Người trả lại chiếc máy
Tôi lật tung chiếc chiếu cói đã tước mép, xới tung từng góc túi sách bằng vải bạt bộ đội đã sờn rách, rồi quỳ rạp người xuống soi vào tận kẽ nứa áp sát vách đá hộc—nơi tôi vẫn cẩn thận giấu những món đồ không bao giờ muốn bất kỳ ai trong căn nhà này chạm tới.
Chiếc máy tính không có ở đó.
Dưới manh chiếu rách bọc nẹp tre đã mòn vẹt, chỉ trơ ra lớp bụi vôi mục lả tả rơi xuống từ kẽ nứa theo từng đợt gió lùa, cùng mấy hạt ngô khô sót lại từ vụ thu hoạch năm ngoái, lép kẹp và xám xịt như những mẩu móng tay người chết. Tôi quỳ sụp cả hai đầu gối xuống nền đất nện ẩm ướt, buốt giá của gian chái phụ. Mười đầu ngón tay tôi cào vào từng khe nứt nẻ giữa chân tường đất và những tảng đá hộc kê móng nhà. Đất cát lạo xạo cấn sâu vào kẽ móng tay, mang theo mùi ẩm mốc, tanh nồng của đất mục và phân chuột lâu ngày xộc thẳng lên cánh mũi. Chiếc hòm gỗ tạp sứt sẹo—thứ tài sản riêng tư duy nhất tôi dùng để cất giữ dăm ba cuốn sách giáo khoa mượn của thư viện, tập tài liệu thuật toán in kim nhòe nhoẹt mực cùng mấy tờ báo Toán học và Tuổi trẻ rách góc—đã bị ai đó dốc ngược hoàn toàn. Đáy hòm nhẵn thín, trơ trọi một cách tàn nhẫn. Mảnh vải nỉ màu xám tro cắt ra từ gấu chiếc áo rét cũ mà tôi vẫn nâng niu dùng để bọc thân máy trước khi vùi sâu dưới đáy hòm cũng đã biến mất không dấu vết. Trên nền đất chỉ còn vương vãi mấy mẩu đầu bút chì cụt ngủn được gọt bằng dao lam và một cuộn dây chuối khô dùng dở.
Cơn hoảng loạn từ lồng ngực dội ngược lên cuống họng, đắng ngắt và bỏng rát như vừa nuốt phải một ngụm tro than.
Sáng sớm mai, khi những dải sương muối buốt giá còn chưa kịp tan khỏi những rặng xoan trơ trụi trên triền đồi bản Nà Ban, tôi bắt buộc phải có mặt ở ngã ba đầu dốc để đón chuyến xe đò sớm nhất chạy về thị xã. Kỳ thi chọn học sinh giỏi Tin học cấp tỉnh không phải là nơi một đứa học trò trường huyện miền núi như tôi có thể bước vào phòng máy với hai bàn tay trắng trơn. Chiếc Casio fx-500MS vỏ xám tro ấy là vật báu mà thầy Lê Quang Dũng đã cẩn thận rút ra từ ngăn khóa sâu nhất trong chiếc cặp da công tác sờn góc để trao tận tay tôi cách đây hai tuần. Thầy đã ghé sát tai tôi dặn dò kỹ lưỡng: nếu không có chiếc máy tính bỏ túi này để bấm thử giá trị các chuỗi số nguyên lớn, nhẩm nhanh các bước chuyển đổi cơ số nhị phân hay kiểm chứng kết quả của bảng phương án quy hoạch động trên giấy nháp trước khi gõ mã lệnh, tốc độ viết chương trình bằng Turbo Pascal của tôi sẽ lập tức hụt hơi, tụt lại phía sau hàng chục học sinh đến từ các lớp chuyên ngoài thị xã.
Chiếc máy đó không thuộc về tôi. Nó là tài sản của phòng thực hành, là công cụ giảng dạy của thầy Dũng, và hơn hết, nó là món cược chứa đựng toàn bộ sự tin cậy lẫn lòng trắc ẩn mà thầy dành cho một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu, sống nhờ từng bát cơm độn sắn của gia đình người bác họ. Nếu làm mất nó, tôi không chỉ tự tay đóng sập cánh cửa bước vào kỳ thi cấp tỉnh—cơ hội duy nhất để tôi kiếm được một suất tuyển thẳng nhằm thoát ly khỏi thung lũng nghèo đói này—mà tôi sẽ vĩnh viễn mang trên trán vết nhơ của một kẻ dối trá, cẩu thả, vô ơn và bần tiện.
Hai bàn tay tôi bắt đầu run bắn lên, các khớp xương cứng đờ vì lạnh và vì sợ hãi. Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh, cố ghìm từng cơn thở dốc dồn dập đang làm đau thắt lồng ngực, rồi lảo đảo đứng dậy, bước vội qua bậu cửa gỗ mục ngăn cách giữa gian chái phụ ẩm thấp với chái bếp phía sau.
Dưới mái hiên bếp phủ đầy muội hóng đen kịt, Lan đang ngồi xổm bên máng nước ghép bằng hai thân bương bổ đôi. Con bé cặm cụi dùng xơ mướp cọ rửa chiếc nồi gang nấu cám lợn đóng cặn cháy khét. Nghe tiếng bước chân gấp gáp và nặng nề của tôi nện trên nền đất nhão, Lan giật mình ngoái đầu lại. Hai ống tay áo chàm đã sờn rách được xắn cao quá khuỷu để lộ đôi cẳng tay gầy guộc, khẳng khiu, da gà nổi mẩn đỏ ửng lên vì ngâm trong nước lạnh buốt từ khe suối dẫn về.
"Anh Nam? Làm sao mà mặt mũi anh tái mét, miệng méo xẹo đi thế kia? Đã thu xếp xong sách vở với quần áo ấm để sáng mai bắt xe chưa?"
Tôi bước dồn tới sát máng nước, cúi gập người xuống, hạ giọng tới mức thấp nhất có thể nhưng lồng ngực đập thình thịch như tiếng chày giã gạo khiến từng âm thanh bật ra khỏi môi run rẩy, đứt quãng:
"Lan... em có thấy chiếc máy tính cầm tay của anh đâu không? Cái máy bấm số vỏ màu xám tro, anh bọc cẩn thận trong miếng vải nỉ xám nhét tận đáy hòm gỗ ấy?"
Lan ngừng tay chà chiếc nồi gang, buông miếng xơ mướp rơi tõm xuống đáy chậu nước đục ngầu, đôi mắt mở to tròn ngơ ngác nhìn thẳng vào tôi:
"Cái máy tính của thầy giáo trên huyện cho anh mượn ấy à? Em... em có bao giờ dám mó tay vào đâu! Chiều hôm qua anh lội bộ từ trường huyện về bản, chẳng phải anh vừa xách túi vào buồng cất vội rồi xắn quần chạy ngay ra góc nương dọn nốt bờ cỏ cho bố đó sao?"
"Anh cất nó ngay dưới đáy hòm," tôi ghé sát hơn vào tai Lan, các ngón tay bấu chặt vào mép máng bương lạnh ngắt đến mức bật cả máu dăm, giọng nghẹn lại trong nỗi thất thần tột cùng. "Trước lúc ngồi vào mâm ăn cơm tối, anh còn thò tay vào đáy hòm sờ nắn thấy nó nằm im ở đấy cơ mà. Thế mà vừa nãy anh vào chái buồng xếp lại túi xách thì đáy hòm trơn tuột! Cả miếng vải nỉ bọc ngoài cũng biến mất không còn tăm hơi. Lan, em nói thật cho anh biết đi, lúc anh quảy đôi thùng tôn ra mó nước ngoài rặng tre gánh nước đầy chum, em có thấy ai lén bước vào buồng của anh không?"
Đôi mày mảnh mai của Lan khẽ nhíu lại. Con bé bối rối nhìn quanh quất ra phía hàng hiên trước, nơi có tiếng sột soạt của những bó củi dẻ gai đang được xếp lại trên sân, rồi run rẩy đưa bàn tay ướt sũng kéo nhẹ lấy vạt áo tôi, thì thào trong hơi thở gấp gáp:
"Em... em thực sự không thấy ai bước vào buồng anh cả. Lúc anh đi gánh nước thì mẹ đang cặm cụi dưới chái bếp này đảo chảo cám lợn, khói mù mịt cay xè mắt, còn bố thì sang bên nhà ông trưởng bản từ sớm để xin hoãn tiền nộp phân bón đợt trước... Chỉ có..."
Lan đột ngột ngập ngừng, âm thanh nghẽn lại nơi vòm họng. Ánh mắt con bé bỗng chùng xuống, cụp mi nhìn chằm chằm xuống vũng nước đục dưới chân máng, lảng tránh ánh nhìn gay gắt như muốn thiêu đốt của tôi.
"Chỉ có ai?" Tôi siết chặt quai chiếc túi vải thô trong tay, gặng hỏi dồn dập, từng chữ như mũi kim chọc vào sự im lặng ngột ngạt. "Có phải anh Tùng không? Nói đi, có phải anh Tùng vừa về nhà lúc đó không?!"
"Em không biết! Em thực sự không biết mà!" Lan quýnh quáng lắc đầu lia lịa, hai bàn tay ướt đẫm bối rối chà xát liên tục vào vạt áo chàm đã sờn chỉ. "Em chỉ nhớ lúc trời vừa sẩm tối, em thấy bóng anh Tùng tạt về nhà một loáng qua cửa ngách rồi lại quẩy gót đi ngay ra phía bãi đá xóm ngoài. Nhưng anh Nam ơi... anh đừng có vội vàng kết tội anh Tùng khi mình chưa tận mắt nhìn thấy gì. Tính khí anh Tùng xưa nay có cộc cằn, thô lỗ, hay tị nạnh với anh thật đấy, nhưng... nhưng chưa chắc anh ấy đã lấy cái thứ đồ bấm số ấy làm gì đâu..."
"Không lấy để làm gì ư?" Một tiếng cười khan bật ra khỏi miệng tôi, khô khốc, đắng ngắt và chua chát đến mức làm hai bên màng nhĩ tôi rát buốt. "Em quên hết rồi sao Lan? Mày quên hết những chuyện trước đây rồi à? Hồi anh mới chập chững tập viết những con chữ đầu tiên mà mẹ Mai dạy trước khi mất, ai là người đã giật phăng cuốn vở chép thơ cũ rách của mẹ ném thẳng xuống rãnh bùn đất chuồng trâu? Ai là người hằn học, nghiến răng ken két mỗi lần thấy thầy cô giáo ngoài trường bản ghé qua cho anh mẩu phấn viết bảng hay cuốn truyện tranh cũ? Chiều hôm kia, chính mắt anh nhìn thấy bóng anh Tùng lảng vảng ngấp nghé ngoài cổng dãy nhà trọ của bà giáo Ngô ở ngoài thị trấn trước khi anh về bản. Anh ta rình mò cái gì ở đấy? Ngoài anh ta ra, trong cái nhà này còn ai thèm để mắt, còn ai biết đến sự tồn tại của một cái máy tính con con bằng bàn tay để mà thọc tay vào đáy hòm của anh?!"
Lời khuyên can nhút nhát của Lan chẳng khác nào một gáo nước lạnh tạt thẳng vào chảo dầu đang sôi sùng sục trong huyết quản tôi. Mọi vết sẹo tinh thần cũ kỹ, từng cái bạt tai lén lút, từng lời dè bỉu cay nghiệt của Tùng từ thuở chúng tôi còn là hai đứa trẻ chăn trâu trên những triền đồi cằn cỗi ven suối Nà Ban bỗng chốc đội đất trỗi dậy như đàn kiến độc. Tôi nhớ như in ánh mắt đùng đục, ghen tị của Tùng trong những buổi chiều mùa đông rét mướt, khi anh ta đứng tựa lưng vào cột chuồng trâu hôi hám, trừng trừng nhìn tôi cặm cụi ngồi viết từng dòng thuật toán dưới ngọn đèn dầu hỏa leo lét ám khói đen. Trong đôi mắt hằn học của Tùng, sự tồn tại của tôi trong căn nhà này chẳng khác nào một cái gai nhức nhối, một lời nhắc nhở cay đắng rằng một đứa cháu mồ côi ăn nhờ ở đậu lại nhận được bao lời khen ngợi của người đời, trong khi bản thân anh ta—đứa con trai duy nhất nối dõi tông đường của bác Lương—càng lớn lại càng bị trói chặt vào cán cuốc cùn, vào những buổi cày thuê cuốc mướn và những món nợ truyền kiếp không bao giờ trả hết.
Mối hoài nghi ấy đã ăn sâu, bám rễ quá chặt vào tâm can tôi suốt bao năm tháng, chặt đến mức lời can gián yếu ớt của Lan chỉ khiến tôi đinh ninh rằng con bé đang sợ hãi mà tìm cách bao che cho người anh ruột thịt của mình.
"Em đừng có cản anh làm gì," tôi gằn từng tiếng qua kẽ răng, quay ngoắt người rảo bước thật nhanh ra phía sân trước. "Năm giờ sáng mai anh phải bước lên xe đò rồi. Nếu mất chiếc máy đó, anh thà đâm đầu xuống vực còn hơn vác mặt vào phòng thi!"
"Anh Nam! Đừng... đừng làm ầm ĩ lên mà anh!" Tiếng Lan hoảng hốt gọi với theo phía sau lưng, tiếng bước chân con bé dập dồn chạy theo vài bước rồi khựng lại trong nỗi bất lực trước ánh chiều tà đang tắt lịm.
Ngoài khoảng sân đất nện mấp mô, thứ hoàng hôn ngột ngạt của miền sơn cước đã hoàn toàn lịm tắt, nhường chỗ cho một màn sương lam dày đặc, xám xịt và lạnh lẽo như tàn tro bếp nguội bị gió hắt ra ngoài trời. Gió rét từ thung lũng sâu hút phía đèo Pha Luông bắt đầu thổi thốc qua rặng xoan khẳng khiu trụi lá, rít lên từng hồi buốt lạnh thấu xương thấu thịt.
Tùng đang ngồi chồm hổm trên một phiến đá hộc xám xịt đặt cạnh bờ rào nứa ngăn cách sân với bờ nương dốc. Trên tay anh ta là một con dao quắm cùn rỉ sét, lưỡi dao nham nhở đang cạo ken két vào một khúc gỗ dẻ gai để đẽo chiếc cán cuốc mới. Tiếng sắt miết vào thớ gỗ già kêu lên khô khốc, lách cách, nhức nhối đến buốt óc giữa không gian tĩnh mịch. Tùng chỉ mặc phong phanh độc một chiếc áo gió màu xanh rêu cáu bẩn, cổ áo sờn rách để lộ phần gáy đen đúa vì cháy nắng; hai ống quần xắn cao tới tận bẹn đùi phơi ra đôi bắp chân gân guốc chằng chịt những vết cào xước đỏ lòm của gai mây và cỏ gianh nương rẫy.
Tôi sấn từng bước xăm xăm qua khoảng sân đất gồ ghề. Tiếng đế dép nhựa mòn nện mạnh xuống nền sỏi vụn làm Tùng giật mình ngừng tay dao. Anh ta chầm chậm ngẩng đầu lên. Dưới đôi lông mày rậm rạp, thô kệch dính đầy bụi gỗ, đôi mắt ti hí của Tùng nheo lại, quét từ đầu đến chân tôi bằng một vẻ dò xét, lạnh nhạt và đầy khinh thị quen thuộc.
"Mày làm cái trò gì mà hùng hổ xông ra như trâu điên húc bờ rào thế hả?" Tùng buông một câu cộc lốc qua kẽ môi thâm sì, rồi thản nhiên nghiêng đầu nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đống dăm bào dưới chân.
Tôi đứng sững lại ngay trước mũi chân Tùng, hai bàn tay giấu sâu trong túi quần siết chặt thành nắm đấm để kìm nén cơn run rẩy đang lan ra khắp toàn thân. Tôi trừng mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt gồ ghề của anh ta:
"Chiếc máy tính của tôi đâu?"
Động tác của Tùng khựng lại trong một phần mười giây ngắn ngủi. Lưỡi dao quắm trên tay anh ta hơi hạ xuống ngang đầu gối, nhưng rồi cơ mặt anh ta lập tức giật giật, biến đổi thành một nụ cười nhạt thếch, méo mó và ngập ngụa vẻ khiêu khích:
"Máy nào? Mày vừa ăn phải nấm độc ngoài bìa rừng hay sao mà vừa mò ra sân đã mở mồm sủa bậy vào mặt tao thế?"
"Anh đừng có giả vờ ngây ngô nữa!" Tôi không còn giữ nổi bình tĩnh, giọng nói bùng lên thành một tiếng quát đè nén xé toạc màn sương chiều. "Chiếc máy tính Casio vỏ xám tôi cất kỹ dưới đáy hòm gỗ trong chái buồng phụ. Chiều hôm kia anh lảng vảng rình mò quanh khu trọ của bà giáo Ngô làm cái gì? Rồi lúc tôi đi gánh nước ngoài mó, ai đã lén lút lẻn vào buồng tôi lấy nó đi? Anh mang ra chợ huyện bán lấy tiền uống rượu hay anh cố tình giấu biến đi để sáng mai tôi không có đồ bước vào phòng thi hả?!"
Tùng đứng bật dậy như một chiếc lò xo bung chốt. Thân hình cao lêu nghêu, gầy guộc nhưng gân guốc của anh ta đổ ập một cái bóng đen sẫm trùm kín lấy người tôi. Lưỡi dao quắm nặng trịch trong tay anh ta chém mạnh một nhát xuống khúc gỗ dẻ cắm dưới đất, ngập sâu đến nửa gang tay, làm những mảnh dăm gỗ bắn tung tóe lên mặt đất.
"Mày nhắc lại tao nghe xem nào?" Tùng bước xấn tới một bước dài, dí sát khuôn mặt đen sạm đầy những vết sẹo mụn vào sát mặt tôi. Hơi thở anh ta nồng nặc mùi khói thuốc lào khét lẹt và mùi mồ hôi chua lòm của kẻ lao động quần quật cả ngày ngoài nương. "Mày vừa mở mồm bảo ai ăn cắp? Ai phá hoại cái đường đi nước bước của mày hả thằng ranh?"
"Chính anh chứ còn ai vào đây nữa!" Cơn uất ức dồn nén suốt bao nhiêu năm trời ăn chực nằm chờ, chịu bao đay nghiến dưới mái nhà này khiến lồng ngực tôi nghẹn ứ lại, từng lời bật ra sắc nhọn như những mảnh đá tai mèo. "Từ ngày tôi về cái nhà này, hễ tôi có được trang sách, cuốn vở nào là anh tìm đủ mọi cách xé nát, vứt xuống bùn đất! Anh căm ghét chuyện tôi được đi học ngoài trường huyện, anh hậm hực mỗi lần cô Hạnh, thầy Dũng khen ngợi tôi trước mặt người làng! Nhưng cái máy tính đó không phải của tôi! Nó là tài sản của nhà trường, của thầy Dũng tin tưởng giao cho tôi để sáng mai tôi đi thi học sinh giỏi tỉnh! Anh trả lại cho tôi ngay lập tức, nếu không thì..."
"Nếu không thì sao hả?!" Tùng ngắt lời tôi bằng một tiếng gầm gừ trầm đục từ sâu trong thanh quản, hai mắt anh ta vằn lên những tia máu đỏ lòm vì cơn giận bùng phát dữ dội. "Mày định xông vào đấm tao à? Hay mày lại định chạy tót vào buồng khóc lóc mách bố tao, mách mẹ tao, như cái trò hèn hạ mày vẫn làm từ bé đến giờ để biến cả cái nhà này thành phường ác độc, chèn ép một thằng cháu mồ côi tội nghiệp?!"
Tùng vung cánh tay khẳng khiu nhưng cứng như gọng kìm lên, ngón tay trỏ thô ráp đen đúa dí thẳng vào giữa trán tôi, đẩy mạnh một cái khiến tôi phải lảo đảo lùi lại nửa bước:
"Mày lúc nào cũng tự cho mình cái quyền thanh cao, sạch sẽ hơn người khác! Cứ hễ cái nhà rách nát này rơi mất cọng rơm, đổ bát cám, hay suy suyển cái gì là cái mắt mày lại trừng trừng nhìn tao như nhìn một thằng đầu trộm đuôi cướp! Mày học được dăm ba chữ nghĩa, bấm được dăm ba cái con số ngoài huyện thì mày nghĩ mày đã thành ông tướng trong cái nhà này rồi hả Nam? Mày khinh tao chỉ là cái ngữ cắm mặt vào đít trâu, ngữ dốt nát quanh năm chỉ biết cầm cán cuốc chứ gì?!"
"Tôi không khinh anh!" Tôi gào lên, cổ họng rát buốt như bị cào xé bởi dằm nứa. "Tôi chỉ cần chiếc máy tính để ngày mai đi thi! Sáng sớm mai tôi phải lên chuyến xe đò lúc năm giờ, anh có hiểu không?! Nếu không có cái máy đó, cả năm trời tôi thức trắng đêm bên ngọn đèn dầu học thuật toán, bao nhiêu công lao thầy Dũng, cô Hạnh bồi dưỡng coi như đổ xuống sông xuống biển hết!"
"Công sức của mày thì quý giá, thế còn mồ hôi nước mắt của tao bỏ ra nuôi cái nhà này thì là cứt đái chắc?!" Tùng nghiến răng ken két, từng thớ thịt trên gò má anh ta giật giật, đỏ bừng lên vì vết thương tự ái sâu hoắm bị chọc trúng. "Mày có máy hay không có máy thì liên quan đéo gì đến tao?! Tao không lấy! Tao đéo rảnh hơi đi dòm ngó mấy cái thứ đồ nhựa con con vô tích sự của mày!"
"Mày không lấy thì ai lấy?! Chiều hôm kia ai đứng lấm lén ngoài cổng ngõ nhà bà Ngô? Ai vừa lén lút tạt về nhà lúc trời sẩm tối?!"
Hai chúng tôi đứng đối mặt nhau giữa khoảnh sân đất mấp mô trong gió rét, ngực phập phồng thở dốc, mắt gườm gườm nhìn xoáy vào nhau như hai con thú hoang bị dồn vào đường cùng sẵn sàng lao vào xé xác đối phương. Khoảng cách giữa hai đứa con trai cùng lớn lên dưới một mái nhà dột nát, cùng chia nhau từng củ sắn luộc sượng ngắt chưa bao giờ trở nên xa xôi, ngột ngạt và thù địch đến thế này. Tôi nhìn thấy trong đôi mắt long sòng sọc của Tùng không chỉ có sự phẫn nộ trần trụi, mà còn có cả sự cay đắng tột cùng của một đứa con ruột luôn cảm thấy mình bị hắt hủi, bị biến thành một cái bóng đen đúa, vô dụng bên cạnh những lời ngợi khen mà người đời không ngớt dành cho đứa cháu côi cút. Còn trong mắt tôi lúc bấy giờ, Tùng chính là hiện thân nghiệt ngã nhất của số phận, là tảng đá tàn nhẫn cố dìm tôi ở lại mãi mãi với bùn lầy, phân trâu và nợ nần của thung lũng Nà Ban.
"Chúng mày làm cái trò đồi bại gì ngoài sân đấy hả?!"
Một tiếng quát tháo đanh gọn, nặng trịch tựa như tiếng đá tảng rơi từ trên núi xuống bất ngờ vang lên từ phía gian nhà trên, kèm theo tiếng ho khúc khắc rền rĩ làm bầu không khí căng thẳng ngoài sân lập tức đông cứng lại.
Cánh cửa liếp đan bằng nứa hé mở cọt kẹt. Bóng dáng to lớn, thô kệch và hơi gù của bác Lương lừng lững xuất hiện nơi ngưỡng cửa. Bác đứng tựa một bên vai vào khung cửa gỗ tạp, một tay cầm chiếc điếu cày bằng tre hun khói đen nhánh, ánh mắt đùng đục như nước ao tù quét qua hai đứa chúng tôi qua làn sương mù chập choạng. Tiếng rít thuốc lào sòng sọc vang lên trong gian nhà tối, khô khốc và đầy vẻ đe dọa.
"Sẩm tối rồi, sương muối buốt đến tận xương tủy mà không lo dọn dẹp chuồng trâu, băm chuối cho lợn, lại đứng đấy gầm ghè nhau như hai con chó đói tranh xương thế à?" Giọng bác Lương trầm xuống, đặc sệt và mang theo cái uy quyền tuyệt đối của người chủ gia đình luôn bị bủa vây bởi túng quẫn. "Thằng Nam đâu, nước nôi ngoài bể đã gánh đầy chưa mà đứng đấy cãi cọ? Mai đi sớm thì liệu mà cút vào buồng phụ ngủ sớm đi, đừng để sáng mai tao phải gõ gậy vào vách gọi!"
Lưng tôi lạnh toát như vừa bị dội một gáo nước suối mùa đông. Tôi cắn chặt môi dưới đến mức bật cả vị tanh mặn của máu, cúi gằm mặt xuống, không dám thốt thêm một lời nào. Nếu bác Lương mà biết chuyện chiếc máy tính mượn của trường bị mất tích, hoặc tệ hơn, nếu bác biết trong gian buồng phụ từng có một thứ đồ đắt tiền có thể quy ra tiền mặt như thế, cơn lôi đình của bác sẽ không bao giờ dừng lại ở vài lời mắng mỏ cộc lốc. Bác sẽ lại lôi những món nợ cũ ròng rã từ ngày ma chay của cha mẹ tôi ra, lại chì chiết chuyện học hành tốn kém, vô bổ của một đứa ăn bám.
Tùng liếc xéo về phía bóng cha mình nơi ngưỡng cửa, rồi chầm chậm quay đầu lại nhìn tôi. Đôi môi thâm sì của anh ta khẽ nhếch lên thành một nụ cười nửa miệng đầy vẻ mỉa mai, khinh miệt, nhưng tận sâu trong đáy mắt lại ánh lên một tia nhìn vô cùng phức tạp—vừa căm phẫn, vừa uất nghẹn, lại như muốn thách thức tôi làm to chuyện.
Không thèm nói thêm nửa lời, Tùng dùng một tay giật phăng lưỡi dao quắm ra khỏi khúc gỗ dẻ, nhổ thêm một bãi bọt nữa xuống đống dăm bào rồi lầm lũi quay lưng. Anh ta sải những bước chân dài ngoằng, khẳng khiu đi thẳng ra phía cổng rào nứa, bóng hình cao ngẳng nhanh chóng tan biến vào màn sương đêm đen kịt đang cuộn lên từ triền suối lạnh buốt.
Tôi đứng trơ trọi một mình giữa khoảng sân gió lùa thấu xương.
Sự im lặng và thái độ bỏ đi đầy khinh thị của Tùng dường như đã giáng một đòn chí mạng, dập tắt hoàn toàn chút hy vọng mong manh cuối cùng còn sót lại trong lòng tôi. Anh ta bỏ đi mà không thèm phân trần, không thèm thừa nhận, cũng chẳng buồn phủ nhận một cách đàng hoàng. Thái độ lảng tránh cay độc ấy, dưới con mắt của một đứa trẻ luôn phải sống trong tâm thế phòng thủ và cảnh giác cao độ như tôi, chính là lời thú tội trơ trẽn nhất.
Chiếc máy tính Casio fx-500MS chắc chắn đã bị anh ta đập vỡ nát rồi ném xuống dòng nước xiết dưới khe suối Nà Ban, hoặc tệ hơn, đã bị anh ta đem ra tiệm cầm đồ ngoài thị trấn để đổi lấy dăm ba chục nghìn tiêu xài từ chiều hôm qua. Sáng mai, tôi sẽ phải bước chân vào phòng thi của kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh với một chiếc túi vải rách, vài mẩu bút chì cùn và một con số không tròn trĩnh. Tôi sẽ phải đối diện với ánh mắt thất vọng của cô Hạnh, với cái lắc đầu buồn bã và tiếng thở dài cay đắng của thầy Dũng—người thầy đã đặt cược danh dự và niềm tin vào đứa học trò nghèo khó nhất trường.
Tôi lảo đảo lê từng bước chân nặng nề như đeo đá trở về gian chái phụ. Căn phòng không thắp đèn dầu, tối om và lạnh lẽo không khác gì một nấm mồ hoang. Tôi buông mình ngồi sụp xuống chiếc chõng tre ọp ẹp gãy nan kê tạm bằng mấy hòn đá hộc, co hai đầu gối lên sát ngực, gục đầu vào khoảng tối giữa hai cánh tay run rẩy. Nước mắt không trào ra được, chỉ có sự cay đắng và cảm giác bất lực tột cùng cào xé lồng ngực đến quặn thắt. Cả cuộc đời tôi, từ ngày cha mẹ lần lượt qua đời bỏ tôi lại bơ vơ, dường như mỗi lần tôi cố gắng vươn tay chạm tới một tia sáng le lói của hy vọng thì ngay lập tức lại có một bàn tay thô bạo thò ra từ bóng tối, giật phăng nó đi và đạp tôi ngã dúi dụi trở lại đáy vực tăm tối của sự bần hàn.
Thời gian trôi đi nặng nề và đặc quánh trong bóng đêm lạnh buốt. Bên gian nhà trên, tiếng bát đũa khua lách cách trong bữa cơm tối muộn màng và đạm bạc cuối cùng cũng dứt hẳn. Tiếng bác dâu Sương càu nhàu, than vãn về giá phân bón tăng vọt, tiếng ho hen sù sụ từng cơn của bác Lương bên đống củi sưởi lép bép tàn lửa, rồi tất cả dần chìm sâu vào sự tĩnh lặng chết chóc của bản làng vùng cao khi đêm đã về khuya. Tôi vẫn ngồi bất động trên chiếc chõng tre gãy nan, hai mắt mở trừng trừng nhìn vào bóng tối mịt mùng, lắng nghe tiếng gió mùa đông bắc rít từng hồi qua những khe nứa nứt toác trên vách đá hộc.
Bỗng nhiên, từ khoảng đất hẹp phía sau vách nứa—nơi tựa lưng vào sườn đồi đá dựng đứng—có tiếng bước chân dẫm lên lá khô sột soạt rất khẽ.
Ban đầu, tôi cứ ngỡ đó là tiếng chuột đồng chạy qua đống rơm mục hay cành cây dẻ gai bị gió quăng quật va vào mép mái fibro xi măng. Nhưng rồi, có ba tiếng gõ ngập ngừng, dứt khoát vang lên ngay sát mép vách đất nơi đầu giường tôi nằm:
*Cộc. Cộc. Cộc.*
Tiếp theo sau ba tiếng gõ là một giọng nói thì thào, khàn đặc và gắt gỏng quen thuộc ép qua khe nứa hở:
"Nam. Mò ra sau nhà ngay. Nhanh lên!"
Đó là giọng của Tùng.
Tim tôi đột ngột giật thót lên một nhịp nhức nhối. Bản năng tự vệ lập tức khiến toàn thân tôi căng cứng như dây đàn. Tùng gọi tôi ra sau nhà vào lúc nửa đêm khuya khoắt này để làm gì? Để đánh nhau một trận sống mái cho hả cơn giận dữ ban chiều, hay còn điều gì khuất tất, mờ ám khác?
Tôi nín thở, chần chừ ngồi yên trong bóng tối vài giây, rồi nghiến chặt răng dứt khoát đứng dậy. Tôi chẳng còn gì để mất nữa. Nếu Tùng muốn giải quyết mọi mối hận thù bằng nắm đấm, tôi cũng sẵn sàng liều mạng với anh ta đêm nay. Tôi lần tay trong bóng tối gạt chốt then cài bằng tre của cánh cửa ngách ọp ẹp, bước nhanh ra khoảnh đất hẹp phía sau nhà—nơi gia đình chất đống củi dẻ gai mục nát và những bụi chuối rừng rậm rạp che khuất tầm nhìn từ phía con đường mòn dẫn vào bản.
Gió đêm lập tức táp thẳng vào mặt tôi lạnh buốt như hàng ngàn mũi kim châm. Không khí ẩm ướt đẫm hơi sương muối làm tôi khẽ rùng mình ớn lạnh.
Phía sau rặng chuối rừng rậm rạp, trong góc khuất tối tăm nhất sát vách đá dựng đứng xám xịt, một bóng người gầy guộc đang đứng tựa lưng vào thân đá lạnh ngắt. Đốm đỏ lập lòe của mẩu thuốc lào trên tay Tùng vừa lóe lên đã lập tức bị anh ta dí mạnh xuống đất, dập tắt ngấm dưới đế chiếc dép tổ ong rách mép.
"Lại đây," Tùng cất tiếng, giọng khàn khàn như người bị viêm họng nặng, đôi mắt đảo quanh nhìn dáo dác về phía mái ngói nhà trên như thể sợ có ai đó chợt thức giấc.
Tôi bước lại gần, dừng lại cách Tùng chừng ba bước chân, hai bàn tay vẫn thủ thế găm chặt trong túi áo:
"Anh gọi tôi ra đây làm gì? Có chuyện gì thì nói dứt điểm một lần đi, đừng có thậm thụt như thế."
Tùng không nhìn thẳng vào mặt tôi. Anh ta cúi gằm đầu xuống, bàn tay khẳng khiu thọc sâu vào tận đáy bụng chiếc áo gió sờn rách, lôi ra một bọc vải thô kệch, cồng kềnh. Đó là một chiếc áo cộc tay cũ rách mướp của Tùng, được quấn chặt nhiều lớp xung quanh một vật thể hình chữ nhật cứng cáp.
Tùng giơ bọc vải ấy ra trước ngực tôi, động tác dứt khoát nhưng lại có vẻ ngập ngừng, lúng túng một cách kỳ lạ:
"Cầm lấy."
Tôi đứng sững người như trời trồng, trân trân nhìn vào bọc áo rách trong tay Tùng, đầu óc nhất thời đông cứng lại, không thể hiểu nổi điều gì đang diễn ra trước mắt mình.
"Cái... cái gì thế này?"
"Bảo cầm lấy thì cầm lấy đi! Hỏi lắm thế làm cái đéo gì!" Tùng gắt khẽ qua kẽ răng, bước sấn tới một bước rồi dúi mạnh bọc vải vào thẳng ngực tôi.
Những ngón tay tôi run rẩy chạm vào lớp vải áo chàm cũ kỹ, thô tháp. Dưới những nếp vải sờn rách nồng nặc mùi mồ hôi chua và mùi khói thuốc lào khét lẹt là những góc cạnh vuông vức, quen thuộc đến mức chỉ cần chạm nhẹ qua đầu ngón tay, cả lồng ngực tôi đã run rẩy như muốn vỡ tung.
Tôi luống cuống lật tung từng nếp gấp của manh áo rách.
Dưới ánh sáng nhờ nhờ, yếu ớt của mảnh trăng muộn le lói xuyên qua kẽ lá chuối rừng, chiếc vỏ nhựa màu xám tro của chiếc máy tính Casio fx-500MS hiện ra nguyên vẹn. Mảnh vải nỉ màu xám tro bọc ngoài vẫn còn nguyên những nếp gấp vuông vức mà tôi đã tỉ mẩn xếp từ chiều hôm trước. Bàn tay run rẩy của tôi vội vàng trượt nắp đậy bảo vệ ra: mặt kính màn hình tinh thể lỏng không hề có lấy một vết xước dăm, hàng phím bấm cao su màu xám tro và xanh đen vẫn nguyên vẹn độ nảy, từng ký hiệu toán học in trên phím bấm không hề suy suyển. Tôi run rẩy bấm vội phím ON; dãy số "0." nhỏ xíu màu đen lập tức hiện lên nơi góc phải màn hình, sắc nét, lạnh lùng và chuẩn xác như một sự cứu rỗi kỳ diệu của số phận.
Nó vẫn ở đây. Nó hoàn toàn nguyên vẹn. Không bị đập vỡ, không bị ném xuống dòng nước xiết dưới khe suối, và cũng không bị đem ra tiệm cầm đồ ngoài thị trấn như tôi từng cay độc quy kết.
Một luồng hơi nóng đột ngột trào dâng từ đáy lòng, xộc thẳng lên sống mũi làm hai mắt tôi cay xè. Cảm giác nhẹ nhõm tột cùng ập đến bất ngờ như thể vừa có một bàn tay vô hình rút phăng tảng đá ngàn cân đang đè nghẹt lồng ngực tôi suốt bao nhiêu giờ qua. Nhưng ngay sau cơn chấn động của sự nhẹ nhõm ấy, một nỗi bàng hoàng lạnh buốt lại chạy dọc sống lưng tôi.
Tôi ngẩng đầu lên, nhìn chằm chằm vào khuôn mặt xương xẩu, đen nhẻm của Tùng đang đứng chìm trong bóng tối dày đặc của vách đá.
Chiếc máy tính đang nằm trọn trong hai bàn tay tôi, nhưng sự thật nghiệt ngã vừa hiển hiện rõ ràng trước mắt: nếu đêm nay Tùng không gọi tôi ra khoảng đất hẹp sau nhà này, nếu bọc áo rách này không được anh ta chìa ra, thì công cụ duy nhất để tôi bước vào kỳ thi sáng mai, thứ hy vọng mong manh nhất để tôi tìm kiếm một con đường thoát khỏi thung lũng nghèo đói này, đã suýt chút nữa vĩnh viễn không còn thuộc về tôi.
Gió bấc luồn qua kẽ lá chuối khô nghe xào xạc như tiếng nghiến răng rền rĩ của bóng đêm. Tôi ghì chặt chiếc máy tính vào trước ngực, các góc cạnh bằng nhựa cứng cấn sâu qua lớp áo mỏng, đau nhói nhưng thật đến mức làm sống mũi tôi cay rát.
"Sao... sao cái máy này lại ở chỗ anh?" Tôi hỏi, giọng còn đặc quánh nghẹn ngào, run rẩy trong hơi lạnh. "Ai đã lấy nó ra khỏi đáy hòm gỗ của tôi?"
Tùng khoanh chặt hai tay trước ngực, đôi vai gầy guộc co rút lại bên trong chiếc áo gió mỏng dính rách toạc một bên nách. Anh ta cúi gằm mặt nhìn chằm chằm xuống nền đất sỏi ẩm ướt dưới chân, khóe môi thâm sì khẽ giật giật từng hồi:
"Không phải tao lấy trộm của mày. Bố tao tìm thấy nó lúc dọn góc vách buồng phụ chiều nay."
Tôi sững sờ, hơi thở như nghẽn lại nơi cuống họng:
"Bác Lương ư?"
"Hôm qua bố tao xuống tận xóm dưới gõ cửa từng nhà để hỏi vay tiền nộp nợ phân bón nhưng đéo ai cho vay một đồng," Tùng gằn từng tiếng, giọng khàn đặc, chua chát và đắng ngắt như rễ cây rừng. "Lúc về, ông ấy hầm hầm vào buồng phụ lật tung từng góc vách để tìm mấy cuộn dây thép gai với mấy cái lưỡi cày cũ gỉ để gom lại đem bán đồng nát cho người ta kiếm vài đồng. Thấy cái bọc nỉ giấu kỹ dưới đáy hòm của mày, mở ra thấy chiếc máy tính còn mới nguyên xi, ông ấy bảo cái thứ đồ bấm số này đem ra mấy tiệm cầm đồ ngoài cổng chợ huyện ít nhất cũng đổi được mấy chục nghìn, khéo người ta trả cho cả trăm nghìn bạc. Chiều nay ông ấy đã quấn chặt nó vào trong bọc giẻ rách rồi giấu dưới gầm phản, định bụng sáng mai mang đi cùng mớ sắt vụn để cấn nợ phân bón."
Từng lời của Tùng như những gáo nước lạnh buốt dội thẳng vào đỉnh đầu tôi. Máu trong huyết quản tôi như đông cứng lại thành băng.
Tôi nhớ đến ánh mắt lạnh tanh, đùng đục của bác Lương mỗi lần ai đó trong nhà vô tình nhắc đến những khoản nợ nần ngập đầu gối. Tôi nhớ đến cái cách bác giấu nhẹm phong bì giấy báo hỗ trợ chi phí thi cử của tôi gửi về trường năm ngoái vào tận đáy tủ gỗ khóa kín, coi như không hề hay biết. Trong căn nhà xiêu vẹo, cùng quẫn này, đối với một người nông dân bị những món nợ truyền đời đè bẹp dí như bác Lương, mọi thứ không trực tiếp biến thành bắp ngô, củ sắn hay tiền mặt để trả nợ lãi phân bón thì đều là thứ thừa thãi, phù phiếm, và có thể đem bán tống bán tháo đi bất cứ lúc nào.
"Thế... thế sao anh..." Tôi ngập ngừng, nhìn chăm chú vào bàn tay khẳng khiu, chai sạn của Tùng—bàn tay vẫn còn dính những vệt nhựa cây đen sì và những vết sẹo do dao quắm cứa phải. "Sao anh lại lấy lại nó mang ra đây cho tôi?"
Tùng khẽ cười khẩy, một nụ cười méo mó, lạnh tanh không có lấy một mảy may hơi ấm:
"Mày tưởng tao thương hại mày à? Mày đừng có nằm mơ giữa ban ngày. Tao lén thò tay vào gầm phản của bố tao lôi nó ra trước khi ông ấy kịp mang ra thị trấn, đéo phải vì tao tốt lành hay tử tế gì với cái ngữ học trò như mày đâu. Tao chỉ thấy kinh tởm... Tao kinh tởm cái cảnh sống trong cái nhà rách nát này, hễ cứ túng thiếu, cứ cùng đường là mọi thứ có giá trị đều bị lôi tuột ra đem bán sạch! Bán từ đôi khuyên tai bạc kỷ vật của mẹ tao, bán đến mớ sắt vụn cùn gỉ, rồi đến cả cái thứ đồ đi mượn của mày cũng bị dòm ngó đem đi cấn nợ... Bán hết, bán sạch bách, để rồi cuối cùng tất cả cùng dắt díu nhau chôn chân ở cái xó rừng này, đéo có một ai thoát nổi ra ngoài!"
Lồng ngực tôi nhói buốt như bị ai bóp nghẹt. Tôi mấp máy môi, một lời cảm ơn chân thành nghẽn lại nơi cuống họng, ngập ngừng, bối rối không sao thốt ra trọn vẹn thành tiếng:
"Dù sao thì... tôi cũng cảm ơn anh. Nhưng... nhưng ban nãy ngoài sân, sao anh không nói thẳng ra luôn? Sao lại để tôi nổi điên lên nghi ngờ anh như thế?"
"Nói luôn ngoài sân để bố tao nghe thấy à?!" Tùng ngắt lời tôi bằng một tiếng rít dữ dằn qua kẽ răng, hai mắt anh ta trợn trừng lên trong bóng tối lờ nhờ. "Nói toạc ra để bố tao quay sang tra khảo tao tại sao lại dám lục lọi gầm phản của ông ấy? Để tao ăn đòn no đòn thay cho mày à? Mà cho dù tao có nói ra thì mày có tin tao không hả Nam?! Trong mắt cái nhà này, trong mắt cô Hạnh, thầy Dũng và cả cái bản này, mày lúc nào chẳng là đứa ngoan ngoãn, đứa chịu thương chịu khó, đứa thông minh sáng dạ được người ta tin tưởng tuyệt đối! Còn tao thì là cái giống gì trong mắt chúng mày? Thằng con đẻ dốt nát, bướng bỉnh, ngỗ ngược, phá gia chi tử chứ gì?! Có bao giờ... có bao giờ có ai thèm hỏi xem tao muốn cái gì không?!"
Bao nhiêu uất ức dồn nén bấy lâu bị khơi trúng chỗ đau nhức nhối nhất, tôi cũng không kìm được nữa mà gằn giọng cãi lại, từng lời bật ra đầy cay đắng:
"Anh ghen tị với tôi cái gì cơ chứ?! Anh có đủ cả cha lẫn mẹ, anh là con trai ruột thịt duy nhất trong cái nhà này! Còn tôi chỉ là một đứa cháu mồ côi ăn nhờ ở đậu, mỗi một bát cơm độn sắn tôi bưng vào miệng đều bị người ta đem ra cân đo đong đếm bằng từng giọt mồ hôi và những món nợ cũ rích! Anh quên mất những năm qua anh đối xử tàn nhẫn với tôi thế nào rồi à? Hồi tôi mới học lớp một, ai là người giật phăng cuốn vở chép thơ cũ của mẹ tôi ném xuống rãnh bùn? Ai là người đá đổ sọt sắn tôi vừa đào về để bắt tôi phải đi nhặt lại từng củ cho anh đi chơi bắn bi? Chiều hôm kia, ai lấm lén rình mò trước cửa phòng trọ của tôi ngoài trường huyện?!"
"Mẹ kiếp, tao đến tìm thằng Thào để nhờ nó xin cho tao một chân phụ xe đò dưới bến xe thị trấn, tao thèm vào rình mò cái buồng trọ rách nát của mày làm đéo gì!" Tùng sấn tới thêm một bước, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau ken két, giọng nói nghẹn lại vì một nỗi phẫn uất tột cùng tưởng như sắp nổ tung. "Mày chỉ nhớ mỗi cuốn vở rách của mày bị tao giật! Thế mày có biết... mày có biết từ cái ngày mày dắt díu về cái nhà này ở, ngày đéo nào bố tao cũng chửi rủa vào mặt tao, bảo tao là đồ súc sinh vô dụng, bảo tao phải mở to mắt ra mà nhìn mày mà học tập không?! Mày có biết mỗi lần mày mang điểm mười về bản, mỗi lần người ta ngoài xóm xúm vào khen mày sáng dạ thông minh, thì sau lưng mày, bố tao lại vác cán cuốc thúc thẳng vào mạng sườn tao, bắt tao phải làm trụ cột gánh vác, bắt tao phải quần quật bán mặt cho đất bán lưng cho trời để kiếm tiền trả nợ thay cho cả cái nhà này không?! Tao đéo muốn làm trụ cột kiểu đấy! Tao đéo muốn cả đời này chôn vùi tuổi trẻ ở mấy cái hốc đá dốc Ban Nà này!"
Hai chúng tôi đứng chết trân giữa khoảng đất hẹp lộng gió bấc sau nhà, lồng ngực phập phồng thở dốc từng cơn nặng nhọc, ánh mắt gườm gườm nhìn trừng trừng vào nhau qua màn sương đêm lạnh buốt.
Tôi biết mình không thể nào dễ dàng tha thứ cho những trận đòn roi vô cớ, những lời sỉ nhục hằn học hay sự cay độc mà Tùng đã trút lên đầu tôi suốt cả quãng đời thơ ấu côi cút. Những vết thương tinh thần ấy đã cắm rễ quá sâu, rỉ máu qua năm tháng, không thể nào được xóa nhòa chỉ sau một đêm trò chuyện hay một chiếc máy tính được trả lại. Nhưng đây là lần đầu tiên trong đời, khi đứng cách Tùng chỉ vài gang tay trong bóng tối ẩm mốc, tanh nồng mùi lá mục sau nhà, tôi mới thực sự nhìn thấu được sự thật trần trụi và cay đắng ẩn giấu đằng sau vẻ ngoài hung hãn, cộc cằn của người anh họ.
Sự đố kỵ nghiệt ngã của Tùng không chỉ đơn thuần bắt nguồn từ thói xấu tính hay sự ích kỷ của một đứa con trai quen được nuông chiều, mà nó luôn song hành với một nỗi sợ hãi tột cùng—nỗi sợ bị mắc kẹt vĩnh viễn bên những mảnh nương khô cằn, bị đè bẹp dí bởi gánh nặng sinh kế và những khoản nợ truyền đời mà bản thân anh ta không bao giờ đủ sức gánh vác nổi.
Chúng tôi, xét cho cùng, đều chỉ là hai đứa trẻ khốn khổ đang ngột ngạt đến phát điên dưới cùng một mái nhà dột nát, nghèo đói. Chỉ có điều, tôi đang vùng vẫy tìm đường thoát thân bằng những con chữ, những dòng mã lệnh thuật toán trên trang giấy nháp; còn Tùng thì lại đang giãy giụa trong tuyệt vọng giữa sự bất lực, mặc cảm và những trận đòn roi của một người cha cùng quẫn.
Tùng bỗng nhiên quay ngoắt mặt đi, né tránh ánh nhìn sững sờ của tôi. Anh ta cúi đầu nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống gốc bụi chuối rừng rậm rạp, giọng nói chùng xuống, trở lại vẻ lạnh tanh, cộc lốc và vội vã như thường ngày:
"Tao nói thế thôi. Mày đừng có mà tưởng bở là tao mở mồm nhờ vả hay trông mong, bấu víu gì vào cái thứ học hành của mày. Cầm lấy máy rồi cút đi thi của mày đi."
Dứt lời, Tùng lầm lũi quay lưng sải những bước chân dài ngoằng qua khoảng đất hẹp phủ đầy lá khô, rồi thoăn thoắt trèo qua bậu cửa sau chui tọt vào bóng tối mịt mùng của gian nhà chính.
Tôi đứng lại một mình giữa khoảng không gian hoang lạnh sau nhà. Cẩn thận từng chút một, tôi trượt nắp bảo vệ bằng nhựa lại khớp vào thân máy, dùng mảnh vải nỉ xám tro bọc kín chiếc máy tính Casio fx-500MS thành nhiều lớp, rồi trân trọng nhét sâu nó vào tận đáy chiếc túi vải thô đeo chéo của mình. Giữa tôi và Tùng tuyệt nhiên vẫn chưa có bất kỳ sự hòa giải êm đẹp nào; những vết nứt nẻ, cay đắng tích tụ suốt mười mấy năm trời dưới một mái nhà dột nát chẳng thể nào liền sẹo chỉ sau một cuộc cãi vã trong đêm. Nhưng ít nhất, một sự thật trần trụi vừa lộ ra dưới đáy sâu tăm tối: trong căn nhà ngột ngạt này, không phải chỉ có một mình tôi khao khát được thoát ra ngoài thung lũng.
Canh năm sáng hôm sau, sương muối phủ một lớp trắng xóa, buốt giá lên khắp các bờ rào nứa và những rặng xoan trơ trụi đầu bản.
Trước lúc tôi xỏ chân vào đôi dép nhựa đã mòn vẹt đế để bước chân ra khỏi con ngõ đất nhão nhoét, bác Lương từ trong buồng tối lừng lững bước ra, tay cầm chiếc ấm nhôm sứt vòi đang bốc khói nghi ngút rót nước sôi vào chiếc bình tông cũ. Bác ngước đôi mắt đùng đục không chút gợn sóng nhìn tôi qua màn khói bếp nhờ nhờ, chỉ buông một câu hỏi cộc lốc, khô khốc:
"Hai cái chum nước ngoài bể đã múc đầy chưa? Phân trâu trong chuồng đã cào dọn sạch sẽ chưa?"
"Dạ, cháu múc đầy chum và dọn sạch chuồng từ đêm qua rồi ạ," tôi khẽ cúi đầu đáp.
Bác Lương ừ hèm một tiếng đục ngầu trong cổ họng rồi quay lưng bước thẳng vào chái bếp, hoàn toàn không hề hay biết rằng chiếc máy tính mà ông từng toan tính đem bán lấy tiền cấn nợ phân bón lúc này đang nằm yên ổn, bình an dưới đáy túi sách của tôi.
Tôi bước qua bậu cửa gỗ mục, dứt khoát rời khỏi bản Nà Ban khi vòm trời phía đông còn chưa kịp ửng sáng. Thiết bị học tập quý giá nhất đời tôi đã được giữ lại trọn vẹn bằng một ân huệ lạ lùng, một ân huệ trớ trêu chẳng ai buồn đặt tên và cũng chẳng ai muốn thừa nhận.
Trên chuyến xe đò cũ kỹ rung lắc dữ dội khi vượt qua những khúc cua tay áo mù mịt sương muối dẫn ra thị xã, tôi ngồi nép mình vào góc cửa sổ nứt toác một mảng kính. Hai cánh tay tôi ghì chặt chiếc túi xách vải bạt sát vào trước lồng ngực. Bên trong lớp vải thô ráp ấy là chiếc máy tính cầm tay còn nguyên vẹn, bọc tiền lẻ nhăn nhúm đổi bằng nửa chiếc khuyên tai bạc của bác dâu Sương, và một cơ thể đã rệu rã sau nhiều ngày thiếu ngủ cùng những bữa cơm độn sắn đói lòng mà tôi vẫn cắn răng cố xem là chuyện nhỏ. Chiếc xe gầm rú từng hồi đen đặc khói dầu, lao thẳng vào màn sương xám ngắt, bỏ lại thung lũng nghèo đói phía sau lưng.