Hoa Ban Không TànC.19 / 38
Chương 19

Tiền công đầu tiên

Tôi đã tưởng lần làm hỏng máy sẽ khiến thầy Dũng không còn gọi mình nữa, nên khi thầy đưa cho tôi một việc nhỏ khác, tôi không nghĩ đến tiền trước tiên; tôi chỉ nghĩ mình phải làm đúng để không phụ thêm một ai.

Suốt mấy ngày sau đêm ở trường bản, mỗi lần nghĩ lại ánh mắt cô Hạnh cặm cụi bên ngọn đèn bão để chép tay lại từng dòng danh sách học sinh diện chính sách, cổ họng tôi lại khô đắng lại. Đêm đó, bóng cô in nghiêng trên vách nứa trét đất, chiếc bóng gầy guộc chập chờn theo từng cơn gió luồn qua khe liếp mục. Từng nét chữ mực tím nắn nót của cô cứ lướt đi trong tiếng thở dài kìm nén, trong khi tôi chỉ biết ngồi thu lu ở góc phản gỗ, mười ngón tay co quắp ghì chặt lấy gấu quần ướt sũng bùn đất. Cái cảm giác thấy người khác phải nai lưng ra gánh lấy hậu quả từ sự tự phụ ngây ngô của mình nó nhức nhối hơn bất kỳ lằn roi mây nào bác Lương từng quất xuống bắp chân.

Mẩu giấy bọc mép vở của mẹ Mai mà tôi chép năm điều răn của thầy Dũng được gấp nhỏ bằng bao diêm, nhét sâu vào túi áo chàm sát ngực. Đó là mẩu giấy xi măng dai nhách, mép xơ ra vì bị xé vội, bên trên phủ kín những nét chữ run rẩy tôi nắn nót viết bằng mẩu bút chì gọt bằng mảnh chai vỡ. Mỗi nhát cuốc bổ xuống nền đất đá sỏi sườn dốc Ban Nà, cạnh giấy cứng lại cọ nhẹ vào xương sườn ê ẩm như một vết cứa nhắc nhở: cái giá của thói hấp tấp và ngộ nhận là sự nhọc nhằn của người khác. Đất đồi mùa này rắn như gang thép, rễ cỏ tranh đan bện chằng chịt dưới từng thớ đá tai mèo sắc lẹm. Mỗi lần lưỡi cuốc va phải đá tóe lửa, chấn động dội ngược lên hai bả vai gầy rộc làm lồng ngực tôi thắt lại, mẩu giấy nơi ngực áo lại cựa quậy, nhắc tôi nhớ về từng chữ thầy dằn xuống mặt bàn gỗ đêm hôm ấy: *Không biết thì hỏi. Không chắc thì dừng. Tuyệt đối không được đoán mò.*

Vì thế, vào buổi chiều thứ Năm, khi tiếng kẻng tan học vừa dứt và tôi đang cúi đầu thu gọn tập tài liệu toán bọc bao tải dứa để chuẩn bị chạy thật nhanh về cho kịp cữ băm chuối chuồng lợn, bóng thầy Dũng lại đổ dài trước cửa lớp học mượn tạm của kho thóc.

Tiếng kẻng bằng vỏ quả bom han gỉ treo ở đầu hồi rung lên từng hồi đanh thép, tan vào màn sương đục đang là là sà xuống những ngọn cây sa mộc. Lũ trẻ trong lớp ùa ra sân như bầy chim vỡ tổ, tiếng guốc mộc khua lẹp kẹp trên lối đi rải sỏi lạo xạo. Tôi nấn ná ở lại sau cùng, cẩn thận xếp từng tờ giấy nháp đã viết kín cả hai mặt, chừa lại mép lề trắng mỏng manh nhất để dành cho buổi học hôm sau. Chiếc bao dứa đựng sách được tôi gập đôi mép lại, luồn sợi dây đay buộc chặt để sương mù không ngấm ướt những trang vở còn thơm mùi mực tự chế.

Thầy không đi xe Minsk gầm rú như mọi bận. Thầy đứng tựa vào khung cửa liếp, hai tay đút túi áo khoác gió đã sờn màu cỏ úa, nhìn tôi gom mấy mẩu bút chì cụt. Mùi dầu luyn quen thuộc từ người thầy thoang thoảng bay vào lớp học ẩm thấp, lấn át cả mùi ẩm mốc của những bao thóc giống xếp ở góc tường.

“Xong việc chưa?” Thầy hỏi, giọng đều đều không lộ vẻ gì là còn giận hay đã nguôi ngoai.

Tôi giật thót, vội đứng nghiêm, hai tay bám chặt vào mép bàn nứa đã mòn nhẵn bóng:

“Dạ, em xong rồi ạ. Em... em về phụ bác dọn cỏ rẫy.”

“Ghé qua kho cũ nửa tiếng,” thầy Dũng ngắt lời, quay người bước đi trước mà không đợi tôi trả lời. “Thầy Khang bên phòng thiết bị trường xã mượn máy đánh máy bài giảng thực hành cho học sinh ngoại khóa nhưng bật lên chỉ thấy màn hình đen sì, quạt vẫn quay. Thầy ấy đem sang đây nhờ tôi ngó giùm. Cậu qua đó.”

Tim tôi nảy lên một nhịp hỗn loạn giữa sợ hãi và một niềm hy vọng mong manh. Tôi sợ mình lại chạm vào một thứ gì đó vượt quá sức rồi làm vỡ nát lòng tin vừa mới le lói; nhưng tôi cũng sợ nếu mình chối từ, cánh cửa duy nhất dẫn tôi đến với những dòng lệnh, những bảng vi mạch và thế giới máy tính sẽ vĩnh viễn đóng sập lại sau lưng. Nỗi ám ảnh về dòng chữ thông báo lỗi màu đỏ rực trên màn hình tối hôm trước lại hiện về, kéo theo nỗi nhục nhã khi thấy bàn tay mình run rẩy làm hỏng cả một buổi làm việc của người khác. Nhưng sâu thẳm trong ngực áo, nơi mẩu giấy cứng đang cọ vào da thịt, có một thứ gì đó bướng bỉnh trỗi dậy. Tôi muốn sửa sai. Tôi muốn chứng minh cho thầy thấy tôi không phải là một đứa trẻ chỉ biết táy máy làm liều.

Tôi bặm môi, ôm xấp giấy vào ngực rồi rảo bước chạy theo bóng lưng cao gầy của thầy qua khoảng sân đất đỏ quạnh sau trận mưa phùn.

Gió từ thung lũng Nà Ban thốc lên từng cơn buốt buốt, cuốn theo những đám lá trẩu khô xào xạc dưới gót chân. Thầy Dũng sải những bước dài dứt khoát, chiếc tẩu thuốc lào bằng gốc tre thò ra khỏi túi áo khoác gió đung đưa theo từng nhịp bước. Tôi phải vừa đi vừa chạy gằn từng bước ngắn mới theo kịp thầy. Đôi dép cao su mòn vẹt của tôi trượt liên tục trên những vũng bùn lầy, bùn đỏ bắn lên tận bắp chân trần tê cóng.

Căn kho nông cụ cũ nằm tách biệt ở cuối dãy nhà hiệu bộ, nép mình dưới rặng xoan rừng khẳng khiu rụng gần hết lá. Nơi này vốn là trạm cất giữ máy bơm và máy cày tay từ thời hợp tác xã, sau khi giải thể thì được tận dụng làm nơi cất giữ thiết bị hỏng của trường. Không khí bên trong vẫn sực nồng mùi phân lân ủ lâu ngày lẫn với mùi dầu máy và bụi ẩm. Ánh sáng le lói từ ô cửa kính vỡ trên mái fibro xi măng chỉ đủ soi rõ những mảng mạng nhện giăng kín trên các xà gồ rỉ sét.

Chiếc máy tính của thầy Khang được đặt trên chiếc bàn gỗ tạp kê sát góc tường, nơi mảng tường vôi đã tróc lở từng mảng lớn để lộ những viên gạch ba vanh xám xịt. Thầy Khang—một người đàn ông trạc tuổi ba mươi, mặc chiếc áo len cổ lọ sờn rách ở tay, mặt mũi đầy vẻ bồn chồn—đang đứng bóp trán bên cạnh. Dưới chân bàn, một đống dây nhợ bện chặt lấy nhau như rễ cây rừng, bám đầy bụi đất và vụn rơm khô.

“Dũng xem hộ tôi với, cái máy của trường xã điều về từ năm ngoái. Tôi đang soạn dở cái danh mục đồ dùng thí nghiệm để mai giao ban cụm, vừa nhấn lưu thì màn hình phụt tắt ngấm, chỉ nghe tiếng ù ù bên trong. Đừng bảo cháy ổ đĩa nhé, chết tôi đấy!” Thầy Khang sốt ruột phân bua, hai bàn tay đan vào nhau bẻ khớp răng rắc.

Thầy Dũng không bước lại gần chiếc máy. Thầy kéo một chiếc ghế đẩu gỗ mun bị mọt đục một góc, ngồi phịch xuống, khoanh tay trước ngực rồi hất hàm về phía tôi:

“Nam. Đứng lại đó.”

Tôi dừng chân cách bàn máy chừng hai bước, hai bàn tay nắm chặt gấu áo chàm lấm lem bùn đất nương rẫy. Tôi có thể nghe rõ tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực, át cả tiếng gió rít qua khe nứt trên mái tôn. Chiếc máy tính nằm im lìm trên mặt bàn bừa bãi giấy tờ, thùng máy màu trắng ngà đã ố vàng theo năm tháng, chiếc màn hình CRT lồi to sù sụ như một khối đá xám xịt câm lặng.

“Nhớ năm điều tối hôm nọ không?” Thầy Dũng nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng lạnh tanh như gió bấc luồn qua khe liếp.

“Em nhớ ạ,” tôi đáp lí nhí, nhưng lưng bất giác thẳng lên. Tôi hít một hơi sâu, luồng không khí ẩm lạnh làm buốt rát cuống họng nhưng giúp đầu óc tôi tỉnh táo lạ kỳ.

“Đọc lại điều một và điều hai.”

“Điều một: Hỏi trước khi làm. Điều hai: Kiểm tra kỹ hiện trạng dữ liệu.” Tôi đọc vanh vách, từng chữ rành rọt như khắc vào trí nhớ, bởi mỗi chữ ấy đều được đổi bằng một đêm thức trắng của cô Hạnh dưới ánh đèn dầu.

“Tốt. Bây giờ trước khi cậu đụng một đầu ngón tay vào cái công tắc nguồn hay vỏ sắt kia, đứng yên tại chỗ và trình bày cho thầy Khang nghe cậu định làm cái gì, theo thứ tự nào. Không được làm tắt, không được đoán mò. Tôi nghe thấy một bước nào nhảy cóc, tôi tống cậu ra khỏi kho ngay lập tức.”

Lời thầy Dũng dằn xuống khô khốc nhưng vững chãi như một cái khung giàn giáo giữ cho tôi không bị chao đảo trước nỗi sợ cố hữu. Tôi hít một hơi thật sâu, ngửi thấy mùi ẩm mốc của gian kho quen thuộc, rồi quay sang nhìn thầy Khang. Thầy Khang hơi ngỡ ngàng khi thấy một thằng bé mười tuổi, áo quần chắp vá cộc cỡn, lại được giao quyền xử lý đồ điện tử của cơ quan; ánh mắt thầy đầy vẻ hoài nghi lẫn bất an. Thầy nhìn tôi từ đầu đến chân, từ mái tóc bù xù bám đầy cỏ may đến bàn chân trần nứt nẻ vì giá rét, rồi ngước nhìn thầy Dũng như muốn hỏi xem liệu đây có phải là một trò đùa tai quái hay không. Nhưng trước vẻ mặt đanh thép của thầy Dũng, thầy Khang chỉ biết nuốt khan một cái rồi đứng dạt sang bên cạnh.

Tôi cố kìm cho giọng mình không run rẩy, đưa mắt nhìn lướt qua bàn phím bám bụi và chiếc màn hình đen ngòm:

“Thưa thầy Khang... trước khi kiểm tra máy, em xin hỏi thầy: lúc màn hình tắt ngấm, thầy đã kịp bấm tổ hợp phím lưu chưa ạ? Và cái tệp danh mục của thầy lưu ở ổ đĩa C hay ổ đĩa D, tên tệp là gì ạ?”

Thầy Khang chớp mắt, dường như không ngờ câu hỏi đầu tiên của tôi lại không phải về máy hỏng cái gì mà là về thứ dữ liệu nằm bên trong. Đôi mày rậm của thầy giãn ra đôi chút, vẻ sốt ruột nhường chỗ cho sự ngạc nhiên:

“Tôi... tôi vừa bấm Ctrl với phím S xong thì màn hình giật nhẹ một cái rồi tối om. Tệp ấy tôi để ngay màn hình chính ngoài chữ Desktop, tên là 'Thietbi2001.doc'. Trong máy còn toàn bộ mấy cái biên bản kiểm kê thư viện tôi làm từ đầu tháng nữa, chưa in ra được bản nào đâu đấy!”

“Vâng, em nắm rồi ạ,” tôi gật đầu, trong đầu lập tức rà soát lại nguyên tắc thứ hai. Mẩu giấy trong túi áo dường như lại ấm sực lên. “Bây giờ em sẽ không bật tắt nguồn liên tục để tránh sốc điện cho ổ cứng. Em sẽ kiểm tra từ đường dây cấp điện ngoài trước, sau đó mới kiểm tra cáp tín hiệu màn hình, rồi mới đến bên trong thùng máy.”

Tôi nhìn sang thầy Dũng. Thầy khẽ gật đầu một cái thật nhẹ, mắt vẫn không rời khỏi từng cử động của tôi. Ánh mắt ấy nghiêm khắc nhưng không còn vẻ bực bội của đêm hôm trước, mà như một chiếc thước đo vô hình đang cân đo từng milimet hành động của tôi.

Được phép, tôi mới cẩn trọng bước lại gần. Lần này, không còn sự sốt sắng muốn chứng tỏ bản thân như cái đêm bấm bừa phím chọn trên màn hình cài đặt của máy cô Hạnh. Từng đầu ngón tay tôi di chuyển chậm rãi, có phần rụt rè nhưng dứt khoát. Tôi nhớ rõ bài học xương máu: sự vội vàng trong nghề này luôn phải trả giá bằng mồ hôi hoặc nước mắt.

Tôi cúi rạp người xuống gầm bàn gỗ mục, nơi những búi dây điện giăng mắc như mạng nhện phủ đầy bụi bặm và mạng nhện. Mùi ẩm mốc xộc thẳng vào mũi, mặt đất lạnh buốt phả lên đầu gối trần khi tôi quỳ xuống nền gạch ba vanh lởm chởm. Tôi không vội giật dây hay cắm lại ổ cắm. Tôi dùng mắt quan sát: phích cắm ba chấu cắm vào ổ chuyển đổi bằng nhựa đen đã nứt một đường dài, lộ cả mẩu đồng han gỉ bên trong. Khi tôi khẽ chạm tay vào đầu dây nguồn dẫn lên màn hình chiếc CRT hiệu Daewoo, tôi nhận thấy giắc cắm lỏng lẻo đến mức chỉ cần một con chuột chạy qua va phải cũng đủ làm trượt tiếp xúc điện. Nhưng đèn tín hiệu trên thùng máy vẫn sáng một màu xanh le lói, và quạt thông gió phía sau vẫn rên rỉ từng hồi đều đặn.

Tôi ghé sát tai vào khe tản nhiệt phía sau thùng máy, lắng nghe thật kỹ. Âm thanh vo ve trầm đục của biến áp nguồn vẫn vang lên đều đặn, không có tiếng lẹt xẹt của hiện tượng đoản mạch, cũng không có mùi khét lẹt của nhựa thông bị cháy hay mùi ozone đặc trưng của tụ điện nổ.

“Thùng máy vẫn có điện vào, bo mạch chủ đang chạy,” tôi nói to từng bước theo yêu cầu của thầy Dũng, mắt vẫn không rời khỏi những đầu mối dây. “Quạt nguồn không có mùi khét, chứng tỏ chưa cháy biến áp. Hiện tượng này giống như màn hình bị mất nguồn nuôi đột ngột hoặc lỏng cáp truyền tín hiệu hình ảnh.”

Tôi quay lại nhìn thầy Dũng. Thầy khoanh tay gật đầu:

“Tiếp tục. Thao tác thế nào?”

“Em xin phép rút hẳn phích cắm tổng ra khỏi ổ để bảo đảm an toàn điện trước khi cắm chặt lại các đầu giắc.”

Tôi nắm chặt phần chuôi nhựa của phích cắm tổng, lựa chiều dứt khoát rút ra khỏi ổ cắm nứt nẻ. Tiếng quạt nguồn lịm dần rồi tắt hẳn, căn kho chìm vào sự im ắng chỉ còn tiếng gió rít qua mái tôn và tiếng thở phì phò sốt ruột của thầy Khang. Tôi cẩn thận dùng vạt áo chùi sạch lớp bụi bám trên chân cắm kim loại, cắm thật chặt lại đầu cáp VGA màu xanh lơ phía sau thùng máy, dùng hai ngón tay vặn chặt từng vòng hai con ốc cố định hai bên—thứ mà lần trước ở máy số hai tôi suýt nữa quên siết chặt khiến chân cắm bị lung lay.

Từng vòng ren kim loại khẽ siết lại dưới đầu ngón tay ráp ráp của tôi. Tôi kiểm tra độ rơ của cáp, thấy nó đã bám chặt vào khung kim loại của card đồ họa rời. Sau đó, tôi lần dọc theo sợi dây nguồn màu đen dẫn lên đằng sau màn hình Daewoo. Đầu giắc ba lỗ cắm vào đuôi đèn hình đã bị xộc xệch, tuột ra ngoài chừng nửa đốt ngón tay. Tôi ấn sâu đầu giắc vào khớp, dùng lực đều từ hai ngón cái cho đến khi nghe một tiếng “kịch” khô khốc báo hiệu chấu điện đã vào đúng ngàm tiếp xúc.

“Em đã cố định xong các kết nối bên ngoài. Bây giờ em xin phép cắm điện lại để kiểm tra.”

“Cắm đi,” thầy Dũng nói, giọng ngắn gọn.

Tôi cắm lại phích điện tổng vào ổ chuyển đổi, cẩn thận đặt ổ cắm lên một mẩu gạch khô ráo dưới gầm bàn để tránh ẩm ướt. Ổ cắm phát ra một tiếng xẹt điện nhỏ làm tim tôi thắt lại, nhưng tôi không lùi bước. Tôi đứng thẳng dậy, hít một hơi dài để trấn tĩnh. Tôi nhấn nút công tắc trên thùng máy trước, chờ đèn xanh sáng lên và tiếng đĩa cứng bắt đầu quay ro ro theo nhịp khởi động quen thuộc. Ba giây sau, khi dòng điện đã ổn định trên bo mạch, tôi với tay nhấn nút nguồn tròn nhỏ nằm ở góc dưới bên phải của chiếc màn hình Daewoo.

Một tiếng tách khử từ vang lên giòn giã kèm theo một tiếng rít tần số cao đặc trưng của cuộn cao áp màn hình CRT. Mặt kính phía trước kêu rè rè một thoáng khi tĩnh điện hút nhẹ vào lớp lông tơ trên mu bàn tay tôi. Đèn tín hiệu trên màn hình chuyển từ màu cam chập chờn sang màu xanh lục dịu mắt. Vài giây sau, những dòng chữ trắng tinh khôi trên nền đen của hệ thống BIOS hiện ra, chạy vun vút qua màn hình như những dòng suối nhỏ chảy xuôi sau cơn mưa rào.

“Award Modular BIOS v4.51PG...” “Memory Test: 65536K OK...”

Thầy Khang reo lên khe khẽ, chồm người tới, hai mắt mở to nhìn vào màn hình:

“Lên rồi! Lên rồi Dũng ơi!”

“Chưa xong đâu,” thầy Dũng gõ gõ ngón tay lên mặt bàn gỗ tạp, tiếng gõ đanh gọn kéo thầy Khang lùi lại một bước. “Đứng yên đó xem hệ điều hành có vào được không. Nam, quan sát tiếp.”

Tôi nín thở nhìn từng dòng lệnh tải thiết bị. Chiếc máy tính cũ kỹ khựng lại một thoáng ở màn hình khởi động Windows 98 với dải mây xanh lơ lửng và thanh trạng thái chạy ngang phía dưới đáy. Tiếng ổ đĩa đọc lách cách như tiếng chân chim sẻ nhảy trên mái rạ. Tôi nhớ lời dặn của thầy Dũng trong những buổi tháo lắp máy: tiếng lách cách đều đặn và êm là ổ đang đọc từng cung từ dữ liệu, không phải tiếng va đập khô khốc của đầu từ bị kẹt cơ học. Và rồi, sau vài giây nghẹt thở, giai điệu khởi động quen thuộc của hệ thống vang lên qua chiếc loa con rè rè gắn bên trong thùng máy.

Màn hình nền màu xanh ngọc hiện ra trọn vẹn. Trên góc trái màn hình, giữa một mớ hỗn độn những biểu tượng lối tắt, biểu tượng tệp tài liệu hình trang giấy có chữ W màu xanh mang tên “Thietbi2001.doc” vẫn nằm nguyên vẹn ở vị trí cũ.

Thầy Khang thở phào một hơi dài như vừa trút được cả tảng đá hộc đè trên ngực. Gương mặt căng thẳng của thầy giãn ra, ánh mắt tràn đầy sự nhẹ nhõm. Thầy vội vàng đưa tay chộp lấy con chuột bi bằng nhựa trắng đã ngả vàng, nhưng tôi nhanh nhảu nhưng lễ phép giơ tay chắn nhẹ trước mép bàn:

“Thầy Khang cho em xin một phút ạ. Để em mở thử tệp xem dữ liệu có bị lỗi phân mảnh lúc mất điện đột ngột không. Nếu tệp còn nguyên, em sẽ sao chép thêm một bản vào ổ D cho thầy để phòng khi máy lại tắt ngang.”

Thầy Khang ngẩn ra nhìn tôi, rồi nhìn sang thầy Dũng. Thầy Dũng không nói gì, nhưng khóe môi thầy hơi nhếch lên một tia cười rất kín, một tia cười hiếm hoi mà tôi chỉ thấy mỗi khi thầy lắp ráp thành công một bộ máy cũ từ đống rác điện tử.

“Được, cháu làm đi,” thầy Khang nói, giọng đã đổi từ cách xưng hô xa cách sang một vẻ nể nang thật sự.

Tôi cầm lấy con chuột bi. Trọng lượng của nó đầm tay, viên bi cao su bên trong lăn lạo xạo trên mặt bàn gỗ không có tấm lót. Tôi rê con trỏ chuột đến đúng biểu tượng tệp, ngón trỏ nhấp đúp hai lần thật chuẩn xác. Chiếc đồng hồ cát xoay tít trên màn hình. Trình soạn thảo Word 97 mở ra sau vài giây chờ đợi nặng nề. Toàn bộ bảng danh mục thiết bị thí nghiệm với những dòng kẻ thẳng tắp hiện ra đầy đủ: từ những chiếc ống nghiệm thủy tinh, giá để ống nhỏ giọt đến bộ cân tiểu ly của phòng hóa học... Từng con số, từng dấu chấm, dấu phẩy đều nguyên vẹn, không có hiện tượng bị mã hóa thành những ký tự rác hình ô vuông hay dấu hỏi chấm.

Thao tác tiếp theo của tôi diễn ra thuần thục theo thói quen mà những ngày tự học trong kho đã dạy tôi: tôi bấm tổ hợp phím Ctrl+S để lưu lại lần cuối, rồi mở cửa sổ My Computer, nhấp đúp vào biểu tượng ổ đĩa D. Tại đây, tôi bấm chuột phải vào khoảng trống, chọn New -> Folder, gõ thật nhanh dòng chữ không dấu “Ban_sao_luu” rồi sao chép tệp danh mục từ ngoài Desktop dán thẳng vào bên trong. Đó là thao tác chuẩn chỉ theo nguyên tắc thứ ba mà thầy Dũng đã bắt tôi ghi vào mảnh giấy xi măng: *Dữ liệu sống phải luôn có ít nhất một bản dự phòng ở phân vùng độc lập.*

Khi tôi buông tay khỏi con chuột và lùi lại một bước, trán tôi đã lấm tấm mồ hôi dù gió lùa qua vách kho lạnh buốt thấu xương. Hai bàn tay tôi hơi run lên, nhưng lần này là run lên vì một niềm nhẹ nhõm vô bờ.

Thầy Dũng đứng dậy, bước lại bàn máy. Đôi ủng cao su của thầy nện côm cốp trên nền gạch lở. Thầy không nhìn tôi mà kéo con chuột lại, lướt qua cây thư mục ổ D, kiểm tra dung lượng của tệp sao lưu, rồi nhấp vào nhật ký hệ thống để xem lỗi tắt máy trước đó. Thầy làm việc đó trong vòng hai phút, im lặng tuyệt đối, căn kho chỉ còn tiếng thở đều đều của ba người.

“Dây nguồn của ông Khang bị gãy lõi ngầm ở đoạn gần đầu cắm, lúc nãy lay nhẹ nó ăn khớp lại, nhưng rung lắc là lại mất điện tiếp,” thầy Dũng quay sang bảo thầy Khang, giọng nói lấy lại vẻ bình thản thường nhật. “Mai tôi bấm lại đầu dây khác cho. Tạm thời hôm nay làm việc thì đừng có thò chân đá vào gầm bàn. Thằng bé nó cứu cho ông một bàn thua trông thấy đấy, dữ liệu nó sao cả sang ổ phụ rồi.”

“May quá! Đúng là phúc tổ bảy đời!” Thầy Khang cười rạng rỡ, vỗ mạnh vào vai thầy Dũng rồi quay sang tôi. Ánh mắt thầy nhìn tôi lúc này không còn sót lại một chút hoài nghi nào, chỉ có sự kinh ngạc chân thành trước một đứa trẻ mặc áo rách nát, chân đất lấm lem mà xử lý công việc mạch lạc, cẩn trọng đến mức người lớn cũng phải thẹn thùng. “Cậu bé này khá thật đấy! Khéo sau này lại thành kỹ sư chứ chẳng chơi!”

Nói đoạn, thầy Khang thò tay vào túi chiếc quần âu sờn gối, lôi ra một chiếc ví da gấp mép đã mòn vẹt, các góc ví tước ra để lộ lớp vải lót màu xám. Thầy cẩn thận mở ngăn kéo khóa nhỏ bên trong, rút ra hai tờ tiền giấy màu xanh xám, miết phẳng mép giấy trên đùi rồi chìa về phía tôi.

Đó là hai tờ năm nghìn đồng. Mười nghìn đồng.

Tờ tiền giấy cotton đời cũ, in hình thủy điện Trị An với màu xanh xám trầm mặc. Những đường viền hoa văn sắc sảo, mùi giấy bạc cũ quyện với mùi mồ hôi và mùi thuốc lá toát ra từ bàn tay thầy Khang.

“Bác gửi cháu chút tiền mua bút mực, mua quyển vở mới mà học,” thầy Khang nói, giọng đầy ấm áp và trân trọng. “Cảm ơn cháu nhé. Không có cháu hôm nay thì mai tôi ăn đòn no với phòng giáo dục huyện. Công việc cơ quan mà làm mất sổ sách thì giải trình rách việc lắm.”

Tôi sững sờ nhìn hai tờ tiền giấy nằm gọn trong lòng bàn tay thô ráp của thầy Khang. Màu giấy bạc cũ kỹ, có nếp gấp đôi hằn sâu ở giữa, mép giấy hơi quăn lại vì mồ hôi.

Mười nghìn đồng.

Suốt từ thuở cha tôi mất, tôi chưa từng một lần cầm trên tay số tiền lớn đến thế do chính sức mình làm ra. Mười nghìn đồng ở bản Nà Ban có thể mua được gần hai bát gạo nếp nương, có thể mua được năm gói muối trắng, hoặc mua được hẳn hai quyển vở bãi bằng dày cộp với những dòng kẻ ô ly ngay ngắn mà tôi vẫn thèm thuồng nhìn qua khung cửa lớp của bọn học sinh khá giả dưới xóm ngoài.

Khi tôi gánh nước mướn từ mó nước chân núi về cho các nhà dưới bản, đôi thùng gỗ nặng trĩu đè nghiến lên đôi vai non nớt đến rớm máu, cái tôi nhận được chỉ là một củ khoai nướng sượng sùng hay một mẩu sắn luộc nguội ngắt. Khi tôi băm chuối nấu cám lợn đến toác cả ngón tay, nhựa chuối ngấm vào kẽ móng đen sì không tài nào cọ sạch, hay khi tôi vần những tảng đá hộc nặng trĩu bên bờ ta luy nương ngô Pha Luông của bác Lương đến mức rách cả lòng bàn tay, cái tôi nhận lại luôn chỉ là những bát cơm độn sắn nguội ngắt chan nước canh rau tàu bay lõng bõng, đi kèm với những lời đay nghiến về món nợ ma chay mua chịu quan tài của lão Thào. Bác Lương luôn nhắc nhở tôi về cái hòm gỗ dổi mà dòng họ phải đứng ra gánh vác khi bố tôi nằm xuống giữa một chiều mưa lũ. Sức lao động của tôi từ trước tới nay chỉ là một thứ công cụ để trừ nợ, để đổi lấy sự cưu mang đầy miễn cưỡng, bị đo đếm bằng ánh mắt khinh miệt và những trận đòn roi rát bỏng mỗi khi tôi lỡ tay làm rơi vỡ một chiếc bát sứt mép.

Chưa từng có ai trả tiền cho tôi. Chưa từng có ai nói rằng sự có mặt của tôi, khối óc của tôi, và đôi bàn tay nhỏ bé gầy guộc này làm ra được một thứ có giá trị ngang bằng với tiền bạc.

Tôi chôn chân tại chỗ, hai tay nắm chặt sau lưng, không dám đưa ra nhận. Đầu ngón chân tôi bấm chặt xuống nền đất lạnh buốt, cổ họng nghẹn ứ lại như có một nắm xôi nghẹn ngang:

“Thầy ơi... em... em chỉ làm theo lời thầy dặn thôi ạ. Em không dám lấy đâu.”

Thầy Dũng nhìn tôi, ánh mắt thầy qua làn khói thuốc lào bảng lảng bỗng dịu lại một cách lạ kỳ. Thầy không còn vẻ gay gắt, dữ dằn của người thợ già khó tính thường ngày. Thầy bước lại gần, đặt bàn tay to bè, ấm áp và chai sạn vì cầm mỏ hàn lên vai tôi, khẽ ấn nhẹ:

“Cầm lấy đi. Đó là tiền công của người làm thợ. Cậu làm đúng quy trình, cậu giữ được đồ của người ta, người ta trả công cho sự cẩn thận của cậu. Không phải của bố thí, không việc gì phải sợ.”

Bàn tay tôi run rẩy đưa ra phía trước. Khi những ngón tay khô ráp, trầy xước vì đá sỏi của tôi chạm vào mép tờ tiền giấy mười nghìn đồng, tôi cảm nhận được độ nhám của thớ giấy bãi bằng cũ, cảm nhận được hơi ấm sót lại từ túi áo của thầy Khang. Một cảm giác run rẩy chạy dọc từ sống lưng lên tận đỉnh đầu, lan tỏa ra từng chân tơ kẽ tóc. Nó không giống như cảm giác no bụng sau một bữa cơm hiếm hoi được ăn cơm trắng không độn sắn, cũng không giống như cảm giác hả hê khi trốn thoát được một trận đòn roi dưới hiên nhà. Đó là cảm giác lần đầu tiên tôi thấy mình là một con người có giá trị độc lập, một con người mà trí óc có thể làm ra thứ để nuôi sống chính mình, chứ không phải một cái miệng ăn thừa thãi sống bám vào lòng thương hại hay trách nhiệm họ tộc nặng nề.

“Em... cháu cảm ơn thầy Khang ạ,” tôi cúi đầu thật sâu, nói không ra hơi. Nước mắt chực trào ra nơi khóe mi nhưng tôi cố chớp mắt thật mạnh để nuốt ngược vào trong. Người làm thợ không được khóc trước mặt máy móc và khách hàng, tôi tự nhủ như vậy.

“Thôi, dọn dẹp rồi về đi kẻo trời tối hẳn, sương muối xuống đấy,” thầy Dũng phất tay, nhưng giọng thầy đã nhẹ nhõm hơn nhiều, có một chút gì đó khoan dung và ấm áp len lỏi trong cái lạnh buốt của buổi chiều tà. “Nhớ lấy cái cảm giác hôm nay. Làm thợ tử tế thì đồng tiền cầm vào tay nó mới ngay ngắn được.”

Tôi chào hai người lớn rồi bước ra khỏi căn kho cũ.

Bên ngoài, hoàng hôn vùng cao đã buông xuống tự lúc nào. Màn sương chiều đặc quánh từ trên đỉnh Pha Luông túa xuống như những dòng thác bạc, nhuộm tím sẫm cả thung lũng Nà Ban. Con đường mòn từ trường bản về nhà bác Lương dài gần bốn cây số, gập ghềnh đá tai mèo và trơn trượt bùn lầy sau những đợt mưa phùn rả rích. Những rặng tre bên đường cong rạp xuống vì sương đọng, từng giọt nước lạnh buốt thỉnh thoảng lại nhỏ tí tách lên vai áo chàm rách nát của tôi.

Tôi không dám cầm hai tờ tiền trên tay vì sợ gió rừng thổi bay mất. Tôi cẩn thận đứng nép vào một hốc đá bên đường, vuốt phẳng từng nếp gấp đã nhàu nhĩ, miết đi miết lại những mép giấy bị quăn cho đến khi chúng thẳng thớm trở lại. Tôi gập đôi hai tờ tiền lại một cách ngay ngắn nhất có thể, rồi nhét sâu vào tận đáy túi trong của chiếc áo chàm—ngay sát cạnh mẩu giấy ghi năm điều răn của thầy Dũng và cuốn vở chép thơ cũ của mẹ Mai. Cứ đi được vài bước, tay phải tôi lại đưa lên luồn vào trong ngực áo, áp chặt lòng bàn tay vào lớp vải để cảm nhận độ cộm của hai tờ tiền giấy mỏng mảnh ấy. Tờ tiền cọ vào ngực tôi ran rát, nhưng sự ran rát ấy mang lại một hơi ấm kỳ lạ, xua đi cái rét buốt căm căm đang luồn qua từng thớ vải rách ở vai áo.

Mười nghìn đồng.

Đầu óc tôi quay cuồng với những suy tính trên suốt quãng đường rừng mù mịt. Bàn chân trần đạp trên sỏi đá sắc nhọn dường như không còn thấy đau buốt nữa. Một nửa trong tôi muốn bước thật nhanh về đến khoảng sân đất trước nhà bác Lương, rút ngay tờ tiền ấy ra, đặt lên chiếc chõng tre trước mặt bác và bác dâu Sương. Tôi muốn nói với bác Lương rằng tôi không phải là kẻ chỉ biết ăn bám làm thâm hụt nồi cơm gia đình, rằng con chữ tôi học không phải là thứ vô dụng “không mài ra mà ăn được” như bác từng đay nghiến. Tôi muốn nhìn thấy ánh mắt ngỡ ngàng của anh họ Tùng, muốn dập tắt cái nụ cười khinh khỉnh mỗi bận anh ta đá đổ sọt sắn bắt tôi gánh thay qua những con dốc dựng đứng. Tôi muốn chứng minh rằng tôi có thể tự gánh vác phần cơm của mình, bằng chính những thứ tôi học được trong căn kho lạnh lẽo kia, bằng chính sự cẩn trọng mà thầy Dũng đã rèn giũa cho tôi.

Nhưng rồi, một ý nghĩ khác lại bóp nghẹt lấy lồng ngực tôi.

Nếu tôi nộp hết số tiền này, nó sẽ lập tức biến mất vào cái chum sành đựng gạo đã trơ đáy dưới bếp, hoặc bị bác Lương dằn túi để mua thêm vài lạng thuốc lào và trả bớt tiền phân bón nợ vụ trước. Rồi ngày mai, tôi lại trở về với hai bàn tay trắng trần trụi. Bốn trang giấy trắng cuối cùng trong cuốn vở của mẹ Mai đã sắp hết; tôi đã phải viết từng chữ O, từng phép tính li ti như hạt đỗ sát vào tận mép lề để tiết kiệm từng milimet giấy. Những dòng chữ chi chít chồng chéo lên nhau đến mức đôi khi chính tôi cũng khó lòng đọc lại dưới ánh đèn dầu leo lét. Nếu không có vở mới, những bài toán bồi dưỡng cô Hạnh giao, những dòng mã lệnh Pascal thầy Dũng cho mượn chép lại sẽ phải viết vào đâu? Chẳng lẽ lại viết lên đất, lên lá chuối khô rồi nhìn chúng biến mất sau một cơn mưa rừng?

Tôi muốn giữ lại một nửa. Chỉ năm nghìn thôi. Năm nghìn là đủ để tôi mua được một cuốn vở học sinh Bãi Bằng loại bìa mỏng và hai ngòi bút bi thay thế ở quán tạp hóa ngoài ngã ba đường cái. Tôi sẽ có giấy trắng tinh để chép sạch sẽ năm nguyên tắc của thầy Dũng, để ghi lại những cấu trúc vòng lặp “for... to... do...” mà đêm nào tôi cũng trằn trọc nhẩm đi nhẩm lại dưới ánh nến lắt lay. Có cuốn vở ấy, tôi mới có thể tiếp tục bước đi trên con đường mà thầy Dũng đã hé mở cho tôi.

Sự giằng xé giữa lòng tự trọng của một đứa trẻ muốn thoát khỏi kiếp ăn nhờ ở đậu và khát vọng sống còn của một kẻ khao khát con chữ cứ cào xé tâm can tôi theo từng bước chân đạp trên đá sỏi. Bàn tay tôi trong túi áo lúc siết chặt lấy tờ tiền, lúc lại buông lỏng ra, bối rối và hoang mang tột cùng. Tôi sợ bác Lương nổi trận lôi đình, sợ những trận đòn roi quen thuộc; nhưng tôi cũng sợ sự nghèo nàn tăm tối sẽ bóp nghẹt giấc mơ vừa mới nhen nhóm trong đầu.

Gần đến đầu dốc dẫn vào bản, bóng tối đã nuốt trọn những rặng tre gai. Mùi khói bếp ngai ngái mùi củi ướt quyện với mùi cám lợn nồng nặc lan tỏa trong không khí đặc quánh. Từ đằng xa, ánh lửa bập bùng từ gian bếp nhà bác Lương hắt qua khe liếp, in những vệt sáng vàng vọt, chập chờn lên khoảng sân đất lầy lội.

Tôi rón rén bước qua hàng rào dâm bụt, cố gắng không để tiếng đá lạo xạo dưới chân đánh động con trâu mộng trong chuồng. Con trâu khẽ thở phì một tiếng qua lỗ mũi, móng guốc gõ lộc cộc xuống nền đá ẩm. Nhưng vừa bước chân lên bậc tam cấp bằng đá hộc dẫn vào gian nhà chính, một giọng nói trầm đặc, khàn đục như tiếng cưa xẻ gỗ nghiến đã vang lên từ bóng tối sau cánh cửa liếp:

“Đi đâu giờ này mới vác mặt về?”

Tôi đứng sững lại, tim thót lên tận cổ họng, hai chân như chôn chặt xuống lớp rêu trơn trượt trên bậc đá.

Bác Lương đang ngồi xổm bên ngưỡng cửa, chiếc điếu cày kẹp giữa hai đầu gối khẳng khiu như hai cành củi khô. Trong ánh sáng leo lét của bếp lửa phía trong hắt ra, gương mặt khắc khổ, gồ ghề đầy những vết hằn sâu của bác chìm trong bóng tối, chỉ có đốm lửa đóm thuốc lào đỏ rực lên sau mỗi hơi rít dài rợn người. Tiếng rít điếu cày giòn tan rít lên từng hồi ghê rợn rồi tắt ngấm bằng một tiếng thở dài phì phào khói xám đặc quẹt mùi thuốc lá rẻ tiền.

“Dạ... thưa bác, em... cháu vừa ở trường bản về ạ,” tôi lí nhí, hai tay bất giác giấu ra sau lưng, nhưng rồi nhớ lại lời thầy Dũng về tư thế của một người làm thợ, tôi lại buông thõng tay xuống, cố đứng cho thật ngay ngắn dù hai đầu gối đang run lên bần bật.

Bác Lương nhổ một bãi nước đóm thuốc lào xuống rãnh nước trước hiên, tiếng nhổ toẹt khô khốc làm vỡ tan sự tĩnh mịch của đêm tối:

“Trường bản tan từ lúc mặt trời chưa lặn sau đỉnh núi. Mày la cà ở đâu? Nương ngô Pha Luông cỏ tranh nó mọc lút đầu người rồi kia kìa. Chuồng lợn thì réo đói từ chiều, chuối chưa băm, sọt sắn tao dặn đào về gọt phơi để đấy cho ai làm? Mày tưởng mày có chữ của cô giáo mày rồi thì mày được ngồi mát ăn bát vàng ở cái nhà này à?”

Từng lời bác buông ra nặng như những nhát búa nện vào không khí ẩm mót. Mùi thuốc lào khét lẹt quyện với mùi bùn đất nồng nặc phả thẳng vào mặt tôi, cay xè nơi khóe mắt. Tôi cắn chặt môi đến mức nếm được vị tanh mằn mặn của máu, hai bàn tay nắm chặt lại trong túi áo. Cạnh của tờ tiền giấy mười nghìn đồng lại cấn vào đầu ngón tay tôi, nóng rực như một hòn than nhỏ đang âm ỉ cháy.

“Cháu... cháu không la cà chơi bời đâu bác,” tôi nuốt nước bọt, cố giữ cho giọng mình không run rẩy, dù lồng ngực đang đập liên hồi như muốn vỡ tung ra. “Chiều nay thầy Dũng giữ cháu lại ở trường bản... có thầy bên trường xã sang nhờ xem cái máy tính bị hỏng. Thầy Dũng bảo cháu phụ một tay kiểm tra dây điện với cứu lại tài liệu bài giảng cho người ta.”

Bác Lương khựng lại một nhịp khi nghe tôi nhắc đến chiếc máy tính. Chiếc điếu cày trên tay bác khẽ hạ xuống nửa đốt ngón tay. Nhưng rồi ánh mắt bác nheo lại, đầy vẻ nghi ngờ và hằn học cố hữu, như thể bác không bao giờ tin một đứa con nít rách rưới lại có thể dính dáng đến những thứ xa xỉ của nhà nước:

“Máy móc gì cái loại mày? Mày mới nứt mắt ra, cơm không đủ no, vác cái cuốc còn chưa thẳng cán mà bày đặt máy với móc! Mày tính lừa tao để trốn việc rẫy hả?”

“Cháu không nói dối bác!” Tôi ngẩng đầu lên, ánh mắt tôi nhìn thẳng vào đốm lửa đỏ quạnh trên tay bác Lương, gom hết sự can đảm tích tụ từ lời khen của thầy Dũng ban chiều. “Cháu sửa được dây cắm với giữ lại được bài cho thầy giáo xã thật. Thầy ấy... thầy ấy có gửi cháu ít tiền công cảm ơn...”

Lời nói vừa buột ra khỏi miệng, không gian quanh hiên nhà bỗng chìm vào một sự im lặng kỳ quái đến nghẹt thở. Tiếng gió luồn qua khe liếp dường như cũng ngừng bặt, chỉ còn tiếng củi lép bép nổ trong bếp sâu hun hút. Tiếng dế rỉ rả dưới rãnh đá dường như cũng tắt bặt. Bác Lương dừng hẳn động tác gõ tàn thuốc vào ống điếu, bóng lưng gầy guộc của bác bất động giữa khoảng sáng tối chập chờn của ngọn lửa bếp.

Bác Lương từ từ đặt chiếc điếu cày tựa vào cột hiên. Bác đứng dậy, bóng người cao gầy, lòng khòng đổ ụp xuống phủ kín lấy tôi trong quầng sáng đỏ quạnh của bếp củi. Tiếng khớp xương chân bác kêu răn rắc theo từng cử động nặng nề. Ánh mắt bác xoáy thẳng vào ngực áo tôi, nơi bàn tay tôi vẫn đang thọc sâu vào túi.

“Tiền đâu?” Giọng bác khô khốc, bàn tay khẳng khiu đầy vết chai sạn xòe ra ngay trước ngực tôi. Những ngón tay bác cong queo, móng tay bám đầy đất đỏ nương rẫy, run rẩy trong một sự hối thúc tàn nhẫn. “Mày đưa đây. Chum gạo dưới bếp cạn trơ đến đáy rồi, tiền phân bón vụ ngô còn chưa biết bấu víu vào đâu. Từ ngày bố mày nhắm mắt xuôi tay, từng bát cơm mày và vào mồm, manh áo rách mày mặc trên người đều do cái nhà này bớt miệng nuôi nấng. Mày làm ra được đồng nào thì phải đập vào nồi cơm chung, không có thói kiếm được dăm hào bạc lẻ rồi tọc mạch cất riêng.”

Bàn tay tôi run lẩy bẩy thò vào túi ngực áo chàm. Những ngón tay tôi chạm vào bề mặt ráp của hai tờ tiền giấy. Trong một thoáng chốc, tim tôi như thắt lại. Tôi muốn buông xuôi, muốn đưa hết cả mười nghìn đồng để đổi lấy sự bình yên cho buổi tối hôm nay, để không phải nghe những lời đay nghiến về món nợ của người cha đã khuất. Nhưng rồi hình ảnh những trang giấy trắng cuối cùng của mẹ Mai lại hiện lên rõ mồn một. Tôi nhớ lại lời thầy Dũng: *Làm thợ tử tế thì đồng tiền cầm vào tay nó mới ngay ngắn được.* Đồng tiền này là mồ hôi, là trí óc, là sự cẩn trọng của tôi. Nó là chiếc phao cứu sinh duy nhất để tôi tiếp tục được học.

Tôi hít một hơi thật sâu, tách hai tờ năm nghìn đồng ra. Cầm trọn mười nghìn đồng trong tay, tôi chìa ra một tờ, ngón tay bấu chặt lấy tờ còn lại, cuống quýt ngẩng lên:

“Bác... bác cho cháu nộp năm nghìn vào tiền gạo... Cháu xin giữ lại năm nghìn để mua cuốn vở mới với ngòi bút bi. Bốn trang giấy trắng của mẹ để lại cháu viết kín cả rồi. Chiều nay cháu làm việc cẩn thận, cháu cũng muốn... dành một phần công sức mình làm ra để theo con chữ...”

Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi dám mở miệng đòi hỏi quyền được giữ lại một mẩu nhỏ từ sức lao động của chính mình cho việc học.

Nhưng câu nói vừa dứt, ánh mắt bác Lương đã quắc lên giận dữ. Bác giật phắt cả hai tờ tiền trên tay tôi, mặt đanh lại như một phiến đá mục:

“Mày bảo cái gì? Công sức của mày? Mày mới nứt mắt ra, kiếm được mẩu tiền còm đã tưởng mình đủ lông đủ cánh, muốn ngồi ngang hàng phân chia với người lớn à? Mày có quyền riêng ở cái nhà này từ bao giờ thế hả Nam? Mày tưởng có dăm ba chữ bẻ đôi là nuôi sống được cái thân xác mày chắc?”

Cơn thịnh nộ của bác dồn nén theo từng tiếng rít chát chúa qua kẽ răng vàng ố khói thuốc. Tôi cúi gập đầu xuống khoảng nền đất nện ẩm mốc, hai bờ vai run lên bần bật, mười đầu ngón tay bấm chặt vào gấu quần vải thô đến mức da thịt đau điếng. Tôi không dám cãi lại nửa lời, chỉ biết nuốt ngược nỗi uất nghẹn cay xè vào sâu tận cuống họng, nơi những lời thanh minh tội nghiệp cứ thế vỡ vụn ra thành từng mẩu đắng ngắt.

Đúng lúc ấy, tiếng bước chân lẹp xẹp của bác dâu Sương từ gian bếp mờ mịt khói củi bước ra. Bác Sương cầm chiếc muôi gỗ cáu bẩn gõ cành cạch vào thành cửa nứa, đôi mắt trũng sâu liếc xéo qua mấy tờ tiền nhàu nhĩ rồi nhìn thẳng vào vẻ mặt hầm hầm của chồng:

“Thôi, ông gầm rống làm cái gì cho xóm trên làng dưới người ta cười vào mũi. Có mười nghìn bạc lẻ mà làm như vớ được cả bọc vàng ròng không bằng.”

Bác Sương chìa tay giật lấy hai tờ bạc từ tay bác Lương, càu nhàu vuốt phẳng nếp gấp vào lòng bàn tay sần sùi. Nhưng khi toan nhét cả mớ tiền vào sâu trong túi chiếc tạp dề vá víu, bàn tay gầy gò của bác bỗng khựng lại một nhịp rất nhanh, như bị một gai nhọn vô hình nào đó chích phải. Bác rút lại tờ tiền năm nghìn đã sờn rách mép, vo tròn lại trong lòng bàn tay rồi ném thẳng xuống mặt chõng tre ọp ẹp ngay cạnh chỗ tôi đang đứng, giọng the thé đanh lại cốt để át đi sự ngượng ngập vụng về:

“Cầm lấy! Mua cuốn vở thì liệu mà chọn loại cho đàng hoàng, viết lách thì biết đường mà giữ gìn lấy từng góc giấy! Đừng có bôi bẩn bôi lem rồi dăm bữa nửa tháng lại vác cái mặt rầu rĩ đi xin thêm, cái nhà này không có của nả thừa mứa để cho mày hoang phí đâu!”

Bác Sương quay ngoắt vào bếp, buông thõng từng câu cộc cằn như thể việc trả lại tờ tiền chỉ nhằm mục đích chặn trước mọi cảnh tôi quấy rầy xin xỏ sau này. Bác Lương hừ một tiếng nặng trịch trong lồng ngực lép, không thèm mở miệng đôi co thêm lời nào nữa, lại ngồi thụp xuống bậc cửa đá nhồi tiếp một mồi thuốc lào sâu vào nõ điếu.

Ở góc buồng tối mù mịt, Lan đứng nép sau tấm liếp nứa rách, lặng lẽ chứng kiến trọn vẹn từng cử chỉ và lời qua tiếng lại. Tôi lủi thủi nhặt mẩu tiền năm nghìn nhăn nhúm, ôm chặt lấy nó trước ngực rồi lui dần về gian chái phụ lạnh buốt, nơi gió lùa qua từng kẽ vách hở hoác. Dưới ánh trăng suông nhợt nhạt rọi qua khe đá rỉ nước ẩm ướt, tôi run rẩy vuốt cho thật phẳng phiu tờ giấy bạc đã bạc màu, cẩn thận nhét nó vào nằm ngay ngắn giữa xấp tài liệu thuật toán của thầy Dũng và cuốn vở ô ly cũ kỹ mẹ Mai để lại. Lan bước khẽ khàng sang bên cạnh, nhìn tôi cất giấu tờ tiền lẻ mà nghẹn ngào không nói nên lời. Ánh mắt em trĩu nặng một nỗi xót xa câm lặng; em hiểu rằng món tiền công đầu tiên nhọc nhằn kiếm được chẳng hề mang lại cho tôi chút tự do nào, nó chỉ bóc trần một sự thật tàn nhẫn rằng con đường tự quyết số phận của tôi hãy còn xa xôi, mịt mùng biết bao nhiêu.

Sáng sớm hôm sau, sương muối phủ một lớp trắng xóa, buốt giá lên từng rặng mạ non và cành hoa ban bên bờ suối đá. Người đưa thư của xã cưỡi chiếc xe đạp cà tàng ghé qua đầu ngõ, trao tận tay bác Lương một phong bì gấp bằng giấy xi măng thô ráp, bên ngoài niêm phong cẩn thận bằng dấu mộc đỏ au—đó là giấy báo gửi đích danh từ chương trình hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt để dự tuyển vào trường phổ thông cấp hai trên huyện xa.

Nhưng bóng người đưa thư vừa khuất hẳn sau con dốc đồi đất đỏ quanh co, cánh cửa gỗ then cài nhà trên đã vội vã khép chặt lại kêu lên một tiếng cắc khô khốc. Tuyệt nhiên, trong suốt buổi sáng sương lạnh ấy, không một ai gọi tên tôi ra nhận.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn