Hoa Ban Không TànC.15 / 38
Chương 15

Cánh cửa phòng máy

Cánh cửa của góc phòng máy tạm ở trường bản kêu lên một tiếng khô như gỗ mục, và tôi đứng ở ngưỡng rất lâu vì sợ mình làm bẩn nơi có những chiếc máy sáng màn hình.

Mép cửa bằng gỗ dán ép đã bong tróc từng mảng lớn sau bao mùa sương muối tràn qua thung lũng Bản Nà Ban. Gió đông thốc qua khe hở dưới chân cửa, cuốn theo những vụn lá khô giòn rụm từ gốc dẻ già ngoài sân, lùa thẳng vào mắt cá chân tôi cái lạnh thấu xương của vùng cao. Tôi đứng chôn chân trên bậu cửa xi măng đã mòn vẹt mép, đôi chân xỏ trong đôi dép nhựa Tiền Phong thủng gót dính bết đất đỏ nương rẫy, hai bàn tay giấu kín sau vạt áo bông cũ trần trám—chiếc áo mà bác dâu Sương từng cắn răng nhồi thêm vài nắm bông gạo vụn từ chiếc đệm hỏng của người làng bỏ đi, nhưng nay đã sờn rách ở cùi chỏ, lộ cả những búi xơ xám xịt sau những buổi sáng tôi phải vác đá hộc xếp bờ ta luy chống sạt lở.

Trước mắt tôi không phải là gian kho thóc u tối của hợp tác xã như tôi từng biết hồi còn nhỏ theo cha đi lĩnh phần ngô giống. Căn phòng hẹp chừng hai chục mét vuông, vốn là kho chứa phân bón và nông cụ bỏ hoang của ban khuyến nông xã, tường quét vôi vàng đã ố mốc từng vệt dài ngoằng ngoẵng hình rễ cây ăn luồn qua kẽ gạch. Nhưng không khí bên trong lại mang một mùi vị kỳ lạ chưa từng có trong đời tôi. Đó tuyệt nhiên không phải mùi ẩm mốc ngai ngái của rơm rạ mục mùa gặt, không phải mùi tro bếp nồng nặc đến cay xè khóe mắt nơi góc chái phụ tôi nằm co quắp mỗi đêm, càng không phải mùi phân trâu khô ngai ngái bám trên vạt áo sau những buổi chiều chăn thả dọc triền dốc.

Đó là mùi của vỏ nhựa thông bị hun nóng bởi dòng điện âm ỉ chạy suốt buổi chiều, mùi của kim loại khô khốc hanh hao, và một thứ mùi tanh tanh thoang thoảng của tĩnh điện lơ lửng trong không trung—thứ mùi vị thuộc về một thế giới xa lạ, sạch sẽ và lạnh lùng, hoàn toàn tách biệt khỏi lớp bùn đất nhão nhoét đang bám chặt quanh mắt cá chân tôi.

"Vào đi Nam, đừng đứng chắn gió ở cửa," cô Hạnh khẽ đẩy nhẹ sau lưng tôi. Bàn tay cô đặt qua lớp áo bông sờn rách ấm áp và dịu dàng, xua bớt phần nào cái lạnh buốt đang bám riết lấy vành tai tôi. "Thầy Dũng đợi từ lúc tan trường rồi đấy."

Ở phía góc phòng, bên cạnh chiếc bàn học dài được ghép tạm bợ từ bốn tấm phản gỗ tạp cập khiễng kê trên các trụ gạch ba banh, một người đàn ông trạc ngoài ba mươi tuổi đang lom khom cúi người sau chiếc bàn. Thầy mặc chiếc áo khoác gió màu xanh công nhân đã bạc phếch hai bên mạng sườn, tay áo xắn cao quá bắp tay để lộ đôi cánh tay vạm vỡ nổi rõ những đường gân xanh. Một tay thầy cầm chiếc chổi lông gà cũ xơ xác phủi từng vệt bụi bám dày trên nóc một cỗ máy màu trắng ngà to kềnh càng, tay kia lăm lăm chiếc tua-vít bốn cạnh cán nhựa trong suốt màu đỏ ối.

Đó là thầy Lê Quang Dũng. Thầy là giáo viên bộ môn tin học của trường phổ thông trung học cơ sở ngoài trung tâm huyện, người mà đám học trò trường bản chúng tôi thỉnh thoảng chỉ được thấy từ xa khi thầy phóng chiếc xe máy Minsk gầm rú nhả khói xanh lè vượt qua những con dốc đá lởm chởm ngập bùn, định kỳ mỗi tháng hai lần lặn lội xuống cắm chốt tại góc phòng tạm này để bảo trì máy móc và dạy những bài tin học vỡ lòng cho lũ trẻ miền núi.

Nghe tiếng guốc dép lẹp kẹp trên nền gạch tàu loang lổ, thầy Dũng quay ngoắt lại. Khuôn mặt thầy vuông vức, sạm đen vì nắng gió đèo dốc hiểm trở, sống mũi cao gãy và khóe miệng luôn chực nở một nụ cười nửa như trêu đùa, nửa như sẵn sàng thách thức cuộc đời. Thầy đưa mu bàn tay dính dầu quệt ngang vệt nhọ than bám trên trán, ánh mắt sáng quắc lướt qua bộ dạng co ro, lếch thếch của tôi rồi dừng lại ở cô Hạnh.

"Chị Hạnh dẫn con át chủ bài đến rồi đấy à?" Thầy Dũng cười lớn, giọng thầy sang sảng vang rộn ràng giữa bốn bức tường vôi lở, làm tan biến hẳn bầu không khí ngột ngạt, ảm đạm thường ngày của gian lớp học tạm bợ. "Tôi cứ tưởng chiều nay rét căm căm thế này thì chị trò lại trốn về bên bếp lửa nướng sắn vùi tro rồi chứ!"

"Thầy Dũng cứ đùa," cô Hạnh khẽ mỉm cười, bước đến gần chiếc bàn gỗ, gỡ chiếc khăn len màu chàm trên cổ ra gấp ngay ngắn đặt lên mép bàn. "Em Nam đây. Thằng bé làm toán rất sáng, đầu óc nhanh nhẹn lắm, nhưng hoàn cảnh ngặt nghèo quá. Hôm qua tôi vừa vào tận nhà nói chuyện với gia đình, nhưng bác nó dứt khoát không cho em đi ôn đội tuyển ngoài xã. Bác nó bảo nhà thiếu người đi nương, tiền ăn còn chẳng đủ lấy đâu ra tiền xe cộ trọ học. Tôi đưa em sang đây, nhờ thầy xem qua một chút xem có cách nào mở thêm cho nó một cánh cửa, để nó thấy cuộc đời này không chỉ gói gọn trong mấy mẫu rẫy ngô."

Thầy Dũng đặt chiếc tua-vít xuống mặt bàn gỗ, phát ra một tiếng *cạch* dứt khoát. Thầy không nhìn cô Hạnh nữa mà bước thẳng về phía tôi. Dáng người thầy cao lớn, mùi dầu luyn, mùi kim loại nung nóng và mùi thuốc lá Thăng Long thoang thoảng trên người thầy xộc vào mũi khiến tôi bất giác lùi lại nửa bước, mắt dán chặt xuống mũi đôi dép Tiền Phong rách tả tơi của mình. Tôi sợ bàn chân lấm láp bùn đất nương ngô của mình sẽ vấy bẩn lên những sợi dây điện đen sì trườn bò ngoằn ngoèo trên sàn nhà như một bầy rắn độc.

"Ngẩng mặt lên xem nào cậu bé," thầy Dũng ngồi xổm xuống trước mặt tôi, hai bàn tay thô ráp chống lên đầu gối, nhìn thẳng vào mắt tôi. "Tên là Nam phải không? Nguyễn Văn Nam?"

"Dạ... vâng ạ," tôi lí nhí trong cổ họng, hai ngón chân cái bấm chặt xuống nền gạch tàu lạnh buốt.

"Đã nhìn thấy cái máy này bao giờ chưa?" Thầy hất cằm về phía dãy máy tính đặt trên mặt bàn gỗ.

Tôi ngập ngừng nhìn theo hướng tay thầy chỉ. Trên chiếc bàn dài thô kệch là năm cỗ máy tính nằm san sát nhau. Chúng chẳng cái nào giống cái nào: cái thì có thùng máy màu xám tro nằm bẹp gí dưới chân màn hình như một chiếc thớt gỗ, cái thì đứng sừng sững như một chiếc hộp sắt đen ngòm với những mắt lưới tản nhiệt bám đầy mạng nhện; những chiếc màn hình CRT dày cộp, lưng gù lồi cong như mai rùa, vỏ nhựa đã ngả sang màu vàng chanh ố bẩn vì thời gian và bụi khói sưởi mùa đông. Phía trước mỗi màn hình là một tấm bàn phím cáu bẩn, vài phím bấm đã mòn vẹt cả chữ cái, cạnh đó là những con chuột bi dây nhợ quấn chằng chịt bằng những lớp băng dính đen nhánh.

"Dạ... cháu mới thấy trên ti vi ngoài nhà ông trưởng bản... với chiếc máy tính bỏ túi nhỏ bằng bàn tay của bác Lương thôi ạ," tôi thú thật, hai tai nóng bừng lên vì xấu hổ. Chiếc máy tính của bác Lương chỉ có một hàng số hiển thị màu xám mờ mờ, dùng để tính tiền ngô bán cho lái buôn và tính số nợ gạo của các nhà trong xóm, mỗi lần bấm kêu *bíp bíp* khô khốc.

Thầy Dũng không cười nhạo như tôi lo sợ. Thầy chỉ khẽ tặc lưỡi một tiếng, đưa bàn tay to bè, ấm nóng vỗ bồm bộp lên vai tôi:

"Thế là tốt rồi! Biết nó là cái máy tính là được. Cả cái xã này khối đứa còn tưởng cái thùng sắt kia là cái tủ sấy thuốc lá cơ đấy!" Thầy đứng dậy, chỉ tay về phía chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít ở chiếc máy ngoài cùng bên trái. "Lại đây ngồi. Đừng có sợ. Nó làm bằng sắt với nhựa, không cắn được đâu mà co ro như gà mắc mưa thế."

Tôi ngập ngừng bước từng bước rụt rè lại gần chiếc bàn, kéo chiếc ghế đẩu ra. Chiếc ghế kêu *ken két* trên nền gạch lồi lõm. Tôi nín thở, nhẹ nhàng hạ người xuống mép ghế, lưng cứng đờ như một khúc gỗ mục, hai bàn tay run rẩy đặt lên đầu gối, không dám chạm dù chỉ một đầu ngón tay vào mép bàn phím ố màu bụi bặm.

"Thầy nói cho cậu biết trước," thầy Dũng vừa kéo một cuộn dây nguồn vừa nói, giọng thầy sang sảng nhưng chứa đầy vẻ thực tế chua xót, "toàn bộ cái đống này là của trường huyện gom góp từ kho thanh lý của các phòng ban dưới tỉnh thải ra đấy. Hàng chắp vá cả. Có cái màn hình thì của hãng IBM, thùng máy thì của hãng Compaq, ram ba mươi hai mê cắm chung với ram sáu mươi tư, quạt nguồn thì kêu như máy xát gạo đầu bản. Ngày nào tôi xuống đây cũng phải lôi kìm với mỏ hàn ra dỗ dành từng con ốc thì chúng nó mới chịu chạy. Bữa nào trời nồm ẩm, sương muối mù mịt tràn qua đèo là y như rằng màn hình chớp chớp rồi tắt phụt, có gõ vào sườn nó mấy cái may ra mới sáng lại."

Cô Hạnh đứng bên cạnh khẽ thở dài, mắt nhìn ra khoảng sân trường lầy lội ngoài cửa sổ:

"Cũng may là có thầy chịu khó cuối tuần nào cũng chạy xe ba mươi cây số đường đèo xuống đây hỗ trợ, chứ không thì mấy cái máy này thành sắt vụn từ năm ngoái rồi. Trên phòng giáo dục cũng chẳng có kinh phí rót về cho điểm lẻ đâu."

"Vứt đi sao được chị!" Thầy Dũng xua tay dứt khoát, cúi xuống cắm chiếc phích cắm ba chạc vào ổ điện lỏng lẻo gắn trên vách gỗ, làm tóe ra một tia lửa điện xanh lè kèm tiếng *xoẹt* nhỏ. "Trẻ con dưới xuôi chúng nó đã bấm chuột tanh tách, gõ chữ nhoay nhoáy rồi. Trẻ con trên đỉnh Pha Luông này nếu không được sờ vào cái phím bấm từ bây giờ, thì mười năm nữa xuống chợ huyện vẫn chỉ biết vác ngô thuê bán lấy mấy đồng tiền lẻ thôi."

Thầy quay sang tôi, ánh mắt trở nên nghiêm cẩn khác thường:

"Nào, Nam. Nhìn thầy."

Tôi ngước mắt nhìn lên, chạm vào ánh nhìn sắc lẻm của người thầy giáo huyện.

"Trước tiên, ngồi lùi mông vào sát lưng ghế, lưng phải thẳng lên. Đừng có khom khom như lúc cầm cuốc bạt cỏ rẫy. Mắt cách màn hình một khoảng bằng cánh tay của cậu, thế, đừng có dí mũi sát vào kính kẻo hỏng mắt. Còn đây, nhìn cái nút tròn to nhất ở mặt trước cái thùng sắt này chưa?"

Thầy chỉ vào nút Power hình tròn nằm giữa mặt trước chiếc case màu trắng đục. Xung quanh chiếc nút ấy, lớp sơn bóng đã bong tróc nham nhở để lộ ra lớp kim loại xám xịt gỉ sét.

"Đây là nút nguồn. Mỗi lần muốn đánh thức nó dậy, chỉ cần ấn dứt khoát một cái, nghe thấy tiếng *tách* thì buông tay ra ngay. Nhớ kỹ: ấn một lần thôi, không được ấn liên tục, không được giữ lì ngón tay ở đấy, nghe chưa? Đồ điện tử cổ lỗ sĩ này nó mẫn cảm lắm, cậu mà cuống lên bấm loạn xạ là nó treo cứng đơ, cháy nguồn thì cả cái bản này không ai đền nổi đâu."

Nghe đến hai chữ "đền nổi", tim tôi thắt lại một cái buốt nhói. Cảm giác như có ai vừa bóp nghẹt lồng ngực mình. Hình ảnh bác Lương vung cành dẻ gai đánh tôi tóe máu trước sân vì làm đổ thúng ngô giống, cùng món nợ ma chay của cha mẹ mà bác luôn đay nghiến trong mỗi bữa cơm lại hiện lên sờ sờ trước mắt. Đền nổi sao? Bán cả tôi đi, bán cả mảnh nương cằn trên sườn núi Pha Luông của cha mẹ để lại, chắc gì đã mua nổi một góc của cỗ máy sắt thép sáng loáng này. Tôi rụt phắt ngón tay lại, giấu vội xuống dưới gấu áo bông cáu bẩn.

Thầy Dũng dường như nhận ra sự hoảng hốt tột cùng trong đáy mắt tôi. Nét mặt thầy chùng xuống, giọng thầy dịu lại, bớt đi vẻ ồn ào lúc nãy:

"Đừng sợ. Thầy dặn thế để cậu biết giữ gìn, chứ không phải để cậu không dám đụng vào. Cứ làm đúng như thầy chỉ thì chẳng có cái gì hỏng được cả. Nào, đưa ngón tay trỏ ra. Bấm đi."

Tôi hít một hơi thật sâu, luồng không khí lạnh buốt pha lẫn mùi nhựa khét tràn vào lồng ngực làm dịu đi cơn run rẩy nơi lồng ngực. Tôi từ từ đưa ngón tay trỏ phải ra—ngón tay thô ráp, chai sần với những vết nứt nẻ ăn sâu vào khóe móng rớm máu vì sương muối và công việc bửa củi, vác đá mỗi sớm. Tôi run rẩy đặt đầu ngón tay lên bề mặt chiếc nút tròn. Chiếc nút hơi nhám, lạnh ngắt dưới da thịt tôi.

Tôi nín thở, ấn mạnh một cái.

*Tách.*

Chiếc nút lún sâu vào trong rồi nảy nhẹ ra dưới lực đàn hồi của lò xo bên trong. Ngay lập tức, từ sâu trong lòng cỗ máy phát ra một âm thanh *rù rù* trầm đục, như tiếng một đàn ong bắp cày khổng lồ vừa bị đánh thức sau giấc ngủ đông dài hạn. Tiếng quạt gió ở bộ nguồn rít lên kèn kẹt, nghe nặng nhọc như hơi thở của một người thợ già leo dốc, rồi đến tiếng đĩa từ quay vù vù bên trong ổ cứng, thỉnh thoảng điểm xuyết những tiếng *lạch cạch, cọc cọc* khô khốc của đầu đọc cơ khí đang rà soát dữ liệu trên phiến đĩa kim loại.

Một vệt sáng xanh lơ lóe lên trên mặt kính cong dày cộp của chiếc màn hình CRT. Tôi giật bắn mình, hai vai co rúm lại, cảm giác như một luồng tĩnh điện mỏng manh vừa lướt qua khoảng không trước mặt làm dựng đứng những sợi lông tơ trên cánh tay khẳng khiu của tôi. Ánh sáng ấy không giống ánh lửa bập bùng của ngọn đèn dầu hỏa hun khói đen nhẻm mà tôi vẫn ngồi chép bài thâu đêm bên bậu cửa sổ, cũng không giống ánh trăng lạnh lẽo dát bạc trên những mỏm đá nhọn hoắt đỉnh Pha Luông. Đó là một thứ ánh sáng sắc lạnh, tinh khiết, rọi thẳng vào đáy mắt tôi những dòng chữ màu trắng chạy vun vút trên nền đen kịt:

```text Award Modular BIOS v4.51PG Memory Testing: 65536K OK Detecting Primary Master ... ST320410A ```

Những dòng ký tự tiếng Anh xa lạ chạy nhanh như nước lũ tràn qua khe suối mùa mưa, tôi chẳng hiểu chúng có nghĩa là gì, nhưng nhịp điệu chính xác, đều đặn đến kỳ lạ của chúng khiến lồng ngực tôi đập thình thịch những nhịp rộn rã. Sau một tiếng *bíp* ngắn ngủi vang lên chói tai từ chiếc loa con gắn sâu trong thùng máy, màn hình chuyển sang màu xanh lam dịu mắt, rồi biểu tượng lá cờ bốn màu uốn lượn hiện ra cùng dòng chữ quen thuộc: *Windows 98*.

"Đấy, thấy chưa?" Thầy Dũng cười, kéo chiếc ghế đẩu khác ngồi xuống ngay cạnh tôi. "Nó sống rồi đấy. Nó có cắn cậu miếng nào đâu."

Thầy cầm lấy bàn tay phải của tôi, nhẹ nhàng đặt lên con chuột máy tính màu trắng ngà đã ố vàng. Con chuột nặng trịch, bám đầy mồ hôi tay của những lứa học trò trước, mặt dưới có một viên bi cao su bọc thép lăn lạo xạo trên mặt tấm bìa các-tông lót tạm.

"Cầm lấy nó. Đừng bóp chặt quá, coi nó như một con chim sẻ non nằm trong lòng bàn tay thôi. Bóp mạnh quá là nghẹt thở đấy. Ngón trỏ đặt lên nút bên trái, ngón giữa đặt lên nút bên phải. Khi rê chuột trên bàn, nhìn lên màn hình xem cái gì đang di chuyển?"

Tôi nuốt nước bọt, cẩn thận di chuyển cổ tay sang phải một chút. Trên màn hình xanh, một mũi tên nhỏ màu trắng nhọn hoắt lập tức trượt theo, ngoan ngoãn và chính xác tuyệt đối theo từng milimét dịch chuyển của tay tôi.

Một cảm giác kinh ngạc chạy dọc sống lưng tôi. Tôi di chuyển tay sang trái, mũi tên chạy sang trái. Tôi dừng lại, nó dừng lại ngay tắp lự, không trễ một phần ngàn giây. Ở trên nương rẫy, dù tôi có gồng mình cuốc đất cật lực đến đâu, lưỡi cuốc vẫn có thể chém trúng đá hộc bật ngược lại làm tóe máu mu bàn chân. Ở trong nhà bác Lương, dù tôi có dậy từ bốn giờ sáng gánh đầy hai chum nước và băm xong chậu chuối rừng, một cái liếc mắt cộc cằn hay một lời quở trách vô cớ vẫn có thể ập xuống bất cứ lúc nào. Nhưng ở đây, dưới mặt bàn gỗ tạp này, vật vô tri này lại hồi đáp tôi bằng một sự tuân phục tuyệt đối. Tôi làm gì, nó làm nấy. Không thiên vị, không phán xét, không có bất kỳ sự trừng phạt bất công nào.

"Bây giờ học gõ chữ," thầy Dũng với tay kéo chiếc bàn phím lại gần tôi hơn. Bàn phím kêu lạch cạch trên mặt gỗ. "Nhìn lên đây. Đây là các phím chữ cái. Cậu biết mặt chữ rồi đúng không? Chị Hạnh bảo cậu đọc thông viết thạo từ lâu rồi."

"Dạ, mẹ cháu dạy cháu chữ từ hồi năm tuổi..." Tôi khẽ đáp, giọng nghẹn lại khi nhớ đến mẹ Mai và những nét chữ than củi nguệch ngoạc trên giấy bao xi măng rách ngày nào.

"Tốt! Nhưng nhìn cho kỹ này, các chữ cái trên bàn phím này nó không xếp theo thứ tự A, B, C như trong sách tập đọc đâu. Hàng trên cùng là Q, W, E, R, T, Y... Thấy hai cái phím F và phím J có hai cái gờ nhỏ nổi lên dưới ngón tay không? Rà ngón tay thử xem."

Tôi run rẩy đưa hai ngón trỏ đặt lên bàn phím. Đầu ngón tay thô ráp của tôi chạm vào hai đường gờ nhựa li ti trên mặt phím F và phím J. Cảm giác gai nhẹ truyền qua da thịt.

"Đấy là vị trí gốc," thầy Dũng giải thích, kiên nhẫn như một người thợ mộc đang chỉ cho người học việc cách cầm chiếc bào gỗ. "Ngón trỏ trái đặt vào F, ngón trỏ phải đặt vào J. Các ngón còn lại rải đều sang hai bên. Hai ngón tay cái để hờ trên phím dài nhất ở dưới cùng—phím cách, phím tạo khoảng trống giữa các từ."

Thầy Dũng với tay cầm chuột, nhấp đúp vào một biểu tượng hình người thợ sửa ống nước đội mũ đỏ trên màn hình. Một khung cửa sổ bật mở với âm thanh vui nhộn: *Mario Teaches Typing*.

"Đây là trò luyện gõ," thầy bảo. "Nhìn lên màn hình, khi nào chữ cái nào hiện ra trên đường đi của nhân vật, hoặc rơi từ trên mây xuống, cậu phải tìm đúng chữ cái đó trên bàn phím và ấn xuống. Ấn đúng thì nhân vật sẽ đập vỡ chướng ngại vật đi tiếp. Ấn sai thì nó sẽ va đầu vào tường, hoặc bị quái vật cắn. Hiểu chưa?"

"Dạ... cháu hiểu rồi ạ," tôi thì thào, mắt căng ra nhìn vào màn hình.

Trò chơi bắt đầu. Nền nhạc tám bit rộn rã vang lên từ chiếc loa nhỏ rè rè gắn trong thùng máy. Trên màn hình, nhân vật hoạt hình bắt đầu chạy qua một bức tường gạch cổ kính. Một chữ cái màu vàng to tướng hiện ra lơ lửng giữa không trung: chữ **A**.

Tim tôi nhảy dựng lên trong lồng ngực. Chữ A! Tôi biết chữ A, đó là chữ đầu tiên mẹ dạy tôi viết trên bậu cửa sổ bằng đất sét. Nhưng tay tôi bỗng nhiên cứng đờ như bị đổ chì. Mắt tôi cuống cuồng quét dọc các hàng phím nhựa xám xịt cáu bẩn. Chữ A ở đâu? Ở sách tập đọc lớp một nó đứng đầu tiên, sao ở đây hàng đầu lại là phím Q, phím W? Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán tôi, chảy dài xuống thái dương cay xè. Nhân vật trên màn hình sắp lao đầu vào khối gạch nung sừng sững.

"Bình tĩnh," giọng cô Hạnh vang lên từ phía sau, êm ả như dòng nước mát rót vào tai tôi. "Ngón út bàn tay trái của em đang đặt ở đâu?"

Tôi giật mình nhìn xuống bàn tay trái. Ngón út của tôi đang run rẩy đặt ngay trên một phím bấm có in hình chữ **A** mờ mờ. Tôi vội vã dùng hết sức bình sinh ấn phím xuống.

*Cạch!*

Tôi ấn quá mạnh, cả mảng bàn phím rung rinh bần bật, và ngón tay lúng túng của tôi vô tình quệt luôn sang phím *Caps Lock* nằm ngay sát bên cạnh.

Trên màn hình, nhân vật đập đầu đánh *rầm* một cái vào tảng đá, ngã ngửa ra sau rồi ngồi bệt xuống đất ôm đầu, hai mắt xoay tròn như chong chóng. Một dấu chéo màu đỏ chói hiện ra kèm theo một tiếng *tút* chói tai vang lên từ chiếc loa nhỏ trong thùng máy.

Mặt tôi nóng bừng như bị dí sát vào bếp lửa than hồng. Tôi rụt phắt tay lại như vừa chạm phải thanh sắt nung trong lò rèn của ông thợ rèn ngoài đầu bản. Sự lúng túng và sợ hãi biến thành một tảng đá ngàn cân đè nặng lên lồng ngực tôi. Tôi đã làm sai. Tôi đã bấm nhầm. Liệu có phải tôi vừa làm hỏng một linh kiện gì đó bên trong cỗ máy đắt tiền này không? Bác Lương sẽ ra sao nếu biết tôi làm vỡ món đồ này? Bác sẽ trói tôi vào cột nhà, hay bác sẽ trừ hết phần cơm ngô của tôi suốt cả mùa đông?

"Cháu... cháu xin lỗi thầy... cháu không cố ý làm hỏng đâu ạ..." Tôi lắp bắp, hai mắt cay xè, nước mắt chực trào ra lăn dài trên gò má dính đất đỏ.

Thầy Dũng bật cười ha hả, tiếng cười vang rộn khắp gian kho cũ khiến những con thạch sùng trên xà nhà giật mình lủi nhanh vào kẽ ngói:

"Kìa cái thằng bé này! Làm cái gì mà mặt mày tái mét như gặp ma thế? Sai một chữ thì ấn lại, máy tính sinh ra là để người ta gõ sai rồi gõ lại cơ mà! Nhìn này, nó có bốc khói đâu, nó vẫn đang chờ cậu đấy thôi."

Tôi rụt rè ngước nhìn lên. Quả thật, trên màn hình, nhân vật sau cú ngã đã đứng bật dậy, phủi bụi trên quần áo, và chữ **A** màu vàng vẫn kiên nhẫn lơ lửng ở đó, nhấp nháy nhịp nhàng như đang vẫy gọi tôi, không hề có vẻ gì là giận dữ.

Không có đòn roi giáng xuống. Không có tiếng gầm gừ cộc cằn của bác Lương mắng tôi là đồ ăn hại, đồ sao chổi mang lại xui xẻo cho cả nhà. Không có ánh mắt lạnh tanh của bác dâu Sương nhìn vào đáy chum gạo rỗng tuếch mỗi bữa cơm chiều. Cỗ máy chỉ đơn giản nói với tôi rằng: *Cậu làm chưa đúng, hãy thử lại.*

Một sự nhẹ nhõm kỳ lạ len lỏi vào từng thớ thịt tôi, xoa dịu nỗi sợ hãi đang thắt chặt nơi cuống họng. Tôi hít một hơi thật sâu, cẩn thận đặt ngón út bàn tay trái lên mặt phím A. Lần này, tôi không dùng cả cánh tay để nện xuống nữa. Tôi thả lỏng cổ tay, chỉ dùng đầu ngón tay nhấn nhẹ một lực vừa đủ xuống tâm phím.

*Tách.*

Trên màn hình, nhân vật vung nắm đấm tung ra một cú đánh dứt khoát. Tảng đá vỡ tan thành những mảnh vụn màu cam rực rỡ biến mất vào hư không. Nhân vật nhảy cẫng lên reo vui và tiếp tục sải bước thoăn thoắt về phía trước. Một chữ cái mới lập tức hiện ra: chữ **S**.

Ngón áp út bàn tay trái của tôi, như một phản xạ tự nhiên đã được định sẵn từ lúc đặt tay lên gờ phím, khẽ dịch nhẹ và nhấn xuống.

*Tách.*

Khối gạch thứ hai nổ tung.

Chữ **D**. Ngón giữa trái nhấn xuống.

*Tách.*

Chữ **F**. Ngón trỏ trái nhấn xuống.

*Tách.*

Tiếng phím nhựa gõ vào nhau lách cách, lách cách vang lên đều đặn trong gian phòng vôi lở. Ban đầu còn ngập ngừng, ngắt quãng như tiếng bước chân dò dẫm của kẻ đi đêm qua cầu khỉ mù sương, nhưng chỉ sau vài phút, nhịp gõ của tôi bắt đầu dồn dập và trơn tru hơn. Mắt tôi không còn nhìn chăm chăm vào đôi bàn tay gầy guộc nữa mà dán chặt vào những chữ cái đang nối đuôi nhau trôi qua màn hình như dòng suối chảy. Đầu ngón tay tôi—những ngón tay từng rớm máu vì cạy đá hộc trên nương ngô Pha Luông, từng cứng đờ vì rét buốt trong những sớm mùa đông gánh nước từ mó sâu—giờ đây lại tìm thấy một sự chuẩn xác kỳ diệu đến không ngờ.

Mỗi lần một ký tự rơi xuống và ngón tay tôi chạm đúng phím bấm, máy tính đáp lại ngay tức khắc bằng một chuyển động hoàn hảo trên màn hình. Nó không bao giờ nói dối. Nó không tráo trở. Nếu tôi gõ đúng, nó cho tôi đi tiếp. Nếu tôi gõ sai, nó dừng lại chỉ cho tôi thấy tôi sai ở đâu để tôi sửa lại. Một thế giới trật tự, sòng phẳng và minh bạch đến mức làm tôi run rẩy vì xúc động.

Phía sau lưng tôi, cô Hạnh tựa lưng vào mép cửa sổ chấn song gỗ, hai tay khoanh trước ngực, chăm chú quan sát từng cử động nhỏ của tôi. Ánh nắng chiều muộn xuyên qua tán cây dẻ già trụi lá ngoài sân, hắt những vệt sáng vàng vọt lên bờ vai gầy guộc của cô, làm nổi bật những sợi tóc mai bay lòa xòa trước trán.

Trong lớp học ở kho thóc hợp tác xã, cô Hạnh đã quá quen với hình ảnh một đứa trẻ chưa đầy sáu tuổi luôn ngồi ở góc khuất nhất gần vách nứa, lưng còng xuống vì mệt mỏi, hai mắt thâm quầng và thỉnh thoảng lại gục đầu xuống mặt bàn gỗ tạp ngủ thiếp đi vì kiệt sức. Cô biết đứa trẻ ấy phải thức dậy từ bốn giờ sáng khi sương muối còn phủ trắng cành cây để gánh nước, băm chuối lợn, rồi chiều tan học lại phải cắm mặt cuốc đất trên nương ngô để đổi lấy từng bát mèn mén độn sắn khô chan nước lã.

Nhưng lúc này, trước ánh sáng xanh lơ hắt ra từ chiếc màn hình CRT dày cộp, cô Hạnh không còn thấy bóng dáng của đứa trẻ ngủ gật và kiệt quệ ấy nữa. Lưng tôi thẳng tắp. Chiếc áo bông chàm sờn rách rộng thùng thình dường như không còn đè nặng lên đôi vai tôi. Đôi mắt tôi mở to, sáng quắc lên một thứ ánh sáng sắc bén, mê mải và tập trung đến mức dường như toàn bộ thế giới xung quanh—tiếng gió rít qua khe cửa, mùi ẩm mốc của gian kho, cái đói đang cào cấu trong dạ dày—đều đã biến mất hoàn toàn ngoài tầm nhận thức của tôi.

Thầy Dũng ngồi bên cạnh cũng không rời mắt khỏi đôi bàn tay tôi. Là người đã từng dạy tin học cho hàng trăm học sinh từ trường huyện đến các điểm trường vùng sâu vùng xa, thầy chưa từng thấy một đứa trẻ nào có cách tiếp cận bàn phím lạ lùng như thế.

Lũ trẻ con nhà khá giả ngoài thị trấn thường đập bàn phím ầm ầm, bấm loạn xạ như cào cấu, cười đùa ỏm tỏi mỗi khi màn hình báo lỗi. Nhưng tôi thì khác. Mỗi khi một chữ cái mới xuất hiện trên màn hình, ngón tay tôi không bao giờ vồ vập lao xuống ngay. Nó luôn khựng lại trong một phần mười giây ngắn ngủi—mắt tôi liếc thật nhanh, đối chiếu chuẩn xác mặt chữ trên màn hình với ký tự in chìm trên phím nhựa, rồi ngón tay mới hạ xuống, dứt khoát nhưng nhẹ nhàng, cẩn trọng như một người thợ kim hoàn đang đặt một mảnh đá quý mỏng manh vào khuôn.

Thầy Dũng nhìn thấy rất rõ: tôi luôn nhìn kỹ trước khi bấm không phải vì tôi chậm chạp, mà vì sâu thẳm trong tiềm thức non nớt của tôi là một nỗi sợ hãi thắt ruột. Tôi sợ chỉ cần một cử động vụng về, một cái ấn phím quá tay làm nứt vỡ miếng nhựa cũ kỹ kia, thì cái giá phải trả sẽ là một thứ mà cả cuộc đời làm thuê cuốc mướn của tôi, hay cả gia tài nghèo kiết xác của người cha người mẹ đã khuất, cũng vĩnh viễn không thể nào gom đủ tiền để đền lại.

Thầy Dũng khẽ thở dài, bàn tay to bản vỗ nhẹ lên vai tôi như muốn làm dịu bớt những khớp xương đang gồng cứng:

“Cậu đừng căng thẳng thế.

“Cả cái điểm học tạm này chỉ có năm chiếc máy chắp vá, thường xuyên dở chứng mà trên xã, trên huyện chẳng mấy ai rảnh rỗi xuống kiểm tra. Thầy phải tranh thủ từng chuyến xe cắm bản mới xem qua được. Thôi, chiều nay chị Hạnh về trước chuẩn bị giáo án đi, cứ để thằng bé ở lại đây hết buổi với tôi. Tôi kèm cho nó gõ cho quen tay.”

Cô Hạnh mỉm cười gật đầu rồi khẽ khép cửa bước ra ngoài, để lại tôi trong góc phòng kho ngập ngụa thứ mùi nhựa cháy khét lẹt đã bắt đầu quen dần. Suốt hơn một tiếng đồng hồ sau đó, dưới ánh mắt kiên nhẫn và giọng chỉ dẫn cộc cằn nhưng ấm áp của thầy Dũng, những khớp xương gồ ghề của tôi dần thả lỏng, từng ngón tay bắt đầu mềm mại hơn trên từng phím bấm đã mòn vẹt.

Khi các ngón tay tôi đã bớt run rẩy, thầy Dũng với tay tắt trò chơi luyện gõ. Thầy bấm tổ hợp phím mở ra một khung cửa sổ màu đen kịt với con trỏ nhấp nháy nhịp nhàng như một nhịp thở thầm lặng. Thầy bảo tôi thử gõ một dòng chữ ngắn vào khoảng trống ấy rồi nhấn phím Enter.

Tôi run rẩy gõ từng ký tự theo lời thầy: dòng lệnh đơn giản hiện lên ngay ngắn trên nền đen tĩnh lặng. Khoảnh khắc tôi nhấn mạnh phím Enter phát ra một tiếng lách cách khô giòn, màn hình chớp nhẹ một cái rồi lập tức trả về đúng kết quả vừa được yêu cầu thực thi, gọn gàng và không một chút chần chừ.

Tôi ngồi chết lặng trước màn hình. Lần đầu tiên trong đời, tôi tận mắt chứng kiến một dòng lệnh thực sự thức giấc và hoạt động. Ý nghĩ rằng những câu từ, những ký tự tưởng chừng vô tri có thể điều khiển một cỗ máy bằng sắt thép làm việc răm rắp theo một trật tự rõ ràng khiến đầu óc non nớt của tôi bàng hoàng run rẩy. Trên nương rẫy dốc đứng, dù tôi có dùng hết sức vung cuốc bạt cỏ, đất đá vẫn có thể sạt lở vùi lấp công sức; ở nhà bác Lương, dù tôi có cúi đầu nhẫn nhục thức khuya dậy sớm gánh nước, một lời mắng nhiếc vô cớ vẫn có thể giáng xuống bất kỳ lúc nào. Nhưng ở đây, câu chữ có sức mạnh tuyệt đối; máy móc vận hành theo một quy luật bất di bất dịch, không thiên vị, không tráo trở và không biết dối lừa.

Ngồi trong góc phòng kho vôi vữa loang lổ này, tôi chợt nhận ra chiếc áo chàm vá víu nhồi bông vụn, gót chân nứt nẻ lấm lem bùn đất và cả những bữa cơm bị cắt phần nhịn đói nơi chái phụ tối tăm hoàn toàn không hề quyết định kết quả hiện lên trên mặt kính cong phát sáng kia. Chiếc máy tính không nhìn vào thân phận mồ côi hay món nợ ma chay của cha mẹ tôi để phán xét. Điều quyết định duy nhất là tôi đã học được gì, hiểu cặn kẽ đến đâu và làm đúng trật tự ra sao. Làm đúng thì máy chạy trơn tru, làm sai thì máy báo lỗi để làm lại. Đó là sự sòng phẳng lạ lùng và kỳ diệu nhất mà một đứa trẻ ăn nhờ ở đậu như tôi từng được chạm tới trong đời.

Thầy Dũng nhìn sâu vào mắt tôi, khóe miệng khẽ nhếch lên thành nụ cười kín đáo:

“Ở cái góc bản heo hút này điều kiện chỉ có ngần ấy thôi. Nếu cậu thi được vào trường huyện, ngoài đấy có cả một phòng máy đầy đủ hơn nhiều, có sách, có nhiều bài toán lập trình để mày mò chứ không chỉ quanh quẩn gõ chữ thế này đâu.”

Nói đoạn, thầy đứng dậy bước sang kiểm tra cỗ máy nằm ở góc trong cùng. Thầy bấm nút nguồn, nhưng chiếc máy im lìm, không có tiếng quạt gió rít lên hay tiếng ổ đĩa rà soát cơ khí như thường lệ; mặt màn hình tối đen như mực. Thầy Dũng gõ nhẹ ngón tay lên thùng máy kim loại hoen gỉ, rồi quay đầu lại nhìn tôi, nhướng mày hỏi:

“Nó tịt rồi. Cậu có muốn qua đây thử cùng thầy tìm xem nó hỏng ở chỗ nào không?”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn