A:\> C:` `C:\> dir SO_NO_2008`

Sau một phần giây tĩnh lặng, màn hình cuộn xuống một danh sách ngắn gọn: `NO_XIMANG.XLS 48,128 14-10-08 4:15p` `NO_PHANBON_VU_DONG.XLS 62,464 02-11-08 10:20a` `TONG_HOP_CONG_NO.XLS 115,712 12-11-08 6:45p`

Tất cả các tệp bảng tính vẫn còn nguyên vẹn dung lượng, tên tệp và dấu vết thời gian của lần lưu cuối cùng vào chiều hôm kia. Phía sau lưng tôi, một tiếng thở hắt ra thật mạnh từ lồng ngực ông Tính, nghe như thể một khối đá tảng vừa được trút bỏ khỏi cổ họng người đàn ông trung niên này.

Tôi không cho phép bản thân được lơ là dù chỉ một giây. Tôi kéo khóa ngăn ngoài chiếc cặp da của mình, rút ra một chiếc đĩa mềm Maxell hoàn toàn mới, vỏ bọc nilon bên ngoài còn nguyên mép cắt của cửa hàng văn phòng phẩm thị trấn — chiếc đĩa mà tôi đã bấm bụng dùng một phần tiền công ít ỏi nhận được từ lần sửa máy trạm đo đạc ở trạm vật tư đợt trước để mua về dự phòng. Tôi xé lớp màng bọc, đẩy lẫy chống ghi đè trên mép đĩa sang trạng thái mở, rút chiếc đĩa khởi động của thầy Dũng ra và nhét chiếc đĩa mới vào ổ A.

Những ngón tay tôi gõ dứt khoát trên bàn phím: `copy C:\SO_NO_2008\*.* A:\`

Chiếc đèn xanh trên ổ đĩa mềm lại bừng sáng. Tiếng đầu từ bắt đầu di chuyển, từng cung từ trên đĩa cứng được đọc tuần tự và chuyển dịch qua cáp bẹ, nạp vào bộ nhớ tạm rồi ghi từng vệt từ tính siêu nhỏ lên lớp màng tròn bên trong vỏ nhựa của chiếc đĩa mềm Maxell. Âm thanh lạo xạo cơ khí vang lên đều đặn trong không gian tĩnh mịch của gian kho chứa cám.

Khoảng một phút trôi qua dài như một thế kỷ, cho đến khi dòng chữ thông báo hiện lên gọn lỏn: ` 3 file(s) copied.`

Tôi khẽ ngả lưng ra sau thành ghế một nhịp, thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Toàn bộ huyết mạch tài chính của cửa hàng này, sinh mệnh của hàng trăm món nợ phân bón và xi măng của bà con khắp mấy xã vùng cao, giờ đây đã nằm an toàn bên trong lớp vỏ nhựa nhỏ bằng bàn tay tôi. Dù cho cỗ máy tính cũ kỹ này sau đây có bốc khói, nổ tụ hay hỏng hẳn ổ cứng, tôi vẫn có thể ngẩng cao đầu trao trả lại cho chủ nhà toàn bộ dữ liệu mà không làm thất thoát một con số nào.

Bước bốn: Chẩn đoán sâu và xác định gốc rễ lỗi hệ thống.

Để bảo đảm an toàn đa tầng, tôi tiếp tục gõ lệnh tạo một thư mục mang tên `BAN_SAO_LUC_NAM` trên phân vùng thứ hai của ổ đĩa cứng — ổ D, nơi chưa từng bị cài đè hệ điều hành — rồi sao chép thêm một bản phụ vào đó. Khi mọi dữ liệu cốt tử đã được bọc lót kỹ càng, tôi mới chính thức kích hoạt công cụ chẩn đoán bề mặt đĩa: `A:\> SCANDISK C:`

Màn hình CRT lập tức chuyển sang giao diện đồ họa bán văn bản màu xanh nước biển quen thuộc của tiện ích Microsoft ScanDisk. Một mạng lưới gồm hàng trăm ô vuông nhỏ li ti hiện ra, tượng trưng cho các khối dữ liệu (cluster) trên bề mặt phân vùng hệ thống.

Thanh tiến trình quét bắt đầu nhích từng bước một từ góc trái qua phải. Mọi thứ diễn ra trơn tru cho đến khi tỷ lệ quét chạm tới ngưỡng 85% dung lượng đĩa.

Cạch... Cạch... Cạch...

Chiếc ổ cứng kim loại bỗng rung lên nhè nhẹ, phát ra chuỗi âm thanh kim khí va đập khô khốc, nghẹn ngào. Đầu từ đọc cố gắng lặp lại thao tác định vị trên một cung từ nhất định nhưng không thể đọc được tín hiệu phản hồi. Sau năm lần thử lại thất bại, màn hình ScanDisk nhấp nháy, đánh dấu một chữ “B” màu đỏ thẫm — biểu tượng của một bad cluster (khối dữ liệu hỏng vật lý) — ngay tại một ô vuông nằm sát khu vực lưu trữ tệp tin hoán đổi bộ nhớ ảo `pagefile.sys` của hệ điều hành Windows XP. Chưa đầy mười giây sau, một chữ “B” thứ hai tiếp tục xuất hiện liền kề.

Tôi gõ lệnh thoát ScanDisk và chuyển về dấu nhắc lệnh, gõ tiếp lệnh kiểm tra thông số lưu trữ toàn diện: `C:\> chkdsk C:`

Những con số thống kê khô khan hiện lên, nhưng đối với một người thợ, chúng kể một câu chuyện hết sức rõ ràng: Phân vùng hệ thống C có tổng dung lượng vỏn vẹn mười gigabyte, nhưng dung lượng khả dụng còn trống chỉ còn lại... 58.420 kilobyte — tức là chưa đầy sáu mươi megabyte!

Bức tranh toàn cảnh về nguyên nhân sâu xa của sự cố đã hiện ra hoàn chỉnh, sáng rõ như ban ngày: Chiếc máy tính này từ ngày mua về chưa từng được ai dọn dẹp hay bảo dưỡng định kỳ. Hàng trăm megabyte tệp tin rác phát sinh từ phần mềm gõ tiếng Việt, các bản lưu tạm thời tự động của phần mềm văn phòng, cùng với các tệp đệm in ấn dồn ứ lâu ngày đã bóp nghẹt phân vùng C đến mức không còn lấy một khoảng trống để thở. Khi hệ điều hành Windows khởi động, nó bắt buộc phải tạo ra một vùng nhớ ảo trên đĩa cứng để bù đắp cho dung lượng RAM 256MB quá cỏi cọc.

Không còn khoảng trống an toàn, Windows đã cố ép tệp nhớ ảo ghi đè lên đúng khu vực cung từ vốn đã bị thoái hóa lớp từ tính sau vô số lần bị sập nguồn đột ngột do máy xay cám kéo sụt áp. Đỉnh điểm là vào sáng hôm qua, sự rung lắc cơ học của kho hàng đã làm đầu cáp IDE vốn đã nứt chốt bị tuột nhẹ, khiến tín hiệu truyền dữ liệu giữa ổ cứng và bo mạch chủ bị gián đoạn hoàn toàn. Đó là lý do vì sao máy tính quạt vẫn quay, đèn nguồn vẫn sáng, nhưng vĩnh viễn không thể vượt qua bước tự kiểm tra phần cứng ban đầu.

Một ý nghĩ thoáng lướt qua tâm trí tôi: Tôi có thể biến những phát hiện này thành một màn trình diễn ngoạn mục. Tôi có thể đứng thẳng dậy, nhìn ông chủ tiệm bằng ánh mắt của một chuyên gia đầy uy quyền, tuôn ra một tràng dài những thuật ngữ đao to búa lớn — nào là “phân mảnh tầng cấp phát tập tin FAT32”, nào là “lỗi tràn bộ nhớ ảo do sụp đổ bảng phân vùng”, nào là “hiện tượng trễ chu kỳ xung nhịp bus IDE do sai lệch trở kháng tiếp xúc”. Bằng cách đó, tôi sẽ khiến một người nông dân buôn bán cả đời như ông Tính phải hoa mắt chóng mặt, phải cúi đầu nể sợ kiến thức uyên thâm của một học sinh trường huyện, và sẵn sàng móc hầu bao chi trả bất cứ mức giá nào mà tôi đưa ra để đổi lấy sự “hồi sinh” của cỗ máy.

Nhưng tôi đã không làm như vậy. Tôi siết chặt bàn tay lại, nén sự háo danh đang chực trào nơi cổ họng xuống đáy lòng. Bài học về sự tử tế và cái tâm của người làm nghề mà thầy Dũng truyền dạy suốt những tháng ngày ngồi bên bàn hàn thiếc đã giữ tôi đứng vững trên mặt đất. Người đang đứng trước mặt tôi là một người đàn ông chất phác kiếm sống bằng từng bao cám, từng bao phân bón; ông ta không cần những thuật ngữ hoa mỹ vô nghĩa, ông ta cần biết sự thật trần trụi về món tài sản mưu sinh của gia đình mình: nó đang hỏng ở mức độ nào, phần nào còn dùng được, và phần nào sắp sửa đổ vỡ.

Tôi xoay chiếc ghế đẩu lại, nhìn thẳng vào đôi mắt đang đầy vẻ âu lo của ông Tính, cất giọng rành rọt, dùng những từ ngữ mộc mạc nhất:

— Bác Tính, máy tính của bác em đã bắt đúng toàn bộ các bệnh của nó rồi ạ.

— Sao hả cháu? Liệu có cứu vãn được không? — Ông Tính run giọng hỏi, hai mắt chớp lia lịa, vẻ kẻ cả hách dịch lúc nãy đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho sự khẩn khoản thật lòng.

— Em nói rõ để bác hiểu, có hai việc riêng biệt: một việc em xử lý dứt điểm được ngay cho bác hôm nay, và một việc bác bắt buộc phải tự theo dõi về lâu về dài. Thứ nhất, cái làm cho máy của bác sáng nay bật không lên hình là do sợi cáp truyền dữ liệu bị rung lắc làm gãy chốt và tuột ra, cộng thêm đầu cấp điện bị bám bụi muội than nên phóng tia lửa điện ngầm. Chỗ này em đã thay hẳn cho bác một sợi cáp tám mươi sợi loại tốt của phòng máy trường huyện, em cạo sạch muội than và nắn chặt lại các chân kim loại rồi. Toàn bộ các sổ ghi nợ của bác em cũng đã sao chép an toàn một bản vào chiếc đĩa mềm này, và cất thêm một bản dự phòng vào ổ D của máy, bác không sợ mất đi một chữ nào hết.

Ông Tính thở phào một cái thật sâu, bờ vai căng cứng nãy giờ chùng hẳn xuống:

— Thế thì đội ơn các thầy quá! Thế còn phần mềm bên trong? Có phải cài lại từ đầu mất tiền triệu không?

— Không cần phải cài lại bác ạ, — tôi lắc đầu, ngón tay chỉ lên màn hình ScanDisk vẫn đang dừng ở ô chữ “B” màu đỏ. — Nhưng đây là phần thứ hai bác cần phải ghi nhớ thật kỹ: ổ cứng của bác lúc này giống hệt như một cái kho chứa lúa bị nhét đồ đạc bừa bãi đến tận nóc nhà, không còn lấy một lối đi lại. Nguy hiểm hơn, ở góc tường sâu nhất dưới đáy kho đã bắt đầu xuất hiện hai vết nứt rạn — tức là có hai điểm trên mặt đĩa sắt đã bị hỏng vĩnh viễn, không thể lưu chữ được nữa. Em đã dùng phần mềm để vẽ rào chắn cô lập hai vết nứt ấy lại, cấm máy tính không được bén mảng đến vùng rạn đó nữa, đồng thời em sẽ quét sạch toàn bộ rác rưởi để dọn ra một khoảng trống rộng rãi chừng ba gigabyte cho máy có chỗ thở.

Tôi dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt ông ta, giọng nói trở nên đanh thép và nghiêm cẩn:

— Nhưng vết rạn ấy không bao giờ có thể tự lành lại được đâu bác. Sau hôm nay, máy sẽ lại khởi động mượt mà, bác mở sổ nợ ra làm việc bình thường. Thế nhưng bác phải nhớ lấy lời em: nếu thời gian tới, khi bật máy lên mà bác lại nghe thấy thùng sắt phát ra những tiếng kêu “cạch... cạch...” khô khốc, hoặc lúc mở một bảng tính Excel mà máy bị đơ cứng mất vài ba phút mới mở được, thì đó là điềm báo vết nứt đã lan rộng, ổ cứng đã già cỗi và sắp chết hẳn. Lúc ấy, bác bắt buộc phải chi tiền mua một chiếc ổ cứng mới toanh để thay thế, chứ không một người thợ nào trên đời có thể chắp vá mãi cho bác được nữa. Bác có đồng ý để em dọn sạch ổ đĩa và cho máy khởi động lại vào hệ điều hành không ạ?

Ông Tính đứng chôn chân tại chỗ mất một lúc lâu. Ông ta nhìn tôi trân trân, ánh mắt có một sự thay đổi sâu sắc. Đó không còn là cái nhìn soi mói, trịch thượng của một chủ tiệm giàu có nhìn một đứa trẻ con phụ việc để chực chờ mặc cả bớt một thêm hai, mà là ánh mắt kính trọng của một người nhận được một lời khuyên chân thành, minh bạch và có trách nhiệm đến tận cùng.

— Được... được chứ cháu! Cháu cứ làm cho nó sạch sẽ, thoáng đãng ra hộ bác! — Ông Tính gật đầu lia lịa, hai bàn tay thô ráp xoa xoa vào nhau. — May phúc tổ bảy đời nhà bác hôm nay có hai thầy trò cháu về chỉ bảo ngọn ngành, chứ nếu mà cứ nhắm mắt mang ra mấy cửa hàng ngoài phố huyện, họ bảo vứt cả cái ổ cứng đi rồi đòi mấy triệu bạc thì bác cũng chỉ biết cắn răng móc ví chứ biết cãi làm sao được!

Tôi mỉm cười nhẹ nhõm, xoay người lại đối diện với bàn phím máy tính. Phía sau lưng, tôi nghe thấy tiếng quẹt diêm của thầy Dũng. Một đốm lửa bừng lên, rồi tiếng rít thuốc lào giòn tan, êm ái buông vào làn khói lam mờ ảo, hòa quyện vào bầu không khí thoang thoảng mùi cám gạo của buổi chiều tà nơi phố huyện.

Tôi gõ lệnh xóa sạch các tệp tin tạm có đuôi `.TMP`, xóa sạch bộ nhớ đệm của hệ thống và thiết lập lại kích thước vùng nhớ ảo sang phân vùng D an toàn. Sau đó, tôi gõ lệnh khởi động lại: `A:\> shutdown -r`

Cỗ máy tính khởi động lại nhanh như một mũi tên. Những dòng chữ BIOS lướt qua trong chớp mắt, rồi thanh cuộn màu xanh lam quen thuộc của Windows XP xuất hiện. Âm thanh khởi động trong trẻo vang lên qua chiếc loa nhỏ gắn trong thùng máy. Màn hình nền thảo nguyên xanh ngát hiện ra trọn vẹn, không một thông báo lỗi.

Tôi dùng chuột mở thư mục `SO_NO_2008`, nhấp đúp vào tệp `TONG_HOP_CONG_NO.XLS`. Phần mềm Microsoft Excel 2003 mở ra êm ru; từng cột số liệu, từng dòng ghi chú nợ tiền cám, tiền xi măng của từng hộ dân hiện ra nguyên vẹn, các phép tính cộng tổng nhảy số mượt mà không hề có độ trễ.

Ông Tính ghé sát mắt vào màn hình, tự tay cầm con chuột bi rê qua từng dòng rồi thốt lên mãn nguyện:

— Chuẩn rồi! Đầy đủ từng hào từng cắc không sót một dòng nào! Tốt quá rồi!

Tôi tắt máy đúng quy trình, rút sợi dây nguồn ra, cẩn thận lắp lại tấm tôn nắp hông của thùng máy và siết chặt hai con ốc giữ. Mọi việc kết thúc hoàn hảo như một bài thực hành mẫu mực.

Thế nhưng, khi đến lúc tính toán chi phí, không khí trong gian kho bỗng chốc chùng xuống một cách kỳ lạ.

Ông Tính quay người về phía chiếc bàn làm việc, mở chiếc ngăn kéo gỗ ọp ẹp phát ra tiếng cót két. Ông ta đứng lúi húi rất lâu bên trong, bàn tay lật qua lật lại những tập tiền được buộc dây chun cẩn thận. Thay vì rút ra tờ tiền màu xanh mệnh giá năm mươi nghìn đồng như lời thỏa thuận ban đầu lúc thầy Dũng nhận lời đưa người tới sửa, ngón tay ông ta lẩy ra một tờ mười nghìn đồng bằng giấy cotton cũ kỹ, mép tiền đã sờn rách và bám đầy bụi cám mốc meo.

Ông Tính quay lại, bước tới trước mặt tôi, nét mặt tươi cười xởi lởi lúc nãy đã được thay thế bằng một vẻ nhăn nhó, phân trần rất thạo đời. Ông ta chìa tờ mười nghìn đồng lẻ ra, dúi thẳng vào lòng bàn tay tôi:

— Đây, bác gửi cháu mười nghìn uống nước mía. Bảo là sửa máy tính cho to chuyện chứ thực ra bác đứng nhìn từ đầu đến cuối, thấy mày chỉ có mỗi việc rút cái dây ra cắm lại với quét tí bụi, chưa tốn đến một giọt dầu mỡ nào của nhà bác cả. Với lại cháu nó vẫn còn là học sinh đi phụ việc theo thầy, có thầy Dũng đứng kèm kè kè chỉ bảo từng ly từng tí thế này thì coi như là đi học nghề thực tế, bác tạo điều kiện cho có chỗ thực hành là quý lắm rồi. Chỗ người quen trong làng cả, bác gửi cháu chừng này là xông xênh rồi nhé!

Bàn tay tôi siết chặt lại, tờ tiền giấy nhăn nhúm nằm lọt thỏm trong lòng bàn tay tôi ráp ráp và lạnh ngắt.

Máu nóng lập tức dồn ngược lên mặt, hai vành tai tôi nóng bừng như có ngọn lửa táp vào. Sự trơ trẽn và lật lọng trút xuống quá nhanh khiến tôi sững sờ. Năm mươi nghìn đồng đã hứa bị bớt xén không thương tiếc xuống còn một phần năm — số tiền quỵt bớt ấy, đối với một gia đình buôn bán lớn như ông Tính có lẽ chẳng đáng giá bằng một bao cám vỡ, nhưng đối với một đứa học trò nghèo như tôi, nó đủ để mua thêm năm cuốn vở Bãi Bằng loại giấy trắng dày dặn, đủ để đóng tiền quỹ học tập cả tháng, hay đổi lấy những bữa cơm có thêm chút thức ăn đàng hoàng.

Tệ hơn cả sự mất mát về vật chất, đó là sự chà đạp lên lòng tự trọng. Toàn bộ công sức cặm cụi, sự tỉ mỉ gọt giũa từng chân tiếp xúc, sự cẩn trọng bảo vệ dữ liệu sống còn cho nhà ông ta, và cả sợi cáp tám mươi sợi tôi móc từ đồ nghề riêng ra lắp cho ông ta... rốt cuộc bị đánh đồng thành một trò vặt vãnh của một “đứa trẻ con học việc không tốn giọt dầu mỡ”.

Cơn uất nghẹn dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng. Tôi hé môi, các thớ cơ trên mặt giật giật, định gắt lên để đòi lại sự sòng phẳng: “Bác đã hứa...”

Nhưng lời chưa kịp thốt ra khỏi miệng, một bàn tay to lớn, chai sạn đã đặt thật chặt lên vai tôi.

Bàn tay của thầy Dũng.

Một lực ấn trầm tĩnh, dứt khoát và nặng như chì truyền qua lớp áo vải mỏng, khóa chặt lấy bờ vai đang run lên vì phẫn nộ của tôi. Thầy Dũng nhìn tôi, khẽ lắc đầu một cái rất nhẹ. Đôi mắt sau tròng kính của thầy sâu thẳm, không có một gợn sóng giận dữ, chỉ có một sự thấu hiểu lạnh lùng đến tàn nhẫn. Thầy không nhìn sang ông Tính, cũng không buồn liếc mắt nhìn tờ tiền mười nghìn rách mép đang nằm trong tay tôi.

Thầy Dũng quay sang, giọng nói bình thản đến mức đóng băng:

— Máy đã chạy ổn định. Dữ liệu đã bàn giao xong. Chúng tôi xin phép về.

Nói rồi, thầy xách chiếc cặp da đồ nghề lên, xoay người sải bước ra khỏi cửa kho hàng mà không ngoái đầu lại dù chỉ nửa bước. Tôi cắn chặt môi đến mức bật cả vị tanh mặn của máu, lẳng lặng nhét tờ mười nghìn nhăn nhúm vào túi quần rồi vội vã rảo bước đi theo bóng lưng thầy.

Chúng tôi bước đi bên nhau trên con đường đất đỏ gồ ghề dẫn từ thị trấn về phía bờ kênh. Gió chiều đông thổi thốc từ cánh đồng hoang lạnh buốt, cuốn theo những đám bụi cát quất rát rạt vào mặt. Tôi cắm cúi bước đi, hai bàn tay thọc sâu vào túi áo khoác sờn rách, lồng ngực vẫn chưa hết nghẹn ngào vì ấm ức. Tôi không hiểu tại sao thầy lại ngăn tôi lại. Nếu tôi làm căng lên, người ta sẽ phải ngượng mà trả đủ tiền.

Đi được một quãng xa, khi tiếng ồn ào của phố xá đã lùi lại hẳn phía sau, thầy Dũng bỗng chậm bước lại, sóng hàng cùng tôi. Thầy không hề bảo tôi phải cam chịu, cũng không buông những lời an ủi sáo rỗng. Giọng thầy cất lên giữa tiếng gió thổi ù ù qua rặng phi lao:

— Nhớ cho thật kỹ bài học ngày hôm nay. Lần sau, trước khi đụng một ngón tay vào bất kỳ cỗ máy nào của người ta, việc đầu tiên là phải mở miệng thỏa thuận cho sòng phẳng từng điều một: Phạm vi công việc là làm những gì, mức tiền công trọn gói là bao nhiêu, linh kiện thay thế tính riêng hay tính chung, và những rủi ro nào mình không bảo đảm. Không có giấy trắng mực đen hoặc lời giao kèo dứt khoát trước mặt nhiều người, thì đừng bao giờ động thủ. Làm nghề kỹ thuật, nếu không tự định giá lấy giá trị của mình, thì thiên hạ sẽ luôn coi công sức của anh là đồ cho không.

Lời nói của thầy như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào đầu tôi, dập tắt ngọn lửa ấm ức mù quáng và làm bừng sáng lên một nhận thức hoàn toàn mới. Người làm thợ không chỉ cần có tay nghề giỏi; người làm thợ muốn tồn tại được giữa cuộc đời thực tế này còn phải có bản lĩnh để bảo vệ giá trị lao động của chính mình.

Đêm hôm ấy, góc chái phụ nhà bác Lương chìm trong tĩnh mịch tuyệt đối. Ngọn đèn dầu hỏa leo lét tỏa ra một quầng sáng vàng vọt, soi rõ mặt bàn gỗ mộc sứt sẹo. Tôi ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế con, mở cuốn sổ ghi chép kỹ thuật đã sờn mép. Bên cạnh sơ đồ chân cắm IDE và quy trình sao lưu dữ liệu bằng đĩa mềm MS-DOS vừa thực hiện chiều nay, tôi nắn nót viết thêm một dòng chữ bằng mực đậm, gạch chân hai lần ở phía dưới: *Năng lực có thể khiến người ta phải tìm đến mình, nhưng sự cả nể và non nớt sẽ không bao giờ buộc được người ta tôn trọng công sức của mình.*

Tôi gấp cuốn sổ lại, đứng dậy đi sang gian nhà chính. Tôi rút tờ mười nghìn đồng lẻ đã được vuốt phẳng phiu từ trong túi ra, đặt lên mép khay chén của bác Lương. Trước ánh mắt dò xét của người bác họ, tôi tuyệt nhiên không hé răng lấy một lời về chuyện bị ép giá hay cắt xén tiền công. Tôi biết tính bác: nếu biết tôi hì hục cả buổi chiều chỉ để mang về một tờ tiền lẻ không đủ mua một bát phở, bác sẽ lập tức vin vào cớ ấy để mắng mỏ, để kết luận rằng ba cái trò máy tính máy móc chỉ là thứ vô công rỗi nghề, làm mất thời gian và không đáng một xu tiền công, rồi sẽ tìm cách cấm tiệt tôi không được bén mảng đến phòng thực hành của thầy Dũng nữa. Tôi thà nuốt cục tức vào bụng còn hơn để cánh cửa duy nhất dẫn tôi ra khỏi lũy tre làng bị đóng sầm lại.

Đúng lúc tôi vừa quay trở lại căn chái phụ, một tiếng gõ cửa khẽ khàng vang lên nơi bậu cửa liếp.

Tôi mở cửa. Thầy Dũng đang đứng đó dưới màn sương đêm bảng lảng của vùng trung du, chiếc áo khoác gió màu xám kéo khóa cao tận cổ. Thầy không bước vào trong, chỉ đưa bàn tay gầy gò, xương xẩu ra phía trước.

Trên tay thầy là một tờ giấy in roneo màu vàng ngà, mép giấy còn thơm mùi mực in hóa chất của phòng giáo dục huyện.

— Cầm lấy mà đọc cho kỹ, — thầy Dũng nói, giọng trầm ấm và đượm vẻ nghiêm nghị thân thuộc. — Đây là thông báo chính thức về kỳ thi chọn học sinh giỏi môn Tin học cấp cao hơn diễn ra vào đầu năm tới. Đừng để mấy chuyện cỏn con ngoài chợ làm cùn mất cái đầu của mình. Muốn người ta không dám coi thường mình, thì phải bước lên một cái bệ cao hơn hẳn họ. Chuẩn bị tinh thần đi, từ tuần sau thầy sẽ bắt đầu ôn luyện phần thuật toán nâng cao.

Tôi đón lấy tờ thông báo từ tay thầy, những ngón tay chạm vào mép giấy ráp ráp mà nghe như có luồng điện chạy qua. Dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu hắt ra từ chái nhà, từng dòng chữ in hoa trên nền giấy ngà hiện lên rõ mồn một. Tôi siết chặt tờ giấy vào lồng ngực, nhìn theo bóng lưng gầy guộc của thầy Dũng đang khuất dần vào màn đêm mịt mùng của con ngõ nhỏ, lòng bỗng thấy sáng rực lên một con đường.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn