Hoa Ban Không TànC.23 / 38
Chương 23

Cô giáo trước hiên nhà

Sáng hôm sau, khi tôi còn chưa kịp đem tờ giấy đến trường bản, cô Hạnh đã đứng trước hiên nhà bác, đôi dép lấm bùn và giọng nói bình tĩnh hơn cả cái cách bác Lương đang siết chặt cán cuốc.

Màn sương lạnh từ đỉnh dốc Pha Luông vẫn còn đặc quánh, bám dính lấy những mái ngói fibro xi măng đã ngả màu rêu xám xịt. Đêm vùng cao buốt giá như vừa rút cạn chút hơi ấm cuối cùng khỏi thung lũng, để lại một lớp sương muối phủ mỏng tang trên những đọt lá chuối rừng ngoài bờ rào, làm chúng rũ rượi xuống như những phiến thiếc rỉ sét. Trời vừa hửng sáng, cái rét căm căm luồn lách qua từng khe nứa hở, ngấm sâu qua lần áo chàm vá chằng vá đụp, cắn vào da thịt tôi buốt nhói.

Bác Lương đứng sừng sững bên bậc tam cấp ghép bằng ba phiến đá hộc xù xì, tay vẫn nắm chặt chiếc cán cuốc tra bằng gỗ dẻ vừa mới chuốt dở chiều qua, dăm gỗ còn tưa ra trắng ởn. Lưỡi cuốc bằng thép rèn bóng loáng cắm sập xuống nền đất ẩm, sâu đến nửa gang tay, như một chiếc cọc sắt cắm chặt giữa ranh giới của sự nín nhịn và cơn lôi đình chực bùng phát. Cả đêm hôm qua, sau khi xấp giấy nợ của cha tôi bị phơi bày trơ trọi trên mặt chõng tre nhẵn bóng mồ hôi và tiếng thở dài run rẩy của bác dâu Sương chìm dần vào bóng tối mịt mùng, căn nhà hầu như không một ai chợp mắt. Mùi dầu hỏa khét lẹt từ chiếc đèn hoa kỳ vặn bấc nhỏ bằng hạt đỗ cứ lẩn quất trong buồng tối, quyện chặt với mùi thuốc lào ngai ngái mà bác Lương rít liên tục từng chặp suốt từ canh một sang canh năm. Tờ giấy quyết định mang con dấu đỏ rực của Phòng Giáo dục vẫn nằm ngay ngắn trong túi áo ngực tôi, mép giấy cứng cộm lên theo từng nhịp thở thắt lại, như một miếng than hồng ủ kín dưới lớp tro tàn, âm ỉ cháy suốt từ lúc gà chưa gáy ran mé rừng cho đến khi rạng đông bàng bạc hé ra nơi chân trời xa lắc.

Tôi đã tính đến việc trốn nhà chạy một mạch hơn bốn cây số ra trường xã ngay khi con gà gáy le te cất tiếng đầu tiên. Đôi bàn chân nứt nẻ của tôi đã ướm sẵn vào đôi dép cao su mòn vẹt, bàn tay đã run rẩy chạm vào Then cài cửa liếp nứa sau chái bếp. Nhưng tôi chưa kịp bước qua rào dâm bụt đọng đầy giọt nước buốt giá thì tiếng bước chân quệt bùn bì bõm, nặng nhọc mà dứt khoát, đã vang lên từ phía con ngõ đất dốc dẫn lên từ đường liên thôn.

Cô Hạnh không đội nón nữa. Chiếc nón lá rách chóp thường ngày của cô có lẽ đã được cất vội ở lớp học dưới chân đồi. Chiếc áo khoác gió màu xám sờn mép bay phần phật trong từng cơn gió sớm rít qua khe núi, hai ống quần lụa đen vén cao quá bắp chân quánh đặc bùn đỏ của con dốc đất vừa trải qua một đêm ngấm sương. Đôi mắt cô quầng thâm thẫm—dấu vết không thể che giấu của một đêm dài mất ngủ trăn trở, hoặc giả là kết quả của việc cô đã phải cuốc bộ một mình từ tờ mờ sáng qua những đoạn đèo trơn trượt như đổ mỡ gà để kịp có mặt ở đây trước khi người lớn dắt trâu ra đồng. Nhưng ánh nhìn của cô không hề có vẻ mệt mỏi, càng không vương một tia nhụt chí nào; nó sáng quắc, găm thẳng vào khoảng không gian trước hiên nhà, nơi những người lớn trong gia đình đang đứng bọc lấy tôi như một bức tường thành kiên cố và câm lặng, ngăn cách một đứa trẻ với phần đời nằm ngoài con dốc Pha Luông.

“Chào bác Lương, chào chị Sương,” cô Hạnh cất tiếng chào. Hơi thở cô phả ra thành những làn khói trắng mỏng tang, tan biến rất nhanh giữa bầu không khí buốt giá đặc quánh mùi sương sớm và phân trâu ẩm ướt. Cô dừng lại ngay mép thềm đất, nơi ranh giới mong manh giữa khoảnh sân lầy lội đầy vết móng trâu và chiếc hiên hẹp có mái che chắp vá bằng mấy tấm nứa dập dập. “Tôi lên từ sớm vì hôm nay là thứ Sáu. Chỉ còn vài tiếng nữa là hết giờ làm việc buổi sáng của ủy ban và phòng giáo dục. Tôi đợi dưới trường mãi mà không thấy bác hay em Nam mang giấy xác nhận ra, nên tôi phải đích thân trèo dốc lên đây.”

Bác Lương khẽ nhúc nhích bàn chân đi đôi dép tổ ong ngả màu cháo lòng đã mòn vẹt cả gót. Cơ mặt bên má trái của bác giật nhẹ một cái, những thớ thịt rắn như gỗ nghiến siết lại dưới làn da sạm đen vì nắng gió nương ngàn, nhưng năm ngón tay gân guốc nắm chặt lấy cán cuốc tra gỗ dẻ vẫn không hề nới lỏng dù chỉ nửa phân. Bác hắng giọng một tiếng khô khốc, thanh âm nghe như hai hòn sỏi va vào nhau dưới lòng suối cạn. Mắt bác đảo nhanh qua vạt áo ngực của tôi—nơi nếp gấp của tờ giấy quyết định đang đội lớp vải chàm lên một khoảng mỏng manh—rồi mới từ từ dời sang nhìn thẳng vào khuôn mặt ướt đẫm hơi sương của cô giáo trẻ:

“Cô giáo nhọc công quá. Đường rừng trơn tuột như bôi mỡ thế này, có việc gì gấp gáp thì cứ nhắn một câu với người đi chợ phiên dưới phố huyện, việc gì phải bấm ngón chân leo dốc từ lúc sương chưa tan, gà rừng chưa buồn xuống ổ. Mời cô vào trong nhà, ngồi lên cái chõng tre uống hớp nước chè xanh cho ấm ruột đã. Chuyện con trẻ trong nhà, để người lớn chúng tôi từ từ rồi tính, việc gì mà cô phải làm rùm beng lên ngoài sân ngoài ngõ thế này.”

Nói đoạn, bác Lương hơi nghiêng bờ vai rộng bè bè sang một bên, làm bộ như muốn nhường đường dẫn vào gian buồng tối tăm phía trong. Cánh cửa gỗ khép hờ quen thuộc ấy luôn là nơi phát ra tiếng rít của điếu cày, tiếng đếm tiền lẻ sột soạt sau mỗi mùa bán ngô, và cũng là nơi đóng kín mọi quyết định về số phận côi cút của tôi suốt bao năm qua. Mỗi lần người lớn bước vào phía sau cánh liếp nứa ấy, mọi câu chuyện về việc tôi được ăn bao nhiêu bát mèn mén một ngày, được chia mấy manh áo rách của thằng Tùng thải ra, hay việc tôi có được tiếp tục cắp sách đến trường bản hay phải bỏ ngang để đi dắt trâu... tất cả đều bị dìm chết trong tiếng xì xào to nhỏ, tiếng thở dài sườn sượt và tiếng đập bàn chát chúa của bác Lương.

Nhưng cô Hạnh không bước lên thềm. Đôi dép lê dính đầy đất đỏ của cô vẫn cắm chặt trên khoảng sân gập ghềnh. Cô đứng im dưới bóng cây mận khẳng khiu rụng gần hết lá ở mép sân, hai tay chắp lại trước bụng, giữ chiếc cặp da đen sờn góc ép sát vào người. Tư thế của cô đĩnh đạc, rành mạch và không mang chút gì là nhún nhường của một người đi xin xỏ.

“Không cần đâu bác Lương,” giọng cô Hạnh vang lên, rõ ràng và dứt khoát đến từng âm tiết. Từng lời của cô dội thẳng vào vách nứa, đập vào những phiến đá hộc rồi lan tỏa khắp khoảng sân nhỏ đang chìm trong sự ngột ngạt. “Chuyện của Nam không phải là chuyện riêng tư giấu giếm gì sau cánh cửa đóng kín nữa. Tờ thông báo này là công văn của nhà nước, của Phòng Giáo dục gửi đích danh cho em, nhà trường cũng đã nhận được bản sao lưu trữ có dấu đỏ từ đầu tuần. Mọi thủ tục, điều kiện và tương lai học hành của Nam, tôi xin phép được trao đổi thẳng thắn, công khai với bác và gia đình ngay tại hiên nhà này. Trước mặt em nó, và trước mặt cả nhà, để mọi sự được sáng tỏ, không ai có thể làm sai hay giấu giếm được nữa.”

Tiếng nói của cô Hạnh vừa dứt thì từ trong gian bếp ám đầy bồ hóng đen kịt, bác dâu Sương thập thò bước ra. Hai bàn tay khẳng khiu, cáu bẩn vì vừa nhặt cám lợn vội vã chùi vào mép chiếc tạp dề bằng bao tải dứa rách tả tơi. Bà nép mình bên cạnh khung cửa, gương mặt hốc hác đầy những vết chân chim hằn sâu nơi đuôi mắt, miệng mấp máy như muốn nói điều gì nhưng lại nuốt ngược vào trong khi chạm phải cái trừng mắt sắc lẹm của chồng. Bé Lan, đứa em họ nhỏ hơn tôi ba tuổi, cũng rón rén bước ra từ sau lưng mẹ. Con bé nép sát sau chiếc cột hiên bằng gỗ xoan mục, đôi mắt đen láy mở to ngập tràn sự lo âu, hết nhìn tôi đang đứng chết trân bên bờ tường nứa lại nhìn sang cô giáo Hạnh với vẻ sợ sệt lẫn mong chờ.

Bác Lương đứng khựng lại giữa bậc cửa tam cấp. Gương mặt bác đỏ lựng lên vì giận dữ rồi nhanh chóng chuyển sang màu xám ngoét của tảng đá vôi dầm mưa nắng. Bác biết cô Hạnh không giống những người phụ trách khuyến học xã chỉ ghé qua đưa tờ rơi rồi vội vã quay về cho kịp bữa trưa. Người phụ nữ trẻ người Kinh này đã bám bản suốt ba năm ròng, từng trèo đèo lội suối vào tận những lán nương xa nhất để kéo học sinh trở lại lớp, không phải là người dễ bị gạt bằng vài ba chén nước chè chát suông hay những lời hứa hẹn vu vơ cho xong chuyện.

Hiểu rằng không thể chối quanh co hay dùng cái lệ làng lấn át được nữa, bác Lương buông một tiếng thở dài nặng nhọc, nghe trầm đục như tiếng một tảng đá hộc lăn từ đỉnh dốc xuống đáy vực sâu. Bác cắm mạnh lưỡi cuốc sâu thêm một tấc nữa vào lòng đất ẩm, phát ra một tiếng “phập” khô khốc làm tung lên vài vụn đất đỏ. Bác tựa cả hai cánh tay gầy guộc, nổi đầy những vết sẹo lồi do mảnh đá nổ mìn trên nương cứa vào, lên chiếc cán gỗ dẻ vừa chuốt. Bác ngẩng đầu lên, trừng trừng nhìn thẳng vào cô Hạnh. Sự phòng thủ vụng về ban nãy biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho vẻ cộc cằn, gan góc và đầy hằn học của một người nông dân nghèo bị dồn đến bước đường cùng bởi miếng cơm manh áo.

“Cô giáo đã nói toạc móng heo ra như thế thì tôi cũng chẳng việc gì phải giấu giếm hay quanh co làm cái gì cho mệt xác nữa!” Bác Lương gằn giọng, thanh âm khàn đặc như có ai xát một vốc muối hột vào cổ họng. “Vâng! Cái phong bì có dấu đỏ ấy tôi cầm từ tay thằng liên lạc xã từ đầu tuần. Tôi mang về, tôi cất kỹ đáy hòm gỗ, tôi không muốn đưa cho nó đấy! Thì đã làm sao nào? Không phải vì tôi ghét bỏ gì giọt máu của em trai tôi, cũng không phải tôi muốn đày đọa thằng Nam cho sướng cái thân tôi. Mà là vì cái nhà này không kham nổi! Cô giáo dạy chữ, cô ngồi trên bục giảng mát mẻ, cô nhìn cái tờ giấy khen lấp lánh với mấy con điểm mười đỏ chót thì cô thấy đời nó đẹp đẽ lắm, xán lạn lắm. Chứ kẻ làm chủ cái nhà rách nát này như tôi, mở mắt ra là chỉ nhìn thấy cái đói, cái rét nó chực sẵn ngay ngoài ngõ, chực nuốt chửng cả nhà này thôi!”

Bác Lương vung cánh tay khẳng khiu, chỉ thẳng về phía sườn đồi Pha Luông sừng sững đang chìm trong làn sương muối đùng đục:

“Cô nhìn lên cái sườn đồi kia mà xem! Cả cái thung lũng Nà Ban này sắp bước vào vụ ngô mới rồi. Cỏ gianh thì mọc lút đầu gối sau mấy trận mưa phùn, đá hộc tràn xuống bờ ta luy lấp hết cả rãnh dẫn nước vào ruộng bậc thang còn chưa dọn xong một góc. Thằng Tùng nhà tôi sức dài vai rộng đấy, nhưng đầu óc nó vụng về, làm trước hỏng sau, chỉ biết xúc cám cho lợn là hết nấc. Cái nhà này bao năm qua chỉ trông cậy vào tôi với thằng Nam là hai chân lao động chính để cày xới, cuốc lật ba mảnh nương dốc đứng ấy. Bây giờ cô bảo nó bỏ bản, vác cặp xuống huyện mà học chữ, thì ai vác cày theo đuôi trâu? Ai gùi từng bắp ngô từ trên đỉnh trời Pha Luông xuống lán? Ai đi cắt từng bó cỏ voi cho hai con trâu giữa mùa đông rét căm căm này để chúng nó khỏi lăn đùng ra chết cóng?”

Bác Lương ngừng lại để hít một hơi sâu, lồng ngực gầy giơ cả những xương sườn cong vút phập phồng dữ dội sau lớp áo nâu sồng mỏng tang đã rách tươm ở hai bên nách:

“Xuống trường huyện đâu phải chuyện bước qua con suối đầu bản là tới nơi tới chốn! Cách hơn chục cây số đường đèo quanh co, đá tai mèo lởm chởm, xe đạp không có lấy một chiếc gãy khung, đôi chân đất này mà lội bộ thì mất đứt nửa ngày trời đi, nửa ngày trời về. Nó đi rồi, việc nhà ai gánh gồng cho nổi? Rồi còn chuyện ăn ở, sinh hoạt dưới phố huyện xa xôi ấy nữa. Cái suất hỗ trợ mà cô giáo cứ đem ra khoe khoang rùm beng khắp cả xã, nó to tát được đến mức nào? Nó có bao trọn gói cho thằng Nam từ cái quần lành lặn, chiếc áo ấm, đôi dép cao su, cho đến hạt muối ăn hàng ngày, giọt dầu hỏa thắp đèn ban đêm không? Hay là người ta chỉ miễn cho mấy đồng bạc tiền giấy mực, tiền học phí tượng trưng, rồi bữa cơm hàng ngày nó vẫn phải ngửa tay xin tiền nhà này gửi xuống để mua từng mớ rau, lạng thịt?”

Bác Lương bước tới một bước, bàn chân giẫm mạnh lên phiến đá tam cấp kêu một tiếng “cộp”. Bác chỉ thẳng ngón tay trỏ đen đúa, móng tay đóng đầy ghét đất vào mặt tôi, nhưng mắt thì vẫn gườm gườm khoét sâu vào mặt cô giáo Hạnh:

“Bố nó mất đi, nhắm mắt xuôi tay thanh thản dưới nấm mồ đất đỏ ngoài đồi cằn, để lại cho tôi một đống nợ ngập đầu ngập cổ! Tiền thuốc thang, tiêm chọc chạy chữa cho mẹ nó ngày trước mượn của trạm xá còn chưa trả dứt. Tiền đong từng đấu gạo đỏ cứu đói những mùa giáp hạt phải cắn răng ký sổ nợ nhà bà Phán ngoài ngã ba. Rồi còn một trăm hai mươi nghìn tiền hai cỗ áo quan bằng gỗ nghiến xẻ tấm vay của lão Thào xóm Mo từ bốn năm trước, đến tận bây giờ tôi vẫn phải còng lưng cuốc đất nương để trả lãi bằng từng gùi ngô hạt mỗi mùa thu hoạch. Cái nợ ấy ai gánh cho cái nhà này? Suất học bổng của nhà nước có trả thay cho bố nó được một đồng nợ nào không? Hay là nó cứ việc thong dong cắp sách đi học chữ cho thỏa cái dạ, rồi người ở lại như vợ chồng tôi phải bán nốt mảnh nương cuối cùng ở chân dốc để người ta đến siết nợ, dắt trâu đi?”

Từng lời, từng chữ của bác Lương ném ra giữa khoảng sân sớm nghe chát chúa, trần trụi và nặng trịch như những viên đá cuội nung nóng ném vào đống rơm khô. Chúng không phải là những lời bịa đặt hay sự cay độc vô cớ của một kẻ ác tâm thuần túy muốn dồn ép đứa cháu ruột thịt của mình vào chỗ chết; chúng là tiếng kêu gào bế tắc, cay đắng của cái nghèo truyền kiếp bám chặt lấy đất này từ đời ông sang đời cha, của một kiếp người bị vắt kiệt từng giọt mồ hôi trên đá sỏi mà quanh năm suốt tháng vẫn không làm sao ngẩng đầu lên nhìn thấy mặt trời.

Tôi đứng chôn chân bên cạnh chiếc cột hiên mục, hai bàn tay thọc sâu trong túi chiếc quần chàm rộng thùng thình bặm chặt lại đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau nhói, rỉ ra một làn nước nong nóng. Từng món nợ cũ của người cha đã khuất, từng bát mèn mén nuốt nghẹn nơi cổ họng qua những ngày giáp hạt đói mờ mắt, từng gùi cỏ voi ướt sương tôi gùi từ đỉnh dốc về, từng cọng rơm băm nhỏ trộn cám cho lợn... tất cả những tủi nhục, đắng cay của kiếp sống ăn nhờ ở đậu đều bị lôi tuột ra, phơi bày trơ trọi giữa thanh thiên bạch nhật, ngay trước mặt người cô giáo mà tôi kính trọng và tôn sùng nhất trần đời.

Một cảm giác nhục nhã và tủi hờn trào dâng, ứ nghẹn nơi đáy họng làm tôi muốn nghẹt thở. Tôi muốn hét lên thật to rằng tôi không phải là một kẻ ăn bám vô tích sự, rằng suốt bốn năm qua tôi đã thức dậy từ bốn giờ sáng khi cả bản còn đang chìm trong giấc ngủ say để đi múc từng thùng nước dưới mó sâu, đã làm việc quần quật trên nương ngô cho đến khi mặt trời lặn hẳn sau rặng núi mới dám bước chân về nhà để đổi lấy từng hạt cơm độn sắn củ. Nhưng cổ họng tôi khô khốc, đắng ngắt như vừa ngậm phải một ngụm nước lá ngón. Tôi không thốt ra nổi một lời nào. Tôi chỉ có thể cúi gằm mặt xuống, nhìn những giọt mồ hôi lạnh toát rỉ ra từ chân tóc trên trán mình, chầm chậm lăn qua khóe mắt cay xè rồi nhỏ tí tách xuống nền đất nện ẩm ướt dưới chân.

Cô Hạnh lặng im lắng nghe từ đầu đến cuối. Gương mặt thanh tú của cô không hề biến đổi sắc thái, không có vẻ gì là giận dữ hay phật ý trước những lời lẽ thô ráp, gay gắt của bác Lương. Cô kiên nhẫn đợi cho tiếng thở dốc nặng nhọc của bác Lương chìm hẳn vào tiếng gió bấc gầm rít qua rặng tre già đầu ngõ rồi mới khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ. Cô bước lên một bậc thềm đất, thu hẹp khoảng cách với người đàn ông đang đứng thở hồng hộc kia. Ánh mắt cô dịu lại nhưng sâu thẳm và kiên định, nhìn thẳng vào đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ ngầu vì thiếu ngủ và lo toan của người trụ cột gia đình.

“Tôi hiểu hết những gì bác vừa nói, bác Lương,” cô Hạnh mở lời, thanh âm trầm tĩnh, chậm rãi nhưng có một sức nặng vô hình neo chặt lấy bầu không khí đang chực bùng nổ tan tành. “Tôi không đứng ở đây để vẽ ra một bức tranh màu hồng lừa gạt bác, và tôi cũng chưa bao giờ nói với bác hay với bà con trong bản rằng cái suất hỗ trợ này là một phép màu nhiệm màu có thể xóa sạch mọi món nợ nần, đói nghèo của gia đình bác chỉ sau một đêm ngủ dậy.”

Nói đoạn, cô Hạnh mở chiếc cặp da màu đen đã sờn rách bốn góc, cẩn thận rút ra một tập hồ sơ kẹp bằng kẹp sắt gỉ sét, bên trên có dán những mảnh giấy ghi chú viết tay bằng nét mực tím nắn nót, thẳng hàng:

“Hôm nay có mặt đông đủ cả nhà, tôi xin giải thích cặn kẽ, rành mạch từng điều khoản để bác Lương và chị Sương cùng nắm rõ, không còn phải nghi ngờ hay hoang mang: Suất hỗ trợ dự tuyển vào trường cấp hai chất lượng cao của huyện dành cho học sinh vùng cao có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn này gồm có ba phần cụ thể. Thứ nhất, nhà nước và Phòng Giáo dục miễn hoàn toàn một trăm phần trăm lệ phí dự thi tuyển sinh, cùng với toàn bộ tiền mua hồ sơ, tài liệu ôn tập ban đầu do các thầy cô cốt cán dưới huyện biên soạn riêng. Thứ hai, nếu như Nam vượt qua kỳ sát hạch gắt gao này và trúng tuyển, em sẽ được hưởng toàn bộ chế độ học sinh bán trú hoặc nội trú theo diện chính sách dân tộc và hộ nghèo: nhà trường đài thọ chỗ ở tập trung tại khu ký túc xá học sinh, cấp phát chăn bông, màn tuyn, chiếu cói mỗi năm học một lần, toàn bộ sách giáo khoa từ lớp sáu đến lớp chín đều được mượn miễn phí từ thư viện trường, và hàng tháng nhà nước sẽ cấp một định mức gạo ăn theo diện hỗ trợ học sinh nghèo vùng biên giới.”

Cô Hạnh dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn sâu vào gương mặt bác Lương, rồi khẽ liếc qua dáng đứng co ro của bác dâu Sương nơi bậu cửa bếp:

“Đó là tất cả những gì nhà nước, ngành giáo dục và chính sách của Đảng có thể lo liệu cho em Nam. Nhưng tôi cũng nói thẳng, nói thật luôn với bác: suất học bổng này không bao gồm tất cả mọi thứ trên đời. Tiền mua thức ăn tươi hàng ngày—tức là tiền mắm muối, mớ rau miếng thịt ngoài khẩu phần gạo cứu trợ cố định của nhà trường—rồi tiền mua bánh xà phòng giặt áo, ngòi bút lá tre, lọ mực tím phát sinh trong năm học, tiền tàu xe hay xăng xe đi lại giữa bản Nà Ban và trường huyện vào những dịp nghỉ lễ lớn, gia đình vẫn phải có trách nhiệm cùng nhà trường gánh vác, xoay xở một phần. Trường học là nơi dạy chữ, rèn người, không phải là một trại trẻ mồ côi có thể bao bọc tuyệt đối từ đầu đến chân không thiếu một thứ gì.”

Cô Hạnh khép nhẹ tập hồ sơ lại, đầu ngón tay gầy guộc miết nhẹ lên đường gân mép giấy:

“Và điều quan trọng nhất, điều nghiệt ngã nhất mà bác Lương cần phải biết: suất học bổng này có điều kiện duy trì cực kỳ khắt khe. Cuối mỗi một học kỳ, nếu như Nam không giữ được danh hiệu học sinh khá hoặc giỏi, nếu hạnh kiểm bị xếp loại trung bình hoặc điểm số các bài thi định kỳ tụt dốc không theo kịp mặt bằng chung của trường huyện, suất hỗ trợ ấy sẽ lập tức bị hội đồng kỷ luật cắt bỏ và chuyển giao cho một học sinh khác xứng đáng hơn. Khi ấy, Nam sẽ bị trả về lại trường bản ngay lập tức, không có bất kỳ sự nhân nhượng nào cả.”

Cô Hạnh ngước nhìn bác Lương, ánh mắt không hề né tránh:

“Tôi nói rõ từng con số, từng điều kiện ngặt nghèo ấy ra đây để bác thấy rằng tôi không hề giấu giếm hay lừa gạt gia đình bác nửa lời. Đây là một con đường rất hẹp, trơn trượt, đầy rẫy chông gai và đòi hỏi sự hy sinh, đánh đổi rất lớn từ cả hai phía. Nhưng bác Lương hãy nghĩ lại mà xem! Chi phí cho nó đi học có thể làm nhà mình tốn thêm vài cân gạo, vài đồng bạc lẻ bán ngô mỗi tháng, nhưng đổi lại, thằng Nam sẽ có cơ hội học được một cái nghề, có được một cái bằng cấp bằng chính con chữ của nó. Sau này nó lớn lên, nó đi làm công nhân dưới xuôi, làm cán bộ hay làm thầy giáo, nó mang tiền về phụ giúp bác trả nợ, chứ không phải cả đời cắm mặt cuốc đất trên cái nương ngô Pha Luông khô cằn này để rồi lại lặp lại đúng cái vòng luẩn quẩn, bế tắc của đời cha nó!”

Không gian trước hiên nhà lại rơi tõm vào một sự im lặng ngột ngạt đến nghẹt thở. Gió bấc từ đỉnh núi thổi thốc xuống làm mái nứa dập kêu lên những tiếng loạt xoạt khô khốc. Bác dâu Sương đứng nép mình bên bậu cửa, đôi mắt đờ đẫn dán chặt vào mũi đôi dép lấm đầy bùn đất của cô giáo Hạnh.

Những con số cụ thể, những điều khoản được bóc tách rành mạch, sòng phẳng đến lạnh lùng của cô Hạnh không chỉ làm bác Lương sững người lại, mà nó còn giáng một đòn nặng nề, đau đớn vào chính lòng tự trọng non nớt, mong manh của tôi.

Tôi đứng nép bên cột nhà, co ro trong chiếc áo chàm bạc phếch chắp vá bằng mấy miếng bông gạo cũ, nghe hai người lớn bàn tính về tương lai của mình như thể người ta đang ngã giá một con trâu gầy ngoài chợ phiên, hay đang tính toán xem một món nợ có đáng để mạo hiểm đầu tư hay không. Từng câu từng chữ của cô Hạnh, dù đong đầy lòng bao bọc, sự chở che và tinh thần trách nhiệm của một người thầy, nhưng khi chạm vào thực tế trần trụi của cái nghèo, nó vẫn cứa vào lòng tôi từng nhát dao buốt giá.

Tôi khao khát được cô Hạnh kéo tay tôi ra khỏi vũng lầy tăm tối này, khao khát cái cơ hội được bước xuống trường huyện hơn bất cứ thứ gì trên đời; nhưng đồng thời, tôi lại cảm thấy xấu hổ đến mức chỉ muốn đất dưới chân mình nứt toác ra một cái rãnh sâu để tôi có thể chui tọt xuống đó mà trốn đi.

Cái nghèo của tôi, món nợ áo quan của cha tôi, sự túng quẫn đến từng hạt muối, cọng rau của căn nhà này... tất cả đều bị bóc trần trơ trọi, phơi bày dưới ánh sáng ban ngày. Tôi thấy mình như một kẻ mang tội lớn—tội vì đã sinh ra côi cút trên cõi đời này, tội vì mang trong đầu cái ước muốn được học con chữ cao hơn người khác, và tội vì cái ước mơ xa xỉ của mình đang làm chao đảo, xáo trộn cuộc sống vốn đã chênh vênh bên bờ vực đói khát của cả một gia đình bác ruột. Tôi nhìn thấy rõ từng nếp nhăn hằn sâu trên trán bác Lương, nhìn thấy những giọt mồ hôi đang rịn ra trên cổ người đàn ông lam lũ, và tôi hiểu rằng mỗi ngày tôi được thảnh thơi ngồi trên ghế nhà trường là một ngày bác phải oằn cái lưng còng xuống để gánh thêm phần việc nặng nhọc của tôi trên vạt nương đá sỏi.

Bất chợt, cô Hạnh quay người lại.

Tà áo khoác gió của cô khẽ quét qua mép cột hiên. Ánh mắt nghiêm nghị nhưng ấm áp lạ kỳ của cô dừng lại trên gương mặt tôi. Cô bước tới hai bước, đứng ngay trước mặt tôi, thu hẹp khoảng cách giữa người thầy và đứa học trò mồ côi đang run rẩy vì xấu hổ và sợ hãi.

“Nam,” cô gọi, giọng cô mềm xuống, nhưng từng chữ phát ra đều mang sức nặng của một sự tra vấn tận cùng tâm can. “Cô không hỏi bác Lương nữa. Bây giờ cô hỏi chính em. Tờ quyết định dự thi đang ở trong túi áo ngực của em. Em đã tự tay mở nó ra đọc, em biết rõ những khó khăn nhọc nhằn mà bác Lương vừa nói, và em cũng đã nghe rõ từng điều kiện ngặt nghèo mà cô vừa giải thích cho gia đình. Bây giờ, trước mặt bác Lương và chị Sương, em hãy trả lời cho cô biết: Em có thực sự muốn dự kỳ thi tuyển sinh này hay không?”

Câu hỏi của cô Hạnh như một luồng điện cực mạnh xé toạc màn sương u mê, hèn nhát và mặc cảm đang bóp nghẹt lồng ngực tôi suốt từ đêm qua đến giờ.

Tôi từ từ ngẩng đầu lên. Tôi nhìn thấy đôi mắt cương nghị, trong veo của cô Hạnh đang chăm chú chờ đợi câu trả lời từ tôi. Trong đôi mắt ấy không hề có một tia thương hại rẻ rúng nào; nó chỉ tràn ngập sự tôn trọng và đòi hỏi nghiêm khắc dành cho một con người có quyền tự định đoạt lấy số phận và tương lai của chính mình. Tôi nhìn sang bên cạnh: bé Lan đang nắm chặt hai bàn tay nhỏ thó trước ngực, ánh mắt ngập tràn vẻ van lơn như muốn giục tôi hãy dũng cảm lên; bác dâu Sương nín thở dõi theo từng cử động nhỏ nhất của tôi; và bác Lương, với đôi lông mày rậm rạp nhíu chặt lại thành một đường u tối, đang trừng trừng nhìn tôi như muốn đo lường xem đứa cháu côi cút này có dám bước qua lằn ranh của sự phục tùng tuyệt đối bấy lâu nay hay không.

Lồng ngực tôi phập phồng dữ dội, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi cuống họng. Tôi run rẩy đưa bàn tay chai sạn lên ngực áo, chạm vào nếp gấp thô ráp của tờ giấy quyết định có con dấu đỏ tươi.

Ký ức về những đêm đông buốt giá năm nào bỗng chốc ùa về như một dòng thác lũ cuộn trào trong tâm trí. Tôi nhớ đến hình ảnh mẹ Mai ngồi bên bếp lửa tàn, kiên nhẫn cầm tay tôi nắn nót từng nét chữ cái trên những mảnh giấy xi măng nhặt được từ bao vỏ rách ở công trường làm đường. Tôi nhớ đến lời thề đẫm nước mắt dưới gốc cây ban già bên cạnh nấm mồ đất đỏ của mẹ trong cái đêm kinh hoàng tôi trốn chạy khỏi những trận đòn roi tàn khốc. Tôi nhớ đến những đêm dài ngồi co ro rạch từng nét chữ trên nền đất dưới ánh trăng mờ mịt của bản nghèo, nhớ đến năm nguyên tắc thợ máy sắt đá mà thầy Dũng đã truyền dạy cho tôi bên chiếc cờ-lê hoen gỉ, và nhớ đến cảm giác run rẩy, nghẹn ngào khi nhìn thấy dòng chữ đầu tiên hiện lên xanh biếc trên màn hình chiếc máy tính cũ kỹ dưới trường xã...

Tất cả những ký ức ấy, những nỗi đau và khát vọng ấy, như một nguồn sức mạnh vô hình từ lòng đất trào dâng, chảy dọc khắp các mạch máu trong cơ thể tôi.

Tôi không thể lùi bước được nữa! Tuyệt đối không thể! Nếu như ngày hôm nay tôi cúi đầu im lặng, nếu như tôi để cho nỗi sợ hãi, sự mặc cảm và những lời đe nẹt nuốt chửng mình, thì cánh cửa bước ra thế giới rộng lớn ngoài kia sẽ vĩnh viễn khép chặt lại trước mũi tôi. Tôi sẽ mãi mãi chỉ là một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu, một kiếp người bị định giá bằng một bát cơm độn sắn củ và một chiếc cuốc cùn trên nương ngô Pha Luông cho đến lúc chết rũ xương trên đồi hoang.

Tôi hít một hơi thật sâu, nuốt trọn cái lạnh buốt của buổi sớm vào phổi để nén chặt lại sự run rẩy nơi thanh quản. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt sáng quắc của cô Hạnh, rồi từ từ quay sang, nhìn thẳng vào khuôn mặt đen sạm, đầy hằn học của bác Lương.

“Thưa cô... thưa bác... con muốn đi thi!”

Tiếng nói của tôi ban đầu còn hơi khàn đặc vì nghẹn ngào, nhưng đến câu thứ hai thì nó đã đanh lại, rắn rỏi, dứt khoát và vang vọng khắp khoảng sân nhỏ:

“Con biết nhà mình nghèo, con biết cha con nằm xuống còn để lại cho bác món nợ tiền thuốc men với tiền hai cỗ áo quan của ông Thào xóm Mo. Con không bao giờ dám chối bỏ món nợ ấy của cha con, con cũng không đòi hỏi nhà mình phải nuôi con không công dưới phố huyện một ngày nào cả! Từ trước đến nay, việc nương rẫy, việc gánh nước mó, băm cây chuối cho lợn, dọn chuồng trâu... con chưa từng dám trốn tránh một buổi nào. Nếu như con được đi thi và nếu như con may mắn thi đỗ, những ngày nghỉ cuối tuần, những mùa gặt ngô, bẻ bắp, con sẽ đi bộ mười cây số về bản làm bù gấp đôi, gấp ba cho bác! Bất cứ phần việc nặng nhọc nào con làm được, con hứa sẽ làm đến kiệt sức, làm cho đến khi ngã gục trên nương thì thôi!”

Tôi ngừng lại một nhịp để lấy hơi, bàn tay run run nhưng dứt khoát rút tờ quyết định từ trong túi áo ngực ra. Tôi nắm chặt lấy góc mép giấy đã hơi nhăn nheo vì mồ hôi, nhưng con dấu đỏ rực của Phòng Giáo dục vẫn còn nguyên vẹn, chói lòa dưới ánh sáng ban mai:

“Nhưng con không chấp nhận việc giấy tờ của con bị giấu đi! Tờ giấy này in tên của con, nhà nước cho con cơ hội được đi thi bằng chính sức học của con, bằng những đêm con thức trắng học bài bên ngọn đèn dầu. Con có quyền được thử sức mình! Dù có đỗ hay có trượt, con cũng phải được tự mình bước chân vào phòng thi để làm bài, chứ con không thể bị tước đoạt mất cái quyền ấy sau một cánh cửa khóa kín!”

Khoảng sân nhỏ trước hiên nhà bỗng chốc chìm vào một sự im lặng như tờ sau câu nói đanh thép của tôi. Tiếng gió bấc thổi rít qua rặng dứa dại mọc lởm chởm bên bờ rào nghe như tiếng thở dài sắc lẹm. Tờ giấy quyết định trong tay tôi vẫn còn ấm hơi ấm từ lồng ngực, mép giấy khẽ rung rinh theo từng nhịp thở dồn dập, căng thẳng.

Từ trong gian bếp ám đầy bồ hóng đen kịt, tiếng lạch cạch kim loại va vào nhau của chiếc ấm nhôm cũ kỹ đặt vội lên thành chõng tre kéo giật mọi người trở về với thực tại buốt giá. Bác dâu Sương run rẩy bưng ra một chiếc khay gỗ đã nứt toác một đường dọc theo thớ, bên trên đặt một chiếc ấm nhôm móp méo đang bốc khói nghi ngút cùng ba chiếc bát sành sứt mẻ miệng. Hai bàn tay gầy trơ xương của bà vẫn còn dính những vệt tro bếp xám xịt, run rẩy đặt chiếc khay lên chiếc đôn gỗ mục kê bên cạnh chân cột cái. Mùi nước vối nóng ngai ngái, ngai ngái mùi lá khô ủ lâu ngày quyện với khói củi mục phả vào không khí lạnh buốt một làn hơi nước mỏng manh.

Bà không dám ngẩng mặt lên nhìn thẳng vào chồng, chỉ khẽ nghiêng đầu cẩn thận rót nước vối vào chiếc bát sành sứt mẻ nhất. Bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết nứt nẻ, tưa máu do ngâm nước lạnh giặt giũ ngoài suối cứ run lên từng chặp, làm nước vối sóng sánh rớt vài giọt xuống mặt khay gỗ. Tôi nhìn thấy dái tai trần trụi bên trái của bà—chỗ từng đeo nửa chiếc khuyên tai bạc hồi môn mà bốn năm về trước bà đã cắn răng bẻ đi, đem đổi lấy ba viên thuốc hạ sốt của trạm xá xã để cứu tôi qua cơn sốt rét rừng thập tử nhất sinh. Vết sẹo xỏ lỗ tai teo tóp, nhăn nheo như một hạt đỗ khô, như chính số phận người đàn bà quanh năm suốt tháng chôn chặt cuộc đời mình nơi góc bếp tối tăm của bản nghèo vùng cao.

“Cô giáo... uống bát nước cho ấm cái bụng đã,” bác Sương cất giọng lúng búng nơi cổ họng, ánh mắt nhìn dán chặt vào đôi dép lê lấm lem bùn đất của cô Hạnh. “Sương muối Pha Luông sớm ra buốt như dao cắt da cắt thịt, cô lội bộ từ trường xã lên đây chắc chân tay tê cóng hết cả rồi.”

Cô Hạnh cúi đầu khẽ đáp lễ, đón nhận chiếc bát sành từ tay bác Sương. Hai bàn tay cô áp chặt vào thành sành nóng rẫy để tìm kiếm chút hơi ấm xua đi cái cóng của sương sớm, nhưng cô không uống vội. Cô nhìn bác Sương, rồi lại nhìn sang bác Lương đang đứng tựa cả người vào cán cuốc bằng gỗ dẻ. Ánh mắt cô giáo trẻ dịu xuống đôi chút trước sự bẽn lẽn, tội nghiệp của người đàn bà lam lũ, nhưng nét cương nghị trên gương mặt cô không hề giảm bớt.

“Cảm ơn chị Sương,” cô Hạnh nói, giọng ấm áp nhưng từng âm vang vẫn rành rọt, khúc chiết. “Tôi biết bác Lương và chị đây luôn lo ngay ngáy chuyện thằng Nam đi học xa thì gia đình mất đi một lao động chính để gánh vác nương rẫy. Nhưng chuyện học ở trường huyện không phải là cắt đứt hoàn toàn đứa trẻ ra khỏi gốc rễ của gia đình này. Trường huyện tuy xa hơn trường bản, nhưng theo quy chế nội trú dành cho học sinh diện chính sách xã hội, các em chỉ phải ở tập trung tại trường vào những ngày có lịch học chính khóa và các buổi bồi dưỡng chuyên đề. Chiều thứ Sáu, cả ngày thứ Bảy và Chủ nhật, hoặc vào những tuần giáp vụ, những đợt gặt ngô bẻ bắp rộ nhất trong năm, tôi sẽ trực tiếp làm việc với ban giám hiệu nhà trường để Nam được phép xin nghỉ phép về bản. Nó có thể đi bộ về từ chiều thứ Sáu, vác cuốc lên nương làm bù trọn vẹn hai ngày cuối tuần cho bác Lương, rồi đến tờ mờ sáng thứ Hai mới lại đi bộ xuống huyện để vào lớp.”

Cô Hạnh nhìn sâu vào đôi mắt trũng sâu, đầy vết chân chim của bác dâu Sương. Từng lời cô nói ra như chạm đúng vào cái lõi trăn trở sâu kín nhất của một người mẹ, một người cả đời chỉ biết lo cho nồi cơm của cả gia đình:

“Cháu Nam không phải là đứa vong ân bội nghĩa hay tìm đường trốn tránh việc nặng đâu chị Sương ạ. Thằng Nam lớn lên từ củ khoai, hạt ngô, từ bát canh rau rừng của cái nhà này, nó biết rõ bổn phận và trách nhiệm của nó đối với công ơn nuôi dưỡng của bác trai, bác gái. Nhưng nếu bây giờ bác Lương và chị cứ khăng khăng giữ rịt nó ở lại đây, nhốt chặt đời nó trên mảnh nương dốc đứng cằn cỗi này, thì mười năm nữa, hai mươi năm nữa, nó cũng lại chỉ là một người thợ cày nghèo khổ, nợ nần chồng chất như cha nó ngày trước mà thôi! Chị Sương ơi, chị đã từng thức trắng bao nhiêu đêm bế nó trên tay khi nó lên cơn co giật vì sốt rét, từng cắn răng bẻ đi nửa chiếc khuyên tai bạc hồi môn quý giá nhất của đời người con gái để đổi lấy mấy viên thuốc cứu mạng nó... chẳng lẽ hôm nay chị lại nỡ đứng nhìn nó chịu chung cái số phận mù chữ tăm tối, bế tắc ấy mãi sao?”

Bác Sương giật nảy mình một cái. Hai bờ vai gầy guộc so lại dưới lần áo vá chằng chịt. Lời nhắc của cô Hạnh về nửa chiếc khuyên tai bạc năm nào như một mũi kim châm thẳng vào góc khuất thiêng liêng nhất mà bà đã chôn giấu kỹ lưỡng sau bao nhiêu lời càu nhàu, đay nghiến, gắt gỏng về chuyện cơm áo gạo tiền bấy lâu nay.

Bà bặm chặt môi đến mức tái nhợt, hai ngón tay cái thô ráp bấu chặt lấy mép chiếc tạp dề bao tải dứa rách tơi tả. Bà không dám mở miệng nói ra một lời cam kết nào thay cho chồng. Trong cái nếp nhà người vùng cao này, quyền sinh quyền sát, quyền định đoạt mọi việc lớn nhỏ vẫn tuyệt đối thuộc về người đàn ông đang đứng sừng sững bên bậc tam cấp kia. Nhưng ánh mắt bà ngước lên nhìn tôi lúc này đã hoàn toàn biến mất vẻ xua đuổi, cay nghiệt như những lần chia phần sắn cháy nơi xó bếp. Ánh mắt ấy đùng đục nước, đau đáu một nỗi xót xa, thương cảm và bất lực khôn cùng. Lần đầu tiên kể từ khi cha tôi qua đời, tôi thấy bác dâu Sương không còn buông ra một lời nào để phủ nhận cái quyền được chạm vào trang sách của tôi nữa.

Cô Hạnh cẩn thận đặt chiếc bát sành đựng nước vối xuống khay gỗ, rồi dứt khoát bước hẳn hai chân lên mặt hiên nhà. Chiếc áo khoác gió sột soạt theo từng cử động dứt khoát của cô:

“Bác Lương, chị Sương,” cô Hạnh cất tiếng tiếp, ngữ điệu đanh chắc như từng nhát đinh đóng chặt vào thân cột gỗ lim. “Nếu như gia đình vẫn còn lo ngại về những khoản chi phí phát sinh bất ngờ hoặc những rủi ro tài chính khi Nam đi học xa dưới huyện, tôi xin phép được đứng ra chịu trách nhiệm bảo đảm. Với tư cách là giáo viên chủ nhiệm và là người trực tiếp bồi dưỡng cho Nam suốt hai năm qua, tôi sẽ đích thân đứng tên bảo lãnh cho em trong bộ hồ sơ nộp lên Phòng Giáo dục huyện. Khoản trợ cấp ban đầu về chăn màn, sách vở, tôi sẽ là người trực tiếp ký nhận và giám sát từng đồng. Nếu như trong quá trình học tập có bất kỳ khoản đóng góp phụ nào nằm ngoài danh mục hỗ trợ của nhà nước mà gia đình thực sự không thể nào xoay xở nổi, tôi sẽ làm việc với công đoàn nhà trường và xin trích một phần tiền phụ cấp đứng lớp vùng cao hàng tháng của chính bản thân tôi để bù đắp vào đó!”

Tôi bàng hoàng ngước nhìn cô Hạnh. Lồng ngực tôi thắt nghẹn lại trong một cơn xúc động choáng váng đến rợn ngợp.

Một người cô giáo trẻ từ miền xuôi xung phong lên cắm bản giữa rừng sâu núi thẳm, đồng lương giáo viên vùng ba cọc ba đồng, tháng nào nhận lương cũng phải chắt bóp từng đồng bạc lẻ, đong từng bó rau muống già, gói từng cân gạo đỏ để gửi về phụng dưỡng cha mẹ già ốm yếu dưới quê... vậy mà hôm nay, cô dám đứng sừng sững trước mặt người giám hộ hà khắc của tôi, dõng dạc tuyên bố sẽ dùng chính danh dự của một nhà giáo và trích tiền túi ít ỏi của mình ra để bảo lãnh cho tương lai của một đứa trẻ mồ côi không cùng máu mủ.

Nhưng sự xúc động trong tôi chưa kịp tan ra thì cô Hạnh đã quay phắt người lại. Đôi mắt cô lúc này nghiêm khắc và lạnh lùng đến tột cùng, xoáy thẳng vào mặt tôi như hai mũi khoan thép:

“Nhưng sự bảo lãnh này của tôi có điều kiện tiên quyết, Nam! Tôi đứng ra bảo lãnh cho cơ hội của em, chứ tôi không bao giờ bảo lãnh cho sự lười biếng, yếu hèn hay dựa dẫm của bất kỳ ai! Em muốn đi thi, em phải tự mình bước qua cánh cửa ấy bằng chính năng lực thực sự của bản thân mình. Suốt thời gian qua, em bị hổng rất nhiều kiến thức căn bản do phải nghỉ học liên miên để làm việc nương rẫy, em phải tự mình thức thâu đêm suốt sáng mà bù đắp cho bằng được từng lỗ hổng kiến thức ấy! Đề thi tuyển sinh của trường huyện đợt này sẽ rất khó, học sinh từ các trường trung tâm thị trấn, con em cán bộ có điều kiện học tập đầy đủ đều đổ về dự thi, em phải tự mình giành lấy điểm số nằm trong tốp đầu thì mới có thể giữ chặt được suất học bổng này! Và một khi đã bước chân vào trường, nếu như em lơ là để kết quả học tập sa sút, nếu em vi phạm kỷ luật hay buông xuôi đầu hàng trước khó khăn, thì chính tay tôi—chứ không phải ai khác—sẽ là người ký vào lá đơn đề nghị nhà trường hủy bỏ suất hỗ trợ ấy và đưa em trở về lại cái bản Nà Ban này! Cơ hội này được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả danh dự của rất nhiều người, em phải có trách nhiệm đến cùng với nó! Em có làm được không?”

“Con làm được!”

Tôi trả lời ngay tức khắc, không cần đến nửa giây do dự. Tiếng tôi bật tung ra từ tận đáy lồng ngực, rắn rỏi, dứt khoát và không còn vướng bận một chút run rẩy nào của sự sợ hãi ban nãy.

“Con xin thề với cô, con sẽ học đến kiệt cùng sức lực, con sẽ không bao giờ để cô phải xấu hổ hay ân hận vì đã bảo lãnh cho con!”

Bác Lương nãy giờ vẫn đứng bất động như một pho tượng đồng hun bên thềm đá. Bàn tay gân guốc của bác bóp chặt lấy cán cuốc dẻ đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra, từng đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên mu bàn tay như những chiếc rễ cây cổ thụ bám chặt vào vách đá. Bác nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống rãnh nước cạnh sân, ngẩng phắt đầu lên nhìn cô Hạnh. Nụ cười nhạt nhẽo trên khóe miệng bác vừa cay đắng, vừa chua chát đến nghẹn lòng:

“Cô giáo nói thì hay lắm, trôi chảy lắm! Cô giáo là người dạy chữ, cô chỉ nhìn thấy những bài toán mẫu mực nằm ngay ngắn trên trang giấy trắng của cô thôi! Các cô ngồi bàn giấy tính toán thì con số nào nó chẳng tròn trĩnh, chẳng đẹp đẽ, chẳng có tương lai! Nhưng cái nhà này sống bằng cơm bằng gạo, sống bằng mồ hôi nước mắt đổ xuống vạt nương cằn cỗi kia chứ không thể há mồm ra mà húp mấy dòng chữ mực đỏ của cô để qua ngày được! Tôi không có cái chữ nào trong bụng, nhưng tôi biết cái lý muôn đời của kẻ làm ruộng: hạt ngô gieo xuống hốc đá thì phải có bàn tay người đi múc từng gáo nước tưới, cỏ gianh mọc lút đầu gối trên đồi thì phải có người vác rựa đi giãy cỏ. Cô bảo lãnh tiền nong sách vở, thế lúc nương ngô Pha Luông bị sâu cắn rẫy, lúc rét mướt trâu lăn ra ốm liệt giường, cô có vác cuốc lên làm thay cho nó được buổi nào không? Những cái khó khăn sống còn ấy, nó có nằm trong mấy bài toán của cô không?”

Giọng bác Lương run lên từng chặp vì nỗi uất ức dồn nén. Đó là sự uất ức thật sự của một đời người nông dân bị cái đói, cái nghèo bám riết lấy gót chân như hình với bóng từ thuở lọt lòng, một con người nhìn đâu trong cuộc đời cũng chỉ thấy toàn cạm bẫy của sự bấp bênh, mất mát và rủi ro.

Cô Hạnh không hề chớp mắt, cũng không hề lùi bước trước ánh nhìn nảy lửa, hằn học ấy. Cô bước thêm một bước nữa, đứng đối diện trực tiếp với bác Lương, khoảng cách giữa hai người lúc này chỉ còn gang tấc:

“Đúng thế, tôi không thể vác cuốc lên nương làm thay bác được, bác Lương ạ! Nhưng chính vì cái nhà này quá nghèo, chính vì cả đời bác và cha mẹ bác đã phải còng lưng chịu khổ, chịu nhục vì nợ nần bấy lâu nay, nên việc bác nhốt chặt thằng Nam lại, chặn đứng con đường học hành của nó lại càng không bao giờ là cách giải quyết!”

Cô Hạnh dứt khoát đưa tay chỉ thẳng về phía chiếc hòm gỗ mục nát đặt ở góc nhà, nơi xấp giấy nợ của cha tôi vừa bị lôi ra đêm qua:

“Bác giữ nó ở lại đây, nhà bác có bớt nghèo đi được không? Không! Thêm một miệng ăn, thêm một lao động chân tay quẩn quanh bên vài sào nương cằn cỗi thì món nợ một trăm hai mươi nghìn tiền hai cỗ áo quan của ông Thào xóm Mo cũng chẳng thể nào trả dứt được trong ngày một ngày hai! Nhưng nếu bác dũng cảm để cho nó đi, nó thi đỗ vào trường huyện, nó được nhà nước nuôi ăn học đàng hoàng, nó có cái chữ, có cái nghề nghiệp tử tế trong tay, thì chỉ vài năm nữa thôi, chính thằng Nam này mới là người có đủ khả năng đứng ra gánh vác và trả sạch món nợ truyền kiếp ấy cho gia đình bác! Bác giấu tờ quyết định này đi, bác tưởng là bác giữ lại được một chân làm nương cho mình, nhưng thực chất là bác đang tự tay dìm cả cái gia đình này, dìm cả dòng họ này sâu thêm vào cái hố nghèo đói tăm tối không có lối thoát! Bác có hiểu thấu được điều đó không hả bác Lương?”

Tiếng nói của cô Hạnh đanh chắc lại, vang dội như một tiếng chuông đồng gióng lên giữa thung lũng Nà Ban còn mịt mùng sương sớm.

Bác Lương khựng người lại. Lồng ngực bác phập phồng dữ dội. Hàm răng bác nghiến chặt vào nhau phát ra những tiếng ken két khô khốc trong vòm họng. Những lý lẽ trần trụi, sắc bén, đánh thẳng vào thực tế sinh tử của cô Hạnh không để lại cho bác một kẽ hở nào để có thể chống chế hay thoái thác được nữa. Bác có thể dùng đòn roi, dùng uy quyền của người chủ gia đình để khuất phục một đứa cháu côi cút ăn nhờ ở đậu như tôi; nhưng bác không thể dùng bạo lực hay sự cùn mạt của thói gia trưởng để đè bẹp một người đại diện cho nhà trường, cho chính sách của nhà nước, và cho cả một tương lai xán lạn mà trong thâm tâm bác vốn dĩ vừa khao khát, vừa ghen tị lại vừa khiếp sợ.

Cuộc đối chất căng thẳng kéo dài trong một khoảng lặng nghẹt thở. Gió sớm lùa qua mái hiên, thổi tung những lọn tóc mai ướt đẫm mồ hôi dính bết bên thái dương của cô Hạnh. Bé Lan vẫn nép chặt sau chiếc cột nhà bằng gỗ xoan, hai bàn tay nhỏ nắm chặt lấy vạt áo mẹ, đôi mắt chăm chú dõi theo từng biểu cảm co giật trên gương mặt đen sạm của cha mình.

Bác Lương không hề biến thành một người bác nhân từ, độ lượng sau cuộc tranh cãi nảy lửa này. Ánh mắt bác nhìn tôi vẫn đầy rẫy sự hằn học, lạnh lùng và cay đắng của một kẻ cảm thấy mình vừa bị tước đoạt mất một thứ tài sản lao động. Nhưng cái uy thế tuyệt đối của người nắm quyền sinh quyền sát trong căn nhà này rõ ràng đã bị bẻ gãy một nửa. Bác hiểu rằng việc mình giấu giếm giấy tờ của cấp trên đã vỡ lở hoàn toàn, cô giáo đã lặn lội lên tận nhà ba mặt một lời, và nếu như bác tiếp tục dùng vũ lực ngăn cản một cách mù quáng, cả cái bản Nà Ban này sẽ chỉ trỏ vào mặt bác, coi bác là một kẻ độc ác, nhẫn tâm tước đoạt tương lai của đứa cháu mồ côi cùng dòng máu.

Bác Lương từ từ buông bàn tay gân guốc khỏi cán chiếc cuốc dẻ. Lưỡi thép rèn bóng loáng hơi nghiêng đi, cắm lệch trên nền đất ẩm ướt. Bác quay ngoắt mặt đi chỗ khác, không nhìn cô Hạnh, cũng chẳng thèm liếc mắt nhìn tôi lấy một lần. Giọng nói của bác gằn xuống, từng tiếng nặng trịch như những tảng đá ném xuống lòng vực thẳm:

“Được! Cô giáo đã nói đến cái nước ấy, thì tôi cho nó đi thi! Nó muốn thử sức, muốn mở mày mở mặt thì cứ việc vác cái xác gầy nhom của nó xuống huyện mà thử!”

Nói đoạn, bác Lương quay phắt lại, ngón tay trỏ đen đúa, cáu bẩn chỉ thẳng vào chóp mũi tôi, ánh mắt như muốn thiêu đốt cả da thịt tôi:

“Nhưng tao nói trước cho mày biết đường mà liệu, thằng Nam! Tao chỉ cho phép mày đi thi, chứ tao không rảnh hơi mà nuôi báo cô mày một ngày nào hết! Mày đi thi thì đi, nhưng không được phép bỏ bê bất cứ một phần việc nào trong cái nhà này! Sáng mai trước khi mày cắp cặp xuống huyện đi thi, hai cái chum sành đựng nước ở góc sân phải được gánh đầy tràn miệng, chuồng trâu dưới gầm sàn phải được dọn sạch từng bãi phân, và củi khô dưới bếp phải được chất đủ ba bó to cho tao! Nếu như mày trượt, mày câm cái mồm lại, quay về đây ôm lấy cái cán cuốc này suốt đời cho tao! Còn nếu như mày đỗ, những ngày nghỉ cuối tuần mày phải tự cuốc bộ mười cây số về bản mà cày cuốc bù lại cho vạt nương ngô Pha Luông! Chỉ cần một tấc đất bị bỏ hoang vì mày vắng mặt, tao sẽ đích thân xuống huyện lôi cổ mày về xé xác! Mày đã nghe rõ từng lời tao nói chưa?”

“Dạ... con nghe rõ rồi ạ!” Tôi đáp, hai mắt nhắm chặt lại, nuốt một cục nghẹn đắng ngắt trôi qua cổ họng.

Đó là một điều kiện nghiệt ngã đến tàn nhẫn, một sự thỏa hiệp không hề có lấy một chút tình thương hay sự bao dung ruột thịt nào. Bác Lương không hề cho tôi cái quyền được học hành thanh thản như những đứa trẻ bình thường khác; bác chỉ bán cho tôi một cơ hội đi thi với cái giá phải trả bằng sự kiệt cùng sức lực của thể xác. Tôi sẽ phải gánh trọn vẹn cả hai gánh nặng trên đôi vai gầy guộc của mình: vừa phải làm một kẻ lực điền còng lưng gánh nợ cho gia đình, vừa phải làm một đứa học trò thức trắng đêm tranh đấu từng con chữ nơi trường huyện.

Nhưng tôi chấp nhận điều kiện ấy! Tôi cúi đầu nhận lấy nó mà không một lời oán thán, bởi vì ở cái tuổi mười mấy, một đứa trẻ côi cút không cha không mẹ, không một tấc đất cắm dùi như tôi chưa có đủ tư cách, chưa có đủ sức mạnh để đòi hỏi một sự công bằng trọn vẹn hơn. Để có được chiếc vé bước qua cánh cửa hẹp dẫn tới tương lai, tôi sẵn sàng đánh đổi bằng bất cứ giá nào, kể cả bằng những giọt mồ hôi và máu của chính mình.

Cô Hạnh nhìn tôi gật đầu nhận lời, trong đáy mắt cô thoáng qua một tia xót xa sâu thẳm. Nhưng cô không hề mở lời xin giảm nhẹ điều kiện cho tôi. Là một người đã bám trụ với núi rừng Pha Luông này suốt bao năm, cô hiểu quá rõ rằng đây đã là giới hạn nhượng bộ tối đa mà một người nông dân nghèo khó, cay nghiệt như bác Lương có thể đưa ra. Nếu lúc này cô còn cố tình đòi hỏi thêm bất cứ sự nới lỏng nào, toàn bộ thỏa thuận mong manh vừa đạt được sẽ lập tức sụp đổ tan tành.

Cô Hạnh nhanh chóng mở chiếc cặp da, lấy ra một cây bút bi vỏ nhựa đã mòn và chiếc kẹp tài liệu bằng gỗ. Cô lật giở đến trang cuối cùng của bản hồ sơ, chìa tờ quyết định cùng cây bút ra trước mặt bác Lương:

“Bác Lương ký tên hoặc điểm chỉ vào phần xác nhận của người giám hộ ở góc này giúp tôi. Tôi phải mang ngay tập hồ sơ này về trường xã để nộp cho hội đồng tuyển sinh trước mười một giờ ba mươi trưa nay.”

Bác Lương đón lấy cây bút bi một cách vụng về, ngượng ngập. Bàn tay thô ráp, chai sần vốn chỉ quen cầm rựa phát rẫy và nắm cán cuốc run run vạch một chữ ký nguệch ngoạc, méo mó như một con sâu đất bò qua góc dưới cùng của tờ giấy trắng. Mực xanh in đè lên nền giấy thô, nằm ngay ngắn bên cạnh con dấu đỏ chói chang của Phòng Giáo dục.

Khi tờ giấy quyết định có đủ chữ ký được gấp gọn gàng và nằm an toàn trong ngăn kéo chiếc cặp da của cô Hạnh, tảng đá khổng lồ đè nặng lên lồng ngực tôi suốt bao ngày qua dường như vừa được nhấc ra một phần, để lại một khoảng trống tê dại nhưng nhẹ bẫng.

Cô Hạnh khẽ cúi đầu chào bác Lương và bác dâu Sương, rồi quay người rảo bước thật nhanh ra ngõ để kịp giờ về trường xã. Tôi lẳng lặng bước theo sau gót cô, tiễn cô qua con ngõ đất dốc trơn trượt đầy những vết lầy sỏi đá. Đi đến bên hàng rào dâm bụt đầu ngõ, nơi bóng cây mận khẳng khiu che khuất hoàn toàn tầm nhìn từ phía hiên nhà, cô Hạnh bỗng dừng bước lại. Cô quay người lại nhìn tôi.

Gió bấc từ đỉnh Pha Luông vẫn thổi từng cơn rát mặt, làm tà áo gió màu xám sờn mép của cô bay phần phật. Cô Hạnh đưa bàn tay gầy gò, lạnh ngắt vì ngấm sương sớm nhưng ấm áp lạ kỳ đặt lên bờ vai gầy guộc của tôi, khẽ siết chặt lại:

“Nam này,” giọng cô Hạnh trầm xuống, từng lời từng chữ như được khắc sâu vào tận đáy tâm can tôi giữa buổi sớm buốt giá. “Hôm nay em buộc phải cúi đầu chấp nhận điều kiện cay nghiệt của bác Lương, bởi vì em chưa đủ mạnh, chưa đủ lông đủ cánh để tự đứng vững trên đôi chân của mình. Đó là sự nhẫn nhịn cần thiết của một con người biết mình đang ở đâu để có thể sống sót và giành lấy cơ hội. Nhưng em phải luôn ghi nhớ kỹ lấy lời cô dạy: Việc em chấp nhận sự bất công ngày hôm nay để đổi lấy quyền được đi học không bao giờ đồng nghĩa với việc em buông xuôi, chấp nhận để người ta tước đoạt đi quyền sống, tước đoạt đi tương lai của mình mãi mãi! Con chữ chính là vũ khí duy nhất và mạnh mẽ nhất mà em có trong tay lúc này. Hãy dùng chính con chữ ấy để tự mở đường mà bước ra khỏi cái thung lũng nghèo đói này, nghe không em?”

Tôi ngước nhìn cô Hạnh, hai mắt nhòe đi vì những giọt nước mắt nóng hổi cuối cùng cũng trào ra, lăn dài qua gò má nứt nẻ. Nhưng cái gật đầu của tôi thì dứt khoát, mạnh mẽ và kiên định hơn bao giờ hết.

Tôi đứng lặng bên hàng rào dâm bụt, dõi mắt nhìn theo bóng dáng mảnh khảnh của cô Hạnh khuất dần sau khúc quanh đầy sương mù dày đặc của con dốc đất liên thôn. Cánh cửa bước vào trường huyện đã chính thức hé mở ra một khe sáng mỏng manh, nhưng cái giá phải trả cho nó là một chuỗi những ngày lao dịch kiệt cùng sức lực đang chờ đợi tôi ngay trước mắt.

Tôi hít một hơi thật sâu làn không khí lạnh buốt của núi rừng, quay người bước ngược trở lên khoảnh sân đất ẩm ướt, nơi chiếc cuốc rèn của bác Lương vẫn đang cắm sập sâu vào lòng đất và hai chiếc chum sành rỗng không nơi góc hiên đang chờ đôi thùng gánh của tôi lặn lội xuống tận mó sâu múc nước đổ cho đầy tràn trước khi bóng tối của ngày mới kịp ập xuống thung lũng Pha Luông.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn