Hoa Ban Không TànC.30 / 38
Chương 30

Chiếc máy ghép từ phế liệu

Trong chiếc thùng carton cũ kỹ đặt sâu dưới gầm bàn giáo viên của phòng máy trường cấp ba huyện, những thanh RAM cắm lẫn lộn không cùng màu nằm chỏng trơ bên cạnh một vỏ máy trầy xước và vài sợi cáp bẹ bốn mươi sợi rối bời, phủ một lớp bụi xám như tro bếp. Chúng nằm ép mình vào góc tối, phủ phục trong sự câm lặng kéo dài qua nhiều mùa sương muối, tựa hồ như những thứ phế phẩm sinh ra đã mang số kiếp bị lãng quên bên lề những cuộc chuyển giao trang thiết bị.

Mùi nhựa cháy âm ỉ từ những bo mạch quá nhiệt lâu ngày quyện chặt với mùi ẩm mốc của bức tường quét vôi vàng đã rộp từng mảng lớn, tạo nên một thứ không khí ngột ngạt quen thuộc đến mức chỉ cần bước chân qua gờ cửa gỗ đã sứt sẹo, ngực tôi lại thắt nghẹn lại. Bên ngoài sân trường, tiếng học sinh tan buổi chiều muộn đã vãn hẳn từ lâu. Không còn tiếng cười đùa rộn rã, không còn tiếng dép nhựa loẹt quẹt trên nền xi măng nứt nẻ. Chỉ còn tiếng gió mùa đông bắc rít từng cơn lạnh buốt qua rặng bạch đàn cao vút sau dãy nhà hiệu bộ, và tiếng chổi tre quét lá khô sàn sạt, khô khốc của bác bảo vệ vọng lại từ phía góc sân bóng đất nện.

Thầy Dũng ngồi thụp xuống sàn gạch hoa xám mẻ góc, chiếc áo khoác gió công đoàn màu xanh công nhân đã sờn rách ở cùi chỏ căng ra theo từng cử động thô ráp. Hai bàn tay to bản, ám khói thuốc lào vàng khè ở hai đầu ngón trỏ và ngón cái bám chặt vào mép chiếc thùng các-tông, kéo nó trượt sột soạt trên nền gạch ra giữa luồng ánh sáng le lói hắt vào từ khung cửa sổ chớp gỗ đã gãy mất ba nan. Thầy không vội vàng nhấc bất cứ thứ gì lên ngay. Bàn tay thô tháp của thầy gõ cồm cộp lên cạnh thùng giấy đã rách tươm mép, nơi chằng chịt những dải băng dính đóng hàng ố vàng, bám đầy bụi đất đỏ bazan khô khốc.

“Ngồi xuống đây, Nam,” thầy bảo, giọng trầm, khàn đặc vì khói thuốc và cái lạnh luồn qua khe cửa. “Trước khi mày thò cái tay run rẩy của mày vào cái đống sắt vụn này, tao phải nói cho mày nghe một điều cho rành mạch, không được để sót một chữ nào ra ngoài tai.”

Tôi kéo chiếc ghế gỗ chân sắt đã lung lay mấy con ốc định ngồi, nhưng nhìn dáng vẻ nghiêm cẩn của thầy, tôi bèn buông tay, ngồi bệt xuống bậc thềm gạch hoa đối diện. Những khớp ngón tay tôi vẫn còn hằn nguyên những vết nứt nẻ tứa máu do sương muối và đất bùn từ đợt cuốc nương ngô cuối tuần trước chưa kịp lành da non, đầu kẽ móng tay hãy còn vệt thâm đen cứng đờ của nhựa cây dẻ gai. Tôi giấu hai bàn tay thô kệch vào ống tay áo len rách gấu, nín thở chờ đợi.

“Số linh kiện này,” thầy Dũng đưa ngón tay trỏ chỉ thẳng vào lòng chiếc thùng, ánh mắt nghiêm nghị khác hẳn vẻ tếu táo, bỗ bã mà thầy thường đem ra trêu đùa đám học trò nghèo vùng cao, “là đồ thanh lý và đồ hỏng gom lại qua ba đợt dồn dịch máy móc của các phòng ban dưới ủy ban huyện và hai điểm trường cụm xã. Đáng lẽ theo đúng quy trình sổ sách tài sản công, chúng nó phải nằm im thin thít trong kho thiết bị chờ hội đồng kiểm kê lập biên bản thanh lý tiêu hủy, hoặc bán cân ký cho cánh thu mua đồng nát lấy vài đồng nộp quỹ. Tao đã làm giấy đề xuất, trình bày rách mép xin giữ lại làm vật tư thực hành, linh kiện dự phòng thay thế cho phòng máy của trường mình. Nhưng tao mang một số phần ra khỏi khuôn viên trường học này để đưa cho mày dùng riêng thì nói thẳng một câu cho sòng phẳng: về mặt nguyên tắc hành chính là chưa hoàn toàn đúng thủ tục.”

Tôi giật thót mình, vội vàng rụt bàn tay đang vô thức định vươn ra chạm vào mép thùng lại. Một nỗi bất an buốt lạnh xộc thẳng lên lồng ngực.

Thầy Dũng nhìn thấy trọn vẹn cử chỉ rụt rè ấy của tôi, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười nửa miệng nhưng ánh mắt vẫn phẳng lặng như mặt nước hồ mùa đông:

“Mày sợ à? Biết sợ là tốt. Lần trước làm mất dữ liệu danh sách học sinh diện chính sách của cô Hạnh, mày đã nếm đủ cái giá của việc nhanh nhảu đoảng, tay nhanh hơn não rồi. Hôm nay tao nói điều này rành rọt không phải để mày mang ơn tao, cũng không phải để mày thấy tao liều lĩnh hay anh hùng hảo hán gì vì mày. Tao đưa đống này cho mày vì tao thấy mày cần một cái công cụ cụ thể để bấu víu vào mà leo dốc, nhưng mày chỉ được phép nhận khi cái đầu mày hiểu rõ rằng đây là một sự tin cậy có điều kiện ngặt nghèo. Một cỗ máy được chắp vá từ đồ phế thải, không có hóa đơn đỏ, không có biên bản bàn giao có dấu mộc tròn. Mày mang nó về nơi trọ ở xóm thợ hay mang về bản Nà Ban, mày chỉ có đúng một quyền duy nhất: học. Mày không được mang đi khoe khoang với chúng bạn, không được để ai xem đó là một món tài sản dư thừa để sinh sự ghen ghét, tị nạnh, và tuyệt đối không bao giờ được để nó trở thành cái cớ để người ta chỉ trỏ bảo thầy trò mình làm bậy, tút đồ công mang về làm của tư. Mày có hiểu hết cái gánh nặng ấy không?”

“Em hiểu, thưa thầy,” tôi đáp, giọng nhỏ nhưng từng âm tiết phát ra đều dứt khoát. Cổ họng tôi nghẹn đắng lại khi trong đầu bất giác hiện lên khuôn mặt quắc thước và ánh mắt rình rập, dò xét của bác Lương ở bản Nà Ban, cùng những lời bóng gió sắc lẹm như dao cạo mỗi khi trong góc buồng nhà tôi xuất hiện một mẩu sắt vụn hay một tờ giấy trắng thừa. “Nếu có ai hỏi han, em sẽ nói đây là đống linh kiện hỏng của trường loại ra, thầy cho em mượn để học cách tháo lắp ốc vít.”

“Không cần phải nói dối lem lém làm gì cho hèn người,” thầy xua mạnh bàn tay thô ráp. “Cứ ngẩng mặt nói thật là đồ nhà trường loại ra cho mượn tự mày mò sửa chữa. Nhưng cái chính là cái tâm của mày phải ngay thẳng. Thấy cái máy cắm điện sáng lên thì đừng có vội tưởng mình đã hơn người, đừng có nghĩ mình đã chạm tay vào đỉnh cao gì ghê gớm. Một đống sắt vụn này không biến mày thành kỹ sư, và nó vĩnh viễn chẳng thể tự động xóa được cái nghèo truyền kiếp của cái xóm núi này đâu.”

Thầy thở dài một hơi thật dài, làn khói lạnh từ miệng thầy phả ra tan nhanh vào không khí ẩm mốc. Thầy đứng dậy, với tay bật công tắc ngọn đèn tuýp duy nhất còn hoạt động trên trần nhà cao lồng lộng. Bóng đèn chớp nháy ba bốn lần, kêu *tạch… tạch… tạch* rồi bừng lên một thứ ánh sáng trắng lạnh lẽo, soi rọi từng vết nứt nẻ trên tường và làm rõ từng vệt gỉ sét màu nâu đỏ bám trên các góc khung kim loại sắc nhọn. Thầy bước lại góc tủ gỗ ép mục nát, lôi ra hai cuộn giẻ lau bằng vải sợi bông cũ, một hộp tô-vít nhiều đầu cán nhựa trong suốt và một cuốn sổ tay bìa cứng đã quăn queo bốn góc, đặt cộp xuống nền gạch ngay sát cạnh tôi.

“Nào, mở sổ ra. Bút đâu?”

Tôi vội vàng luống cuống rút cây bút bi Bến Nghé màu xanh đã mòn vẹt đầu ngòi giắt ở mép túi ngực áo khoác. Thầy Dũng cúi người, chỉ ngón tay chai sần vào từng món đồ khi thầy nhấc chúng ra khỏi lòng chiếc thùng các-tông, đặt ngay ngắn, thẳng hàng trên nền gạch đã được lót cẩn thận bằng ba lớp báo cũ Tiền Phong ố vàng.

“Phân loại trước,” thầy nói, giọng nghiêm cẩn như một người thợ già truyền nghề nơi xưởng máy. “Làm thợ máy hay làm thợ phần mềm thì cái đầu mày trước hết cũng phải có ngăn nắp, trật tự. Đừng có bốc bải bừa bãi như thói quen bốc ngô bốc sắn ngoài nương rẫy.”

Tôi không dám hấp tấp thò tay chạm vào bất cứ thứ gì. Bài học cay đắng từ buổi chiều định mệnh lỡ tay định dạng nhầm phân vùng ổ cứng, xóa sạch toàn bộ danh sách diện chính sách trong máy cô Hạnh vẫn như một vết bỏng rát sâu hoắm trong tâm can tôi, nhắc nhở tôi về sự cẩu thả nông nổi. Tôi quỳ gối xuống sàn gạch lạnh buốt, chăm chú nhìn từng chi tiết theo ngón tay chỉ của thầy và bắt đầu lia bút ghi chép.

Món đầu tiên được lấy ra là một bo mạch chủ Socket 370 màu xanh lá úa tàn, phủ một lớp bụi mịn màng dày như tro rơm bếp củi. Thầy Dũng cầm chiếc chổi sơn nhỏ đã tỉa bớt lông, quét nhẹ nhàng, dứt khoát dọc theo các rãnh khe cắm và các chân tụ.

“Nhìn cho thật kỹ chân cắm CPU,” thầy rút chiếc đèn pin nhỏ bằng ngón tay cái từ túi quần, soi sát chùm sáng vàng vào phần socket màu trắng ngà. “Chân cắm dạng lẫy gạt này cực kỳ mỏng manh, chỉ cần một hạt cát lọt vào hay một chân đồng bị lệch góc là xem như vứt đi cả cụm mạch, không có thợ nào ở cái huyện này nắn lại được đâu. Giờ nhìn tiếp sang các tụ điện hóa học quanh khu vực cấp nguồn cho vi xử lý: nếu đỉnh tụ bằng nhôm bị phồng cong lên, hoặc rỉ ra một vệt bã nhờn màu vàng khô như gỉ sắt, nghĩa là tụ đó đã chết khô hoặc sắp nổ toác khi có dòng điện lớn chạy qua. Cái bo mạch này nhìn đỉnh tụ vẫn còn phẳng lì, chân socket sáng nước, chưa có dấu hiệu cháy chân đồng. Đánh dấu nó vào sổ là bo mạch khả dụng số một.”

Tôi cặm cụi tì ngòi bút bi xuống trang giấy kẻ ngang, viết từng nét chữ nắn nót: *Bo mạch chủ Socket 370 – kiểm tra đỉnh tụ phẳng, chân socket nguyên vẹn, cần dùng cồn y tế vệ sinh lại bụi ở các khe tiếp xúc.*

Món tiếp theo là bộ nguồn máy tính. Đó là một khối kim loại hình hộp vuông vức xám xịt nhãn hiệu Huntkey đã rách bươm một góc tem bảo hành, dây nhợ thò ra lủng lẳng thành từng bó như một túm rễ cây rừng sau mùa mưa lũ. Thầy Dũng không cắm dây nguồn vào ổ điện ngay. Thầy lấy một đoạn dây đồng nhỏ dài chừng hai đốt ngón tay, cạo sạch lớp men cách điện rồi cắm nối tắt hai chân cắm: chân dây màu xanh lá cây đại diện cho tín hiệu kích nguồn (PS_ON) và một chân dây màu đen nối mát (GND) trên đầu cắm ATX hai mươi chân to bản. Đoạn, thầy cắm phích cắm qua một ổ cắm an toàn có cầu chì sứ riêng biệt mà thầy tự chế.

Cánh quạt tản nhiệt của bộ nguồn rít lên một tiếng *khẹt* khô khốc, giật cục một nhịp rồi bắt đầu quay lờ đờ, phả ra một luồng khí nồng nặc mùi bụi lưu cữu và dầu máy khô kiệt.

“Nguồn này công suất danh định trên nhãn ghi ba trăm oát,” thầy Dũng chỉ vào lớp giấy bạc bong tróc, “nhưng qua tay không biết bao nhiêu đời máy ở các phòng ban ẩm thấp thì giờ thực tế chắc chỉ còn gánh nổi hơn hai trăm oát là cùng. Tuyệt đối ghi nhớ: không được cắm thêm ổ đĩa quang, không cắm thêm quạt gió hay thiết bị ngoại vi linh tinh làm sụt áp. Dây cấp nguồn phụ mười hai vôn cho bo mạch hơi bị lỏng ngàm nhựa khóa, khi cắm vào chân đế trên bo mạch, tay mày phải lựa cho thật chuẩn, ấn dứt khoát đến khi nghe tiếng ‘tách’ thật đanh thì các chân tiếp xúc mới ăn khớp hoàn toàn, không sinh tia lửa điện làm đen chân cắm.”

Tôi vừa lắng nghe vừa ghi chép cẩn thận từng màu dây: màu vàng mười hai vôn, màu đỏ năm vôn, màu cam ba phẩy ba vôn, cùng lời cảnh báo gắt gao về mức tải điện chập chờn ở vùng rẻo cao này. Tôi hiểu quá rõ lưới điện ở thị trấn huyện lỵ này phập phù đến mức nào, nói gì đến chiếc máy phát thủy điện mini dạng củ phát đặt dưới suối cạn ở Bản Nà Ban hay đường dây trần câu tạm bợ từ cột hạ thế vào gian kho nhà bà giáo Ngô nơi tôi đang nương náu. Chỉ cần điện áp sụt xuống đột ngột hoặc một cú xung điện sét đánh lan truyền qua đường dây trần trên đồi, cỗ máy mỏng manh chắp vá này có thể nổ tung toàn bộ dàn linh kiện bên trong trong chớp mắt.

Đến phần ổ cứng, thầy Dũng cẩn thận lôi từ đáy thùng các-tông ra hai chiếc ổ cứng dày cộp, nặng trịch chuẩn giao tiếp IDE của hãng Seagate. Cả hai đều có dung lượng khiêm tốn của thế hệ trước: một chiếc mười gigabyte mỏng hơn một chút và một chiếc hai mươi gigabyte dày cộp với những đường gân kim loại đúc thô ráp trên nắp lưng.

“Ổ cơ khí cổ lỗ này là thứ dễ lăn ra chết bất đắc kỳ tử nhất,” thầy Dũng co khớp ngón tay gõ nhẹ từng tiếng *cộc… cộc* lên lớp vỏ kim loại xám của chiếc ổ dung lượng hai mươi gigabyte. “Mày nhìn cái tem tròn nhỏ này xem, nó in năm sản xuất từ tận năm 2000. Tám năm trời ròng rã nằm trong phòng máy ẩm ướt vùng núi, đĩa từ tráng từ tính bên trong có thể đã bị rỗ mặt, đầu từ đọc ghi cơ học có thể đã bị kẹt cứng trên thanh trượt. Lát nữa cắm cáp dữ liệu và dây nguồn vào thử, nếu tai mày nghe thấy tiếng ‘cạch… cạch… cạch’ lặp đi lặp lại nhịp nhàng như tiếng mễ gõ nhịp trong đêm thì phải giật phích cắm nguồn ra ngay lập tức, cấm tuyệt đối không được để chạy cố. Cố thêm một giây là cái đầu từ bằng hợp kim nó cà rách luôn vệt từ trên mặt đĩa quay hàng nghìn vòng mỗi phút, toàn bộ dữ liệu hay hệ điều hành nạp vào đấy coi như hóa thành tro bụi, không ông trời nào cứu lại được.”

Ngòi bút bi của tôi miết mạnh xuống trang giấy, gằn từng nét mực: *Dấu hiệu hỏng hóc cơ học của ổ cứng IDE – tiếng va đập lặp lại của cụm đầu đọc, lỗi cung từ vật lý (Bad Sector), cáp bẹ dữ liệu bốn mươi sợi tuyệt đối không được gập gãy nếp góc chín mươi độ, phải uốn lượn hình sóng.*

Hai thầy trò chúng tôi cặm cụi phân loại, đo đạc và lau chùi mất gần hai tiếng đồng hồ khi bóng tối bên ngoài đã nuốt trọn những rặng cây sau trường. Trong số sáu thanh RAM chuẩn SDRAM nhặt ra từ đáy thùng, chỉ có đúng hai thanh dung lượng 128 megabyte chân mạ đồng còn giữ được ánh vàng óng ả, không bị xước cụt đường mạch in; bốn thanh còn lại hoặc đã mẻ mất góc phíp cách điện, hoặc các hàng chân cắm đã bị hơi ẩm làm oxy hóa xám xịt như vôi chết. Thầy Dũng rút từ túi quần ra một cục tẩy chì học sinh màu trắng đã gọt nhọn đầu, đưa cho tôi rồi làm mẫu chà xát thật cẩn thận, đều đặn lên từng hàng chân đồng li ti của thanh RAM cho đến khi lớp xỉ bẩn bong ra hết, ánh kim loại sáng lóa lên dưới luồng sáng trắng của bóng đèn tuýp.

“Lắp vào bo mạch,” thầy chuyển thanh RAM đã làm sạch sang tay tôi, giọng chùng xuống căn dặn. “Cầm chắc hai bên mép phíp xanh, tuyệt đối không được lấy ngón tay ấn thẳng vào mặt các con chip nhớ màu đen bóng kia. Mồ hôi tay mày có muối và axít, nó làm rỉ mạch in, và cái tĩnh điện tích tụ trên người mày trong mùa đông hanh khô này có thể phóng một tia lửa vô hình đánh thủng lớp cách điện vi mô bên trong chip nhớ.”

Tôi nín thở, hai bàn tay run run đón lấy thanh linh kiện mỏng manh. Cảm giác kim loại lạnh ngắt và chất liệu phíp sắc cạnh tiếp xúc với những vết chai thô ráp, nứt nẻ nơi đầu ngón tay làm tôi rùng mình một cái. Tôi cúi rạp người xuống sát bo mạch, căn thật chuẩn rãnh khuyết lệch tâm trên hàng chân cắm sao cho khớp hoàn toàn với sống nhựa của khe RAM, rồi đặt hai ngón tay cái lên hai mép trên của thanh mạch, dùng một lực dứt khoát, đều đặn ấn thẳng xuống. Tiếng hai ngàm nhựa màu trắng ở hai đầu khe cắm bật ngược vào rãnh hãm nghe vang lên một tiếng “tách” giòn giã và gọn gàng.

Một cảm giác nhẹ nhõm vô hình vừa kịp dâng lên trong lồng ngực thì ngay lập tức bị thay thế bởi sự căng thẳng tột độ khi chúng tôi bắt đầu công đoạn lắp ghép toàn bộ các khối rời rạc vào một khung vỏ máy tôn mỏng đã trầy trụa khắp nơi, một bên nắp hông bằng sắt đã mất tích tự bao giờ.

Chiếc quạt tản nhiệt bằng nhôm đúc dành cho con chip vi xử lý Intel Pentium III được giữ chặt vào socket bằng một thanh lẫy sắt mỏng đã rỉ lốm đốm. Chiếc lẫy quá cứng và đã bị cong vênh qua nhiều lần tháo dỡ thô bạo của những người tiền nhiệm. Tôi phải dùng chiếc kìm mỏ nhọn nắn từng góc gập của lá sắt, lựa thế gài thật chuẩn vào mấu nhựa của đế cắm trên bo mạch. Lớp keo tản nhiệt cũ trên lưng con chip đã khô cong, giòn vụn ra thành từng mảng bột trắng như vôi tường mục. Thầy Dũng dùng đầu dao trổ cạo sạch lớp bột khô ấy đi một cách tỉ mỉ, rồi lấy que tăm chấm một lượng mỡ chịu nhiệt màu xám chì trích ra từ một chiếc lọ nhựa nhỏ không nhãn mác, dàn đều thành một lớp màng mỏng dính như cánh ve trên lưng phiến silicon nhỏ bé.

Mọi công đoạn cơ khí thô ráp hoàn tất khi đồng hồ trên tường điểm hơn bảy giờ tối. Gió rét bên ngoài thổi thốc vào khe cửa, rít lên từng hồi u u qua các rãnh chớp gỗ.

Thầy Dũng cắm sợi dây nguồn ba chấu màu đen to bản vào ổ điện tường, rồi cẩn thận cắm giắc cắm cáp tín hiệu màu xanh lam của chiếc màn hình CRT hiệu Samsung kích thước mười lăm inch đã ố vàng toàn bộ viền nhựa phía trước vào cổng xuất hình VGA gắn liền trên bo mạch chủ.

“Bật công tắc đi,” thầy lùi lại một bước dài, hai tay khoanh lại trước ngực, đôi mắt nheo lại quan sát từng cử chỉ của tôi.

Tim tôi đập thình thịch, dồn dập vào lồng ngực gầy guộc như muốn nhảy tung ra ngoài cuống họng. Cả người tôi cứng đờ. Tôi giơ ngón tay trỏ còn vệt đen nhựa cây dẻ gai ra, nhắm chuẩn vào chiếc nút nguồn tròn bằng nhựa mạ bạc đã tróc từng vảy kim loại ở mặt trước vỏ máy, rồi ấn mạnh một cái.

Không có bất cứ thanh âm hay chuyển động nào xảy ra cả.

Căn phòng máy chìm sâu vào một sự im lặng lạnh ngắt, đặc quánh đến ngột ngạt. Cánh quạt của bộ nguồn không hề nhúc nhích dù chỉ nửa vòng. Mặt kính cong của chiếc màn hình CRT vẫn tối om, trơ lỳ như một hòn đá tảng dưới đáy suối. Hai chiếc đèn led màu xanh và đỏ ở mặt trước vỏ máy câm bặt, không có lấy một tia sáng le lói nào lóe lên để báo hiệu sự tồn tại của dòng điện.

Cơn hoảng loạn quen thuộc từng bóp nghẹt tôi trong phòng thi học sinh giỏi cấp tỉnh ở thị xã cách đây không lâu lại đột ngột trào dâng dữ dội trong cuống họng. Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng, kéo theo cảm giác bất lực nhục nhã ê chề: tôi lại làm hỏng rồi, tôi lại làm hỏng một thứ gì đó quá lớn lao, vượt quá tầm với và tầm hiểu biết của một đứa trẻ mồ côi nơi xóm núi. Hai bàn tay tôi run bắn lên bần bật, và phản xạ hoang mang đầu tiên là tôi muốn vớ ngay lấy chiếc tô-vít bốn cạnh để cậy tung nắp máy, giật đứt các sợi dây cáp bên trong ra xem rốt cuộc chỗ nào đứt, chỗ nào chập cháy.

“Dừng tay lại ngay!”

Tiếng thầy Dũng vang lên đanh thép, khô khốc như một phát súng bắn chỉ thiên giữa đêm vắng. Thầy bước xộc tới, bàn tay to lớn, thô ráp như kìm sắt chộp chặt lấy cổ tay tôi, ghì chặt lại, không cho phép những ngón tay đang run rẩy của tôi chạm vào khung sắt của thùng máy.

“Mày đang làm cái trò điên rồ gì đấy?” thầy gằn giọng xuống từng nấc, hai con mắt quắc lên nhìn xoáy thẳng vào đáy mắt tôi. “Định giật tung mọi thứ lên như một thằng mất trí ngoài chợ à? Mày đã quên sạch bài học xương máu lần trước rồi sao? Khi một hệ thống kỹ thuật không hoạt động theo ý muốn, cái đầu tiên mày bắt buộc phải dùng là cái đầu để suy luận theo trình tự logic, chứ không phải là đôi bàn tay mù quáng hành động theo nỗi sợ hãi!”

Tôi đứng chôn chân tại chỗ, toàn thân run rẩy, lồng ngực phập phồng gấp gáp, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm cả chân tóc và vầng trán dù gió mùa đông bắc ngoài sân trường đang lùa qua khe cửa buốt thấu xương tủy. Tôi nhìn vào bàn tay gầy gò của mình đang bị thầy giữ chặt đến tím tái, rồi nhìn xuống cuốn sổ tay ghi chép đang mở rộng trên nền gạch hoa lót báo cũ.

“Em… em xin lỗi thầy,” tôi lí nhí trong miệng, cổ họng nghẹn đắng, khô khốc như ngậm phải tro than.

Thầy Dũng từ từ buông cổ tay tôi ra. Thầy lùi lại nửa bước, chỉ ngón tay rắn rỏi vào cỗ máy đang câm lặng trên sàn:

“Đọc lại năm nguyên tắc xử lý sự cố tao bắt mày chép vào đầu cuốn sổ đi. Đọc to lên! Bước đầu tiên khi toàn bộ hệ thống mất nguồn là gì?”

Tôi nuốt một ngụm nước bọt đặc quánh, cố hít một hơi thật sâu để kìm nén cơn run rẩy đang truyền dọc sống lưng:

“Kiểm tra từ… từ những yếu tố hiển nhiên và đơn giản nhất ở bên ngoài hệ thống. Bắt đầu từ nguồn điện lưới dân dụng, ổ cắm trên tường, phích cắm, dây dẫn nguồn, cầu chì bảo vệ, rồi mới lần đến công tắc đóng mở mạch.”

“Thế thì làm đi,” giọng thầy dịu xuống một bậc nhưng sự nghiêm khắc của một người thợ lành nghề vẫn vẹn nguyên trong từng âm điệu. “Làm tuần tự từng bước một theo đúng thứ tự đã ghi chép. Tuyệt đối không được phép nhảy cóc qua bất kỳ khâu nào.”

Tôi quỳ hẳn hai đầu gối xuống sàn gạch lạnh ngắt. Tôi ép mình không được nhìn vào mớ vi mạch và tụ điện chằng chịt, phức tạp bên trong khung máy nữa. Tôi hướng mắt về sợi dây nguồn màu đen cắm vào ổ điện đôi gắn trên vách tường vôi bong tróc. Ổ cắm tiếp xúc chặt chẽ, bóng đèn báo màu đỏ trên thân ổ chia ba chấu vẫn sáng một vệt đỏ sẫm. Tôi dùng tay lần dọc theo thân sợi dây cáp tròn to bản dẫn thẳng vào đuôi bộ nguồn kim loại: giắc ba chấu đã cắm ngập sâu vào chân đế. Tôi rút chiếc bút thử điện trong túi áo ra, chạm đầu kim loại vào các ốc bắt vỏ máy và các điểm tiếp xúc kim loại trần: bóng đèn neon trong thân bút thử điện không phát sáng, chứng tỏ vỏ máy không bị rò rỉ điện thế nguy hiểm.

“Nguồn điện lưới đã vào đến biến áp sơ cấp của bộ nguồn,” tôi ngẩng lên báo cáo rành rọt, giọng nói đã lấy lại được sự bình tĩnh cần thiết. “Bên trong bộ nguồn không có tiếng rơ-le nhiệt đóng ngắt, quạt làm mát hoàn toàn không quay.”

“Tiếp tục bước hai,” thầy Dũng đứng khoanh tay, mắt không rời một cử động nhỏ nào của tôi.

Tôi lật nhanh trang giấy trong cuốn sổ tay. Bước tiếp theo: kiểm tra toàn bộ các kết nối dây điều khiển tín hiệu từ cụm nút bấm ở mặt trước thùng máy dẫn vào hàng chân cắm tín hiệu (Front Panel) nằm ở góc dưới cùng bên phải của bo mạch chủ. Tôi với lấy chiếc đèn pin nhỏ, rọi luồng sáng vàng rực vào góc bo mạch xanh úa. Ở đó, một hàng chân cắm bằng đồng nhỏ li ti như những chiếc gai nhọn nhô lên khỏi lớp phíp xanh, mang theo những ký hiệu viết tắt bằng sơn trắng siêu nhỏ: PWR_SW, RESET, HDD_LED, POWER_LED.

Tôi nhìn chăm chú vào hai sợi dây bện đôi xoắn vào nhau mang màu cam và trắng dẫn từ nút bấm tròn mặt trước xuống. Một cảm giác chột dạ đột ngột ập đến, làm tim tôi thắt lại một nhịp.

Tôi đã cắm nhầm vị trí.

Trong sự nôn nóng muốn thấy cỗ máy hoạt động lúc chạng vạng, tôi đã cắm chiếc giắc nhựa hai lỗ của nút công tắc nguồn (PWR_SW) lệch sang hai chân cắm kế bên dành cho nút khởi động lại hệ thống (RESET_SW). Chiếc nút nguồn mạ bạc mà tôi vừa ấn mạnh ngón tay lúc nãy thực chất chỉ đang cố gắng khép kín một mạch điện không hề tồn tại lệnh khởi động cho khối dao động nguồn chính.

“Thầy… em cắm lệch chân điều khiển công tắc nguồn sang hàng chân khởi động lại,” tôi ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt thầy Dũng, không dám tìm bất kỳ một lý do nào để chống chế hay bào chữa cho sự cẩu thả của mình.

Thầy không lớn tiếng mắng mỏ như tôi lo sợ. Thầy chỉ khẽ thở dài ra một hơi ngắn, bờ vai hơi chùng xuống:

“Nhấc cái giắc nhựa ấy ra. Cắm lại cho đúng cọc tín hiệu. Nhìn cho thật kỹ sơ đồ chân in chìm li ti ngay trên mặt bo mạch ấy, đừng có cậy vào mắt thường mà đoán mò.”

Tôi dùng đầu hai ngón tay khéo léo rút chiếc giắc nhựa màu đen bé xíu ra khỏi chân cắm, lấy đầu móng tay nắn lại một chân đồng hơi bị nghiêng do thao tác vội vã lúc trước, rồi lựa thật chuẩn vị trí hai chân mang dòng chữ in PWR_SW, cắm ngập sâu giắc nối vào. Từng động tác của tôi lúc này diễn ra chậm rãi, nín thở và thận trọng hệt như một người lính công binh đang gỡ kíp nổ của một quả mìn còn sót lại sau chiến tranh.

Lắp xong, tôi rút tay ra, lùi lại nửa bước trên hai đầu gối, ngước nhìn thầy Dũng như một lời xin phép âm thầm. Thầy khẽ gật đầu một cái thật nhẹ.

Tôi đưa ngón tay trỏ chạm vào nút nguồn mạ bạc một lần nữa, dùng một lực vừa đủ ấn sâu vào trong.

*Tách.*

Tiếng công tắc cơ khí đàn hồi vang lên giòn giã, dứt khoát.

Ngay lập tức, một tiếng rít khe khẽ của cánh quạt tản nhiệt bắt đầu rẽ gió quay tít. Khung kim loại của bộ nguồn rung lên bần bật một nhịp rồi chuyển sang trạng thái rù rù êm ái. Chiếc đèn led nhỏ màu xanh lá cây ở góc mặt trước thùng máy bừng sáng, hắt một vệt sáng hình tròn nhỏ xíu xuống nền gạch hoa xám xịt ẩm ướt.

Chỉ ba giây sau đó, một tiếng *bíp* ngắn ngủi, đanh gọn và trong trẻo vang lên từ chiếc loa thạch anh tròn nhỏ xíu gắn sát góc bo mạch—tiếng chuông cơ bản báo hiệu phần cứng đã vượt qua toàn bộ các bài kiểm tra tự khởi động sơ bộ (POST) mà không phát hiện xung đột hay lỗi mạch nghiêm trọng nào.

Màn hình CRT Samsung phát ra một tiếng *khực* trầm đục khi cuộn dây khử từ quanh bóng đèn hình được kích hoạt bằng rơ-le dòng điện. Mặt kính lồi rung nhẹ một cái, tĩnh điện làm các sợi lông tơ trên mu bàn tay tôi dựng đứng lên, rồi một quầng ánh sáng xanh lơ quen thuộc tràn ngập khắp bề mặt kính. Những dòng chữ màu trắng sắc nét hiện ra trên nền đen tuyền, chạy cuồn cuộn từ dưới lên trên với tốc độ chóng mặt: thông số vi xử lý Intel Pentium III tốc độ 600MHz, bộ nhớ trong SDRAM nhận đủ 256MB ở chế độ đồng bộ, ổ đĩa cứng Primary Master nhận diện chính xác mã hiệu Seagate dung lượng 20GB.

Cuối cùng, màn hình dừng lại trong tích tắc ở con trỏ màu trắng nhấp nháy nhịp nhàng của hệ điều hành nền tảng DOS, trước khi biểu tượng lá cờ bốn màu quen thuộc của Windows từ từ hiện ra giữa quầng sáng xanh dịu.

Tôi quỳ bất động trên nền gạch hoa lạnh buốt, hai con mắt dán chặt vào quầng sáng xanh lơ đang phản chiếu lung linh trên mặt sàn nhà ẩm ướt.

Không có bất cứ một phép màu cổ tích nào xuất hiện ở góc phòng máy này cả. Không có tiếng vỗ tay rộn rã chúc mừng. Và trong thâm tâm sâu kín, tôi cũng không hề có cảm giác mình vừa chạm tay vào một thứ tài sản lớn lao, sang trọng hay hoàn chỉnh gì. Trước mắt tôi chỉ là một chiếc máy tính phế thải hoạt động chậm chạp, tiếng cơ khí của ổ cứng thỉnh thoảng lại phát ra những tiếng *rột… rẹt* nặng nề như tiếng người già ho khan giữa đêm lạnh, bộ vỏ tôn bị móp méo một góc sâu hoắm do những đợt va đập quăng quật từ các chuyến xe tải chở đồ thanh lý vùng cao, và một bên nắp hông trống hoác để lộ toàn bộ mớ dây nhợ chắp vá, buộc tạm bợ bằng những sợi dây thun vòng màu vàng.

Nó xấu xí, tàn tạ, vụng về và mỏng manh hệt như số phận của một đứa trẻ mồ côi nghèo đói giữa cái xóm núi heo hút này. Nhưng nó đang thở. Nó đang vận hành bằng một dòng điện thật sự, bằng những thanh RAM cũ kỹ mà hai thầy trò chúng tôi vừa dùng cục tẩy chì cạo sạch từng vết xỉ gỉ sét, và quan trọng hơn tất cả mọi thứ trên cõi đời này, nó trao cho tôi một quyền năng cụ thể, hữu hình mà bao năm tháng qua tôi thèm khát đến cháy bỏng cả tâm can: quyền được ngồi xuống học, được tự tay gõ những dòng mã lập trình vào những giờ khuya khoắt buốt giá, khi cánh cửa sắt của phòng máy trường huyện đã khóa chặt then cài.

Thầy Dũng cúi xuống, kéo một chiếc ghế nhựa màu xanh đã bạc phếch lại gần bàn, đặt hai bàn tay nặng trịch lên hai bờ vai gầy guộc của tôi rồi ấn tôi ngồi ngay ngắn xuống trước chiếc bàn phím máy tính:

“Đừng có ngồi đờ đẫn ra đấy mà ngắm nghía như ngắm tượng đá. Cỗ máy này nó già nua, hom hem lắm rồi, mày mà dùng bừa bãi, hoang phí hay bắt nó gánh những tác vụ quá tải là nó lăn đùng ra chết ngắc ngay lập tức. Giờ chuyển sang phần cốt lõi và quan trọng nhất: thiết lập nếp làm việc và tác phong kỹ thuật.”

Thầy với tay kéo chiếc bàn phím Mitsumi cũ kỹ, các phím bấm màu trắng ngà đã ngả sang màu cháo lòng cáu bẩn lại sát trước mặt tôi.

“Việc đầu tiên của một người làm chủ máy móc,” thầy Dũng chỉ ngón tay vào màn hình khi hệ điều hành Windows đã nạp xong toàn bộ biểu tượng trên thanh công cụ, “không phải là tò mò mở mấy trò chơi điện tử vớ vẩn, cũng không phải cắm đầu cắm cổ vào viết mã ngay lập tức. Mày phải tạo cho tao một cấu trúc thư mục lưu trữ rành mạch, khoa học ngay từ giây phút đầu tiên. Bắt đầu bằng việc chia lại ổ đĩa.”

Dưới sự hướng dẫn từng bước của thầy, tôi mở công cụ quản lý đĩa hệ thống, chia chiếc ổ cứng dung lượng hai mươi gigabyte làm hai phân vùng rõ rệt: ổ C dung lượng đúng sáu gigabyte, định dạng tập tin FAT32, chỉ dành riêng cho việc cài đặt hệ điều hành và các bộ trình biên dịch lập trình như Turbo Pascal, Free Pascal; toàn bộ phần dung lượng còn lại khoảng mười bốn gigabyte được gán cho ổ D mang tên nhãn viết hoa không dấu: LUU_TRU.

“Toàn bộ bài tập thuật toán, mã nguồn chương trình, tài liệu học tập của mày chỉ được phép nằm trong ổ D này,” giọng thầy Dũng rành rọt từng chữ, vang lên dứt khoát như tiếng đục chạm vào thớ gỗ lim. “Trong ổ D, mày tạo đúng ba thư mục con cho tao: một là *01_HOC_TAP*, hai là *02_MA_NGUON*, ba là *03_NHAT_KY*. Tuyệt đối không bao giờ được quẳng bất kỳ một tệp tin rác nào ra ngoài màn hình chính Desktop. Cái màn hình nền đó là không gian làm việc thị giác, nó chỉ để quan sát, không phải là cái bãi rác để mày tiện tay vứt bừa mọi thứ bẩn thỉu vào đấy. Nhớ cho kỹ chưa?”

Tôi gật đầu thật mạnh, ngón tay run run lướt trên các phím bấm bằng nhựa lạo xạo mòn nhẵn, tạo từng thư mục theo đúng cấu trúc thứ bậc mà thầy vừa chỉ định.

“Và đây là bài học sống còn của một thằng làm nghề với máy cũ,” thầy Dũng thò tay vào túi trong của chiếc áo khoác gió công đoàn, rút ra một chiếc đĩa mềm kích thước ba phẩy năm inch dung lượng 1.44MB nhãn hiệu Maxell màu xanh dương đậm còn khá mới, đẩy trượt trên mặt bàn về phía tôi. “Cái máy này linh kiện chắp vá, cái ổ cứng hai mươi gigabyte kia có thể lăn đùng ra chết cơ bất cứ lúc nào mà không hề có tín hiệu báo trước. Vì thế, nguyên tắc sắt đá là: cuối mỗi buổi ngồi học, trước khi tắt máy, mày phải sao chép toàn bộ những đoạn mã nguồn mày vừa viết trong ngày vào chiếc đĩa mềm này. Tao cho mày mượn chiếc đĩa mềm này, dùng xong phải nhét ngay vào hộp nhựa bảo vệ, cấm tuyệt đối không được để gần loa thùng có nam châm, không được để bụi đất hay nước mưa rơi rớt vào khe cửa trập kim loại.”

Thầy lật mặt sau của cuốn sổ tay kỹ thuật tôi đang cầm, dùng chiếc thước kẻ nhôm gãy một đầu vạch nhanh một chiếc bảng gồm bốn cột ngay ngắn: *Ngày tháng*, *Nội dung thay đổi*, *Lỗi phát sinh*, *Xác nhận sao lưu*.

“Mỗi lần mày ngồi vào bàn máy tính, mày phải ghi chép rõ ràng: hôm nay ngày mấy, mày đã gõ thêm dòng lệnh nào, mày đã cài thêm phần mềm hay thay đổi tập tin hệ thống nào, và mày đã thực hiện việc chép dự phòng sang đĩa mềm hay chưa. Nếu mày tự ý thay đổi một tập tin cấu hình hệ thống hay sửa đổi thuật toán mà không ghi chép nhật ký lại, đến khi máy móc phát sinh lỗi màn hình xanh hay chương trình chạy cho ra kết quả sai lệch, mày sẽ vĩnh viễn không bao giờ biết đường nào mà lần ngược lại vết xe đổ của chính mình đâu.”

Tôi nhìn chiếc bảng kẻ bốn cột ngay ngắn trên trang giấy ố vàng của cuốn sổ tay. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu sâu sắc những gì người thầy giáo nghèo này đang trao cho tôi. Thầy không đơn thuần chỉ giúp tôi chắp vá một cỗ máy từ đống phế liệu bỏ đi để tôi có bàn phím gõ lách cách cho đỡ thèm thuồng. Thầy đang biến từng con ốc han gỉ, từng sợi cáp bẹ méo mó và từng phân vùng đĩa cứng thành một bài học thực hành khắc nghiệt, chuẩn mực về trách nhiệm kỹ thuật và đạo đức của người làm nghề. Một người thợ nghèo khó không có quyền được làm ẩu; một kẻ bần cùng không có tiền bạc để mua linh kiện mới thay thế cho những sai lầm lại càng phải học cách trân trọng, nâng niu từng vòng quay mong manh của ổ đĩa và từng dòng dữ liệu nhọc nhằn được lưu giữ lại.

“Thầy…” tôi ngước mắt lên nhìn người thầy giáo vùng cao với mái tóc bù xù vì gió núi và chiếc áo khoác sờn rách hai bên vai. “Em… em cảm ơn thầy nhiều lắm.”

Thầy Dũng xua xua bàn tay to bản, quay lưng lại phía tôi, rút chiếc điếu cày dựng ở góc tường châm một mồi đóm thuốc lào. Tiếng rít thuốc kêu *sòng sọc* giòn tan xé toang không gian tĩnh mịch, khói thuốc trắng đục phả ra mờ mịt dưới ánh đèn tuýp:

“Cảm ơn cái nỗi gì. Mày mà lơ đễnh làm chập cháy bộ nguồn hay để mất dữ liệu bài tập một lần nữa thì tự giác vác cuốc lên nương dốc mà cuốc ngô trừ nợ, tao dứt khoát không cứu mày lần thứ hai đâu.”

Bên ngoài hành lang dài của dãy phòng học, tiếng bước chân dứt khoát, gấp gáp nện trên nền xi măng ẩm ướt vang lên mỗi lúc một gần. Tiếng gõ then cài cửa phòng máy vang lên ba tiếng *cộc… cộc… cộc* khô khốc, quen thuộc.

Cánh cửa gỗ phòng máy hé mở, mang theo một luồng gió lạnh buốt giá đặc quánh hơi sương chiều vùng cao ùa vào phòng. Cô Hạnh bước vào, chiếc khăn len quàng cổ màu xám phủ một lớp bụi sương mỏng tang. Trên tay cô là chiếc cặp da công tác đã sờn rách bốn góc đáy và một gói xôi nếp nương bọc trong lớp lá chuối hơ lửa hãy còn bốc lên hơi ấm ngào ngạt.

Cô đưa mắt đảo nhanh một vòng khắp căn phòng, nhìn cỗ máy đang phát ra tiếng quạt gió rù rù trên mặt bàn, nhìn chiếc thùng các-tông rỗng không nằm nghiêng dưới gầm và những vệt nhọ than, gỉ đồng còn dính lem nhem trên mười đầu ngón tay nứt nẻ của tôi. Không có một nụ cười rạng rỡ nào nở trên môi cô, cũng chẳng có lấy một lời chúc mừng hồ hởi theo kiểu mọi trắc trở của cuộc đời từ nay đã được tháo gỡ êm xuôi. Cô Hạnh lặng lẽ bước lại, đặt gói xôi ấm lên mép bàn gỗ, kéo chiếc ghế gỗ mộc ngồi xuống đối diện thẳng với tôi.

“Lên hình, chạy được rồi đấy à?” Cô quay sang nhìn thầy Dũng một nhịp, rồi quay lại nhìn xoáy thẳng vào hai hốc mắt sâu hoắm của tôi. “Nhưng có máy rồi thì sao hả Nam? Em nghĩ có một khối sắt phế liệu này gõ lách cách là từ sáng mai em hết đói, hết phải vác cuốc lên nương, hay cái kết quả thi học sinh giỏi trượt vỏ chuối vừa rồi tự nhiên biến thành một tấm bằng khen danh dự?”

Tôi cúi gầm mặt xuống, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối rách chỉ. Vết thương nhức nhối từ sự cố bỏ sót trường hợp biên trong bài thi thuật toán ở thị xã vẫn còn tươi nguyên như một vết rách sâu chưa kịp lên da non, nhói buốt mỗi khi có ai vô tình chạm tới.

“Em… em không dám nghĩ như thế đâu ạ.”

“Không dám nghĩ thì cái đầu phải biết tính toán cho thật tỉnh táo,” giọng cô Hạnh rành rọt, từng lời nói đanh lại, nghiêm khắc nhưng bên dưới đáy giọng lại trĩu nặng một sự bảo bọc, chở che đến thắt lòng. “Cái thất bại ê chề ở kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh vừa rồi không phải vì em dốt nát thuật toán, cũng chẳng phải vì em thiếu tư duy logic. Em ngã gục ngay trước cửa ải vì một cái dạ dày lép kẹp đói lả và một cái đầu đã kiệt quệ sinh lực sau những đêm thức trắng triền miên trong cái lạnh buốt. Một cỗ máy tính dù có hiện đại đến đâu cũng không thể cứu vãn nổi một cơ thể tàn tạ, suy kiệt. Nếu em tiếp tục coi việc vắt kiệt sức lực, hành hạ bản thân là chiếc vé duy nhất để đổi lấy tương lai, em sẽ ngã gục bên vệ đường trước khi đôi chân em kịp bước tới cổng trường đại học. Cô tuyệt đối không cho phép em được phép hủy hoại mình theo cái cách mù quáng ấy nữa.”

Cô Hạnh với tay giật lấy cuốn sổ tay ghi chép kỹ thuật của tôi đang đặt trên bàn, lật qua những trang sơ đồ mạch điện, mở ra một trang giấy trắng tinh ở giữa. Cô rút chiếc bút bi của mình, gõ mạnh đầu bút xuống mặt bàn gỗ phát ra tiếng *cộp*:

“Bỏ cái ảo vọng về kỳ thi học sinh giỏi qua một bên đi. Mục tiêu tối thượng và duy nhất của em lúc này là kỳ thi tuyển sinh đại học vào mùa hè năm 2013. Từ giờ cho đến ngày đó là một chặng đường dài hơi, gian nan gấp vạn lần những bài toán cỏn con em từng giải. Muốn đi trọn vẹn được hết con đường khắc nghiệt ấy, em bắt buộc phải thiết lập cho mình một kỷ luật sống của một kẻ muốn sống sót.”

Dưới sự chỉ dẫn nghiêm ngặt từng ly từng tí của cô Hạnh và những lời chêm vào đầy tính thực tế của thầy Dũng, tôi ngồi cặm cụi vạch ra một bản kế hoạch sinh tồn chi tiết ngay trên trang giấy trắng ố vàng. Không còn chỗ cho những mộng tưởng viển vông hay những đợt thức trắng dồn ép sức lực vô lối. Mỗi một ngày trôi qua được chia nhỏ thành những khung giờ sắt đá không thể xê dịch: năm tiếng ngủ sâu bắt buộc mỗi đêm, tuyệt đối không được phép ngồi trước màn hình máy tính quá mười một giờ đêm; toàn bộ thời gian ban ngày phải dành trọn vẹn cho việc tiếp thu các môn văn hóa cơ bản trên lớp học để củng cố nền tảng Toán, Lý, Hóa phổ thông; buổi chiều sau giờ tan học phải dành trọn hai tiếng đồng hồ phụ giúp bà giáo Ngô chẻ củi, gánh nước từ giếng làng về bể chứa để giữ trọn vẹn chỗ trọ tình nghĩa.

Cỗ máy tính cũ kỹ chắp vá này sẽ chỉ được phép cắm điện hoạt động tối đa hai tiếng đồng hồ mỗi buổi tối, hoàn toàn dành riêng cho việc tự học cấu trúc dữ liệu và giải thuật nâng cao bằng trình biên dịch Free Pascal. Thầy Dũng đồng ý sẽ đứng ra nhận mối, giới thiệu cho tôi làm công việc cài đặt lại hệ điều hành và dùng chổi quét bụi, vệ sinh linh kiện máy tính cho các thầy cô trong trường hoặc các máy văn phòng ở ủy ban xã lân cận, nhưng thầy đặt ra một hạn mức kỷ luật nghiêm ngặt: mỗi tuần tôi không được phép nhận quá hai máy, chỉ được nhận xử lý những lỗi phần mềm thông thường để kiếm năm nghìn, mười nghìn lẻ mua thêm tập vở viết và vài cuốn sách tham khảo cũ. Và điều kiện tiên quyết mang tính sống còn mà cô Hạnh bắt tôi phải ký tên cam kết vào góc trang sổ là: không bao giờ được phép bớt xén dù chỉ một đồng bạc lẻ từ khẩu phần ăn uống đạm bạc hàng ngày để dồn tiền mua linh kiện hay nâng cấp máy móc công nghệ.

Hai ngày sau buổi tối lắp ráp định mệnh ấy, tin tức về việc tôi được thầy giáo cho mượn một khối linh kiện phế thải mang về phòng trọ đã truyền đến tai Lan thông qua những chuyến xe đò chở gạo quen thuộc chạy tuyến huyện về xã. Buổi chiều thứ Sáu u ám hôm ấy, Lan đã đứng đợi tôi từ sớm ngay ở khúc cua ngã ba dốc dẫn lối vào bản Nà Ban. Con bé không hề đi tay không; trên tấm lưng gầy còm của Lan là một chiếc gùi đan bằng nứa chất đầy những tàu lá chuối rừng khô quắt queo và mấy bó củi ngo ngập tràn nhựa thông đỏ au, được sắp xếp ngụy trang một cách vô cùng khéo léo.

“Anh có bị điên không đấy?” Lan cất tiếng thì thầm, giọng run lên vì lo sợ khi hai anh em vội vã nép mình vào bóng một gốc vối già xù xì ven bờ suối cạn, đôi mắt sắc sảo của con bé đảo quanh rặng tre rậm rạp như sợ có ai rình rập. “Bố mà nhìn thấy cái thùng sắt vụn này trong nhà, bố vác búa đập nát vụn ra mang đi bán sắt vụn ngay lập tức để lấy tiền mua phân lân bón ruộng đấy! Bố đang điên tiết cả tuần nay vì đợt sương muối sớm làm cả vạt ngô trên nương bị lép hạt, chết héo rũ ra kia kìa!”

“Thầy Dũng làm giấy cho anh mượn về để tự học phần mềm,” tôi ôm chặt lấy thùng máy được bọc kín mít trong hai lớp bao tải dứa gai góc, thì thầm đáp lại. “Anh giấu kỹ ở góc buồng chái, tuyệt đối không để lộ ra ngoài đâu mà lo.”

Lan khẽ thở dài một tiếng sườn sượt, đôi bàn tay nhỏ nhắn nhưng chai sần thoăn thoắt xếp lại đống lá chuối khô trùm kín mít lên miệng gùi nứa sau khi hai anh em đã nhét thật gọn chiếc thùng máy và chiếc màn hình CRT mười lăm inch nặng trịch vào chính giữa:

“Có máy thì học cho cẩn thận, nhưng anh đừng có mà mơ tưởng trốn được việc nương rẫy với bố. Đúng sáu giờ sáng mai bố đã bắt vác cuốc ngược dốc lên triền Pha Luông phát cỏ rồi. Anh mà chỉ cần lơ là, dậy muộn một buổi thôi, bố vin ngay vào cái cớ anh mê mẩn mấy cái trò ma quỷ dưới huyện rồi tịch thu, cấm tiệt đường đi học thì lúc đấy có khóc bằng tiếng Mán cũng chẳng ai cứu nổi đâu.”

Tôi im lặng, chỉ biết gật đầu thật mạnh. Tôi hiểu quá sâu sắc lời cảnh báo sắc lạnh của đứa em họ. Cỗ máy tính cũ kỹ, chắp vá này đối với tôi là cả một khung trời tri thức rộng mở, là chiếc phao cứu sinh duy nhất để thoát ly, nhưng đặt trong căn nhà gỗ lợp mái fibro xi măng nứt toác của bác Lương, nó có thể biến thành một thứ tội nợ tày đình, một bằng chứng rõ ràng cho sự lười nhác, và là một lý do hoàn hảo để người lớn siết chặt hơn nữa sợi dây trói buộc cuộc đời tôi vào bờ cõi nương ngô bạc màu.

Đêm hôm đó, đợi cho cả nhà bác Lương chìm sâu vào giấc ngủ say sau một ngày lao động mệt nhọc và tiếng ngáy nặng nề, khò khè của bác bắt đầu vang lên đều đặn qua vách nứa ngăn cách, tôi và Lan mới dám rón rén chuyển từng bộ phận linh kiện từ gầm chuồng lợn hoang vào gian chái phụ ẩm thấp. Tôi không dám thắp ngọn đèn dầu to bấc vì sợ ánh lửa hắt qua khe nẹp nứa, chỉ dám châm một mẩu nến nhỏ bằng ngón tay út đặt giấu sau chiếc nồi đồng méo mó để che bớt quầng sáng đỏ hoe.

Trong khoảnh khắc ấy, tôi không hề có một cảm giác đắc thắng hay một ý nghĩ kiêu hãnh ngông cuồng nào rằng số phận mình từ nay sẽ bước sang một trang mới huy hoàng. Bằng tất cả sự cẩn trọng tột cùng của một kẻ đang nâng niu một tấm kính pha lê mỏng manh có thể vỡ tan tành bất cứ lúc nào dưới áp lực cơm áo gạo tiền, tôi dọn sạch một góc nhỏ của gian chái phụ tựa lưng vào vách đá ẩm ướt rỉ nước. Tôi kê bốn viên đá hộc phẳng đáy thật vững chãi, rồi cẩn thận đặt lên trên hai tấm ván gỗ thông khô ráo đã được xoa sạch bụi đất để tạo một khoảng cách ly ẩm tuyệt đối cho bộ nguồn và bo mạch chủ. Tôi bọc kỹ từng đầu giắc cắm tín hiệu bằng nhiều lớp túi nilon để chống chuột đồng cắn phá, và dùng một tấm bao tải gai sạch sẽ phủ kín toàn bộ thân máy mỗi khi ngừng sử dụng. Tôi học cách đối xử với cỗ máy phế thải ấy như cách một người làm vườn nghèo khó nâng niu từng mầm cây non yếu ớt trước cơn gió chướng: không bao giờ được phép chủ quan, không bao giờ được để sự dốt nát và cẩu thả của bản thân biến một cơ hội sống còn thành một đống sắt vụn vô tri thêm một lần nào nữa.

***

Trong căn phòng nhỏ của khu chung cư cũ ở Hà Nội lúc này, tiếng thở đều đặn, ấm áp và bình yên của Minh An vọng ra từ gian phòng ngủ khẽ khàng kéo tôi trở về với thực tại của những năm tháng trưởng thành.

Tôi dừng những ngón tay lại trên bàn phím máy tính xách tay mỏng dính, buông chiếc bút ghi âm xuống mặt bàn gỗ thông. Một cơn đau quặn thắt quen thuộc từ vùng thượng vị lại âm ỉ dâng lên như một đợt sóng ngầm buốt nhói, cào xé từng thớ thịt. Tôi khẽ nghiến răng, với tay lấy cốc nước ấm trên bàn đã bắt đầu nguội ngắt, dốc nhanh hai viên thuốc giảm đau màu trắng đục vào miệng rồi nuốt khan. Vị thuốc đắng ngắt, chát chúa đọng lại thật lâu nơi cuống họng, làm sống mũi tôi cay xè.

Dưới luồng ánh sáng vàng dịu của chiếc đèn bàn làm việc, tôi đưa hai bàn tay lên, nhìn chăm chú vào từng đường nét trên da thịt mình. Đôi bàn tay gầy gò từng run rẩy vặn chặt từng con ốc gỉ sét trong phòng máy trường huyện năm nào, từng miệt mài gõ hàng vạn dòng mã lập trình xuyên qua những đêm đông buốt giá ở giảng đường Bách khoa thời sinh viên, nay đã gầy rộc hẳn đi, để lộ rõ những đường gân xanh xao chằng chịt và bắt đầu xuất hiện những cơn run rẩy nhẹ sau mỗi đợt truyền hóa chất dài ngày tại bệnh viện.

Tôi mở cuốn sổ tay hồi ký bìa da đặt bên cạnh bàn phím, cầm cây bút mực đen nắn nót viết thêm một dòng chữ ngắn ngủi:

*Cỗ máy tính chắp vá từ đống phế liệu của thầy Dũng năm ấy không thể ngay lập tức đưa tôi vượt thoát khỏi những triền dốc đá trập trùng để bước xuống đồng bằng. Nó không trả nổi món nợ truyền kiếp của người cha đã khuất, không xoa dịu nổi những lời cay nghiệt và sự khắc nghiệt của bác Lương, cũng chẳng thể nào bù đắp nổi nửa chiếc khuyên tai bạc mà bác dâu Sương đã phải lén lút đem bán để đong gạo cho tôi ăn học. Nhưng giữa những đêm mù sương buốt giá đến tận cùng của bản Nà Ban, khi cánh quạt nguồn rít lên từng hồi khô khốc và màn hình CRT bừng lên thứ ánh sáng xanh lơ dịu mát, nó đã trao cho tôi một quầng sáng mong manh nhưng vừa đủ—đủ để một đứa trẻ mồ côi nghèo đói tin rằng, con đường mòn đi xuyên qua những rặng núi đá tai mèo trập trùng để bước ra thế giới rộng lớn ngoài kia là một con đường hoàn toàn có thật.*

***

Đêm mùa đông năm 2008 ấy ở gian chái phụ bản Nà Ban, sương muối buốt giá phủ một lớp màng trắng xóa như tro tàn lên những tán cây dẻ gai và rặng cây ban già sau vách đá. Căn buồng ẩm thấp lạnh buốt đến mức từng hơi thở tôi hắt ra trong bóng tối đều hóa thành một làn khói trắng mờ ảo, lởn vởn quanh chóp mũi.

Tôi rón rén cắm chiếc phích cắm ba chấu vào ổ điện câu trộm từ đường dây trần sau vách nứa, nín thở đưa ngón tay ấn mạnh vào chiếc nút nguồn mạ bạc đã tróc vảy. Tiếng công tắc vang lên một tiếng *tách* quen thuộc, cánh quạt tản nhiệt chầm chậm quay rồi rít lên từng hồi đều đặn, xua tan đi mùi ẩm mốc ngột ngạt của vách đá rỉ nước. Màn hình CRT rung lên một nhịp trầm đục, rồi quầng ánh sáng xanh lơ dịu mát từ từ tỏa ra, phủ lên khuôn mặt hốc hác, gầy guộc của tôi giữa bóng đêm dày đặc của núi rừng.

Con trỏ màu trắng trên giao diện nền xanh thẫm của trình soạn thảo Free Pascal nhấp nháy liên hồi, kiên nhẫn, bình thản và lặng lẽ chờ đợi từng mệnh lệnh tư duy.

Tôi đặt mười đầu ngón tay thô ráp, nứt nẻ vì giá rét lên bàn phím Mitsumi màu cháo lòng cũ kỹ. Hít một hơi thật sâu làn không khí lạnh buốt vào căng tràn lồng ngực, tôi nhấn từng phím bấm lạo xạo, gõ xuống dòng lệnh khai báo đầu tiên của một chương trình giải thuật đơn giản:

`Program Duong_Ve_Phuong_Nam;`

Từng ký tự màu trắng tinh khôi hiện lên ngay ngắn trên nền màn hình cong cũ kỹ, sáng rõ, vững chãi và không bao giờ có thể bôi xóa được nữa, tựa như một lời xác nhận âm thầm nhưng đanh thép rằng Hà Nội phồn hoa xa xôi ngoài kia không phải là một giấc mơ hoang đường hão huyền, mà là một nơi chốn hoàn toàn có thật đang kiên nhẫn đợi bước chân tôi tìm về.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn