Hoa Ban Không TànC.17 / 38
Chương 17

Chiếc máy cũ biết nói

Buổi chiều hôm sau, tôi ở lại trước dãy máy cũ ở trường bản, vừa háo hức vừa sợ hãi, bởi lần này thầy Dũng không chỉ cho tôi nhìn màn hình mà bảo tôi nghe xem một chiếc máy đang cố nói điều gì.

Mùa sương muối đã bắt đầu len lỏi qua từng kẽ vách nứa của gian kho chứa nông cụ cũ. Gió từ hẻm núi Pha Luông thốc qua những trảng lau khô xao xác, mang theo cái lạnh thấu buốt của đất trời vùng cao khi tháng mười chạm ngõ. Nắng quái chiều hôm rọi qua ô thông gió ghép bằng mấy thanh gỗ tạp đã mục ruỗng, vẽ thành những vệt sáng xiên khoai đầy bụi tro li ti lơ lửng giữa không trung. Sau khi tiếng kẻng tan học của thầy hiệu trưởng gióng lên ba hồi đanh gọn bằng chiếc vỏ bom rỗng treo dưới gốc cây sa mộc, lũ trẻ cùng bản đã ùa ra lối mòn. Tiếng cười đùa ríu rít, tiếng chân giẫm lẹp bẹp trên bùn non đuổi nhau xuống dốc suối để kịp về lùa trâu hoặc gùi rau lợn trước khi mặt trời lặn hẳn sau những rặng thông sừng sững.

Tôi nấn ná nấp sau bức tường đất trình dày cộp, giả vờ ngồi buộc lại mớ quai dép nhựa chắp vá bằng dây thép, nín thở đợi tiếng bước chân xao xác ngoài sân trường lịm hẳn vào màn sương đục. Khi khoảng sân đất nện chỉ còn lại tiếng lá dẻ gai xào xạc quét trên nền đá, tôi mới rón rén luồn tay vào bụng áo, nắn lại mấy mẩu bút chì cùn và mảnh vở rách mép đã cẩn thận giấu kín từ trưa, rồi lách mình qua cánh cửa kho hé mở.

Bên trong gian phòng nồng nặc một thứ mùi hăng hắc quen thuộc đến nghẹt thở. Đó là mùi bùn khô bám trên những lưỡi cày Han-vát nằm chỏng chơ nơi góc tường, quyện với mùi dầu nhớt bôi trơn dây xích máy tuốt lúa, mùi nhựa thông cháy dở khét lẹt từ mỏ hàn thiếc của thầy Dũng, và cả thứ mùi ẩm mốc ngai ngái của rêu phong bám dày trên lớp vách đất rỉ nước mùa đông. Năm cỗ máy tính nằm thành một dãy ngay ngắn trên hai chiếc bàn dài ghép bằng ván gỗ xẻ tạp—thứ gỗ rừng chưa khô kiệt hẳn nên mép bàn vẫn còn hơi cong vênh, để lộ những đường rãnh nứt sâu hoắm.

Chúng chẳng hề đồng nhất về hình dạng hay màu sắc. Có cỗ máy mang bộ vỏ sắt bọc lớp sơn trắng đã ngả sang màu vàng ệch như màu răng của người già hút thuốc lào lâu năm nơi xó bếp; có cỗ thì đen sì, nước sơn bong tróc từng mảng lớn, trầy xước nham nhở để lộ cả mảng kim loại hoen gỉ lấm tấm những nốt sùi màu nâu đỏ. Những thùng máy ấy là sản phẩm gom góp từ kho thanh lý của các phòng ban dưới huyện dồn về: một vài chiếc từ phòng tài chính bị hỏng nguồn, dăm ba bộ từ trạm thống kê bỏ xó vì chập mạch, được thầy Dũng xin lại từng món, chắp vá bằng những linh kiện gá tạm nhặt nhạnh khắp nơi. Thầy đã chở từng kiện hàng cồng kềnh ấy sau yên chiếc xe Minsk lọc cọc, vượt qua hơn hai mươi cây số đường đèo ngoằn ngoèo đầy đá hộc, sình lầy để cắm bản, mang con chữ phát sáng lên đỉnh non cao này.

Thầy Dũng cởi chiếc áo khoác gió màu cỏ úa đã sờn rách ở hai bên khuỷu tay, vắt cẩn thận lên lưng chiếc ghế gỗ tạp. Ống tay áo sơ mi kẻ sọc cũ kỹ của thầy đã xắn quá khuỷu, để lộ cẳng tay gân guốc đầy những vết sẹo mờ do dây đồng cứa phải và những vệt dầu máy đen nhánh bám chặt vào kẽ móng tay. Thầy với lấy tập giấy một mặt đã dùng rồi từ chiếc cặp giả da sờn khóa đặt trên góc bàn, ngón tay thoăn thoắt xé đôi một tờ giấy bãi bằng ngả ố, đưa cho tôi kèm theo một mẩu bút chì sáp xanh ngắn chỉ bằng đốt ngón tay:

“Cầm lấy. Hôm nay chưa vội gõ phím viết lách gì cả. Cậu làm cho tôi một việc trước đã: đi một lượt từ đầu bàn đến cuối bàn, nhìn cho kỹ, nghe cho thấu rồi ghi lại biểu hiện của từng máy. Đánh số từ một đến năm theo thứ tự từ ngoài cửa bước vào.”

Tôi đón lấy mảnh giấy bằng cả hai bàn tay thô ráp. Những ngón tay tôi vẫn còn dính vài vệt nhựa chuối khô chưa kịp kỳ cọ sau buổi sáng phụ bác dâu băm rau lợn bên hiên nhà. Tôi bối rối nhìn mẩu giấy trắng rồi lại ngước nhìn gương mặt nghiêm nghị của thầy Dũng, rụt rè hỏi:

“Ghi… ghi những gì hả thầy?”

Thầy Dũng mỉm cười, đôi mắt sau cặp kính cận gọng đồi mồi nheo lại ấm áp. Thầy thò tay vào túi quần rút bao thuốc lá Du Lịch đã bẹp một góc, gõ nhẹ vào đầu ngón tay cái định châm lửa, nhưng rồi sực nhớ ra gian kho có bình xăng xe máy phụ dựng ngay góc vách nứa nên thầy lại nhét bao thuốc trở vào túi áo:

“Ghi đúng những gì mắt cậu thấy, tai cậu nghe. Máy nào cắm điện bật công tắc mà im lìm, không lên nguồn? Máy nào đèn ở thùng sắt sáng mà quạt gió không kêu? Máy nào đèn sáng, quạt rú ầm ĩ nhưng màn hình tối đen? Hay có con nào vào được cái màn hình đen có chữ trắng chạy loằng ngoằng rồi đứng khựng lại một chỗ? Cứ quan sát cho thật kỹ. Đừng có đoán mò, thấy thế nào viết vào giấy y như thế.”

Tôi gật đầu thật mạnh, lồng ngực thắt lại một nhịp vừa căng thẳng vừa trịnh trọng. Suốt mấy năm trời sống ở nhà bác Lương, mỗi lần tôi được giao việc, bác chỉ quát gọn lỏn một câu từ bậc cửa: “Đi cuốc nương ngô!” hoặc “Gánh nước đổ đầy hai cái chum ngoài góc chuồng trâu mau!”. Đó là những mệnh lệnh cộc cằn, đòi hỏi sức lực của cơ bắp và xương khớp; tôi chỉ việc cắm mặt xuống đất mà làm cho xong buổi, không một ai cần tôi phải nhìn ngắm, phân vân hay phân biệt điều gì ngoài chuyện đất mềm hay sỏi cứng, nước trong hay nước đục.

Nhưng ở đây, giữa gian kho hẹp đầy những món đồ cơ khí lạ lùng này, thầy Dũng lại bảo tôi phải quan sát. Thầy coi đôi mắt của tôi có ích, coi sự lắng nghe và nhận biết của tôi là một phần việc đàng hoàng, có giá trị.

Tôi bước lại gần chiếc máy số một đặt ngay mép bàn sát cửa ra vào. Đây là cỗ máy mà hai hôm trước thầy Dũng đã mở cho tôi ngồi thử gõ chữ trên màn hình nền xanh biếc của phần mềm Pascal. Nút bấm tròn bằng nhựa ở mặt trước thùng máy đã lún sâu vào bên trong khung sắt, viền xung quanh bám đầy ghét đất của những ngón tay học trò người Mông, người Thái lần đầu run rẩy chạm vào công nghệ. Tôi cúi rạp người xuống, hai tay chắp ra sau lưng theo thói quen sợ sệt mỗi khi phải lại gần tủ trà bằng gỗ nghiến của bác Lương, rồi ghé sát tai vào mặt hông thùng máy bằng tôn mỏng.

“Cứ tự nhiên, ghé sát vào mà ngó,” thầy Dũng đứng tựa lưng vào mép bàn gỗ phía sau, giọng trầm đều cất lên như để gỡ bỏ sự rụt rè trong tôi. “Máy móc nó cũng như người ốm thôi. Không nói được bằng tiếng người thì nó rên rỉ qua tiếng quạt gió, nhấp nháy qua cái đèn bóng hạt đỗ. Cậu không chịu lắng nghe thì chẳng bao giờ bắt đúng bệnh của nó được đâu.”

Tôi nín thở, đưa ngón trỏ khẽ ấn vào nút nguồn tròn của chiếc máy số một. Một tiếng “cạch” khô khốc vang lên từ cơ cấu lò xo rỉ sét bên trong. Cả cỗ máy vẫn trơ trơ như một tảng đá cuội nằm dưới lòng suối mùa cạn. Không có tiếng rè rè khe khẽ của dòng điện chạy qua cuộn dây đồng, không có luồng gió ấm nào thổi ra từ khe tản nhiệt phía sau, và tuyệt nhiên không có một ánh đèn xanh đỏ nào lóe sáng. Tôi ghé tai sát hơn nữa vào khe sắt, nhưng chỉ nghe thấy tiếng gió rít qua khe nứa sau lưng và tiếng tim mình đang đập thùm thụp.

Tôi lùi lại nửa bước, đặt mảnh giấy bãi bằng lên đầu gối, cẩn thận dùng mẩu bút chì sáp xanh nắn nót viết từng chữ: *Máy 1: Không lên nguồn, im lìm hoàn toàn, không có đèn, không có tiếng quạt.*

Tôi chuyển bước sang cỗ máy số hai đặt ngay cạnh đó. Vừa ấn ngón tay vào công tắc hình chữ nhật trước ngực thùng máy, một tiếng “tách” vang lên kèm theo tiếng quạt gió quay rù rù. Nhưng tiếng quạt ấy nghe rất nặng nhọc, đùng đục và ngắt quãng, tựa như hơi thở khò khè của một người già mắc chứng hen suyễn giữa những đêm đông lạnh giá. Chiếc đèn led màu xanh lá ở góc trên thùng máy lập tức sáng bừng lên, một bóng đèn đỏ nhỏ hơn nằm cạnh nó chớp nháy liên hồi theo từng nhịp không đều.

Tuy nhiên, chiếc màn hình thủy tinh lồi to tướng trước mặt vẫn trơ trơ một màu xám đục. Bề mặt kính bám đầy bụi tro bếp, không hề có lấy một vệt sáng quét qua, cũng không phát ra tiếng khử từ tanh tách quen thuộc. Tôi kiên nhẫn đứng đợi chừng một phút, mắt không rời khỏi khoảng không đen ngòm sâu thẳm sau mặt kính, nhưng bóng tối vẫn ngự trị hoàn toàn trong lòng cỗ máy. Tôi tì giấy lên đùi, ghi tiếp: *Máy 2: Đèn thùng sắt sáng, quạt quay chậm và nặng, màn hình không có ánh sáng, mặt kính tối đen.*

Đến chiếc máy số ba, mọi chuyển động dường như thuận lợi hơn hẳn. Ngay khi nút bấm vừa nảy ra, đèn nguồn bật sáng rực rỡ một màu xanh ngọc. Tiếng quạt gió trong bộ nguồn rú lên một tràng giòn giã rồi chuyển dần sang tiếng rít đều đặn, êm ái. Trên mặt kính màn hình đen ngòm bỗng túa ra hàng loạt dòng chữ tiếng Anh màu trắng chạy vun vút từ dưới lên trên. Những con chữ nhảy múa nhanh đến mức mắt tôi chỉ kịp bắt gặp vài ký tự lướt qua như *Memory Test*, *Hard Disk*, *Checking…*.

Nhưng chỉ được chừng năm giây ngắn ngủi, một tiếng “bíp” chói tai và kéo dài vang lên từ tận đáy sâu của thùng sắt, nghe lạnh toát như tiếng còi báo động. Dòng chữ trắng lập tức khựng lại trước một dòng thông báo có dấu gạch ngang nhấp nháy liên tục, rồi cả màn hình đứng im phăng phắc như một dòng thác bị đóng băng giữa mùa đông biên giới. Tôi thử gõ nhẹ vào phím cách trên chiếc bàn phím đã ố vàng, nhưng cỗ máy vẫn câm bặt, con trỏ nhấp nháy đầy thách thức mà không hề suy chuyển. Tôi cẩn thận nắn nót ghi: *Máy 3: Đèn sáng, quạt êm, chạy được chữ trắng vài giây rồi kêu một tiếng bíp dài, đứng im không vào tiếp.*

Chiếc máy số bốn thì mang lại cho tôi một phen thót tim. Khi đầu ngón tay tôi vừa chạm vào nút bấm lỏng lẻo ở mặt trước, bóng đèn nguồn chỉ kịp chớp lóe lên một cái như đốm than tàn của que diêm trước gió rồi vụt tắt ngấm ngay lập tức. Cùng lúc đó, một tiếng “tạch” mảnh như tiếng móng tay bẻ đôi cành củi khô vang lên từ bên trong, kèm theo mùi khen khét thoang thoảng của lớp bụi bẩn bám trên dây dẫn bị hun nóng đột ngột.

Tôi giật bắn người, rụt phắt tay lại như vừa chạm phải đầu lưỡi con rắn lục, mặt cắt không còn hạt máu. Tôi sợ hãi liếc nhìn thầy Dũng vì lo sợ bàn tay vụng về của mình vừa làm nổ tung một thứ tài sản trị giá bằng cả mấy mùa ngô của bản. Nhưng thầy Dũng vẫn đứng yên tựa lưng vào mép bàn, hai tay khoanh trước ngực, khẽ gật đầu ra hiệu bằng ánh mắt bình thản:

“Cứ bình tĩnh ghi lại. Không có gì nổ đâu mà sợ. Thấy sao ghi vậy.”

Nuốt cục nghẹn nơi cổ họng xuống, tôi run rẩy viết: *Máy 4: Bấm nguồn đèn chỉ chớp một cái rồi tắt ngấm, nghe tiếng tạch nhỏ, có mùi khét nhẹ.*

Cuối cùng là cỗ máy số năm, cỗ máy nằm ở góc trong cùng tăm tối nhất của gian kho, ngay dưới chân xà gồ rêu phong. Vỏ thùng máy này bằng kim loại màu xám tro, một bên nắp đậy đã bị tháo mất từ bao giờ, để lộ ra những bó dây điện xanh đỏ vàng xoắn xuýt vào nhau như mớ rễ cây rừng bám vào vách đá. Khi tôi bật công tắc, tiếng quạt tản nhiệt của con chip bên trong kêu lạch cạch dữ dội, rung bần bật làm cả mặt bàn gỗ tạp cũng run rẩy theo từng hồi. Màn hình máy này có sáng lên một màu xám nhờ nhờ, nhưng trên mặt kính chỉ xuất hiện một dòng chữ đơn độc: *Disk Boot Failure, Insert System Disk And Press Enter*. Nó nằm trơ trọi giữa khoảng tối bao la, không chịu nhúc nhích dù quạt gió cứ gầm rú điên cuồng. Tôi ghi lại dòng chữ ấy vào cuối tờ giấy, nắn nót từng chữ cái tiếng Anh dù chẳng hiểu trọn vẹn nghĩa của chúng là gì.

Cứ như thế, tôi tỉ mẩn đi qua trọn vẹn năm cỗ máy, ghi kín một mặt tờ giấy bãi bằng bằng những nét chì sáp gầy guộc, xiêu vẹo nhưng ngay ngắn và rành mạch. Mỗi dòng chữ là một mảnh hiện trạng trần trụi của những phế tích công nghệ đang được thầy Dũng chắt chiu, gom nhặt về để thắp sáng một góc trời rẻo cao mù sương này.

Tôi bước lại gần thầy Dũng, hai tay nâng mảnh giấy dâng lên ngang ngực. Thầy đón lấy tờ giấy, đưa lên sát mắt để đọc dưới ánh sáng vàng vọt, tù mù của bóng đèn dây tóc bốn mươi oát treo lơ lửng bằng sợi dây dù trên trần kho. Đôi lông mày rậm rạp của người thầy giáo cắm bản khẽ nhíu lại thật sâu, rồi từ từ giãn ra. Trên khóe miệng đầy nếp nhăn vì sương gió của thầy đọng lại một tia hài lòng kín đáo mà ấm áp.

“Khá lắm. Mắt nhìn chuẩn đấy. Ghi chép rành mạch, không thừa một chữ mà không thiếu một chi tiết quan trọng nào,” thầy Dũng gấp đôi tờ giấy lại, vỗ nhẹ mép giấy vào lòng bàn tay chai sạn. “Hầu hết người ta khi thấy một cái máy không chạy là nhảy bổ vào vặn ốc, cạy nắp, bới tung ruột gan nó lên xem có cháy con tụ, đứt sợi dây nào bên trong không. Đó là cách làm của kẻ vụng về, nông nổi và nóng vội. Càng cuống cuồng tháo dỡ linh kiện khi chưa hiểu rõ triệu chứng, cậu càng dễ làm gãy những chân cắm đã giòn tan vì bụi bặm và độ ẩm thời gian, biến một cái lỗi nhỏ bằng hạt kê thành một đống phế liệu không thể cứu vãn.”

Thầy kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ pơ-mu cũ kỹ lại gần chiếc bàn máy tính, ngồi xuống đối diện tôi. Dưới luồng sáng ảm đạm của buổi hoàng hôn đang tắt dần ngoài ô cửa gió, khuôn mặt gầy gò của thầy hiện rõ những nét cương nghị, khắc khổ nhưng vô cùng điềm tĩnh.

“Người sửa giỏi không bao giờ bắt đầu bằng việc tháo tung mọi thứ,” thầy gõ ngón trỏ xuống mặt bàn gỗ, nhịp gõ đanh gọn như tiếng thước gỗ gõ trên bảng đen. “Quy tắc đầu tiên của nghề này: luôn kiểm tra từ những khả năng đơn giản nhất, hiển nhiên nhất ở bên ngoài. Cậu nhớ cho thật kỹ ba điểm này trong đầu: thứ nhất là dây nguồn có bị lỏng khỏi ổ cắm trên tường hay lỏng phích cắm vào đuôi thùng máy không; thứ hai là bản thân cái ổ điện kéo dài kia có chập chờn, rỉ sét hay mất điện ở các chân cắm đồng không; và thứ ba, là cái công tắc phụ bật-tắt nguồn nằm khuất phía sau lưng thùng máy đã được gạt sang nấc mở chưa. Chỉ khi nào cậu loại trừ hết những thứ vặt vãnh ấy mà máy vẫn trơ trơ, ta mới tính đến chuyện cầm cái tô-vít lên.”

Từng lời, từng chữ của thầy Dũng rơi vào tâm trí tôi như những giọt nước mưa mát lành thấm sâu vào mảnh đất đồi nứt nẻ sau những ngày nắng hạn. Ở bản Nà Ban này, tôi đã quá quen nhìn người lớn giải quyết mọi sự hỏng hóc bằng sự thô bạo và trút giận. Chiếc cày vướng phải đá ngầm gãy mũi, bác Lương tôi sẽ vác chiếc búa tạ nện huỳnh huỵch vào đe sắt cho hả cơn giận; con lợn lười ăn cám, người ta túm tai đổ cả nắm muối sống vào họng nó; còn khi một đứa trẻ mồ côi như tôi lỡ tay làm đổ thúng ngô giống ra sàn đất ẩm, câu trả lời nhận lại luôn là những cành củi dẻ gai quất túi bụi vào da thịt.

Chưa một ai từng dạy tôi rằng trước khi trút giận hay dùng đến sức mạnh bắp thịt, người ta cần phải bình tâm cúi xuống xem chiếc chốt nêm có bị xô lệch, sợi thừng buộc có bị lỏng mối, hay mắt bão có đang làm ẩm mốc hạt giống hay không. Sự cẩn trọng và kiên nhẫn mà thầy Dũng vừa nói mở ra trước mắt tôi một thế giới hoàn toàn khác—thế giới nơi lý trí ngự trị trên những cơn nóng giận mù quáng.

“Bây giờ,” thầy Dũng đứng dậy, chiếc bóng cao gầy của thầy đổ dài trên vách nứa. Thầy chỉ tay về phía chiếc máy số hai nằm ở giữa bàn. “Cậu lại chiếc kia đi. Nãy cậu ghi trong giấy là gì? Đèn thùng máy sáng, quạt gió quay nhưng màn hình tối đen, đúng không?”

“Vâng ạ,” tôi lí nhí đáp, bước chân vô thức chậm lại khi đến gần cỗ máy số hai.

“Lại đó, đứng ngắm nó trọn ba phút cho tôi. Đừng chạm tay vào bất cứ cái gì vội. Dùng hai con mắt của cậu mà soi từng sợi dây, từng cái góc tối phía sau nó.”

Tôi đứng im phăng phắc trước cỗ máy số hai, hai tay ép chặt vào mép quần chàm đã vá chằng vá đụp bằng những đường chỉ gai thô kệch. Lồng ngực tôi phập phồng theo từng nhịp thở ngập ngừng, sợ hãi.

Tôi ngước nhìn chiếc màn hình CRT hiệu Samsung to lớn và cồng kềnh như chiếc mai rùa khổng lồ gác trên mặt bàn. Bộ vỏ nhựa của nó đã ngả sang màu cháo lòng xỉn đục, mép trên góc phải có dán một mẩu băng dính cá nhân đã mốc meo đen sì để che đi một vết nứt dài chừng ngón tay. Thùng máy đặt dựng đứng bên cạnh, chiếc đèn led xanh nhỏ xíu ở mặt trước vẫn đang tỏa ra thứ ánh sáng yếu ớt, đều đặn. Bên trong thùng sắt, tiếng cánh quạt của bộ nguồn vẫn kêu ro ro, thỉnh thoảng lại rít lên một tiếng khẽ như có sợi dây đồng mảnh quệt vào cánh nhựa đang quay. Rõ ràng thùng máy đang sống, đang thở, dòng điện đang len lỏi qua từng linh kiện phức tạp trong lòng nó; nhưng chiếc màn hình trước mặt tôi lại giống như một đôi mắt nhắm nghiền vô hồn của pho tượng đá giữa rừng sâu.

Tôi không dám vội vàng đưa tay sờ vào bất cứ thứ gì. Thói quen run sợ ấy đã ăn sâu vào tủy sống của tôi suốt mấy năm trời sống dưới mái nhà của bác Lương và bác dâu Sương. Nhà bác tôi nghèo, nghèo đến mức chiếc bát ăn cơm sứt một miếng men cũng phải dùng tiếp qua bao mùa giáp hạt, chiếc liềm cắt cỏ cùn trơ mắt cá phải đem mài mỏng dính vào phiến đá suối chứ không có tiền mua lưỡi mới. Mỗi lần chạm vào đồ đạc trong nhà—từ chiếc đòn gánh tre già lên nước bóng loáng của bác Lương cho đến chiếc cối xay ngô bằng đá nặng trịch của bác Sương—tôi luôn phải nhìn trước ngó sau, rón rén từng đầu ngón tay.

Tôi biết rất rõ thân phận mình: một đứa mồ côi ăn nhờ ở đậu, không cha không mẹ, không một xu dính túi. Nếu tôi lỡ tay làm mẻ một chiếc đĩa sành hay đánh gãy một nan củi dẻ gai quý, không một ai trên cõi đời này có thể đứng ra che chở hay đền thay cho tôi. Tiền không có, thứ đem ra chuộc lỗi chỉ có thể là những trận đòn nát thịt bằng cán chổi đót, hoặc những bữa cơm chiều bị cắt phũ phàng, phải nằm co quắp ôm bụng đói cồn cào nghe tiếng gió rít qua khe liếp chái phụ suốt đêm đông dài dằng dặc.

Sự nghèo đói cùng cực và nỗi sợ hãi truyền đời ấy vô tình lại rèn cho tôi một đôi mắt quan sát tỉ mỉ đến cay nghiệt. Tôi cúi rạp người xuống ngang tầm mép bàn gỗ, đưa mắt dò theo từng đường đi của những sợi dây cao su đen ngoằn ngoèo phía sau lưng máy.

Tôi nhận ra có hai sợi dây lớn nối từ chiếc màn hình lồi cồng kềnh. Một sợi dây có phích cắm ba chấu màu đen chạy luồn xuống ổ điện dài đặt dưới chân bàn, sợi còn lại dày hơn, bọc một lớp nhựa đen sần sùi, chạy ngoằn ngoèo từ đít màn hình cắm sang một cổng nằm ngang ở lưng chừng thùng máy.

Thầy Dũng vẫn đứng khoanh tay bên cạnh, im lặng tuyệt đối. Thầy không hề gợi ý một lời, không thúc giục một câu, chỉ có ánh mắt chăm chú dõi theo từng cử động nhỏ của tôi.

Tôi khẽ nghiêng đầu sang một bên để nhìn sâu vào khe hẹp tối tăm giữa lưng thùng máy và vách tường gỗ. Ở chiếc đầu nối bằng nhựa màu xanh biển nối sợi cáp dày vào thùng máy—thứ mà sau này tôi mới biết người ta gọi là cổng VGA—có hai chiếc ốc vặn bằng nhựa dài ngoẵng ở hai bên mép. Nhưng lúc này, một bên ốc vặn đã tụt hẳn ra ngoài, lủng lẳng một cách lỏng lẻo. Cả cái đầu cắm màu xanh bị xô lệch nghiêng hẳn sang một bên, để lộ ra một khoảng hở nhỏ xíu chừng nửa đốt ngón tay, nhìn thấy cả những chân kim loại màu vàng đồng mờ mờ bên trong kẽ cắm.

Ký ức chiều hôm trước bỗng ùa về trong tâm trí tôi như một tia chớp. Tôi nhớ lại lúc cô Hạnh và thầy Dũng cùng nhau dọn dẹp gian kho để lấy chỗ kê thêm chiếc bàn học, hai người đã nắm lấy hai đầu mép bàn gỗ này để xê dịch nó lùi sâu vào góc tường chừng hai gang tay nhằm tránh mưa hắt qua khe vách nứa. Chắc chắn trong lúc cái bàn nặng trịch bị kéo lê trên nền đất mấp mô, sợi dây cáp ngắn cũn đã bị giằng mạnh bởi một góc lưỡi cày Han-vát nằm sát chân tường, khiến chiếc đầu cắm bị giật tuột ra một nửa mà không ai hay biết.

Tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Một tia hy vọng lóe lên rực rỡ, nhưng tôi vẫn cố kìm nén sự hấp tấp đang chực bùng lên. Tôi nhớ như in lời thầy Dũng vừa dặn: *phải kiểm tra cả nguồn điện của nó nữa.*

Mắt tôi lia sang chiếc nút bấm nhỏ nằm ở cạnh dưới mép màn hình Samsung. Nút tròn xoe bằng nhựa trắng, có ký hiệu một vòng tròn khuyết một nửa với nét gạch dọc ở giữa. Bên cạnh nút bấm là một lỗ đèn báo nhỏ li ti như hạt kê, nhưng lúc này lỗ đèn ấy tối thui, không có một vệt sáng nào báo hiệu dòng điện đang chạy qua. Tôi lần theo sợi dây nguồn của màn hình xuống chiếc ổ cắm dài bằng nhựa trắng đục đặt dưới chân bàn. Chiếc phích cắm hai chân dẹt cắm vào ổ nhựa nhưng bị lỏng chân, hơi xộc xệch và nghiêng ngả, chỉ cần một cái gạt nhẹ của gót chân người đi qua là có thể rơi tuột ra ngoài nền đất nện.

Tôi ngước mắt nhìn lên thầy Dũng, ngập ngừng cất tiếng, giọng run run vì hồi hộp:

“Thầy ơi… em thấy cái đầu cắm màu xanh ở sau lưng thùng máy bị xéo một bên. Nó tụt ra ngoài một nửa rồi ạ. Còn cái phích cắm điện dưới chân bàn hình như cũng bị lỏng chân, cái đèn ở góc dưới màn hình không thấy sáng.”

Đôi mắt thầy Dũng sáng lên một tia nhìn sắc sảo. Thầy khẽ nhếch mép, gật đầu dứt khoát:

“Được. Nhìn ra được đến thế là giỏi. Giờ làm đi, xem phán đoán của cậu có làm cho nó sống lại được không. Nhớ thao tác nhẹ tay thôi, chân cắm bằng đồng trong cái đầu xanh đó mỏng và mảnh như râu gián, cậu mà đè mạnh tay làm cong chân cắm là coi như vứt cả sợi dây đấy.”

Được thầy cho phép, tôi hít một hơi thật sâu lồng ngực đầy mùi thiếc hàn và sương lạnh để giữ cho các đầu ngón tay khỏi run rẩy. Tôi quỳ một chân xuống nền đất nện ẩm ướt của gian kho, nhẹ nhàng đưa hai ngón tay luồn xuống dưới gầm bàn tối tăm, đón lấy chiếc phích cắm nguồn của màn hình. Tôi ấn thẳng, dứt khoát phích cắm ngập sâu vào chân đồng của ổ điện kéo dài. Ngay tức khắc, một tiếng “tách” rất nhỏ vang lên ở chiếc rơ-le bên trong, và chiếc đèn hạt đỗ ở góc dưới màn hình chớp sáng lên một tia màu vàng cam le lói.

Có điện vào màn hình rồi! Lòng tôi reo lên một tiếng thầm kín đầy hân hoan.

Tiếp đó, tôi đứng dậy, rướn người qua mặt bàn gỗ, hai bàn tay thận trọng luồn ra phía sau lưng thùng máy. Bụi sắt và mạng nhện bám vào mu bàn tay tôi ram ráp. Tôi không dám giật mạnh, mà dùng ngón trỏ và ngón cái của cả hai tay kẹp lấy hai bên gờ nhựa của chiếc đầu cắm màu xanh. Tôi lựa theo chiều thẳng đứng của khe cắm, từ từ đẩy nhẹ nó vào sâu bên trong ổ đỡ.

Một cảm giác khấc nhẹ truyền qua đầu ngón tay—cái cảm giác ăn khớp chuẩn xác của kim loại với kim loại, ngọt ngào và êm ái như khi hai thanh ngàm của chiếc bẫy chuột bằng tre sập vào đúng rãnh cài. Tôi cẩn thận dùng ngón tay vặn xoay chiếc ốc nhựa dài theo chiều kim đồng hồ, siết nhẹ từng vòng cho đến khi nó giữ chặt lấy vỏ sắt của thùng máy, không còn rung rinh hay xộc xệch dù chỉ một ly.

Làm xong hai việc ấy, tôi rụt tay lại, lùi ra sau một bước, nín thở nhìn chằm chằm vào mặt kính lồi của chiếc màn hình Samsung.

Một giây. Hai giây. Ba giây trôi qua. Gian kho dường như im ắng đến mức tôi có thể nghe rõ cả tiếng con mọt đang nghiến rào rạo trong thanh xà gồ gỗ thông trên mái nứa.

Bất thình lình, từ trong lòng chiếc màn hình phát ra một tiếng “tạch… è è…” đanh gọn và trầm ấm—tiếng cuộn dây khử từ phóng điện quen thuộc của những cỗ máy thời kỳ ấy. Ngay sau âm thanh kỳ diệu đó, một vệt sáng trắng quét ngang qua mặt kính lồi tối tăm, làm bừng sáng cả một khoảng không gian chật hẹp đầy bụi bặm. Rồi vệt sáng bung nở ra thành một vùng xanh thẫm êm dịu, trên đó hiện lên những dòng chữ trắng tinh khôi của màn hình khởi động hệ điều hành Windows 98, cùng một thanh trạng thái nhỏ xíu chạy đều từng vạch ngang xanh biếc ở cạnh dưới.

Luồng ánh sáng xanh biếc từ màn hình hắt thẳng vào khuôn mặt gầy guộc, hốc hác của tôi, in bóng hai con ngươi đang giãn to hết cỡ vì kinh ngạc và choáng ngợp.

Cỗ máy đã sống lại. Nó không còn là một khối sắt vụn câm lặng, mù lòa nằm phơi bụi bên góc cày mục nát nữa. Nó đang thở, đang hiển thị, đang đón nhận thế giới xung quanh qua sự kết nối vừa được hàn gắn lại bằng chính đôi bàn tay gầy gò của tôi.

Một luồng hơi ấm cực mạnh xông thẳng từ lồng ngực lên sống mũi, làm mắt tôi cay xè. Đó chỉ là một lỗi vô cùng đơn giản, một cái lỏng dây tầm thường mà bất cứ đứa trẻ con nhà khá giả nào dưới xuôi có máy tính ở nhà cũng có thể tự tay xử lý trong vài cái chớp mắt. Nhưng với tôi—một đứa trẻ mồ côi từ năm lên năm, lớn lên giữa thung lũng đá xám Nà Ban, quen với việc coi mọi đồ vật sắt thép sáng loáng là thứ bổng lộc xa vời của nhà giàu, quen với việc nghĩ rằng hễ một thứ gì hỏng hóc thì số phận nó coi như đã an bài dưới đòn roi và sự nguyền rủa—khoảnh khắc này là một phép màu đích thực.

Lần đầu tiên trong đời, tôi không phải dùng sức mạnh cơ bắp của đôi chân gánh nước rách da hay đôi bàn tay băm chuối tứa máu để tạo ra một giá trị được công nhận. Lần đầu tiên, tôi dùng điều mình vừa học được, dùng sự quan sát cẩn trọng, logic và những lời dặn dò của người thầy để khiến một vật vô tri tưởng chừng đã chết phục sinh trở lại. Thế giới trật tự của máy móc đã đáp lại tôi một cách sòng phẳng, chính xác đến từng chân tơ kẽ tóc, không thiên vị, không rẻ rúng xuất thân nghèo hèn của tôi.

Tôi quay ngoắt lại nhìn thầy Dũng, môi run run, hai bàn tay siết chặt lấy gấu áo chàm rách mép, muốn thốt lên một câu gì đó mà cổ họng nghẹn ứ lại trong niềm sung sướng tột cùng.

Thầy Dũng nhìn tôi, ánh mắt nheo lại sau gọng kính cũ. Khóe miệng thầy thoáng hiện một nét cười độ lượng, nhưng cái gật đầu của thầy dứt khoát và khô ráo chứ không hề vồ vập tâng bốc. Thầy bước lại gần, vỗ một cái thật mạnh lên vai tôi—cái vỗ làm bờ vai còi cọc của tôi hơi chùng xuống nhưng lại truyền sang một sự vững chãi lạ lùng:

“Khá lắm. Cậu biết dừng lại để nhìn, không nhảy chồm chồm vào mà vặn ốc hay đập thình thình vào vỏ sắt như mấy đứa hiếu động ngoài kia. Giữ được cái đầu nguội trước đồ điện là đã hơn khối người rồi.”

Ngực tôi phồng lên, một cảm giác hãnh diện non dại vừa chớm nở như bông cỏ may gặp gió ấm đầu mùa. Nhưng thầy Dũng không để đốm lửa tự đắc ấy kịp bùng to. Thầy thu tay lại, khoanh trước ngực, giọng chùng xuống đanh gọn và nghiêm nghị:

“Nhưng nhớ cho kỹ lấy lời tôi: một lần cậu đoán trúng không có nghĩa là cậu đã thành thợ. Tuyệt đối không bao giờ được phép mang cái may mắn của ngày hôm nay sang áp đặt cho ngày mai. Lần này nó chỉ lỏng chân cắm ngoài vỏ, lần sau có thể là đứt mạch ngầm, chập tụ, hoặc chết chip bên trong. Nếu cậu cứ ỷ vào một lần đoán đúng rồi vội vàng phán bừa, đoán mò ở những ca sau, cậu không chỉ giết chết chiếc máy mà còn tự biến mình thành kẻ bốc phét, vô trách nhiệm. Làm kỹ thuật mà đoán mò thì sớm muộn cũng chuốc lấy họa vào thân.”

Gáo nước lạnh của thầy tưới thẳng vào mặt làm tôi bừng tỉnh. Đốm kiêu hãnh vừa le lói trong lòng tôi lập tức co cụm lại thành sự kính cẩn. Tôi cụp mắt nhìn xuống mũi chân dính bùn, lí nhí đáp:

“Vâng ạ, em nhớ rồi. Em không dám đoán ẩu đâu thầy.”

“Biết thế là tốt,” thầy Dũng quay sang góc bàn, với lấy một cuộn băng dính giấy đã ngả vàng cùng một cây bút dạ ngòi to màu đen. Thầy xé một mẩu băng dính dài chừng nửa gang tay, dán phẳng phiu lên góc trên bên phải của nắp thùng máy số hai, rồi chìa cây bút dạ sang cho tôi. “Giờ lấy bút ghi vào đây. Ghi rõ ràng: ngày hôm nay, hiện tượng máy bị làm sao, nguyên nhân do đâu và đã xử lý bằng cách nào.”

Tôi ngơ ngác nhìn cây bút dạ rồi nhìn mẩu băng dính trắng dán trên vỏ sắt, ngập ngừng chưa dám nhận:

“Thầy ơi… máy nó chạy được rồi, em với thầy đều nhìn thấy rõ, sao còn phải ghi lên làm gì nữa ạ?”

“Để người khác kiểm tra lại, và để chính cậu sau này không cãi cùn,” thầy Dũng nghiêm giọng giải thích. “Làm việc với máy móc không thể chỉ dựa vào một lời nói gió bay kiểu ‘tôi sửa xong rồi đấy’. Người đến sau mở máy ra, nhìn vào dòng chữ này sẽ biết chiếc máy từng bị bệnh gì, ai đã động vào nó, làm cái gì với nó. Cậu phải để lại dấu vết rõ ràng, minh bạch để người ta đối chứng, kiểm tra lại quy trình của cậu thay vì bắt họ phải nhắm mắt tin vào cái miệng của cậu. Sự trung thực của người làm kỹ thuật bắt đầu từ cái nhãn ghi lại sự thật này đấy.”

Bài học ấy cắm sâu vào tâm trí tôi như một nhát đinh đóng chặt vào thớ gỗ nghiến. Tôi run run đón lấy cây bút dạ, kê đầu gối tì tay, cẩn thận nắn nót viết từng chữ in hoa lên dải băng dính: *NGÀY 12/10 - MÁY 2: MÀN HÌNH TỐI DO LỎNG CÁP TÍN HIỆU VGA VÀ LỎNG PHÍCH NGUỒN MÀN HÌNH - ĐÃ CẮM CHẶT LẠI, MÁY HOẠT ĐỘNG BÌNH THƯỜNG - NGƯỜI LÀM: NGUYỄN VĂN NAM.*

Từng nét mực đen đậm in hằn lên nền giấy ráp. Nhìn tên mình nằm ngay ngắn trên vỏ thùng máy bên cạnh những dòng mô tả lỗi chuẩn xác, tôi cảm thấy một cảm giác trang nghiêm chưa từng có trong đời. Đó không phải là nét chữ tôi lén lút vạch bằng than củi trên giấy gói thuốc lào của Lan, cũng không phải bốn trang giấy trắng tôi phải nơm nớp giấu dưới giát chõng tre vì sợ bác Lương bắt gặp quẳng vào bếp lửa. Đây là một chứng thực đàng hoàng, một vết tích lao động trí tuệ công khai mà không một ai có thể tùy tiện phủ nhận hay xé bỏ.

Thầy Dũng nhìn dòng chữ tôi vừa viết, gật đầu vẻ vừa ý. Thầy với tay tắt công tắc chiếc máy số hai, dọn lại đống tuốc-nơ-vít trên bàn rồi bước lại gần cánh cửa kho, ngó nghiêng ra khoảng sân trường đã vắng tanh không một bóng người. Khi chắc chắn chỉ còn tiếng gió xào xạc trên những tán dẻ gai ven đồi, thầy khép hờ cánh cửa gỗ mục, quay lại ghé sát tai tôi, hạ giọng thì thầm:

“Nghe này, Nam. Mỗi tuần tôi chỉ cắm bản dạy học hai buổi, nhưng chiếc chìa khóa gian kho này tôi gửi chỗ bác bảo vệ trường. Có vài buổi tối trong tuần điểm học tạm này không có lớp, đèn đóm vẫn có thể bật nhờ đường điện trường bản kéo từ máy phát thủy điện nhỏ ngoài suối. Nếu hôm nào làm xong việc nhà sớm, cậu có thể lén vào đây, mở chiếc máy số một hoặc số hai này lên mà luyện gõ chữ, đọc mấy cuốn sách hướng dẫn hệ điều hành tôi để trong ngăn kéo dưới bàn.”

Tim tôi thắt lại, đập dồn dập sau lồng ngực gầy guộc. Cơ hội ấy lớn đến mức làm tôi choáng váng. Nhưng giọng thầy Dũng lập tức chùng xuống, răn đe bằng một vẻ nghiêm nghị tột cùng:

“Đây là tôi tạo điều kiện riêng cho cậu, là sự linh động hoàn toàn trái với quy chế bàn giao tài sản của Phòng Giáo dục dưới huyện. Nếu để lộ ra ngoài, người ta quy cho tôi tội thiếu trách nhiệm, để trẻ con nghịch hỏng tài sản nhà nước thì tôi mất việc, mà phòng máy này cũng bị niêm phong khóa chặt ngay lập tức. Vì thế, cậu phải giữ kín như bưng trong bụng. Tuyệt đối không được rủ rê thêm bất kỳ ai, dù là con bé Lan hay bạn bè cùng xóm. Vào đây chỉ được đọc sách, luyện gõ, không được tự ý cắm rút, táy máy tháo dỡ linh kiện hay nghịch ngợm thứ gì ngoài phạm vi tôi cho phép. Cậu mà làm sai một ly, không chỉ đời cậu hết cửa chạm vào máy tính, mà tôi cũng gánh vạ lây. Hiểu rõ chưa?”

“Em hiểu rồi ạ! Em thề với thầy, em chỉ vào học chữ, học gõ phím thôi, em không bao giờ nói cho ai biết đâu!” Tôi vội vàng chắp hai tay lại trước ngực, đáp bằng tất cả sự chân thành và sợ hãi của một đứa trẻ vừa nhận được một báu vật mong manh.

Khi tôi rời khỏi trường bản, ráng chiều màu đỏ quạch như máu đã lịm dần sau dãy núi Pha Luông hùng vĩ. Màn sương muối đặc quánh bắt đầu túa ra từ những khe đá, buốt lạnh và ẩm ướt, táp từng đợt rát rạt vào đôi gò má nứt nẻ của tôi. Tôi cắm đầu bước thoăn thoắt trên con đường mòn lởm chởm đá tai mèo dẫn về bản Nà Ban. Nước suối ngập qua mắt cá chân buốt đến tận tủy, nhưng lồng ngực tôi lại như đang có than hồng sưởi ấm.

Trong đầu tôi, những phép tính bắt đầu nhảy múa theo từng nhịp bước chân. Tôi nhớ lại cảm giác khi hai chân kim loại của sợi cáp khấc vào đúng khớp, nhớ khoảnh khắc luồng sáng trắng bừng lên trên mặt kính chiếc máy tính cũ. Một chiếc máy im lìm tưởng như đồ bỏ đi, hóa ra đôi khi chỉ vì một sợi dây bị tuột, một chiếc ốc vặn chưa chặt. Nếu tôi chịu khó học, nếu tôi hiểu được hết từng sợi dây dẫn, từng con ốc vít và những mạch điện li ti kia, thì một ngày nào đó, liệu tôi có thể sửa máy tính cho người ta không?

Ở ngoài phố huyện hay tít tận dưới thị xã, người ta dùng nhiều máy tính lắm, chắc chắn sẽ có lúc máy của họ bị hỏng hóc, bị lỏng dây như chiều nay. Nếu tôi sửa được cho họ một chiếc máy, người ta có trả cho tôi vài nghìn đồng tiền công không? Chỉ cần một khoản tiền nhỏ thôi—mười lăm nghìn đồng để nộp lệ phí thi học sinh giỏi Toán cấp huyện mà cô Hạnh từng đau đáu nhắc tới, hay hai mươi lăm nghìn để mua cuốn sách bài tập bìa bóng có in sẵn hình vẽ mà tôi hằng ao ước. Nếu tự tay làm ra được số tiền ấy, tôi sẽ không phải quỳ xuống bậu cửa van xin bác Lương, không phải cắn răng nuốt những lời đay nghiến về món nợ ma chay của cha mẹ, và cũng không phải nhìn bác dâu Sương giằng xé bất lực bên chum gạo đã cạn trơ đáy.

Con đường phía trước bỗng không còn là những triền nương ngô mù mịt sương gai nữa, mà lấp lánh những viễn cảnh tươi sáng dẫu còn xa vời vợi.

Vừa bước qua khỏi bờ rào đá râm bụt dẫn vào cổng trường bản để lấy lối tắt về ngõ sau nhà bác, tôi bỗng nghe tiếng bước chân huỳnh huỵch đuổi theo sau lưng. Tiếng thầy Dũng gọi giật giọng:

“Nam! Quay lại đây tôi bảo cái này đã!”

Tôi giật thót mình, vội vàng quay phắt lại. Thầy Dũng chạy đuổi theo tôi, chiếc áo khoác gió sột soạt, hơi thở phả ra từng luồng khói trắng giữa trời chiều buốt giá. Thầy dừng lại trước mặt tôi, chống hai tay lên đầu gối thở dốc một nhịp rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi, vẻ mặt vừa nghiêm trang vừa mang một sự thăm dò đầy cân nhắc:

“Vừa nãy có cô giáo dạy Văn bên trường chính ngoài xã ghé qua nhờ tôi. Chiếc máy vi tính cũ của cô ấy dùng để soạn giáo án và in đề kiểm tra bị lỗi phần mềm, bấm vào chữ nó cứ trơ ra không nhận lệnh, cả tuần nay không gõ được bài. Tối mai tôi phải chạy xe xuống bản dưới xem cho cô ấy. Tôi đang tính… cậu có dám theo tôi đến tận nơi, đứng cạnh nhìn tôi làm việc thật không? Không phải máy tập ở kho này nữa đâu, mà là máy đang dùng của người ta đấy.”

Lời đề nghị của thầy Dũng rơi xuống tai tôi như một tiếng sấm giòn tan giữa ngày đông bảng lảng. Tim tôi đập thình thịch, đôi bàn tay giấu trong túi áo chàm siết chặt lấy nhau, nửa khao khát muốn gật đầu ngay tắp lự, nửa run rẩy trước một thế giới thực tế đầy bất trắc và trách nhiệm mà tôi chưa từng bước chân vào.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn