Chiếc chìa khóa của Lan
Lan không nói với tôi em đã lấy được chiếc chìa khóa ấy vào lúc nào; chỉ biết rằng khi bóng chiều sẫm đặc lại ngoài bờ rào dâm bụt, vật kim loại bé xíu ấy đã nằm gọn lỏn trong lòng bàn tay con bé. Nó nhỏ bé, thô kệch và mỏng manh đến mức khiến tôi lạnh toát cả sống lưng khi nghĩ rằng toàn bộ tương lai, danh dự và lối thoát duy nhất của đời mình lại đang bị treo lơ lửng trên một mẩu sắt hoen gỉ như thế.
Đó là một chiếc chìa khóa bằng đồng thau đã xỉn màu theo năm tháng, đuôi tra cán bị mài mòn vẹt đi vì những lần cọ xát vào chiếc đinh mười phân đóng chặt nơi cột cái, đầu răng khuyết hai ngấn sâu hoắm, nham nhở và dính một lớp bồ hóng khô ráp cùng bụi tro bếp lưu cữu. Nó lạnh ngắt. Cái lạnh của kim loại nằm lâu trong bóng tối thấu buốt qua lớp da thịt. Bàn tay Lan chìa ra trước mặt tôi dưới thứ ánh sáng nhờ nhợ, tù mù của chái phụ ẩm ướt — một góc chái dựng tạm bằng những thân nứa đập giập đã mủn mục, quanh năm sặc mùi phân lợn ủ men và mùi rơm rạ úng nước mưa. Những ngón tay con bé gầy guộc, các khớp xương nổi rõ dưới lớp da mỏng dính đầy vết trầy xước do gai bồ kết cào, run lên bần bật. Đó không phải là cái run rẩy vì luồng gió bấc đang rít qua từng khe vách nứa, mà là sự run rẩy từ tận trong tủy tủy của một đứa trẻ mười tuổi vừa cả gan bước qua lằn ranh cấm kỵ khắc nghiệt nhất trong căn nhà này.
“Em lấy được rồi,” Lan thì thào, hơi thở gấp gáp và đứt quãng phả vào mặt tôi mùi khói củi ngo nồng nặc xen lẫn mùi cơm cháy. “Bố vừa xách con rựa cán dài đi vòng ra sau vườn chuối hột, định chặt mấy cây nứa tép rào lại cái góc chuồng lợn nái bị sụt. Mẹ thì đang ngồi bệt dưới đất gian bếp dưới băm rau muống già với thân chuối hột, tiếng dao gõ chan chát xuống cái thớt gỗ nghiến át hết mọi thứ tiếng động rồi. Anh Tùng còn mải la cà bên bãi đá ngoài đầu bản bắn chim sáo, tối mịt mới chịu vác mặt về. Mau lên anh Nam, bố chỉ ra sau vườn chừng nửa tuần nhang thôi, dọn xong mấy bụi nứa là bố vào ngay đấy!”
Tôi nhìn chòng chọc vào mẩu đồng thau xám xịt nằm lọt thỏm giữa những đường chỉ tay chằng chịt của đứa em họ, lồng ngực bỗng thắt nghẽn lại như có ai dùng một sợi dây thừng bện bằng xơ gai siết chặt lấy cuống họng. Một cảm giác tê buốt chạy dọc từ chân tóc xuống tận đốt sống cùng. Cả người tôi như cứng đờ ra giữa không gian ẩm mốc nồng nặc của gian chái phụ.
“Lan... em lấy thật đấy à?” Giọng tôi run lên rền rĩ, khô khốc và vỡ vụn như tiếng rơm mục bị giẫm nát dưới gót chân trần. “Em trèo lên tấm liếp thật sao? Nhỡ bố em quay lại... nhỡ bố em phát hiện thì sao?”
“Em kê cái cối giã gạo sát vào vách, trèo lên rồi rướn người luồn tay vào cái khe liếp nứa gian trong, đúng cái chỗ hôm qua em thấy bố giúi vào,” Lan nắm chặt lấy tay tôi, các ngón tay nhỏ thó bấu chặt vào lớp vải áo chàm thô ráp, kéo mạnh tôi ra phía mép cửa chái phụ ngăn cách với gian nhà trên. Đôi mắt con bé mở to trừng trừng, con ngươi đen láy dãn rộng trong bóng hoàng hôn, ánh lên một sự sốt ruột cuống cuồng và một thứ can đảm liều lĩnh đến thắt lòng. “Bố không thấy đâu. Em sờ trúng cái xâu lạt giắt trên xà gồ nứa là giật mạnh xuống ngay. Nhưng anh đừng có đứng trơ mắt ếch ra đấy nữa! Chiều thứ Năm rồi đấy anh Nam! Chỉ còn có một buổi sáng ngày mai nữa thôi! Nếu qua trưa mai mà tờ giấy báo không tới được tay cô Hạnh dưới trường trung tâm thì anh mất trắng. Người ta sẽ gạch tên anh đi, anh có hiểu không? Anh định đứng đây trơ mắt nhìn người ta tước mất cái quyền đi thi của anh à?”
Tôi chùn chân lại, gót chân như mọc rễ cắm sâu vào nền đất ẩm ướt lạo xạo sỏi vụn. Bàn tay tôi vô thức chạm vào bờ vai gầy nhom của Lan qua lớp áo cánh vá chằng vá đụp, cảm nhận rõ từng đợt rung rinh vì run sợ đang truyền qua da thịt con bé. Tôi không sợ đòn roi giáng xuống tấm lưng mình. Tôi đã quá quen với những trận lôi đình trút xuống như mưa rào của bác Lương; những vết lằn tím bầm của cành dẻ gai từ trận đòn trước sân hai năm trước khi tôi lỡ làm sổng mất con bê đực, vết thâm tím dọc mạn sườn khi tôi liều mạng giằng lại quyển vở toán của mẹ để lại trong hốc đá sườn Ban Nà vẫn còn in hằn như những vết sẹo gồ ghề dưới lớp da thịt đen sạm vì nắng gió. Nỗi đau thể xác đối với một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu như tôi đã trở thành một thứ cơm bữa đắng ngắt mà tôi buộc phải nuốt trôi để tồn tại. Nhưng tôi sợ cho Lan. Tôi sợ đến thắt ruột thắt gan cho đứa em họ bé bỏng này.
Nếu việc này vỡ lở, nếu chiếc tủ gỗ kia bị phát hiện là đã có bàn tay cạy mở, người đầu tiên bác Lương lôi xềnh xệch ra giữa sân đất không phải là tôi. Bác sẽ trút toàn bộ cơn thịnh nộ nghiệt ngã, mù quáng của một người chủ gia đình bị xúc phạm quyền uy tuyệt đối lên đầu đứa con gái ruột mới mười tuổi đầu dám cả gan thọc tay vào nơi thiêng liêng và cấm kỵ nhất trong căn nhà. Bác Lương không bao giờ nói lý lẽ với con cái khi cơn giận bốc lên đầu. Chiếc đòn gập gỗ nghiến gác cạnh bếp lò, cái chổi đót bện bằng đóm nứa sắc lẹm, hay bất cứ thanh củi gộc nào nằm trong tầm tay bác đều có thể biến thành thứ hung khí đập nát sự thơ dại của con bé. Bác dâu Sương cũng sẽ chẳng bao giờ dám đứng ra che chở cho con gái; bác dâu chỉ biết ngồi sụp bên bậu cửa mà khóc lóc, rên rỉ than thân trách phận rồi trách móc con bé mang vạ vào thân.
“Thôi Lan,” tôi nắm chặt lấy cổ tay khẳng khiu của em, cố hạ giọng xuống mức thấp nhất, gần như run rẩy van lơn. “Đưa chìa khóa đây để anh trèo lên cất lại chỗ cũ ngay bây giờ. Anh không đi nữa đâu. Nếu bác Lương biết được, bác ấy sẽ đánh em chết mất. Em không hiểu được đâu, bác ấy đánh người tàn nhẫn lắm... Em là con gái, da thịt non nớt thế này, bác ấy mà nổi điên lên thì đến mẹ em cũng chẳng quỳ lạy mà can nổi đâu.”
“Anh câm mồm đi!” Lan gắt khẽ, thanh âm nghẹn ngào rít qua kẽ răng. Đôi mắt con bé ầng ậc nước, hai giọt nước mắt to tròn lăn dài trên đôi má nhem nhuốc bồ hóng, nhưng ánh mắt lại quắc lên một vẻ dữ dội, bướng bỉnh và quyết liệt mà mười năm qua tôi chưa từng thấy ở đứa em họ luôn sợ sệt nép sau lưng mẹ mỗi khi nghe tiếng ủng bác Lương nện ngoài ngõ.
Con bé dùng hết sức bình sinh gầy guộc của mình, nắm lấy tay tôi, banh từng ngón tay tôi ra rồi giúi mạnh chiếc chìa khóa đồng vào lòng bàn tay tôi. Nó siết chặt các ngón tay tôi lại, bặm chặt môi đến mức rỉ máu, gằn từng tiếng qua hơi thở dồn dập:
“Bố đánh em thì cùng lắm chỉ lằn mấy vệt roi nứa, em khóc vài ngày rồi vết thương cũng tự lành sẹo! Còn anh... anh mà để lỡ tờ giấy này, anh sẽ phải ở lại cái xóm núi này gùi đá, vỡ nương, cuốc đất cả đời cho nhà em! Anh muốn cả đời bị bố em chửi rủa là thứ ăn bám nợ nần, muốn cả đời chỉ biết cắm mặt vào cái cuốc chim với con rựa như bố em, như anh Tùng à? Anh có học được thì sau này anh mới thoát ra khỏi cái thung lũng bùn đất này được, anh mới kéo em đi theo với chứ! Em không muốn anh phải chết rục ở đây đâu! Đi mau lên, em van anh đấy!”
Từng lời, từng chữ của Lan như những mũi gai bồ kết đâm thấu vào màng tang tôi, buốt nhói và sắc lẹm, xé toạc mọi sự do dự, hèn nhát và cam chịu cuối cùng đang bủa vây lấy tâm trí tôi. Đúng vậy, sự nhẫn nhục bấy lâu nay của tôi không phải là lòng biết ơn, mà là một sự hèn yếu đáng khinh bỉ. Tôi đã quen cúi đầu, quen nén tiếng thở dài, quen nuốt những giọt nước mắt ấm ức vào trong để đổi lấy những ngày bình yên giả tạo dưới mái nhà này. Nhưng cái giá của sự bình yên ấy là gì? Là việc tôi tự tay chôn vùi ước mơ của đời mình, chôn vùi lời trăn trối của mẹ Mai trước khi bà nhắm mắt, buông xuôi để số phận mình bị nghiền nát dưới những tảng đá hộc của đèo Pha Luông. Một đứa trẻ mười tuổi như Lan còn dám đem cả da thịt, đem cả những trận đòn roi tàn khốc ra đánh cược để mở cho tôi một con đường sống, cớ sao tôi — một kẻ mười lăm tuổi mang trong mình khát vọng đổi đời cháy bỏng — lại run rẩy đứng nhìn cánh cửa tương lai sập lại vĩnh viễn trước mắt mình?
Tôi siết chặt chiếc chìa khóa đồng trong nắm tay. Cạnh kim loại sắc nhọn, gồ ghề của đầu răng cắm sâu vào da thịt nơi lòng bàn tay, mang lại một cơn đau buốt nhói nhưng làm đầu óc tôi tỉnh táo một cách kỳ lạ. Mọi nỗi sợ hãi mơ hồ bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho một quyết tâm sắt đá, liều lĩnh dâng tràn lên lồng ngực.
“Được rồi,” tôi gật đầu, hơi thở dồn dập phả ra làn khói mỏng trong không khí giá lạnh của buổi chạng vạng. “Anh vào. Nhưng em phải đứng ngay ở mép cửa ngoài, chỗ bức liếp nhìn thông ra ngõ. Hễ nghe tiếng bước chân bố em từ sau vườn lên, tiếng chó sủa đầu rào, hay tiếng mẹ em buông con dao băm chuối xuống thớt, em phải hắng giọng thật to lên ngay, nhớ chưa?”
“Em biết rồi. Em đứng chắn ngay khe cửa chính, bố có vào thì em sẽ cản lại trước. Anh vào nhanh lên, đừng chần chừ nữa!” Lan đẩy mạnh vào lưng tôi, thúc giục bằng một giọng nói run rẩy nhưng đầy kiên quyết.
Hai đứa tôi rón rén bước qua khoảng sân hẹp ngăn cách giữa chái phụ và gian nhà chính. Mảnh sân đất lầy lội, ngổn ngang những gốc củi mục chưa kịp chẻ, những đống đá hộc rêu phong nằm lăn lóc cạnh bờ tường xếp bằng đá núi. Màn sương chiều từ trên những đỉnh núi đá tai mèo cao ngất của dải Pha Luông bắt đầu tràn xuống thung lũng, bảng lảng, đặc quánh như một tấm vải liệm xám xịt phủ trùm lên mái ngói fibro-xi măng cũ kỹ, sứt mẻ. Không khí lạnh buốt ngấm qua lớp áo chàm mỏng tang, bám vào da thịt như kim châm.
Tiếng dao băm của bác dâu Sương ở gian bếp chái dưới vẫn nện đều đặn xuống mặt thớt gỗ nghiến: *cốc... cốc... cốc... cốc...* Từng nhịp băm nặng nề, uể oải, vô hồn vang lên giữa không gian tịch mịch của buổi hoàng hôn, xen lẫn tiếng lợn nái ụt ịt cào móng vào thành chuồng đòi ăn và tiếng gió đông bắc rít từng hồi qua những khe vách nứa khô nứt nẻ. Xa hơn một chút, phía sau rặng chuối hột rậm rạp đang rũ rượi lá úa, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng nứa gãy kêu răng rắc rợn người, kèm theo tiếng bác Lương ho hắng từng cơn khù khụ rồi tiếng khạc nhổ càu nhàu, chửi đổng đàn lợn phá phên chuồng. Mọi âm thanh quen thuộc của buổi chiều muộn nơi xóm núi nghèo nàn lúc này dường như đều bị kéo căng ra, sắc lẹm và chực chờ đứt tung như một sợi dây đàn căng hết mức.
Chúng tôi luồn qua bức màn vải dù rách tơi tả, loang lổ những vết ố mốc đen sì dùng để ngăn cách gian chái phụ với gian nhà trên.
Gian nhà chính của bác Lương tối tăm, lờ nhờ và sực lên một mùi hương hỗn tạp ngột ngạt: mùi khói thuốc lào Tiên Lãng nồng nặc và khét lẹt bám chặt vào từng thớ gỗ, mùi ẩm mốc của những bắp ngô hạt lưu cữu từ vụ thu hoạch năm ngoái chất đống ở góc nhà, mùi mồ hôi chua nồng ám vào những chiếc chăn chiên cũ rách gập trên phản, và cả mùi của đất ẩm bốc lên từ nền nhà chưa từng được lát gạch. Đây là nơi tôn nghiêm nhất, bất khả xâm phạm nhất của cả ngôi nhà, nơi ngự trị trọn vẹn uy quyền tối thượng của bác Lương.
Nơi ấy đặt chiếc bàn thờ tổ tiên ám khói đen kịt với những bát hương bằng đất nung xám ngoét; chiếc phản gỗ xoan rừng bóng loáng, mát lạnh mà chỉ có duy nhất bác Lương mới có quyền ngả lưng nằm ngủ sau những buổi trưa vỡ nương mệt nhoài; và ở góc trong cùng, nằm lọt thỏm sát chân cây cột cái bằng gỗ nghiến to bằng một vòng tay ôm, là chiếc tủ gỗ hai buồng khóa kín mít.
Lan đứng nép mình sát mép cửa chính, đầu hơi nghiêng ra ngoài bóng tối mịt mùng của khoảng sân, ánh mắt căng thẳng dán chặt vào từng bụi mận, bụi dâm bụt bên bờ rào đá, hai bàn tay nhỏ bé bấu chặt lấy gấu áo chàm đến mức các khớp ngón tay run bần bật. Con bé khẽ vẫy tay thúc giục tôi một lần nữa, môi mím chặt không dám thở mạnh.
Tôi bước từng bước chầm chậm về phía góc nhà tối om, nơi bóng tối dường như cô đặc lại quanh chiếc tủ gỗ. Từng bước chân trần của tôi đặt nhẹ trên nền đất nện lạnh ngắt, cảm giác nham nhở của những hạt sỏi nhỏ găm vào lòng bàn chân buốt rát như đang dẫm lên những tảng băng vụn. Chiếc tủ gỗ sưa đen nhánh hiện ra sừng sững trước mắt tôi, im lìm, đồ sộ và câm lặng như một pháo đài cấm kỵ khổng lồ.
Trong suốt những năm tháng tôi sống kiếp ăn nhờ ở đậu dưới mái nhà này, chiếc tủ ấy là hiện thân của một thứ quyền lực tuyệt đối, đáng sợ và bí ẩn. Nó là nơi cất giữ cuốn sổ hộ khẩu bằng bìa giấy xanh đã sờn rách mép, mảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa nương sườn đồi thoai thoải màu mỡ vốn từng thuộc về cha mẹ tôi, những xấp tiền lẻ mệnh giá một nghìn, hai nghìn đồng được vuốt phẳng phiu, gom góp chắt bóp sau từng gùi ngô non, từng bao sắn thái lát bán cho lái buôn dưới xuôi, và mọi bí mật định đoạt sự sống còn của từng con người sống dưới mái nhà tranh dột nát này.
Chưa bao giờ tôi, hay Tùng, hay thậm chí cả con bé Lan được phép bén mảng lại gần chiếc tủ ấy quá một sải tay. Mỗi lần bác Lương cần mở tủ để lấy ra một vật gì đó, ông luôn dùng cả tấm lưng vạm vỡ, bè bè như tấm phản của mình để che chắn kín mít tầm nhìn của mọi người xung quanh. Bác chỉ hé một cánh cửa tủ vừa đủ một khoảng hẹp để luồn bàn tay thô ráp vào trong, lục lọi trong chốc lát rồi lập tức sập mạnh cửa lại, tra chìa khóa vào ổ và vặn hai vòng kêu tanh tách, như thể bác sợ rằng chỉ cần một làn gió lạ lọt vào bên trong cũng có thể thổi bay mất cái trật tự và sự kiểm soát nghiệt ngã mà bác đã dày công thiết lập nên cho cái gia đình này.
Tôi quỳ sụp hai đầu gối xuống nền đất nện lạnh buốt ngay trước mặt ngăn kéo dưới cùng của chiếc tủ.
Cái lạnh thấu xương từ mặt đất truyền qua lớp vải quần chàm mỏng manh, ngấm thẳng vào xương bánh chè buốt nhói. Đôi bàn tay tôi run bắn lên dữ dội khi đưa chiếc chìa khóa đồng thau vào lỗ khóa sắt đã bị hoen gỉ bám đầy xung quanh. Lỗ khóa chật chội, khô khốc và bám đầy mạng nhện cùng bụi bặm. Tôi phải nín thở, lựa từng góc cạnh một cách run rẩy, cẩn thận nhích từng li từng tí để chiếc chìa kim loại không va đập mạnh vào thành sắt tạo ra những tiếng kim loại va chạm có thể lọt ra ngoài sân.
*Cạch.*
Một tiếng cựa sắt khô khốc vang lên giữa không gian tĩnh mịch ngột ngạt của gian nhà khiến lồng ngực tôi thót lại, tim như ngừng đập hoàn toàn trong một tích tắc. Cả người tôi giật bắn mình, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán dù ngoài trời gió bấc đang thổi lồng lộng. Tôi hốt hoảng ngoái đầu nhìn lại phía cửa chính. Lan vẫn đứng im phắc như một pho tượng đá nơi bậu cửa, bàn tay nhỏ bé vẫy nhẹ một nhịp dứt khoát ra hiệu an toàn.
Bên ngoài, tiếng dao của bác dâu Sương vẫn gõ đều đặn xuống mặt thớt gỗ: *cốc... cốc... cốc...* Đều đặn, nặng nề và u buồn.
Tôi nuốt một ngụm nước bọt đắng ngắt nơi cuống họng, hai bàn tay run rẩy bám vào gờ gỗ bên dưới của chiếc ngăn kéo, từ từ kéo nó trượt ra ngoài. Ngăn kéo đóng bằng thứ gỗ xoan rừng nguyên khối nặng trịch, rít lên từng hồi trĩu nặng trên gờ trượt lâu năm không được bôi trơn bằng dầu mỡ. Mùi của giấy bổi ẩm mốc, mùi long não cũ kỹ hăng hắc quyện với mùi bụi bặm lưu cữu cả chục năm trời xộc thẳng vào cánh mũi tôi, ngột ngạt và bức bối đến nghẹt thở.
Khi ngăn kéo mở toang ra trước mặt, hiện ra dưới ánh sáng lờ nhờ hắt qua khe liếp là một đống giấy tờ lộn xộn, nham nhở được xếp chồng chất lên nhau suốt bao nhiêu năm tháng thăng trầm của gia đình này: vài cuốn sổ tay bọc giấy xi măng ghi chép công điểm của Hợp tác xã Nông nghiệp cũ nát đã ố vàng và rách nát từng góc bìa, những tờ biên lai thu thuế nông nghiệp bằng giấy mỏng tanh quăn queo, vài mảnh giấy gói hàng bằng báo cũ bọc mấy đồng tiền xu và tiền giấy lẻ đã nhàu nhĩ.
Và ở ngay trên cùng của góc bên phải ngăn kéo, đập thẳng vào mắt tôi, là một chiếc phong bì màu trắng ngà còn rất mới.
Nó phẳng phiu, vuông vắn và sạch sẽ một cách kỳ lạ giữa một đống giấy tờ bụi bặm, mục nát xung quanh. Trên góc trái phía trên của chiếc phong bì, dòng chữ in màu xanh đậm hiện lên rõ ràng, sắc nét: *“Ủy ban Nhân dân huyện Mộc Châu – Phòng Giáo dục và Đào tạo”*. Và nổi bật nhất, nằm đè ngay lên phần mép dán bằng hồ dán đã khô cứng của nắp phong bì, là một con dấu tròn màu đỏ tươi thắm như một vệt máu tươi rực rỡ giữa bóng tối nhá nhem của gian nhà.
Các ngón tay tôi bỗng chốc đông cứng lại. Toàn bộ các khớp xương như bị tê liệt. Sự run rẩy lan tỏa khắp lồng ngực rồi chạy dọc xuống tứ chi. Lan không hề nhìn nhầm. Con bé đã nói đúng từng chi tiết. Chiếc phong bì ấy thực sự tồn tại, bằng xương bằng thịt, nằm sờ sờ ngay trước mắt tôi chứ không phải là một giấc mơ hão huyền của một đứa trẻ khát chữ.
Nó đã nằm ở đây suốt từ trưa ngày thứ Hai, nằm im lìm trong bóng tối ngột ngạt của chiếc ngăn kéo khóa chặt này, trong khi suốt hai ngày qua, tôi đã phải quỳ rạp dưới hiên nhà van xin bác Lương, trong khi tôi tự cào xé tâm can mình bằng những nỗi dằn vặt đớn đau, tự trách bản thân mình không đủ giỏi giang, tự nhủ rằng có lẽ người ta dưới huyện đã gạt tên một đứa trẻ mồ côi nghèo đói để trao cơ hội đổi đời cho con em của những gia đình khá giả khác trên bản.
Tôi run rẩy thò bàn tay xước xát, dính đầy bụi đất của mình nhấc chiếc phong bì lên khỏi đống giấy tờ ố vàng. Chiếc phong bì dày dặn và nặng trịch trong lòng bàn tay tôi. Mặt trước của nó, những dòng chữ in bằng mực đen sắc sảo của người đánh máy cơ quan nhà nước hiện lên rành rành: *“Kính gửi: Em Nguyễn Văn Nam – Học sinh lớp 5, Điểm trường Bản Nà Ban (Nhờ phụ huynh/Người giám hộ Nguyễn Văn Lương chuyển)”*.
Một luồng khí lạnh buốt xông thẳng lên đỉnh đầu tôi, kéo theo một cơn giận dữ uất nghẹn dâng tràn lên khóe mắt, khiến tôi thấy khó thở như bị ai đó bóp nghẹt lấy trái tim. Bác Lương đã cầm tận tay chiếc phong bì này từ tay chú Bảy đưa thư của xã. Bác đã nhìn thấy từng con chữ in rõ ràng mang họ tên của tôi, đã thấy con dấu tròn đỏ chót đầy uy quyền của Phòng Giáo dục huyện. Vậy mà trưa hôm qua, khi tôi lấy hết sự can đảm tích tụ suốt bao nhiêu ngày, đứng chôn chân trước bậc thềm đá để hỏi bác về tin tức của đợt xét tuyển, bác đã nhìn thẳng vào mắt tôi bằng một ánh nhìn lạnh tanh, vô cảm đến tàn nhẫn. Bác buông ra những lời chối bỏ ráo hoảnh, cay độc rằng chẳng có phong bì, công văn nào hết, rằng tôi chỉ là một đứa trẻ viển vông, mơ mộng hão huyền, bị những lời đường mật của cô giáo cắm bản nhồi nhét vào đầu những thứ chữ nghĩa vô bổ không thể mài ra mà ăn qua ngày được.
Bác không hề vứt chiếc phong bì này vào bụi rậm ven đường. Bác cũng không ném nó vào giữa bếp lửa đang đỏ rực than hồng như cái cách bác vẫn thường thản nhiên đốt đi những tờ giấy thông báo họp bản hay những tờ vận động đóng góp xây dựng đường liên thôn mà bác ghét bỏ. Bác cất nó vào đây, giấu kỹ dưới đáy ngăn kéo này, khóa chặt lại bằng chiếc chìa khóa duy nhất rồi giắt tận trên xà gồ nứa cao ngất ngưởng.
Bác muốn giết chết cơ hội này của tôi trong sự im lặng tuyệt đối. Bác toan tính từng ngày, từng giờ, kiên nhẫn chờ đợi cho cái hạn chót nghiệt ngã vào trưa thứ Sáu trôi qua. Bác muốn guồng quay của thời gian và sự quan liêu của thủ tục hành chính tự tay chôn vùi tương lai của tôi xuống ba thước đất mà không để lại bất kỳ một dấu vết nào của sự cản trở hay phản trắc. Khi cái hạn trưa thứ Sáu qua đi, tờ giấy này sẽ vĩnh viễn biến thành một mẩu giấy lộn vô giá trị, và tôi sẽ không bao giờ biết được rằng cánh cửa cuộc đời mình đã từng hé mở một khe sáng rực rỡ đến nhường nào.
Đầu ngón tay cái của tôi cẩn thận luồn vào mép dán phong bì đã khô cong lớp hồ tinh bột, khẽ tách từng chút một để không làm rách phần mép giấy in dấu đỏ. Tiếng giấy cọ vào nhau phát ra những âm thanh sột soạt khe khẽ, nghe rờn rợn giữa gian phòng tĩnh mịch.
Tôi rút tờ công văn màu trắng gấp làm ba ra ngoài, run rẩy mở rộng nó ra trước mắt. Dưới ánh sáng lờ nhờ, vàng vọt hắt qua những kẽ liếp nứa, từng dòng chữ in bằng phông chữ hành chính đanh thép, rõ ràng hiện lên như khắc sâu vào tâm trí tôi:
*“CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM* *Độc lập – Tự do – Hạnh phúc*
*QUYẾT ĐỊNH* *Về việc cấp suất hỗ trợ đặc biệt cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tham dự kỳ thi tuyển sinh vào trường Phổ thông cấp hai chất lượng cao huyện Mộc Châu, năm học...”*
Tên tôi — *Nguyễn Văn Nam* — nằm sừng sững ngay ở dòng đầu tiên của danh sách trích ngang năm học sinh được tuyển chọn từ các xã vùng cao biên giới.
Bên dưới là những điều khoản cụ thể, rõ ràng mà tôi đọc đến đâu, lồng ngực lại như có từng tảng đá ngàn cân đè nén, xé toạc nỗi đau đớn đến đấy: - *Miễn giảm 100% toàn bộ lệ phí dự thi tuyển sinh và các khoản phí hồ sơ liên quan;* - *Cấp toàn bộ kinh phí sách giáo khoa, tài liệu ôn tập và đồ dùng học tập phục vụ cho kỳ thi;* - *Hỗ trợ toàn bộ tiền xe khách đưa đón từ trung tâm xã lên thị trấn huyện và chi phí ăn, nghỉ tập trung tại nhà khách ngành giáo dục trong suốt ba ngày diễn ra kỳ thi tuyển sinh;* - *Cam kết cấp học bổng toàn phần bao gồm tiền ăn, tiền ở nội trú tại ký túc xá trường huyện trong suốt bốn năm học nếu thí sinh đạt điểm chuẩn trúng tuyển vào trường.*
Và ở dòng cuối cùng của văn bản, được gạch chân cẩn thận bằng một nét mực đỏ đậm nét, sắc sảo: *“Yêu cầu phụ huynh hoặc người giám hộ hợp pháp của học sinh ký tên xác nhận tham gia kỳ thi và nộp toàn bộ hồ sơ kèm theo về Văn phòng Trường Tiểu học trung tâm xã trước 11 giờ 30 phút, thứ Sáu ngày... Quá thời hạn trên, nếu không nhận được xác nhận bằng văn bản của gia đình, Phòng Giáo dục và Đào tạo sẽ tự động chuyển suất hỗ trợ đặc biệt này cho thí sinh dự khuyết thuộc điểm trường Bản Pha Đao.”*
Trưa thứ Sáu. Tức là trưa ngày mai.
Chỉ còn chưa đầy hai mươi tiếng đồng hồ nữa. Chiếc đồng hồ cát vô hình của số phận đang chảy những hạt cát cuối cùng ngay trước mắt tôi. Nếu chiều nay Lan không liều mạng trèo lên chiếc cối giã gạo để lấy chiếc chìa khóa này, nếu tôi tiếp tục ngoan ngoãn cúi đầu vác cuốc lên nương tra ngô như một con trâu câm lặng, thì chỉ đến đúng mười một giờ ba mươi phút trưa mai thôi, cái tên Nguyễn Văn Nam sẽ bị một nét bút đỏ gạch phăng đi không thương tiếc. Suất học ấy sẽ vĩnh viễn thuộc về một đứa trẻ khác ở tít tận bản Pha Đao bên kia đỉnh núi. Và tôi sẽ vĩnh viễn ở lại mảnh đất khô cằn, sỏi đá này, tiếp tục cúi mặt xuống những luống cày dốc đứng, dùng cả tuổi thanh xuân và phần đời còn lại của mình để làm lụng, để trả một món nợ không bao giờ có hồi kết.
Nước mắt tôi trào ra, nóng hổi và mặn chát, rơi lã chã xuống góc tờ giấy trắng in dấu đỏ. Đó không phải là những giọt nước mắt của sự sợ hãi trước đòn roi hay sự trừng phạt. Đó là nỗi cay đắng tột cùng, là sự uất hận nghẹn ngào trước sự tàn nhẫn có tính toán, có mưu mô của người lớn. Bác Lương là bác ruột của tôi. Người mang chung dòng máu với cha tôi, người đã từng đứng trước bàn thờ tổ tiên ám khói trong cái ngày diễn ra đám tang vội vã của cha tôi để nhận nuôi đứa cháu mồ côi trước sự chứng kiến của cả họ tộc bản Nà Ban. Bác không muốn tôi đi học không phải vì nhà thiếu thốn vài ba bát gạo ăn qua ngày trong bữa trưa ngày mai, mà vì bác muốn ghìm chặt một đôi bàn tay lao động dẻo dai, muốn giữ rịt một đứa cháu mồ côi không có tiếng nói để tiếp tục cày ải, cuốc xới trên những triền nương dốc đứng ngút ngàn của gia đình bác.
Tôi vội vàng quệt nước mắt, run rẩy gấp đôi tờ công văn lại định nhét sâu vào trong bụng áo chàm để tẩu thoát, thì tầm mắt tôi bỗng vô tình chạm phải một tập giấy khác nằm lọt thỏm dưới đáy ngăn kéo, ngay bên dưới vị trí mà chiếc phong bì màu trắng vừa được nhấc lên.
Đó không phải là giấy in công văn trắng tinh của huyện. Đó là một xấp giấy bổi màu vàng khè, xơ xác và quăn queo bốn góc vì thời gian và khói thuốc lào bám lâu năm. Trên góc mỗi tờ giấy đều có những dòng chữ viết tay xiêu vẹo, nguệch ngoạc bằng thứ mực tím học trò đã phai nhạt và ngả sang một màu nâu xỉn khô khốc như màu máu đọng.
Tôi sững sờ chết trân tại chỗ. Bàn tay đang đưa lên bụng áo bỗng khựng lại giữa không trung.
Nét chữ ấy... tôi không thể nào nhầm lẫn được, dù có nhắm mắt lại tôi vẫn có thể hình dung ra từng đường nét run rẩy, gồ ghề của nó.
Đó là nét chữ của cha tôi. Nét chữ của người thợ mộc nghèo chỉ học hết lớp ba trường làng rồi bỏ dở để cầm rìu, cầm cưa kiếm sống qua ngày. Những con chữ xiêu vẹo, thô ráp, gãy góc như chính những vết sẹo chai sần chằng chịt trên bàn tay quanh năm cầm đục, cầm bào của người.
Một linh tính chẳng lành, lạnh toát và nhức nhối dâng lên giục giã tôi thò tay xuống đáy ngăn kéo, run rẩy nhấc xấp giấy bổi ố vàng ấy lên.
Tờ giấy đầu tiên, mép giấy đã mủn mục như sắp rách tả tơi, đề ngày tháng của bảy năm về trước — cái thời điểm tôi mới chỉ là một đứa trẻ ba tuổi đầu, gầy nhom và bi bô tập nói bên hiên nhà: *“Tôi là Nguyễn Văn Hòa, có vay của anh trai ruột là Nguyễn Văn Lương số tiền là ba mươi nghìn đồng (30.000đ) để mua thuốc bắc và trả tiền xe ôm đưa nhà tôi đi trạm xá huyện chữa bệnh ho ra máu. Hẹn đến vụ ngô sang năm sẽ xẻ gỗ nghiến trả đủ.”*
Bên dưới dòng chữ viết tay nguệch ngoạc ấy là một dấu điểm chỉ ngón tay cái bằng mực đỏ của cha tôi. Vết mực đỏ đã phai nhạt, nhòe nhoẹt và méo mó, in hằn những đường vân tay thô ráp của một kiếp người lam lũ.
Tôi lật sang tờ thứ hai, rồi tờ thứ ba, thứ tư. Cả lồng ngực tôi nghẹn đắng lại, từng hơi thở trở nên khó nhọc như có ai đang nhét giẻ rách vào cổ họng: *“Vay anh Lương năm mươi nghìn đồng (50.000đ) đợt hai tiền thuốc tiêm kháng sinh tại bệnh viện huyện...”* *“Vay anh Lương hai mươi nghìn đồng (20.000đ) đong một bao gạo tám thơm vụ giáp hạt nuôi cháu Nam...”* *“Giấy cam kết nhận nợ tiền hai cỗ áo quan bằng gỗ nghiến của xưởng xẻ ông Thào bên xóm Mo, do anh Lương đứng tên bảo lãnh trả thay sau khi nhà tôi qua đời: tổng cộng một trăm hai mươi nghìn đồng (120.000đ)...”*
Những con số. Ba mươi nghìn, năm mươi nghìn, một trăm hai mươi nghìn...
Vào những năm đầu của thập niên hai nghìn ở cái bản vùng cao nghèo xơ xác, heo hút này, một trăm nghìn đồng là cả một gia tài khổng lồ, một món tiền nằm ngoài sức tưởng tượng của những người nông dân quanh năm chỉ biết bám vào nương rẫy. Nó tương đương với cả một mùa ngô bội thu gom góp từng hạt, bằng giá trị của một con lợn tạ nuôi ròng rã suốt một năm trời, hay bằng nửa con bò mộng trưởng thành. Và tất cả những tờ giấy nợ ấy, từng tờ, từng tờ một, đều mang tên cha tôi — Nguyễn Văn Hòa — với những dấu điểm chỉ đỏ quạch nằm trơ trọi ở góc dưới.
Tôi bàng hoàng quỳ chết trân trên nền đất lạnh buốt trước ngăn kéo tủ mở toang. Những giọt nước mắt vừa chực trào ra vì uất ức, vì tức giận bỗng chốc đông cứng lại trên khóe mi, khô khốc và buốt rát.
Suốt bao nhiêu năm tháng sống trong căn nhà này, kể từ cái ngày định mệnh khi mẹ tôi rồi cha tôi lần lượt nhắm mắt xuôi tay trên chiếc giường tre ọp ẹp, tôi luôn mang trong mình một vết thương lòng rỉ máu mỗi khi nghe bác Lương hay bác dâu Sương đay nghiến, chì chiết về chuyện nợ nần. Mỗi lần tôi ăn thêm một bát cơm độn sắn trong bữa trưa đói lả, mỗi lần tôi rụt rè xin giữ lại vài ba nghìn đồng tiền công đi vác gỗ thuê hay tiền sửa máy tính cầm tay cho học sinh trường xã để mua thêm cuốn vở, chiếc bút chì, bác Lương lại đập bàn gầm lên về món nợ ma chay, nợ áo cơm mà cha tôi để lại trút lên đầu ông bà.
Tôi đã từng căm thù những lời nói ấy biết bao. Tôi đã từng nghĩ rằng đó chỉ là những lời lẽ cay nghiệt, bủn xỉn và hẹp hòi mà người lớn dựng lên để đày đọa một đứa cháu côi cút, để biến tôi thành một thứ người ở không công, một con trâu kéo cày trên những thửa nương dốc đứng ngút ngàn của dải Pha Luông. Tôi từng tự nhủ trong những đêm mùa đông lạnh thấu xương, khi một mình nằm co ro ôm bụng đói trên chiếc chõng tre ọp ẹp ở chái phụ ẩm ướt, rằng bác Lương là một kẻ độc ác, một người bác ruột tàn nhẫn muốn cướp đoạt cả mảnh nương cha tôi để lại để làm giàu cho gia đình riêng của bác.
Nhưng những tờ giấy nợ nằm im lìm dưới đáy tủ này đang phơi bày một sự thật trần trụi, lạnh lùng và tàn nhẫn hơn gấp bội phần.
Món nợ ấy là có thật. Hoàn toàn có thật.
Những đồng tiền thuốc men gom góp từng hào để giành giật mạng sống của mẹ tôi trong những ngày bà ho ra từng búng máu tươi là có thật. Hai cỗ ván áo quan bằng gỗ nghiến chôn cất cha mẹ tôi trên sườn đồi Ban Nà mà lão Thào bên xóm Mo ráo riết đòi nợ mỗi độ tết đến xuân về là có thật. Bác Lương đã không hề bịa đặt ra một lời nào khi quát tháo, gầm gừ trước mâm cơm đạm bạc. Chính người đàn ông thô lỗ, cục cằn và cộc cằn ấy đã từng phải móc cạn từng đồng bạc dành dụm chắt chiu từ những vụ ngô thất bát, đã phải cúi đầu đứng ra bảo lãnh danh dự với lão Thào để cha mẹ tôi có manh chiếu, tấm gỗ chôn cất cho tròn đạo làm người, để linh hồn họ không phải nằm trần trụi dưới lòng đất lạnh.
Cha tôi đã nhắm mắt xuôi tay khi chưa kịp xẻ xong một cây gỗ nghiến nào để trả nợ. Người nằm xuống dưới chân đồi Ban Nà lộng gió, để lại đằng sau không chỉ là một đứa con thơ dại đói rách, mà còn là một gánh nợ khổng lồ, nặng như một tảng đá núi đè bẹp bờ vai gầy guộc của người anh trai làm nương rẫy.
Bác Lương gộp mảnh nương sườn đồi của cha tôi vào làm chung, không đơn thuần là vì lòng tham lam vô độ, mà vì đó là cách duy nhất để mảnh đất dốc đầy sỏi đá ấy sinh ra thêm vài bao ngô, vài gùi sắn nhằm bù đắp vào khoản nợ máu thịt mà gia đình bác đã phải oằn mình gánh thay cho người em trai đã khuất. Và mỗi bát cơm tôi ăn, mỗi ngụm nước tôi uống dưới mái nhà dột nát này suốt ngần ấy năm trời, đối với bác Lương, đều là một sự thắt lưng buộc bụng đầy nghiệt ngã của một gia đình nông dân nghèo khó, khốn cùng cũng đang phải oằn lưng nuôi nấng hai đứa con thơ dại là Tùng và Lan.
Tôi nhìn tờ giấy báo cấp suất hỗ trợ học tập trắng tinh trên tay phải, rồi lại nhìn xấp giấy nợ ố vàng, quăn queo của cha tôi dưới tay trái.
Hai vật thể ấy nằm cạnh nhau, đối chọi nhau chan chát, như hai thế giới hoàn toàn tách biệt và không thể nào dung hòa.
Một bên là cánh cửa mở toang ra một chân trời mới, là con đường học vấn duy nhất để tôi có thể bước ra khỏi kiếp sống mòn mỏi trong bùn đất và sương muối, là ước mơ cháy bỏng mà mẹ Mai đã gửi gắm qua từng trang sách cũ trước khi nhắm mắt qua đời. Nhưng ở bên kia lại là gánh nặng của trách nhiệm, là danh dự cay đắng của cha tôi, là cái giá bằng mồ hôi, nước mắt và máu mà bác Lương đã phải gánh chịu để tôi có thể sống sót, lành lặn cho đến ngày hôm nay.
Nếu tôi cầm tờ giấy báo này đi, nếu tôi bước chân xuống trường huyện để theo đuổi con chữ, thì ai sẽ ở lại đây cày cuốc, vỡ nương trên mảnh đồi dốc đứng Ban Nà? Ai sẽ gùi từng tảng đá hộc xếp lại bờ ta luy sau mỗi mùa mưa lũ sạt lở? Ai sẽ gánh vác việc đồng áng để phụ giúp gia đình này trả nốt số tiền áo quan còn nợ lão Thào bên xóm Mo?
Bác Lương giấu nhẹm tờ giấy báo này đi không đơn thuần chỉ vì lòng đố kỵ hay sự cay nghiệt mù quáng của một người bác đối với đứa cháu ruột. Bác giấu nó đi vì bác sợ hãi. Bác sợ mất đi một lao động chính trong nhà, sợ cái đói, cái rét lại một lần nữa ập xuống đầu Tùng và Lan khi mùa giáp hạt tới gần, sợ rằng những đồng tiền mồ hôi nước mắt mà bác đã bỏ ra cứu chữa, ma chay cho em trai sẽ vĩnh viễn tan biến theo những con chữ viển vông, xa vời vợi dưới thị trấn huyện xa xôi.
Sự tàn nhẫn của bác Lương không phải là sự tàn nhẫn của một kẻ ác độc bẩm sinh, mà là sự tàn nhẫn cùng quẫn, méo mó của cái nghèo, cái đói nơi thung lũng đá khắc nghiệt này — một thứ tàn nhẫn buộc con người ta phải bóp nghẹt ước mơ, tương lai của đứa cháu ruột thịt để bảo đảm sao cho nồi cám lợn ngoài sân có thêm vài củ sắn độn, để cái chum sành trong góc bếp không bị cạn trơ đáy trước khi mùa ngô mới bắt đầu trổ cờ.
Cảm giác cay đắng, xót xa nghẹn ứ nơi cổ họng khiến tôi ngạt thở. Bàn tay tôi cầm tờ công văn run lên bần bật, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì bóp chặt. Tôi thương cha tôi, người thợ mộc khốn khổ đã phải cúi đầu ký từng tờ giấy nợ trong cơn tuyệt vọng cùng đường để cứu vợ, cứu con. Tôi giận bác Lương vì đã tước đoạt cơ hội sống của tôi một cách hèn hạ và dối trá. Nhưng trong chính khoảnh khắc tăm tối này, đối diện với những con số nợ nần nham nhở của quá khứ, tôi lại thấy trào dâng một nỗi xót xa tê tái, đau đớn dành cho chính người bác ruột thịt của mình.
Cái nghèo ở bản Nà Ban này giống như một chiếc bẫy sắt rỉ sét khổng lồ kẹp chặt lấy tất cả chúng tôi. Nó kẹp chặt lấy cha tôi, mẹ tôi cho đến tận lúc chết; nó kẹp chặt lấy bác Lương, bác dâu Sương khiến họ trở nên cay nghiệt, thô lỗ; và giờ đây nó đang ngoạm chặt lấy tôi và Lan. Không ai trong chúng tôi hoàn toàn có tội, và cũng chẳng có ai hoàn toàn độc ác. Chúng tôi chỉ là những sinh vật khốn cùng, bế tắc đang cào xé, giành giật lẫn nhau từng mẩu vụn của sự sinh tồn dưới đáy một cái hố sâu hun hút không có lối thoát.
“Anh Nam!”
Tiếng thì thào thất thanh, the thé như tiếng rít của con chim non trúng tên của Lan giật mạnh tôi ra khỏi cơn bàng hoàng tột độ. Con bé đứng chết trân ở ngưỡng cửa chính, mặt cắt không còn một giọt máu, hai mắt mở to nhìn trừng trừng ra khoảng sân ngoài rào qua khe liếp. Toàn thân con bé run lên bần bật như một nhánh cây non trước cơn lốc dữ.
“Nhanh lên anh! Bố... bố vác rựa đi vào ngõ rồi! Bố về rồi!”
“Cất đi anh! Đút vào tủ nhanh lên, khóa lại rồi về chái phụ mau!” Lan cuống cuồng lao bổ tới, bàn tay nhỏ bé lạnh ngắt giật mạnh lấy ống tay áo chàm của tôi, giọng lạc hẳn đi vì nỗi hoảng loạn tột cùng.
Bên ngoài, tiếng ủng nhựa nện bồm bộp trên mặt đất nhão nhoét mỗi lúc một gần, mỗi nhịp bước nặng trịch như giẫm nát màng nhĩ tôi. Tiếng những cành nứa tươi va quệt vào vách ván gỗ rào rạo, rợn người, xen lẫn tiếng lưỡi rựa bằng thép va lách cách khô khốc vào chốt cán tre theo từng bước chân. Bác Lương đã bước chân lên bậc thềm đá đầu tiên.
Lan cuống cuồng vươn hai bàn tay nhỏ bé toan giằng lấy tờ công văn trên tay tôi để nhét bừa vào lại ngăn kéo tủ gỗ. Nhưng mười đầu ngón tay tôi bấu chặt lấy mép giấy in dấu đỏ.
Vết cắt ngọt lịm của mép giấy cắm sâu vào da thịt buốt nhói, nhưng tôi không hề buông. Tôi siết chặt lấy nó đến mức từng khớp xương ngón tay trắng bệch ra, thớ giấy dày dặn nhăn nhúm lại trong nắm tay đang run lên bần bật. Cơn đau thể xác chẳng thấm tháp gì so với ngọn lửa đang bùng cháy rát bỏng trong lồng ngực. Tôi hiểu rất rõ: nếu lúc này tôi chùn bước, nếu bàn tay tôi mềm lòng buông ra để chiếc ngăn kéo gỗ nặng nề kia trượt trở lại vào rãnh then và ổ khóa sắt hoen rỉ kia sập chốt, thì cánh cửa duy nhất mở ra khoảng trời bên ngoài kiếp sống mòn mỏi trong bùn đất này sẽ vĩnh viễn khép lại sau lưng tôi. Trưa mai đã là hạn chót. Trưa mai, cái tên Nguyễn Văn Nam trên danh sách nhập học của trường huyện sẽ bị gạch bỏ không thương tiếc như một kẻ bỏ cuộc vô cớ. Tôi không thể tự lừa dối mình thêm một giây phút nào nữa, không thể tiếp tục dùng sự ngoan ngoãn hèn nhát để đổi lấy một tương lai bị chôn vùi trong xó bếp tăm tối này.
Tiếng then cài bằng gỗ nghiến ken két trên khung cửa chính, rồi cả cánh liếp rung lên bần bật. Bức màn vải dù rách tơi tả bị một bàn tay thô bạo gạt phăng sang một bên.
Gió lạnh từ ngoài ngõ lùa vào thốc tháo, mang theo mùi ngai ngái nồng nặc của đất bùn sũng nước và mùi lá ướt. Bóng bác Lương sừng sững đổ dài trên nền đất nện gian trong, to lớn và đen đúa, choán ngợp gần như toàn bộ khoảng sáng lờ nhờ còn sót lại của buổi hoàng hôn vùng cao. Bác dừng khựng lại ngay bậc ngưỡng cửa bằng gỗ nghiến mòn vẹt. Một tay bác lăm lăm con rựa phát nương dính đầy mủ chuối xám xịt và vệt nhựa cây rừng khô quánh, tay kia xách bó nứa rào còn rỉ từng giọt nước mưa đùng đục xuống mặt đất. Những giọt nước rơi lộp bộp, nặng trịch.
Không gian trong gian nhà bỗng chốc đông đặc lại như bị phủ kín bởi một lớp băng giá nghẹt thở.
Ánh mắt bác Lương đanh lại, lướt một đường lạnh toát từ khung cửa vào sâu bên trong. Bác nhìn chiếc tủ gỗ sưa đang mở toang hoác, nhìn chiếc chìa khóa đồng cắm trơ trọi nơi ổ khóa sắt xỉn màu đã tróc hết lớp vôi quét, nhìn xấp giấy nợ ố vàng lấm lem dấu điểm chỉ đỏ thẫm của cha tôi nằm phơi mình dưới đáy ngăn kéo, rồi dừng lại trừng trừng trên tờ quyết định có con dấu đỏ au mà tôi đang ghì chặt nơi trước ngực.
Bác không gầm lên như mọi bận. Bác không vung chiếc rựa sắc lẹm lên trời, cũng không buông ra những lời chửi bới thô tục làm rung chuyển từng thanh rui mè trên mái nhà như mỗi lần rượu say hay mất trộm con gà, buồng chuối. Bác chỉ đứng im lìm ở đó, sừng sững và câm lặng như một gốc cây khô cằn găm chặt rễ vào khe đá nương cằn cỗi. Nhưng chính sự im lặng chết chóc ấy — cái nhìn tối sầm, sâu hoắm và bình thản một cách tàn nhẫn không hề có lấy một tia ngỡ ngàng hay chột dạ — đã đập tan vụn vỡ chút hy vọng mong manh cuối cùng còn sót lại trong tâm can tôi. Bác biết rất rõ tờ giấy đó là gì. Bác chưa từng để quên trên nương, chưa từng đánh rơi dọc đường từ bưu điện xã về bản, cũng chẳng có chuyện giấy tờ bị thất lạc như những lời phân bua trơn tuột trưa hôm qua. Bác đã cố tình giấu nó đi. Bác toan tính từng ngày, từng giờ, kiên nhẫn chờ đợi cho cái hạn trưa thứ Sáu tự tay bóp chết con đường học vấn của tôi mà không để lại một dấu vết phản trắc nào.
“Là tại con!”
Tiếng thét thất thanh của Lan xé toạc bầu không khí đặc quánh đang đè nặng lên gian nhà. Con bé bất ngờ lao bổ lên phía trước, hai cánh tay gầy guộc dang rộng ra như một cánh chim non rách rưới, che chắn trọn vẹn khoảng không gian giữa tôi và bóng dáng hộ pháp của bác Lương. Toàn thân Lan run rẩy kịch liệt, đôi chân khẳng khiu như muốn khuỵu xuống nền đất nện ẩm ướt, nhưng ánh mắt con bé mở to trừng trừng, nhìn thẳng vào gương mặt đen sạm, hốc hác của cha mình mà không hề chớp lấy một cái:
“Con tự trèo lên cối giã gạo lấy chìa khóa! Con ép anh Nam vào đây mở tủ! Anh Nam không biết gì hết, con bắt anh ấy vào lấy giấy cho con xem! Bố có đánh thì đánh con đây này! Đánh chết con đi!”
Nước mắt Lan tuôn ra giàn giụa, lăn dài trên đôi gò má lấm lem tro bếp và những vệt bùn chưa kịp khô. Giọng con bé vỡ òa, lạc đi trong cơn nấc nghẹn ngào nhưng vẫn cố hết sức bặm chặt môi, ưỡn bộ ngực lép kẹp ra phía trước để hứng trọn lấy cơn thịnh nộ nghiệt ngã của người chủ gia đình. Nó thà để những lằn roi mây hay sống rựa quất nát da thịt mình, còn hơn phải nhìn thấy người anh họ côi cút bị đánh đập hay tước đoạt nốt chút hy vọng cuối cùng.
Đúng lúc ấy, tiếng bước chân vội vã, lẹt xẹt từ gian bếp chạy hắt lên. Bác dâu Sương buông rơi con dao băm chuối ngoài chái dưới, hớt hải lách qua tấm liếp nứa xiêu vẹo bước vào. Hai bàn tay bác còn dính đầy nhựa chuối thâm xì và những vụn rau muống già dập nát, run rẩy buông thõng bên hông. Bác đứng chết trân ở ngay ngưỡng cửa nối giữa bếp và nhà trên, ngực phập phồng sau một hồi chạy gấp.
Ánh mắt bác dâu đảo qua đảo lại giữa khung cảnh hỗn độn: chiếc tủ mở toang, xấp giấy nợ của cha Hòa nằm trơ khấc, và tờ giấy báo nhập học mang con dấu đỏ rực đang rung lên bần bật trong tay tôi. Gương mặt khắc khổ đầy những nếp nhăn xô lệch của bác thoáng co rúm lại. Một nỗi bối rối tột cùng xen lẫn mặc cảm tội lỗi trỗi dậy, lướt qua đôi mắt trũng sâu thâm quầng. Giờ đây, bác không thể tiếp tục cắm cúi thái bèo xắt chuối để vờ như mình điếc, không thể tiếp tục lảng tránh ánh mắt dò hỏi của tôi như trưa hôm qua được nữa. Bác biết rõ mười mươi bức thư ấy từ đâu mà có; chính mắt bác đã thấy chú Bảy đưa thư trao tận tay chồng mình từ sáng sớm ngày thứ Hai bên gốc gạo đầu bản. Nhưng người đàn bà ấy chỉ biết đứng chôn chân nơi bậu cửa ẩm mục, đôi môi nứt nẻ mấp máy vài lần định nói điều gì đó rồi lại sợ hãi mím chặt lại. Đôi bàn tay dính mủ chuối đen ngòm luống cuống chùi miết vào vạt tấm tạp dề chắp vá, như muốn lau đi thứ tội lỗi vô hình đang bám riết lấy lương tâm mình. Bác không dám bước thêm một bước nào vào gian chính, và càng không đủ dũng khí để cất lời công khai chống lại người đàn ông gia trưởng đang nắm giữ chén cơm, manh áo của cả cái nhà này.
Tôi hít một hơi thật sâu, nuốt trọn vị đắng chát đang nghẹn ứ nơi cổ họng. Tôi vươn cánh tay còn lại, nhẹ nhàng gạt Lan sang một bên rồi dứt khoát bước lên phía trước. Tôi đứng thẳng người, ngẩng cao đầu đối diện trực tiếp với bác Lương.
Khoảng cách giữa hai chúng tôi chỉ còn chừng ba bước chân. Lồng ngực tôi phập phồng dữ dội, từng nhịp tim đập thình thịch như muốn xé toang lồng ngực. Lần đầu tiên sau ngần ấy năm sống kiếp ăn nhờ ở đậu, cúi đầu nuốt từng hạt cơm chan nước mắt, tôi không cụp mắt nhìn xuống mũi chân đầy bùn đất, không run rẩy lùi lũi thu mình vào góc tối ẩm thấp của gian chái phụ. Tôi không còn là đứa trẻ mồ côi luôn tự dằn vặt, nghi ngờ bản thân rằng mình dốt nát nên bị người ta loại bỏ, cũng không còn là đứa cháu ngây thơ dễ dàng tin vào lời dối trá rằng giấy tờ đã bị thất lạc giữa đường rừng. Tôi nâng cánh tay lên, giơ tờ quyết định mang con dấu đỏ au ngang tầm mắt bác Lương. Giọng tôi run lên bần bật vì uất nghẹn, nhưng từng lời từng chữ bật ra rành rọt, đanh thép như đá tảng va vào nhau:
“Vì sao bác giấu giấy của cháu? Đây là giấy báo của cháu, gửi đích danh tên cháu từ đầu tuần! Sao trưa hôm qua bác lại bảo với cháu là không có?”
Bác Lương nhìn thẳng vào mắt tôi, cái nhìn sâu hoắm không một chút gợn sóng. Con rựa trong tay bác khẽ hạ xuống một tấc, sống thép va vào thành cột nhà phát ra một tiếng *cộc* khô khốc, rợn người. Gương mặt bác đanh lại như vỏ cây lim già, những nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu thành từng rãnh tối tăm như những vết nứt nẻ trên mặt ruộng khô cằn mùa hạn.
Bác từ từ dời mắt khỏi mặt tôi, nhìn xuống xấp giấy bổi ố vàng mang chữ ký nguệch ngoạc và vết điểm chỉ ngón tay cái đã thâm đen của cha tôi nằm trơ trọi dưới đáy tủ, rồi gằn giọng từng tiếng lạnh buốt:
“Mày cầm tờ giấy đấy thì trả được bao nhiêu cân ngô cho cái nhà này? Món nợ của cha mày chưa từng biến mất chỉ vì mày muốn đến trường.”