Cô Hạnh nhìn thấy
Sau đêm quỳ mọp dưới gốc ban già nơi bìa rừng, khi sương muối đã ngấm qua lớp áo chàm tơi tả vào tận xương tủy, tôi vẫn lê bước đến lớp. Nhưng vừa mới cúi đầu xuống mặt bàn gỗ nứt nẻ, gối trán lên hai cánh tay gầy guộc thì một cơn buồn ngủ đặc quánh, nặng tựa đá tảng đổ ụp xuống, dìm tôi vào một khoảng tối thăm thẳm không có tiếng ai gọi.
Đó không phải là giấc ngủ êm đềm ấm áp của một đứa trẻ được cuộn tròn trong chăn bông giữa mùa đông vùng cao. Đó là sự ngã quỵ phũ phàng, không kìm giữ nổi của một thể xác đã bị vắt kiệt đến giọt sinh lực cuối cùng. Trước khi mí mắt tôi sụp xuống thành hai vệt chì trĩu nặng, thế giới chung quanh chỉ còn là những mảnh âm thanh và mùi vị rời rạc, chập chờn: tiếng phấn gõ cộc cộc trên tấm bảng ghép bằng hai mảnh gỗ dổi nứt toác, mùi vôi quét tường nồng hăng quyện chặt với hơi bùn đất ngai ngái bốc lên từ gấu quần ẩm ướt của đám trẻ trong bản, và cảm giác rát buốt như xát muối ớt chạy dọc từ hai bả vai xuống tận đốt sống thắt lưng.
Những lằn roi quất bằng cành củi dẻ gai của bác Lương tối hôm trước vẫn còn rớm máu dưới lớp áo bông trần đã sờn rách, lòi từng búi bông ố vàng. Thứ vải thô cứng queo vì mồ hôi và nhựa chuối rừng cứ mỗi lần tôi cựa mình lại cọ sát vào da thịt nát bấy, nhức nhối như có tàn lửa dí thẳng vào da. Nhưng cái đau đớn rách da xé thịt ấy thực ra chẳng thấm tháp gì so với nỗi hoảng sợ vô hình lúc nào cũng treo lơ lửng trên đầu, bóp nghẹt từng nhịp thở trong lồng ngực: tôi sợ người ta nhìn thấy. Tôi sợ đám bạn cùng bàn trông thấy những vệt bầm đen tím ngắt thòi ra nơi cổ áo rồi xì xào, chỉ trỏ; tôi sợ thầy cô gặng hỏi ngọn nguồn cơn cớ. Ở cái bản Nà Ban nằm lọt thỏm giữa bốn bề núi đá dựng đứng này, tin tức truyền đi nhanh hơn khói bếp mùa đông lùa qua khe liếp. Chỉ cần một lời hỏi han đầy vẻ thương hại của ai đó lọt đến tai xóm trên, bác Lương sẽ lập tức biết tôi đã để lộ chuyện bị ăn đòn. Bác sẽ coi sự thương hại của người ngoài là một cái tát trời giáng, một nỗi sỉ nhục không thể tha thứ ném thẳng vào mặt họ Nguyễn. Và cái giá tôi phải trả cho sự thương hại ấy sẽ không chỉ là một trận đói lả hay những cành củi dẻ gãy gập trên lưng, mà là chiếc chõng tre ọp ẹp nơi chái phụ sẽ bị lôi tuột ra sân, cuốn sách tập đọc lớp một có bàn tay mẹ Mai từng nắn nót sẽ bị quẳng thẳng vào bếp lửa đỏ rực, và cánh cửa đến với lớp học này sẽ vĩnh viễn đóng sập lại trước mắt tôi.
Chính vì thế, ngay từ lúc gà rừng còn chưa buồn vỗ cánh gáy le te bên sườn dốc Pha Luông, khi sương mù còn trùm kín thung lũng như một tấm màn tang trắng xóa, tôi đã phải cắn chặt môi, bấu mười đầu ngón tay vào mép nứa để trườn mình dậy khỏi chiếc chõng ọp ẹp. Toàn thân tôi khi ấy cứng đờ, từng khớp xương kêu lục cục như một bộ khung gỗ mục bị ngâm lâu ngày dưới đáy suối lũ. Tôi không được phép rên rỉ, không được phép chần chừ dù chỉ một cái chớp mắt. Tôi phải hoàn thành hết phần việc bù cho nửa ngày trốn việc chiều hôm qua: múc đầy hai chiếc chum sành da lươn cao ngang ngực bằng nước lạnh buốt thấu xương gùi ngược từ mó sâu dưới đáy vực lên, rồi băm nát ba thân chuối rừng to bằng bắp đùi, đem trộn đều với cám sống để đổ ngập máng cho đàn lợn đói đang lồng lộn ủi tung then chuồng.
Tôi đã làm tất cả những việc ấy trong bóng tối đặc quánh của buổi sớm vùng cao, nén từng tiếng thở dốc buốt nghẹn nơi cuống họng, hai bàn tay lạnh cóng tê dại không còn cảm giác, không dám để chiếc gáo dừa va mạnh vào miệng chum phát ra một tiếng cạch nhỏ. Khi vệt sáng đầu ngày vừa rạch một đường xám xịt nơi đỉnh dốc, bác Lương bước ra hiên nhà, súc miệng òng ọc rồi nhổ toẹt một bãi nước chè đậm đặc xuống khoảng sân đất nện. Bác đứng sừng sững ở đó, hai tay khoanh trước ngực, mắt nhìn xoáy vào lưng tôi như một mũi khoan thép nguội. Tôi cúi gằm mặt, lẳng lặng đón nhận cái nhìn sắc lạnh như lưỡi rựa ấy mà không hề hé răng nửa lời thanh minh hay van nài. Giữa hai bác cháu tôi, từ những ngày đầu tôi bước chân về cái nhà này, đã ngầm hình thành một thứ thỏa ước câm lặng đến mức tàn nhẫn: tôi phải trả đủ từng hạt cơm độn sắn, từng ngụm nước suối chảy qua cổ họng bằng chính mồ hôi và sức lực cùng kiệt của mình, thì mới được phép giữ lại cái quyền nhỏ nhoi, mong manh nhất trần đời—đó là bước chân ra khỏi ngưỡng cửa để đi tìm con chữ.
Để rồi khi ngồi xuống được chiếc ghế gỗ kênh kiệu, bốn chân khấp khểnh trong gian phòng học mượn tạm từ kho thóc của hợp tác xã cũ, đầu óc tôi đã trĩu nặng như đeo đá tảng. Cơn đói cào xé ruột gan sau một đêm dầm sương muối và một buổi sáng lao lực vắt kiệt sức khiến mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán.
Cốc. Cốc. Cốc.
Tiếng thước kẻ của cô giáo gõ giòn tan trên mặt bàn phía bục giảng làm tôi giật thót mình, cơ bắp co rúm lại theo phản xạ của một kẻ quen chịu đòn. Nhưng rồi hai mí mắt nặng trĩu lại dính chặt lấy nhau, đầu óc tôi chẳng còn chút sức lực nào để cưỡng lại quán tính của sự suy kiệt. Một khoảng tối mịt mùng, sâu hoắm nuốt chửng lấy tôi. Trong khoảng tối dày đặc ấy, đòn roi củi dẻ biến mất, tiếng rít qua kẽ răng của bác dâu Sương biến mất, những hòn đá hộc trơ khấc làm toét móng chân trên dốc Ban Nà cũng biến mất. Tôi chìm nghỉm vào một giấc ngủ mê man, ngột ngạt và nặng nề như một cái chết lâm sàng.
***
Khi tôi giật mình choàng tỉnh, gian phòng học đã vắng tanh không một bóng người.
Ánh nắng trưa hanh hao, vàng vọt của miền núi xuyên qua những khe ván nứa nứt nẻ, rọi xiên khoai xuống nền đất nện thành từng vệt bụi li ti bay lơ lửng như tàn tro. Tiếng hò hét, đùa nghịch lanh lảnh của lũ trẻ tan trường đã tắt lịm từ bao giờ. Chỉ còn lại tiếng ve sầu ran ran khô khốc đầu mùa ngoài rặng xoan rừng và tiếng lá ngô xào xạc cọ vào nhau theo từng cơn gió núi thổi thốc từ hẻm đá Pha Luông.
Toàn thân tôi lạnh toát, một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng lên tận đỉnh đầu. Tôi đã ngủ quên bao lâu rồi? Một giờ? Hai giờ? Hay đã quá nửa buổi trưa? Bác Lương chắc chắn đang đứng ở đầu nương ngô, tay cầm rựa, mắt lăm lăm nhìn xuống con đường mòn. Nếu trưa nay tôi về muộn, bát cơm độn sắn mốc meo phần tôi sẽ bị bác dâu hất thẳng vào máng lợn, và cán cuốc cùn sẽ lại giáng thẳng xuống vai tôi vì tội trốn việc nhà. Tôi cuống cuồng quơ vội hai tay trên mặt bàn, tìm kiếm mảnh bao tải rách bọc lấy cuốn vở của mẹ Mai, hai chân co lại định bật dậy cắm đầu cắm cổ lao ra cửa.
"Tỉnh rồi à?"
Một giọng nói phụ nữ vang lên, trầm tĩnh, rõ ràng và không hề có chút giận dữ hay gắt gỏng.
Tôi khựng phắt lại, tim đập thình thịch như muốn xé toang lồng ngực gầy guộc. Ngay tại chiếc bàn giáo viên kê sát góc bảng đen, cô Phạm Thị Hạnh vẫn đang ngồi đó, cặm cụi chấm bài. Cô Hạnh mới chuyển về nhận lớp xóa mù chữ và dạy bổ túc cho đám trẻ quá lứa lỡ thì ở cái bản Nà Ban heo hút này từ đầu mùa đông năm ngoái. Cô mặc chiếc áo sơ mi bằng vải bạt màu cỏ úa giản dị đến nghèo nàn, mái tóc đen dày được cặp gọn ghẽ sau gáy bằng một chiếc kẹp ba lá bằng sắt tây đã tróc gần hết lớp sơn xanh. Trên chiếc bàn gỗ mộc thô nham nhở vết dao khắc của đám học trò cũ, ngoài tập vở của học sinh được đóng bằng giấy bãi bằng xơ xác vàng khè, chỉ có vỏn vẹn một lọ mực tím nhãn Cửu Long đã cạn quá nửa và một chiếc ấm tích bọc trong giỏ tre cắm vài cành lá ổi tươi để xua ruồi muỗi.
Tôi đứng chôn chân bên mép bàn gỗ khấp khểnh, hai bàn tay co quắp túm chặt lấy gấu áo bông vá chằng vá đụp, đầu cúi gằm xuống nền đất nện lổn nhổn rơm rạ mục. Những ngón chân trần nứt nẻ, toét máu vì sương muối và đá sắc của tôi bấu chặt lấy mặt đất như rễ cây rừng bám vào vách đá.
"Em... em xin lỗi cô... Em trót..." Cổ họng tôi khô khốc, từng tiếng phát ra nghẹn ứ, ráp như có ai xát nắm sạn vào thanh quản. Tôi rụt cổ lại, nhắm nghiền mắt, sẵn sàng đón nhận một trận lôi đình trút xuống đầu, một lời quở trách cay nghiệt trước lớp, hoặc tệ hại nhất—một tờ giấy kiểm điểm bắt người giám hộ ký tên mang nộp lại. Nếu tờ giấy ấy rơi vào tay bác Lương, cái mạng côi cút này coi như xong hẳn.
Nhưng gian phòng vẫn hoàn toàn im ắng, chỉ có tiếng ngòi bút sắt cọ nhẹ trên trang giấy thô ráp. Cô Hạnh từ tốn đặt cây bút máy Kim Tinh vỏ nhựa đen xuống rãnh bàn gỗ, ngẩng đầu lên nhìn tôi. Đôi mắt cô sau cặp kính cận gọng nhựa màu đồi mồi ánh lên vẻ nghiêm nghị quen thuộc của một người đứng trên bục giảng miền xuôi, nhưng lẩn khuất sâu thẳm bên dưới lớp kính ấy lại là cái nhìn thấu suốt, sắc sảo của một người từng trải, đã nhìn thấu quá nhiều cảnh ngộ éo le mà người ta cố công che giấu sau những vẻ mặt lì lợm.
"Cô không phạt em vì ngủ gật," cô cất tiếng, thanh âm bình thản đến mức kỳ lạ giữa buổi trưa vắng lặng. "Cô giữ em lại chỉ để hỏi một câu: với cái đầu đang trĩu xuống như sắp rơi khỏi cổ thế kia, em định theo lớp này được bao nhiêu ngày nữa?"
Tôi mím chặt môi, hàm răng cắn sâu vào môi dưới đau điếng, không dám hé răng lấy một lời. Càng im lặng, da thịt nơi lưng tôi càng giật bần bật từng cơn bỏng rát. Đúng lúc ấy, một ngọn gió núi thốc mạnh qua khe liếp nứa làm tà áo bông mỏng tanh của tôi bay lật sang một bên, để lộ ra một mảng sườn tím lịm, sưng húp—vết tích còn mới nguyên của những cú đấm dúi dụi từ thằng Tùng và những lằn quất tàn nhẫn của cành dẻ gai tối qua. Tôi giật bắn mình, hoảng hốt đưa cả hai tay kéo giật vạt áo xuống, lùi vội lại nửa bước, toàn thân co rúm lại vừa như phòng thủ, vừa như muốn chui tọt vào một hốc đá để lẩn trốn.
Ánh mắt cô Hạnh dừng lại ngay ở góc áo vừa bị tôi kéo vội ấy. Đôi mắt cô khẽ chớp một cái, đuôi mắt hơi co lại, nhưng tuyệt nhiên cô không hề thốt lên một lời nào về vết thương bầm dập kia. Cô không ồ lên kinh hãi, cũng chẳng đưa tay ra chạm vào người tôi để tuôn ra những lời thương cảm xuýt xoa đầu môi chót lưỡi. Cô là người đã bám trụ với những bản làng heo hút này đủ lâu để hiểu rằng: ở mảnh đất đá tai mèo khắc nghiệt này, lòng thương hại bộc lộ một cách vụng về và ồn ào đôi khi lại chính là thứ thuốc độc đẩy một đứa trẻ côi cút vào miệng vực tai họa sâu hơn.
Cô đứng dậy. Đôi guốc mộc gõ lộc cộc trên nền đất nện khi cô bước xuống lối đi hẹp giữa hai dãy bàn học đóng bằng gỗ tạp. Cô dừng lại ngay trước mặt tôi. Bàn tay cô khô ráo, xương xẩu, thoang thoảng mùi bột phấn thân thuộc quyện với mùi xà phòng thơm rẻ tiền, khẽ đặt nhẹ lên đỉnh đầu tôi chừng một giây ngắn ngủi rồi rút lại ngay.
"Lại đây," cô bảo, giọng dứt khoát nhưng không gắt gỏng, rồi quay gót bước ngược về phía bàn giáo viên. "Ngồi xuống đó. Làm cho xong mấy bài này rồi hẵng về."
Tôi ngập ngừng chôn chân mất mấy nhịp, rồi từng bước một lê chân bước theo cô, gót chân nặng như đeo chì. Tôi rụt rè kéo chiếc ghế gỗ thấp, ngồi nép một góc vào mép bàn, co ro như một con chim non ướt cánh sợ sệt rình rập quanh người lạ. Cô Hạnh với tay kéo một tờ giấy nháp trắng tinh từ trong cặp da—thứ giấy trắng tinh khôi, phẳng phiu thơm phức mùi bột gỗ mới mà cả đời tôi chưa từng dám mơ mình có thể sở hữu nổi một góc nhỏ—rồi cầm cây bút mực xanh viết thoăn thoắt mấy dòng đề bài xuống trang giấy.
Nét chữ của cô thanh thoát, ngay ngắn và dứt khoát đến từng dấu chấm, dấu phẩy:
*Bài 1: Một người gùi một sọt ngô từ nương về bản mất 45 phút. Nếu đi từ bản lên nương mất ít hơn 15 phút. Hỏi cả đi lẫn về người đó mất bao nhiêu thời gian? Đổi ra giờ và phút.*
*Bài 2: Một thửa ruộng bậc thang thu hoạch được 3 tạ thóc. Thửa thứ hai thu hoạch gấp đôi thửa thứ nhất. Thửa thứ ba thu hoạch bằng một nửa tổng hai thửa đầu. Tính số thóc cả ba thửa theo ki-lô-gam.*
*Bài 3: Tìm x, biết: (x + 15) : 3 = 18.*
Cô đưa cho tôi một cây bút chì gỗ sơn vàng đã gọt nhọn hoắt bằng dao lam, ngón tay trỏ gõ nhẹ xuống mặt giấy: "Làm đi. Cô ngồi đây đợi."
Tôi đón lấy cây bút chì bằng cả hai bàn tay run rẩy. Thân bút chì tròn lẳn, dài và mới tinh, lớp sơn vàng óng ả còn chưa kịp bám bụi, khác xa với mẩu chì cụt ngủn bằng đốt ngón tay mà tôi vẫn phải lén dùng dao quắm gọt nham nhở như một mẩu củi mục ở xó nhà bác Lương. Cầm một cây bút đàng hoàng, ngay ngắn trong tay, lòng tôi bỗng trào dâng một cảm giác bồi hồi, xót xa đến nghẹn ngào. Nỗi sợ hãi trận đòn trưa nay dường như tạm thời lùi lại phía sau bức màn tâm trí, nhường chỗ cho sự cuốn hút mãnh liệt phát ra từ những con số đen nhánh trên trang giấy trắng.
Đối với tôi, những con số và những phép tính chưa bao giờ là những ký hiệu khô khan, chết chóc nằm yên trên trang sách. Chúng sống động, cựa quậy như từng hạt ngô răng ngựa mây mẩy mà tôi vẫn cặm cụi nhặt nhạnh từng bắp rơi vãi trên nương đá, như từng khúc củi dẻ gai được xếp chèn ngay ngắn từng lớp bên hông chái phụ, như từng bước chân trần tóe máu tôi tự đếm thầm từ mép mó nước suối sâu ngược lên dốc Ban Nà mỗi sớm mai.
Tôi cắm cúi viết. Mười đầu ngón tay tôi chai sần, thô ráp, nứt toác vì cán cuốc và lưỡi rựa từ năm lên năm tuổi kẹp chặt lấy thân bút chì mảnh dẻ.
Ở bài toán thứ nhất, tôi không cần phải loay hoay đặt tính ra nháp. Trong đầu tôi lập tức dựng lên hình ảnh con dốc Ban Nà quen thuộc: đi từ bản lên nương mất ít hơn 15 phút, nghĩa là lấy 45 phút trừ đi 15 phút, còn lại 30 phút. 30 phút đi lên cộng với 45 phút gùi nặng đi xuống là 75 phút. Một giờ có 60 phút, vậy 75 phút chính là 1 giờ 15 phút. Ngòi bút chì của tôi chạy thoăn thoắt trên mặt giấy mịn, viết gọn gàng từng lời giải và phép tính, nét chữ tuy còn gãy khúc vì bàn tay thô kệch nhưng dứt khoát, rõ ràng.
Sang đến bài toán thứ hai, trong tâm trí tôi hiện ra ba khoảnh ruộng bậc thang xếp tầng tầng lớp lớp men theo sườn lũng Nà Ban. Thửa ruộng thứ nhất là một phần, thu được 3 tạ. Thửa thứ hai gấp đôi, nghĩa là hai phần, được 6 tạ. Tổng của hai thửa đầu gộp lại là 9 tạ. Thửa thứ ba bằng một nửa tổng hai thửa đầu, nghĩa là lấy 9 tạ chia đôi, ra 4 tạ rưỡi, tức là 4,5 tạ. Cả ba thửa gộp lại: 3 cộng 6 cộng 4,5 là 13,5 tạ. Đổi ra ki-lô-gam, một tạ bằng một trăm cân, 13,5 tạ chính là 1350 ki-lô-gam.
Bàn tay tôi run lên bần bật vì một niềm hưng phấn kỳ lạ, ngòi bút miết thật mạnh xuống trang giấy tạo thành những rãnh hằn sâu hoắm, đậm nét. Những con số nhảy múa trong đầu tôi với một trật tự tuyệt đối, phẳng phiu và sòng phẳng đến tận cùng. Đó là một thế giới hoàn toàn khác với thế giới thực tại mà tôi đang sống—nơi đây, một cộng một dứt khoát phải bằng hai, nơi đây nếu người ta đi đúng đường, làm đúng quy tắc thì chắc chắn sẽ chạm tới kết quả đúng, chứ không bao giờ có chuyện làm lụng quần quật từ sáng đến tối mịt mà vẫn phải nhận về những lời chửi rủa và những trận đòn roi vô cớ.
Tôi giải xong hai bài toán đầu tiên chỉ trong chưa đầy năm phút đồng hồ. Tôi thở phào một cái, khẽ ngẩng đầu lên nhìn cô Hạnh, trong đáy mắt không giấu nổi tia sáng lấp lánh của một sự tự hào non nớt, vụng dại—niềm kiêu hãnh của một đứa trẻ vừa tự mình làm nên một điều gì đó phi thường.
Cô Hạnh chăm chú nhìn từng dòng chữ, từng con số tôi vừa viết ra. Khóe môi cô hơi giãn ra, thoáng gợn lên một nét cười kín đáo, ấm áp. Nhưng rồi, ánh mắt cô trượt xuống phía dưới, dừng lại ở bài toán thứ ba.
"Bài ba đâu? Sao không làm tiếp đi em?" cô hỏi, giọng trầm hẳn xuống.
Tôi nhìn trân trân vào dòng biểu thức: *(x + 15) : 3 = 18*. Đầu óc tôi bỗng nhiên khựng lại, nghẽn tắc như dòng suối cạn gặp phải tảng đá tảng chắn ngang.
Dấu ngoặc đơn.
Tôi đã từng nhìn thấy hai cái vòng cong cong kỳ lạ ấy một lần duy nhất trên tấm bảng đen của lớp học cách đây hơn hai tuần. Nhưng đúng vào buổi sáng cô giảng bài đó, bác Lương bắt tôi phải ở nhà vác cuốc đi vỡ vạt cỏ gianh trên sườn Pha Luông. Tối hôm ấy, con bé Lan lén ngồi cạnh chõng tre của tôi, cố nhớ lại những gì cô giáo dạy trên lớp để thì thào kể lại cho tôi nghe. Nhưng trí nhớ non nớt của một đứa trẻ lớp một làm sao truyền tải hết được các bước giải phức tạp của biểu thức đại số. Con bé chỉ lắc đầu bảo tôi một câu mù mờ: "Cái gì mà nhét ở trong hai cái vòng cong cong như cái sừng trâu ấy thì cô giáo bảo phải làm trước anh ạ."
Nhưng ở đây, làm sao mà làm trước được khi có một con số *x* bí ẩn, câm lặng đang nằm chình ình chắn ngang bên trong? Muốn tìm *x*, tôi phải phá tung cái vòng cong ấy bằng cách nào? Trong đầu tôi nhớ mang máng một mẩu quy tắc rời rạc về số bị chia, số chia và thương số, nhưng những lỗ hổng kiến thức bị khoét sâu bởi những ngày nghỉ học triền miên đã biến thành một vực thẳm ngăn cách tôi với lời giải. Tôi cắn chặt môi đến bật cả máu tươi, vị mằn mặn tanh nồng lan ra đầu lưỡi. Mồ hôi tay rỉ ra làm ướt đẫm thân gỗ bút chì trơn tuột. Tôi cố lục lọi trong mớ ký ức chắp vá, gom nhặt từng mảnh vụn chữ nghĩa mà mình đã nghe lỏm được ngoài cửa sổ lớp học, nhưng càng cố giãy giụa, mớ bòng bong trong đầu càng siết chặt lại.
Bí quá hóa liều, tôi run rẩy đặt đầu bút chì xuống giấy, viết bừa một dòng:
*x + 15 = 18 : 3* *x + 15 = 6* *x = 6 - 15 (?)*
Đến cái dấu hỏi chấm đặt trong ngoặc ấy, ngòi bút chì gãy toét một tiếng cạch khô khốc.
Số sáu nhỏ bé thế kia thì làm sao trừ nổi cho số mười lăm? Phép tính tắc tị hoàn toàn. Tôi ngồi chết trân trên chiếc ghế gỗ, hai tai nóng bừng, máu dồn lên mặt đỏ gay vì một nỗi xấu hổ tột cùng. Cảm giác kiêu hãnh vừa nhen nhóm cách đó vài phút lập tức vỡ tan tành như bong bóng xà phòng, nhường chỗ cho một nỗi nhục nhã ê chề đang cào xé ruột gan. Hóa ra tôi vẫn chỉ là một đứa trẻ dốt nát, một kẻ chắp vá học lỏm đầu đường xó chợ, không có lấy một chút căn bản nào ra hồn.
Cô Hạnh lặng lẽ ngồi nhìn từng cử chỉ lúng túng, bẽ bàng của tôi. Cô không hề bật cười chế giễu, cũng không giật lấy tờ giấy nháp để gạch một chữ "sai" đỏ chót. Cô chỉ khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ, kéo chiếc ghế của mình lại gần tôi hơn một chút, rồi cầm cây bút mực chấm một chấm tròn nho nhỏ ngay dưới dấu chia hai chấm trong bài làm của tôi.
"Em suy luận rất nhanh," cô mở lời, từng âm sắc trầm ấm vang lên rõ rệt trong gian phòng kho thóc mênh mông, tĩnh mịch. "Hai bài toán có lời văn ở trên, em giải hoàn toàn bằng trực giác và kinh nghiệm thực tế của mình rất tốt. Em có một bộ óc trời phú để nắm bắt bản chất của số lượng mà không hề bị gò bó vào những khuôn mẫu cứng nhắc. Nhưng em nhìn lại bài thứ ba này xem."
Cô gõ nhẹ đầu ngón tay trỏ xuống biểu thức đang nằm dang dở:
"Cái cụm *(x + 15)* này đang đứng ở vị trí nào trong một phép chia? Nó đứng trước dấu chia, nó là số bị chia. Muốn tìm một số bị chia chưa biết, quy tắc cơ bản nhất là ta phải lấy thương nhân với số chia. Tại sao em lại đem lấy thương chia cho số chia? Tại sao 18 lại đem chia cho 3?"
Tôi lí nhí trong cổ họng, hai mắt dán chặt xuống mặt đất, giọng nghẹn lại: "Em... em nghe người ta bảo... chuyển vế thì phải đổi dấu..."
"Em nghe lỏm được cái khái niệm 'chuyển vế đổi dấu' ấy ở đâu ra? Đó là kiến thức của học sinh cấp hai, của lớp sáu, lớp bảy. Em thậm chí còn chưa học hết quy tắc tìm thành phần chưa biết của một phép tính số học cơ bản nhất, mà đã vội vàng áp dụng những thứ nghe chăng hay chớ ngoài cửa sổ lớp học." Cô Hạnh thở dài, một tiếng thở dài trĩu nặng sự xót xa chứ không hề có chút gì trách cứ. "Em bị rỗng bài này vào tuần trước, có đúng không? Hôm thứ Ba tuần trước em không đến lớp."
Tôi giật thót mình, sống lưng cứng đờ lại. Cô nhớ. Cô nhớ chính xác từng buổi một mà tôi vắng mặt. Hôm thứ Ba tuần trước, trời đổ một trận mưa rào trái mùa xối xả, vạt nương sắn bên sườn dốc bị sạt lở một mảng lớn. Bác Lương đã lôi tuột tôi dậy từ lúc bốn giờ sáng, ném cho một chiếc xẻng cùn và bắt tôi dầm mưa suốt mười hai tiếng đồng hồ dưới rét căm căm để xúc từng xẻng đất đá kè lại chân nương, hai bàn chân ngâm trong bùn buốt giá đến mức mất hết cảm giác.
"Và thứ Năm tuần kia nữa, em đến muộn gần một tiếng đồng hồ," cô Hạnh tiếp tục nói, thanh âm của cô đều đều, trầm tĩnh nhưng sắc lẻm như một lưỡi dao gọt từng lớp vỏ bọc bên ngoài. "Em đã bỏ lỡ toàn bộ phần khái niệm hình học cơ bản. Rồi đến hôm thứ Bảy vừa rồi, em lại gục đầu xuống bàn ngủ thiếp đi đúng vào cái lúc cô đang giảng về thứ tự ưu tiên của các phép tính trong biểu thức có dấu ngoặc."
Từng lời, từng chữ của cô Hạnh như những nhát búa nện thẳng vào cái vỏ bọc tự tôn giả tạo mà tôi đã cố công gồng mình dựng lên suốt bấy lâu nay. Tôi cứ ngỡ, với sự láu cá và trí nhớ trời cho, tôi có thể khỏa lấp đi tất cả những khoảng trống mênh mông do những buổi nghỉ học bằng cách thức thâu đêm chép trộm từng dòng chữ nguệch ngoạc trong vở con bé Lan. Tôi cứ ngỡ mình chỉ cần tự ngồi nhẩm tính những hạt ngô trong đầu, giải được dăm ba bài toán mẹo vặt của người lớn dưới chợ là có thể nhảy cóc qua những bậc thang kiến thức mà người ta phải trầy trật học từng ngày.
"Nam này," cô Hạnh đặt hẳn hai bàn tay lên mép bàn, ánh mắt cô nhìn thẳng tắp vào gương mặt lem nhem, hốc hác của tôi, nghiêm cẩn và kiên định vô cùng. "Cô biết em sáng dạ. Ở cái trường bản heo hút này, mười năm đi dạy xóa mù chữ của cô, cô chưa từng gặp một đứa trẻ nào có một bộ óc nhạy bén với những con số như em. Nhưng em phải nghe cho thật rõ điều cô nói hôm nay, nghe và khắc sâu vào trong ruột gan mình: Năng lực của một con người không bao giờ có thể lớn lên chỉ bằng những lần cố gắng vụn vặt."
Lời cô nói như một hồi chuông đại hồng chung gióng lên giữa đêm vắng, đập tan mọi sự ảo tưởng non nớt trong tôi. Tôi run rẩy ngước mắt lên, bắt gặp ánh nhìn thăm thẳm, nghiêm khắc đến nao lòng của người giáo viên miền xuôi.
"Em nghĩ rằng em có thể vừa làm nương, vừa chạy trốn việc nhà, vừa nhặt nhạnh vài ba con chữ rơi rớt ngoài cửa lớp mà trở thành một người có học, một người giỏi giang thực sự được hay sao?" Cô Hạnh gằn từng tiếng, giọng cô nghiêm nghị đến mức làm tôi run bắn cả người, nhưng đó là sự nghiêm khắc của một người đang cố níu lấy một mầm cây sắp gãy chứ không phải để vùi dập nó xuống bùn đen. "Học vấn là một tòa nhà xây bằng gạch đá kiên cố, từng viên một phải được người ta đặt ngay ngắn, cẩn trọng từ dưới móng lên. Em vắng một buổi học là em tự tay rút đi một viên gạch dưới chân mình. Em đến muộn một giờ là em làm xô lệch cả một góc tường. Cứ chắp vá, cứ lượm lặt vụn vặt như thế này, cái tòa nhà học vấn của em trông thì có vẻ cao ráo, sáng sủa đấy, nhưng chỉ cần gặp một bài toán hơi lắt léo một chút, gặp một kỳ thi thật sự ngoài huyện, ngoài tỉnh, nó sẽ đổ sụp tan tành ngay lập tức!"
Nước mắt tôi trào ra, nóng hổi và cay xè nơi khóe mi. Tôi cắn chặt môi đến mức bật cả máu để không bật ra tiếng khóc thút thít. Từng lời nói của cô đâm trúng vào nỗi đau đớn, nỗi mặc cảm sâu kín nhất đang giày vò tôi từng ngày từng giờ: tôi là một đứa trẻ chắp vá. Cuộc đời tôi từ ngày cha mẹ mất là một chuỗi chắp vá khốn khổ—chắp vá bằng những âu cơm nguội thừa mứa của nhà bác, bằng manh áo chàm rách nát của thằng Tùng thải ra, và cả việc học của tôi cũng chắp vá bằng những mảnh giấy gói thuốc lào nhặt ven đường và bốn trang giấy trắng thiêng liêng sót lại trong cuốn sách tập đọc của người mẹ đã khuất.
"Em không muốn chắp vá..." Tôi thốt lên, thanh âm nghẹn ngào vỡ vụn trong cuống họng khô rát. "Em muốn học... thật sự em muốn học..."
"Muốn học thì phải học cho tử tế, học cho có căn có cốt," cô Hạnh dứt khoát ngắt lời tôi, nhưng ánh mắt cô sau cặp kính cận đã mềm đi, đong đầy sự dịu dàng và trắc ẩn. Cô kéo ngăn kéo chiếc bàn giáo viên, lôi ra một tập giấy học sinh khá dày. Tập giấy ấy được cô cắt xén mép rất phẳng phiu, đóng gáy lại cẩn thận bằng từng đường kim mũi chỉ dùng sợi chỉ khâu bao tải màu trắng ngà chắc nịch. "Đây là toàn bộ bài học và bài tập của tất cả những phần kiến thức mà em đã bỏ lỡ từ đầu học kỳ đến giờ. Cô đã chép lại tóm tắt toàn bộ lý thuyết, các quy tắc tính toán và cả những bài toán mẫu có lời giải chi tiết."
Cô đẩy tập giấy dày cộp ấy sang phía tôi, đặt ngay ngắn trước mặt tôi. Mùi giấy mới thơm ngát, mùi mực tím Cửu Long nồng đậm tỏa ra ngào ngạt, đối lập hoàn toàn với cái nghèo nàn, ẩm mốc và mùi phân chuột của gian phòng kho thóc cũ kỹ.
"Bắt đầu từ ngày mai, ngoài bài tập cô giao chung cho cả lớp trên bảng, em phải hoàn thành hết các phần bài học bù trong tập giấy này. Mỗi ngày nộp cho cô đúng hai trang. Nộp đúng hẹn, làm cẩn thận, từng nét chữ nét số phải thẳng hàng ngay lối, không được phép cẩu thả. Chỗ nào đọc không hiểu, chỗ nào làm bị tắc, sau mỗi buổi học cứ ở lại lớp mười lăm phút hỏi cô. Cô sẽ ngồi đây đợi em."
Tôi nhìn trân trân vào tập giấy đóng chỉ bao tải, hai bàn tay run rẩy đưa ra đón lấy như thể đang đón nhận một báu vật thiêng liêng nhất mà cuộc đời này ban tặng cho một đứa trẻ côi cút. Nhưng cùng lúc với niềm sung sướng tột cùng đang cuộn trào trong ngực, một nỗi kinh hoàng khác lại lập tức ập tới như một đám mây đen: thời gian ở đâu để tôi làm hai trang giấy này mỗi ngày?
Bác Lương sẽ không đời nào cho phép tôi thắp ngọn đèn dầu hỏa vào ban đêm để ngồi cặm cụi viết chữ. Tập giấy trắng tinh này nếu lọt vào mắt thằng Tùng, nó sẽ xé nát vụn ra thành từng mảnh để châm lửa hút thuốc lá trộm; nếu rơi vào tay bác Lương, bác sẽ coi đó là bằng chứng không thể chối cãi của việc tôi đang lén lút trốn tránh nghĩa vụ lao động để trả nợ áo cơm cho nhà bác.
Tôi ôm ghì tập giấy vào lòng, những đầu ngón tay chai sạn bấu chặt lấy mép bìa thô ráp, cảm nhận rất rõ sức nặng ngàn cân của một cơ hội đổi đời vừa được mở ra trước mắt—một cơ hội nghiệt ngã không cho phép tôi được yếu mềm, không cho phép tôi được phép sống một cuộc đời chắp vá thêm một lần nào nữa.
Cô Hạnh nhìn bàn tay gầy trơ xương của tôi đang níu chặt lấy tập giấy, khẽ nghiêng đầu hỏi thêm một câu, giọng cô chùng xuống:
“Ở nhà em, ngoài việc phụ giúp nương rẫy ra, có ai kèm cặp hay nhắc nhở em chuyện bài vở không?”
Câu hỏi ấy thốt ra bình dị, tự nhiên như bao lời thăm hỏi của một người lớn đối với một đứa trẻ, nhưng nó lại rơi tõm vào lòng tôi như một hòn than đỏ rực ném vào lòng bàn tay trần. Cổ họng tôi nghẹn đắng lại, mặn chát. Trong một thoáng chốc ngắn ngủi, toàn bộ nỗi uất ức bị dồn nén bấy lâu nay về những gùi củi dẻ nặng trĩu đè gãy vai áo, về chiếc chõng tre ẩm mốc sát vách đá rỉ nước lạnh buốt quanh năm, và những lằn roi quất rát bỏng da thịt tối hôm qua dâng tràn lên, chực vỡ òa ra nơi khóe mắt. Tôi thèm được mở miệng trút hết ra với cô. Tôi thèm được vạch vạt áo bông rách nát ra, chỉ thẳng vào những vết bầm tím đang giật từng cơn nhức nhối bên mạn sườn mà gào lên rằng tôi không hề có bàn học, không có lấy một giọt dầu để thắp đèn, và mỗi một ngày tôi bước chân được tới cái lớp học này đều là một trận chiến sinh tử giành giật giữa miếng ăn cầm hơi và những trận đòn roi tàn khốc.
Nhưng rồi, hình ảnh chiếc bóng lừng lững, sạm đen như một pho tượng đá của bác Lương bên hiên nhà lúc tảng sáng lại hiện lên trong tâm trí tôi, lạnh lùng, dứt khoát và tàn nhẫn.
Sự thương hại là thứ hàng hóa xa xỉ và nguy hiểm nhất trên cõi đời này đối với một đứa trẻ mồ côi đang phải ăn nhờ ở đậu. Nếu tôi mở miệng than vãn, cô Hạnh chắc chắn sẽ thương xót tôi. Cô có thể sẽ tìm đến tận nhà tôi ở xóm trên, sẽ đem cái lý lẽ của người trí thức miền xuôi ra để trách cứ vợ chồng bác tôi vì sao lại đối xử tàn nhẫn với một đứa cháu ruột thịt, vì sao lại bắt một đứa trẻ vừa học vừa phải gánh vác phần việc nặng nhọc của một người lớn.
Và rồi điều gì sẽ xảy ra sau đó? Bác Lương sẽ không bao giờ vì vài ba lời khuyên răn đạo đức của một cô giáo cắm bản mà thay đổi cái nếp nghĩ đã ăn sâu vào tủy tủy suốt mấy đời nay. Bác sẽ chỉ thấy danh dự, thể diện của dòng họ Nguyễn bị đứa cháu ăn bám đem ra bêu riếu cho thiên hạ chê cười. Bác dâu Sương sẽ lại nghiến răng trút từng lời cay độc vào từng hạt cơm độn sắn trôi qua cổ họng tôi. Và khi ấy, cái chõng tre ọp ẹp nơi chái phụ ẩm mốc cũng sẽ không còn chỗ cho tôi ngả lưng, cuốn sách của mẹ sẽ thành tro tàn, và cánh cổng dẫn tới lớp học này sẽ vĩnh viễn đóng sập lại trước mắt tôi.
Tôi không cần người ta phải thương hại mình. Tôi chỉ cần được học. Chỉ có việc học mới là cái phao duy nhất để tôi bám víu mà ngoi lên khỏi vũng bùn tăm tối này.
Tôi nghiến chặt răng, nuốt ngược giọt nước mắt vừa chực trào ra vào sâu trong lồng ngực. Tôi cúi gằm mặt xuống để mớ tóc bù xù, khét lẹt mùi nắng che đi đôi mắt đỏ hoe. Tôi không nhắc một lời nào về bác Lương, tuyệt nhiên không hé một câu về thằng Tùng hay món nợ nần truyền kiếp của cha mẹ tôi để lại.
“Dạ không... ở nhà em tự lo được hết ạ,” tôi lí nhí trả lời, cố nắn nót từng tiếng cho thật cứng cỏi, dù giọng nói vẫn còn run rẩy vụng về. “Cô cứ cho em mang bài về, em hứa sẽ làm và nộp đủ cho cô mỗi ngày.”
Cô Hạnh nhìn tôi rất lâu, ánh mắt cô dừng lại trên những ngón tay gầy guộc đang siết chặt lấy mép giấy bãi bằng đến mức trắng bệch. Dường như qua sự im lặng và nét mặt lì lợm của tôi, người giáo viên ấy đã lờ mờ cảm nhận được một bức tường vô hình nhưng vô cùng kiên cố đang dựng lên sừng sững giữa đứa học trò nhỏ này và thế giới bên ngoài—một bức tường được xây đắp bằng nỗi sợ hãi tột cùng và lòng kiêu hãnh côi cút của một sinh linh bị bỏ rơi. Cô khẽ buông một tiếng thở dài kín đáo, không gặng hỏi thêm bất cứ điều gì về gia đình tôi nữa. Cô vươn tay, vỗ nhẹ lên bờ vai áo bông rách tơi của tôi:
“Đi về kẻo trưa muộn. Nhớ lời cô dặn, mỗi ngày hai trang, không được thiếu một dòng.”
Tôi cúi gập người chào cô một cái thật sâu, ôm ghì tập giấy vào tận trong bụng áo bông, cẩn thận cài từng chiếc khuy nẹp gỗ lại để che kín mít rồi quay người, rảo bước thật nhanh ra khỏi lớp học kho thóc.
Buổi trưa vùng cao, nắng chang chang đổ lửa xuống mặt đường đất đỏ quạnh quẽ nhưng từng cơn gió buốt lạnh từ hẻm núi Pha Luông thốc về vẫn cào rát da rát thịt. Tôi cắm đầu cắm cổ chạy trên con đường mòn quen thuộc men theo vách đá dựng đứng, một tay giữ chặt lấy vạt áo trước ngực để tập giấy không bị xô lệch. Mỗi bước chân giẫm thình thịch lên sỏi đá sắc nhọn làm những lằn roi dẻ gai nơi lưng tôi giật thót từng cơn buốt nhói, nhưng tâm trí tôi lúc này đã hoàn toàn bị cuốn vào một bài toán sinh tồn mới: làm thế nào để hoàn thành trọn vẹn hai trang bài tập mỗi ngày mà không để bác Lương lấy đó làm cái cớ để tước đoạt việc học của tôi?
Ở cái nhà gỗ bốn gian của bác tôi, ban ngày là thời gian tuyệt đối thuộc về lưỡi cuốc, con rựa, sọt gùi và những vạt nương đá dốc đứng. Ban đêm lại là vương quốc của bóng tối đặc quánh, bởi vì ngọn đèn dầu hạt đỗ chỉ được phép thắp lên vỏn vẹn trong nửa giờ đồng hồ của bữa cơm tối rồi lập tức bị bác Lương thổi phụt đi để tiết kiệm từng giọt dầu hỏa đắt đỏ mua dưới chợ phiên ngoài huyện. Nếu tôi dám lén lút đốt thêm một que diêm trong chái phụ, mùi khói khét lẹt sẽ đánh thức bác Lương dậy ngay lập tức. Nếu tôi mang bài tập ra làm trên nương vào ban ngày, thằng Tùng sẽ bắt gặp, và lần này nó sẽ không chỉ đấm đá mà sẽ xé nát tập giấy đóng chỉ bao tải này thành từng mảnh vụn vứt xuống vực sâu.
Tôi vừa chạy vừa chia nhỏ từng khoảng thời gian vụn vặt nhất trong ngày mà mình có thể bòn mót được: sáng sớm, sau khi gánh xong hai chum nước mó và băm xong chuối cho lợn, tôi sẽ tranh thủ khoảng mười lăm phút trước khi trời sáng rõ để chép bài dưới ánh trăng tàn le lói nơi ngưỡng cửa chuồng trâu. Buổi trưa, lúc đám trẻ trong bản và người lớn nghỉ tay ăn ngô bung dưới bóng râm của bờ ta luy, tôi sẽ nuốt vội phần sắn luộc sượng ngắt của mình rồi lẩn vào một hốc đá khuất gió trên nương dốc Ban Nà để ngồi tính toán. Tôi sẽ không được phép ngồi yên một chỗ quá lâu. Cứ cuốc xong một luống ngô, tôi sẽ nhẩm trước cách giải của một bài toán trong đầu, nhẩm đi nhẩm lại từng bước một cho thật thuộc, rồi đến lúc gom cỏ khô đem đốt, tôi sẽ lén lút rút mẩu bút chì vạch thật nhanh các đáp số lên mặt giấy. Tôi phải làm việc gấp đôi, gấp ba người khác để nương rẫy không bao giờ bị trễ nải, để cái cuốc trong tay tôi không bao giờ được phép nằm yên một chỗ quá một khắc đồng hồ.
Về đến gần cổng rào râm bụt xơ xác của nhà bác Lương, tôi giảm dần tốc độ, bước chậm lại từng bước, hít một hơi thật sâu để điều hòa lại nhịp thở dồn dập. Tôi cẩn thận chỉnh lại vạt áo bông cho ngay ngắn, phẳng phiu, cố giấu đi vẻ phập phồng lo âu nơi lồng ngực. Nhưng vừa mới đặt bước chân đầu tiên qua bậu cửa sân trước, tôi đã thấy bác Lương đang đứng lù lù cạnh đống gỗ xoan dưới gốc cây mận trơ trụi lá.
Bác đang cầm chiếc rựa cùn mài dở trên một hòn đá suối to bản kê sát bờ rào, chiếc áo chàm lấm lem nhựa cây và đất đỏ bết chặt vào bờ vai vạm vỡ, cuồn cuộn gân guốc. Nhác thấy bóng tôi bước vào sân, bác dừng hẳn tay mài, từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc như dao cau nhìn xoáy thẳng vào người tôi.
Cái nhìn lạnh ngắt, vô cảm ấy rơi thẳng xuống phần ngực áo bông đang cộm lên một khối vuông vức của tôi. Tôi cứng đờ cả người, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi cuống họng, hai bàn tay vô thức buông thõng bên hông để cố làm ra vẻ tự nhiên, nhưng tập giấy dày cộp đóng bằng chỉ khâu bao tải vẫn nhô ra mồn một dưới lớp vải bông sờn rách.
Bác Lương đặt chiếc rựa xuống tảng đá mài phát ra một tiếng "cạch" khô khốc. Bác bước chậm rãi hai bước lại gần phía tôi. Bác không lao vào giật lấy vạt áo tôi, cũng không gầm lên quát tháo như trận đòn lôi đình tối hôm trước. Đôi mắt bác trũng sâu, sạm đen vì nắng gió và những lo toan cơm áo gạo tiền trĩu nặng của một người đàn ông miền núi phải gánh vác thêm một miệng ăn côi cút giữa những ngày giáp hạt đói kém.
Bác đứng nhìn chằm chằm vào bụng áo tôi một lúc lâu, lâu đến mức tôi tưởng như từng thớ thịt trên người mình đang bị đông cứng lại dưới cái nhìn ấy. Rồi bác cất giọng khàn đặc, thanh âm phẳng lì, lạnh tanh như một bản án không thể nào kháng cự:
“Lấy ở đâu ra một đống giấy tờ thế kia thì liệu mà giữ lấy cho cẩn thận. Tao không cấm mày học chữ, nhưng từ mùa tới, nương ngô bên sườn dốc Pha Luông phải vỡ xong trước khi mùa sương muối tràn về. Phần việc của mày từ nay sẽ nặng hơn phần việc của một người lớn đấy. Đừng có để tao bắt gặp mày lấy cớ chữ nghĩa mà bỏ dở việc nương rẫy. Một cọng cỏ gianh còn sót lại trên nương, tao sẽ quẳng cả người lẫn đống giấy tờ kia xuống đáy suối.”
Nói dứt lời, bác quay ngoắt lưng lại phía tảng đá mài, tiếp tục cúi xuống đẩy mạnh lưỡi rựa trên mặt đá ráp. Tiếng kim loại cọ vào đá phát ra những âm thanh "ken két, ken két" chói tai, buốt óc rợn người. Bác không buồn hỏi xem tập giấy ấy do cô giáo cho hay tôi nhặt nhạnh ở đâu về, cũng chẳng buồn ngẩng lên nhìn lại xem sắc mặt tôi lúc này tái mét hay đỏ gay. Lời cảnh cáo lạnh lùng ấy như một nhát búa tạ giáng thẳng vào tâm can tôi: cái quyền được học của tôi có tồn tại được hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào việc đôi tay gầy guộc này có chịu khuất phục trước cái cuốc cùn và mảnh nương đá tai mèo hay không.
Tôi khẽ cúi đầu, lí nhí đáp một tiếng “Vâng” thật nhỏ trong cổ họng rồi lầm lũi đi vòng ra phía chái phụ sau nhà. Tôi rón rén bước vào góc chõng tre ẩm thấp, cẩn thận rút tập bài tập từ trong bụng áo ra, giấu kỹ vào một khe nách hẹp giữa hai tảng đá hộc dùng để kê chân chõng, lấy một mảnh bao tải dứa rách phủ kín lên trên để tránh bụi và chuột bọ. Xong xuôi, tôi vội vã xỏ chân vào đôi dép cao su rách mũi, với lấy chiếc cuốc cùn dựng ở góc hiên rồi cắm đầu bước thẳng một mạch lên nương ngô.
Những ngày sau đó trôi qua đối với tôi như một cuộc chạy đua nghẹt thở, khốc liệt giữa sức chịu đựng của thể xác và ý chí sinh tồn.
Đúng như những gì đã vạch sẵn trong đầu, tôi tận dụng từng mẩu thời gian ngắn ngủi, vụn vặt nhất có thể bòn mót được trong ngày. Đêm đến, tôi nằm im lìm trên chõng tre ẩm mốc, lắng tai nghe ngóng từng tiếng động nhỏ. Đợi cho đến khi cả nhà bác Lương đã chìm sâu vào giấc ngủ, tiếng ngáy sấm ran của bác bắt đầu vang lên đều đặn qua vách nứa, tôi mới dám rón rén bò dậy như một cái bóng ma. Tôi lần mò lấy tập giấy ra, nương theo từng vệt ánh trăng mỏng manh rọi qua kẽ liếp nứa để đặt bút làm bài.
Có những đêm mây mù Pha Luông kéo về đặc quánh, nuốt chửng cả vầng trăng tàn, gian chái phụ tối đen như mực không nhìn thấy rõ bàn tay. Những đêm ấy, tôi phải dùng đầu ngón tay sờ soạng lên từng dòng chữ cô Hạnh viết mẫu để nhớ lấy mặt số và quy tắc tính, rồi dùng ngòi bút chì miết thật mạnh vào trang giấy trắng, để lại những rãnh hằn sâu hoắm để sáng hôm sau, khi vừa mở mắt ra, tôi chỉ việc nhìn vào những nếp hằn ấy mà tô lại nét mực cho ngay ngắn.
Mỗi buổi sáng bước chân đến lớp học mượn tạm nơi kho thóc, tôi đều nộp đủ cho cô Hạnh đúng hai trang bài làm như đã hẹn. Những trang giấy nháp trắng tinh khôi của cô khi trở về tay cô đã bị những ngón tay thô ráp của tôi làm lem nhem vài vệt bùn đất nương rẫy và những vệt than củi đen đúa, nhưng từng con số, từng bước giải của các phép tính đều thẳng hàng ngay lối, cẩn thận và sạch sẽ đến mức không thể nào tìm ra một nét gạch xóa cẩu thả.
Cô Hạnh chấm bài cho tôi vô cùng tỉ mỉ. Cô không chỉ dùng bút đỏ khoanh tròn và chữa lại những lỗi sai về phép tính, mà đúng như lời cô đã hứa, mỗi buổi tan trường, cô đều giữ tôi lại thêm mười lăm phút đồng hồ.
Gian phòng học mượn tạm của kho thóc cũ vào những buổi trưa vắng lặng ấy dần trở thành một khoảng trời hoàn toàn khác biệt, một ốc đảo bình yên kỳ diệu đối với cuộc đời côi cút của tôi. Ở nơi ấy, không có tiếng đay nghiến róc rách của bác dâu Sương, không có những cái thúc cùi chỏ hiểm hóc của thằng Tùng, cũng không có cái nhìn sắc lạnh như lưỡi rựa của bác Lương. Ở nơi ấy, chỉ có tiếng ngòi bút máy của cô Hạnh xoèn xoẹt chạy trên mặt giấy, mùi thơm dịu nhẹ, thanh mát của cành lá ổi tươi cắm trong ấm trà xanh, và thanh âm trầm ấm, rành mạch của cô khi kiên nhẫn giảng giải cho tôi từng mắt xích kiến thức bị đứt đoạn bấy lâu nay.
Những buổi trưa ấy, cô bắt đầu dò hỏi tôi về chuyện tương lai, nhưng bằng một cách kín đáo, ý nhị và trân trọng vô cùng:
“Nam này, nếu em học hết lớp xóa mù chữ và chương trình bổ túc này ở bản Nà Ban, em có muốn xuống trường cụm ngoài xã để học tiếp lên cấp hai không?”
Tôi đang cặm cụi cúi đầu nắn nót sửa lại một phép nhân ba chữ số có nhớ, nghe cô hỏi bất ngờ thì khựng hẳn ngòi bút chì lại. Trường cụm ngoài trung tâm xã cách bản Nà Ban của tôi hơn mười cây số đường rừng quanh co, hiểm trở. Đám trẻ con dưới xã có cặp sách đàng hoàng bằng vải bạt, được mặc đồng phục áo trắng quần xanh và đi dép nhựa Tiền Phong mới tinh.
“Em... em không biết nữa cô ạ,” tôi ấp úng trả lời, hai mắt nhìn trân trân xuống đầu ngón chân nứt nẻ, lấm lem bùn đất của mình.
“Trường xã năm nay có mở một lớp chọn Toán,” cô Hạnh nhìn tôi, giọng cô ấm áp lạ thường, đong đầy một niềm tin tưởng chân thành. “Nếu em chịu khó nắm thật vững những phần kiến thức căn bản này, rèn luyện thêm tư duy logic và các phương pháp giải bài bản, cô tin chắc em hoàn toàn có đủ khả năng thi đỗ vào đội tuyển học sinh giỏi Toán của huyện. Cô tin là em sẽ làm được.”
Lời nói của cô Hạnh như một luồng điện ấm áp chạy dọc sống lưng, làm bừng sáng cả tâm can tôi.
Đội tuyển học sinh giỏi? Trường ngoài huyện? Đó là những khái niệm xa xôi, mờ ảo như những dải mây trắng bồng bềnh quấn quanh đỉnh núi Pha Luông mà một đứa trẻ ăn nhờ ở đậu, sống nhờ cơm thừa canh cặn như tôi chưa từng bao giờ dám để nó lọt vào trong giấc mơ của mình. Nhưng điều làm cho toàn thân tôi run rẩy, xúc động nhất vào giây phút ấy không phải là những danh hiệu hay trường lớp xa xôi kia, mà chính là ánh mắt của cô Hạnh khi cô đang nhìn tôi.
Suốt những tháng ngày dằng dặc kể từ khi cha mẹ tôi qua đời, tất cả những người lớn sống xung quanh tôi đều nhìn tôi qua một lăng kính duy nhất: lăng kính của sự sòng phẳng tàn nhẫn và lạnh lùng. Một bát cơm độn sắn đổi lấy một gùi củi dẻ gai đầy ắp, một chỗ ngả lưng trên chiếc chõng tre rách nát đổi lấy hai chiếc chum sành ngập nước mó mát lạnh. Tôi luôn phải gồng mình chứng minh giá trị sinh tồn của mình từng ngày, từng giờ bằng những giọt mồ hôi mặn chát, bằng sự cam chịu câm lặng và những vết chai sần nứt toác trên hai bàn tay. Chưa một lần nào trong đời, có một người lớn nhìn vào tôi, đặt kỳ vọng vào tôi mà không kèm theo một điều kiện lao động trả nợ, không đòi hỏi tôi phải đền đáp lại ngay bằng những đống đá hộc xếp ngay ngắn hay những luống ngô xanh tốt trên sườn dốc.
Cô Hạnh đặt kỳ vọng vào trí tuệ của tôi. Cô nhìn thấy trong hình hài một đứa trẻ rách rưới, lem luốc này một con người thực sự—một con người có thể ngẩng cao đầu bước chân ra khỏi cái thung lũng đá nghèo nàn, tăm tối này bằng chính khối óc và sự nỗ lực của bản thân mình. Đó là lần đầu tiên trong suốt những tháng ngày thơ ấu côi cút, tôi cảm nhận được sự tôn trọng thực sự từ một người lớn—một thứ tình thương cao quý, thuần khiết không hề ban phát, không hề có sự mặc cả hay toan tính thiệt hơn.
Nhưng tôi càng khao khát muốn đáp lại niềm kỳ vọng thiêng liêng ấy của cô bao nhiêu, thì sự thật trần trụi, cay đắng về cuộc sống thực tại của tôi lại càng như một cái gai nhọn hoắt đâm buốt vào da thịt bấy nhiêu. Tôi phải giấu cô tất cả mọi thứ. Tôi giấu cô cơn đói cào xé ruột gan mỗi sớm mai bước chân đến lớp, giấu những đêm thức trắng mò mẫm vẽ từng con số dưới ánh trăng mờ, và giấu cả nỗi nơm nớp sợ hãi từng cơn gió núi có thể thổi bay mất bốn trang giấy trắng thiêng liêng của người mẹ đã khuất.
Buổi trưa hôm ấy, sau khi cô kiên nhẫn giảng giải cho tôi hiểu xong bản chất của bài toán rút về đơn vị, cô Hạnh nhẹ nhàng gấp tập bài học bù lại, rút ra đưa cho tôi hai trang bài tập mới toanh. Tôi vội vã đưa hai tay đón lấy, cuộn tròn lại nhét nhanh vào sâu trong bụng chiếc áo bông trần rồi khoanh tay cúi đầu thật thấp, định bụng quay lưng chạy thật nhanh về nhà cho kịp giờ ăn bữa cơm độn và gùi củi chiều lên nương.
Nhưng khi bàn tay tôi vừa mới chạm vào chiếc then cài bằng nứa ọp ẹp nơi cánh cửa lớp học kho thóc, tiếng cô Hạnh bỗng vang lên từ phía sau lưng.
Lần này, đó không còn là giọng giảng bài ấm áp, kiên nhẫn thường nhật nữa. Giọng cô hạ thấp xuống, trầm và nghiêm cẩn đến mức làm thắt lại lồng ngực:
“Nam, đứng lại đã.”
Tôi dừng phắt lại, tim thắt lại một nhịp đau nhói. Tôi chầm chậm quay người lại, lưng tựa chặt vào cánh cửa nứa ọp ẹp đang rung lên bần bật theo từng cơn gió núi.
Cô Hạnh từ từ đứng dậy khỏi chiếc bàn giáo viên. Cô bước từng bước chậm rãi, dứt khoát trên nền đất nện, tiến thẳng lại đứng ngay trước mặt tôi. Ánh mắt cô sau cặp kính cận nhìn thẳng tắp vào khuôn mặt hốc hác, vàng vọt vì thiếu ăn thiếu chất của tôi, lướt qua đôi mắt trũng sâu thâm quầng vì những đêm thức trắng triền miên dưới ánh trăng, rồi dừng lại trân trân ở vạt áo bông vá chằng vá đụp đang cộm lên tập giấy mỏng manh trước ngực.
Cô nhìn sâu vào tận đáy mắt tôi, cất tiếng hỏi thẳng, từng lời từng chữ rành rọt vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch, xé toang mọi sự lẩn tránh vụng về mà tôi đã cố công gồng mình gìn giữ suốt bấy lâu nay:
“Nói thật cho cô biết: Vì sao em luôn thiếu sách, thiếu vở, và vì sao ngày nào lên lớp em cũng ngủ gật như một người kiệt sức thế này?”