Mảnh Giấy Thừa Bờ Sông Đuống
Mùi ẩm mốc ngai ngái bốc lên từ lớp phù sa sền sệt ven mép sông Đuống hòa lẫn vào hương thơm nồng gắt, mằn mặn của bột vỏ sò điệp nghiền mịn đón Lâm Phong và Minh Ngọc khi chiếc xe máy cũ kỹ khựng lại trước cổng xưởng tranh họ Lưu.
Trước mắt họ, con ngõ nhỏ lát gạch nghiêng đã mòn vẹt mép theo năm tháng dẫn thẳng vào một khoảng sân rộng thênh thang, nơi đang phơi la liệt hàng chục chiếc nong tre đan ken dày đựng những thếp giấy bản truyền thống. Nắng hanh hao, vàng vọt của cữ chớm đông rọi nghiêng qua rặng tre ngà bên bờ đê, dát lên từng xấp giấy quét điệp một thứ ánh sáng lấp lánh như vảy cá dưới đáy nước trong vắt. Từng lớp bột xà cừ trắng muốt được chổi thông quét đều tay, để lại những đường vân sọc dài mảnh dẻ, gợn sóng lăn tăn, khô dần dưới ngọn gió bấc se lạnh thổi thốc từ bãi bồi ngoài bến nước.
Căn nhà cổ năm gian dựng bằng gỗ lim và dổi của dòng họ Lưu sừng sững bên triền đê đất nện, mái ngói vảy cá sẫm màu đã phủ một lớp rêu phong xám xịt tựa như chiếc mai rùa khổng lồ qua hàng trăm năm dầm dãi mưa nắng. Bên chái đông là gian xưởng khắc gỗ mở toang các cánh cửa liếp, vẳng ra tiếng đục chạm lách cách, lạch cạch đều đặn của những người thợ đang tỉ mẩn từng thớ gỗ thị. Còn chếch hẳn về phía góc tây khuất bóng râm của cây nhãn cổ thụ là một căn nhà kho xây bằng gạch chỉ đỏ dày dặn, tường trát vôi mật mía đã ố vàng, then cài cửa gỗ lim kiên cố, toát ra vẻ tĩnh mịch đến lạnh người.
Ông Lưu Văn An lập cập bước trước dẫn đường. Dáng người ông còng rạp, chùm chìa khóa bằng sắt tây và đồng thau cũ kỹ va vào nhau lanh canh, lách cách run rẩy trong bàn tay gầy guộc chằng chịt những đường gân xanh và những vệt chàm thâm đen ăn sâu vào kẽ móng.
“Cậu Phong, cô Ngọc… đây là gian kho gia bảo của dòng họ chúng tôi,” ông An dừng lại trước cánh cửa lim đôi dày gần năm phân, giọng nghẹn ứ lại trong lồng ngực vì một nỗi âu lo dồn ứ suốt hai ngày qua. “Từ đời cụ kỵ, rồi đến đời ông nội và bố tôi truyền lại, mọi bản khắc cổ bằng gỗ thị từ thế kỷ trước, cùng những bức tranh quý nhất của dòng họ đều cất kỹ ở trong này. Tôi giữ gìn từng li từng tí, sớm lau bụi, chiều xông trầm xua mọt, chẳng bao giờ dám lơ là nửa bước… chẳng ngờ lại có ngày cơ nghiệp của tổ tiên bị vấy bẩn ngay dưới chân mình…”
Lâm Phong không vội bước vào. Anh giơ một bàn tay lên ngang ngực, nhẹ nhàng ra hiệu cho ông lão thợ tranh đứng yên tại chỗ. Anh khẽ hạ thấp trọng tâm, cúi người sát xuống mép then cài bằng gỗ chìm nửa thân vào hèm cửa.
Đó là một ổ khóa đồng cổ có hình vòm mai rùa đúc đặc, thân khóa ngả màu xanh ten gỉ sét theo quy luật bào mòn của thời gian, nhưng kỳ lạ thay, phần càng khóa bằng thép tôi và lỗ tra chìa lại trơn láng, bóng loáng một lớp dầu mỡ bảo dưỡng rất cẩn thận. Phong rút từ túi áo khoác ngoài chiếc kính lúp gấp cán sừng đồi mồi và một cây đèn pin chuyên dụng phát ra chùm ánh sáng trắng có độ hoàn màu tuyệt đối. Anh rà từng vệt sáng mảnh như sợi chỉ dọc theo khung bao bằng gỗ nghiến, mép nẹp cửa và các chốt hoa sắt rèn thủ công đóng ngập vào xà ngang.
“Không có bất kỳ vết trầy xước cơ học nào cả,” Phong lẩm bẩm, tròng mắt nheo lại phía sau thấu kính phóng đại, chăm chú soi vào từng gờ rãnh của then cài. “Bụi bám trên mặt trên của then gỗ đỉnh cửa còn nguyên một mảng mạng nhện mỏng tang, không hề rách dù chỉ một mắt lưới. Ổ khóa đồng mai rùa này cũng hoàn toàn sạch bóng, không có dấu vết trầy xước của vam phá khóa, không có vết cạy bẩy của xà beng, và càng không có dấu hiệu bị a-xít loãng ăn mòn rỗ mặt kim loại. Muốn mở cánh cửa này một cách nguyên vẹn mà không phá vỡ liên kết vật lý xung quanh, trên thực tế chỉ có đúng hai cách: hoặc là dùng chìa khóa cơ học tra thẳng vào ổ, hoặc là nhấc bổng cả hai cánh cửa ra khỏi cối bản lề.”
Ngọc cúi thấp người xuống chân tường, chiếc áo len mỏng khẽ bay theo làn gió lạnh từ hiên nhà lùa qua. Cô chăm chú nhìn hai chiếc chốt cối bản lề đá nằm chìm sát mặt đất, đưa đầu ngón tay khẽ chạm nhẹ vào lớp vôi vữa chân tường đã rỗ hoa mai rồi ngẩng lên lắc đầu dứt khoát: “Bản lề cối đá được chôn sâu vào móng gạch chỉ cổ, rêu xanh và lớp bụi ẩm phủ kín các kẽ nứt li ti từ mùa mưa trước không hề bị xê dịch. Cánh cửa gỗ lim nặng hàng tạ này tuyệt đối không bị ai tháo ra hay nhấc khỏi cối xoay. Vậy tức là…”
“Tức là kẻ đột nhập đã mở cánh cửa này một cách đàng hoàng, hợp pháp và vô cùng tự tin,” Phong tiếp lời, đứng thẳng người dậy nhìn xoáy vào đôi mắt đùng đục của ông lão. “Bác An, ngoài chiếc chìa khóa duy nhất treo trên chùm chìa bác đang cầm trong tay, chiếc khóa đồng mai rùa này còn chìa phụ nào khác tồn tại hay không?”
Bàn tay ông lão thợ tranh khẽ run bắn lên một cái, đuôi mắt nhăn nheo co giật liên hồi, từng thớ thịt trên gò má hóp lại giần giật: “Có… có một chiếc chìa phụ bằng đồng thau do chính cụ thân sinh tôi đặt phường thợ rèn đúc cùng một mẻ với ổ khóa này. Nhưng chìa đó… lạy trời lạy đất, từ đầu tháng này, tôi đã giao lại cho thằng Sơn. Nó là cháu ruột gọi tôi bằng cậu ruột, lại là thợ chính duy nhất có tay nghề khắc ván sắc sảo được tôi nhắm để truyền lại toàn bộ bí quyết nghề tranh cho đời sau. Tôi giao chìa cho nó để nó chủ động mở kho quét dọn bụi bẩn, kiểm tra độ ẩm và trở ván định kỳ cho mấy trăm tấm ván khắc gỗ thị… Tôi coi nó như con đẻ, có miếng ngon cũng phần nó, nghề tổ cũng tính trao tay cho nó… ai ngờ đâu…”
“Và suốt cả tháng qua, chỉ có duy nhất hai người nắm giữ chìa khóa để vào gian kho này,” Ngọc ghi nhanh từng lời vào cuốn sổ tay bìa da nhỏ, ngòi bút bi lướt sột soạt, ánh mắt sắc sảo khẽ liếc về phía gian xưởng gỗ liền kề bên cạnh.
Phong khẽ gật đầu, vươn tay đẩy nhẹ cánh cửa lim dày cộp. Cánh cửa nặng trịch xoay trên cối đá phát ra một tiếng cọt kẹt trầm đục, mở ra một không gian kho tranh mờ tối, mát lạnh và phảng phất mùi khói trầm hương hun chống mối mọt quyện lẫn với mùi ẩm mốc của giấy dó lưu cữu nhiều năm. Dọc theo bốn bức tường quét vôi xám là những chiếc giá gỗ nhiều tầng đóng bằng gỗ dổi, xếp ngay ngắn hàng trăm bản khắc gỗ thị đen nhánh màu mực nho và nhẵn bóng vì mồ hôi tay của biết bao thế hệ nghệ nhân.
Ở chính giữa căn phòng kho, chiếc giá đỡ bằng gỗ gụ chạm hoa văn mây cuộn đứng trơ trọi và trống hoác — nơi mà mới chỉ hai ngày trước, bản in cổ truyền đời của bức “Đám cưới chuột” với năm lớp màu tự nhiên từ sỏi son, hoa hiên, chàm và tro than lá tre vẫn còn ngự trị uy nghiêm, trước khi nó bị tráo đổi trắng trợn bằng một bản phục chế vụng về, vô hồn.
Phong tiến lại gần chiếc giá gụ, dùng đèn pin rà sát từng kẽ nẹp gỗ gụ đã lên nước bóng lộn. Bụi bám trên mặt gỗ có những khoảng trống tròn trịa, vết bột điệp rơi rớt rất ít, chứng tỏ kẻ lấy tranh đã thao tác vô cùng thận trọng. Thế nhưng, ở một góc chân đế tiếp giáp giữa thanh giằng ngang và mặt sàn gạch nung, Phong bất thần khựng lại. Anh dùng chiếc nhíp nhỏ kẹp lên một sợi tơ chỉ màu đỏ điều mảnh mai — loại chỉ xe ba sợi chuyên dùng để viền mép giấy bản thủ công trước khi tiến hành bồi biểu tranh trục.
Phong giơ sợi chỉ lên trước ánh sáng đèn pin, ngắm nghía trong vài giây rồi cẩn thận cho vào một chiếc phong bì giấy bóng kính trong suốt. Anh kéo khóa túi áo khoác, quay sang nói với ông lão thợ tranh: “Bác An dẫn chúng cháu sang xưởng khắc gỗ bên cạnh. Hiện trường tráo tranh nằm ở đây, nhưng nơi gia công ra bức tranh giả, chuẩn bị hồ dán và hoàn tất công đoạn ngụy tạo thì chắc chắn phải nằm ở nơi có đầy đủ dụng cụ bồi tranh, pha chế điệp và nấu hồ nếp.”
Gian xưởng khắc gỗ nằm cách kho tranh một khoảng sân gạch nhỏ phủ đầy rêu phong và những lu nước mưa bằng sành da lươn. Nơi đây sáng sủa và thoáng đãng hơn hẳn nhờ những khung cửa sổ lớn trổ thẳng ra triền đê sông Đuống. Từng đợt gió đông lồng lộng thổi qua khung cửa mang theo hơi lạnh buốt giá và mùi phù sa nồng đậm đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ.
Trong xưởng, bốn chiếc bàn thao tác làm bằng những súc gỗ thông xẻ dày, chân chôn vững chãi xuống nền đất nện, mặt bàn loang lổ đủ loại vết tích của nghề tranh: vệt đen nhánh của mực tàu, sắc vàng tươi của hoa hiên, màu xanh thăm thẳm của chàm ngâm vôi, và những mảng hồ nếp khô cứng lại như những chiếc vảy sừng bám chặt trên thớ gỗ. Hai người thợ phụ trạc ngoài bốn mươi tuổi đang cặm cụi, tỉ mẩn dùng ve mài ván khắc gỗ thị, tiếng kim loại va chạm với thớ gỗ dẻo dai phát ra âm thanh lách cách đều đặn. Thấy ông An dẫn theo hai người khách lạ bước vào xưởng, họ chỉ lễ phép ngẩng đầu lên gật chào một tiếng rồi lại cắm cúi, thu mình vào từng đường lượn tinh xảo của bức họa dân gian.
Chiếc bàn thứ tư nằm biệt lập ở góc trong cùng của gian xưởng, ngay sát cạnh khung cửa sổ mở hé nhìn thẳng ra lối mòn thoai thoải dẫn xuống bến đò sau đê. Chiếc bàn này hiện đang bỏ trống. Không gian làm việc ở đây bừa bộn hơn hẳn so với sự ngăn nắp, mực thước của ba bàn còn lại: vài ống nứa đựng hồ nếp mở toang nắp, bên trong cắm dở những chiếc que tre vót dẹp; một chiếc bát sành men da lươn vẫn còn dính cặn bột điệp trắng lấp lánh chưa kịp rửa khô cong queo; và một chiếc khay gỗ chữ nhật đựng lộn xộn đủ loại dao trổ, ve khắc mác, kéo cắt giấy cán bọc vải và những thanh thước đồng hoen gỉ.
Phong bước những bước chân chậm rãi, nhẹ bẫng đến bên chiếc bàn trống đó. Anh không vội vã chạm tay vào bất cứ đồ vật nào, chỉ khẽ nghiêng người, đôi mắt sắc lẹm đảo qua từng góc cạnh, từng vết trầy xước trên mặt bàn gỗ thông.
“Đây là chỗ ngồi làm việc của thằng Sơn,” ông An khẽ nói, thanh âm chùng hẳn xuống, run rẩy và nghẹn ngào như thể ông đang cố sức níu giữ một ảo tưởng cuối cùng trước khi nó vỡ vụn ra thành từng mảnh tàn nhẫn. “Mấy hôm nay nó cứ bồn chồn, nhấp nhổm không yên. Nó xin phép tôi ra ngoài có việc riêng liên tục, chốc chốc lại dắt chiếc xe máy cũ chạy đi đâu mất hút ra phía ngoài đê, hỏi thì nó chỉ ậm ừ bảo đi lấy thêm giấy dó với phẩm màu ở bên chợ Hồ…”
Phong rút từ trong túi xách da ra một tấm ảnh màu chụp phóng to góc cắt mép dưới của bức tranh giả mạo mà anh đã dùng máy ảnh chuyên dụng ghi lại tại tiệm sách Mực Nâu vào sáng sớm hôm nay. Anh đặt tấm ảnh nằm phẳng phiu cạnh chiếc thước đồng trên mặt bàn, rồi rút chiếc kính lúp soi rọi cẩn thận từng milimét.
“Ngọc, em lại đây nhìn vào chỗ này,” Phong khẽ vẫy tay gọi cô trợ lý.
Minh Ngọc lập tức bước lại gần, cúi sát mái tóc ngắn ngang vai, ghé mắt nhìn sâu qua tròng kính lúp phóng đại. Dưới độ phóng đại gấp mười lần của thấu kính quang học, mép giấy điệp ở cạnh dưới bức tranh giả hiện lên vô cùng rõ nét: nó không hề thẳng thớm, phẳng phiu và dứt khoát như được rọc bằng dao trổ kim loại đặt trên thước ép chuyên dụng, mà lại lởm chởm những vết răng cưa li ti, xiêu vẹo. Đáng chú ý hơn cả, cứ cách một khoảng chừng bốn milimét lại xuất hiện một vết tưa sợi dó rất đặc thù, thớ giấy ở điểm đó bị nhăn dúm lại và ép bẹp gí sang một bên sườn trước khi bị đứt rời.
“Đây là vết cắt để lại bởi một chiếc kéo cùn, hoặc lưỡi kéo bị sứt mẻ một vết khuyết nhỏ ở ngay phần ngàm kẹp kim loại,” Ngọc đưa ra nhận định dứt khoát bằng chất giọng rành rọt. “Thủ phạm đã xén phần rìa giấy trong trạng thái tâm lý cực kỳ hoảng loạn và vội vã. Hắn không có đủ kiên nhẫn hay thời gian để trải bức tranh ra bàn phẳng, đặt thước đồng lên nẹp rồi lấy dao trổ rọc dứt khoát một đường, mà chỉ dám cầm kéo bấm tay theo đường kẻ chì vội vã.”
Phong khẽ gật đầu tán thành nhận định sắc bén của cô trợ lý. Anh rút từ túi đồ nghề một chiếc kẹp kim loại dài, nhẹ nhàng nhấc chiếc kéo rèn thủ công cán quấn vải đen đang nằm lẫn trong đống dăm bào trên bàn của Sơn lên. Đưa lưỡi kéo kim loại ra trước luồng ánh sáng ban ngày hắt vào từ cửa sổ, một vết mẻ gợn sóng nhỏ bằng đầu tăm xuất hiện rõ mồn một ngay khúc giữa của lưỡi cắt phía trên.
Phong đặt chiếc kéo xuống một tấm vải nỉ sạch, rồi đưa tay kéo nhẹ ngăn kéo bàn gỗ của Sơn. Hộc bàn không hề khóa, bên trong chứa một mớ hỗn độn những mẩu bút chì gãy vụn, vài cuộn băng dính giấy đã dùng dở bám đầy bụi gỗ và một tệp biên nhận, hóa đơn nhàu nát. Ở góc sâu nhất phía trong cùng của hộc bàn, nằm kẹt cứng giữa một khe nứt của thớ gỗ thông, là một mẩu giấy điệp hình tam giác dài chỉ bằng đốt ngón tay trỏ. Mặt trên của mẩu giấy vẫn còn phủ một lớp bột điệp óng ánh ánh xà cừ trắng bạc.
Dưới sự chứng kiến câm lặng và căng thẳng của ông Lưu Văn An, Phong dùng chiếc panh y tế nhẹ nhàng gắp mẩu giấy điệp thừa đó ra khỏi kẽ gỗ. Anh đặt nó nằm đè lên mép bức ảnh chụp phóng to vết răng cưa của bức tranh giả mạo.
Từng đường gợn sóng lồi lõm, từng sợi xơ vỏ cây dó bị dập nát, lực ép nghiêng sang một bên và cả góc lượn sắc nhọn của vết mẻ trên lưỡi kéo rèn đều ăn khớp với nhau một cách tuyệt đối, chuẩn xác đến từng phần mười milimét, không hề có lấy một sai số nhỏ nhất.
Không gian trong gian xưởng tranh dường như đông cứng lại thành băng trong tíc tắc. Tiếng lách cách gõ ve đục của hai người thợ phụ ở góc đằng xa cũng vô tình ngưng bặt. Sự im lặng bao trùm lấy căn phòng, chỉ còn lại tiếng gió bấc gầm rít từng cơn ngoài rặng tre bên mép sông Đuống.
Bỗng nhiên, từ ngoài thềm gạch vang lên tiếng bước chân vội vã, dồn dập dẫm nghiến trên những vụn gạch vỡ của lối đi. Một bóng người lao nhanh qua ngưỡng cửa gỗ.
Đó là một thanh niên trạc hai mươi lăm tuổi, vóc dáng gầy gò, mặc chiếc áo khoác gió sờn rách màu xanh rêu bám đầy bụi đường. Đầu anh ta vẫn còn đội nguyên chiếc mũ bảo hiểm nửa đầu chưa kịp tháo quai, khuôn mặt hốc hác, làn da tái xám vì gió lạnh, nhưng đôi mắt thì thâm quầng sâu hoắm và tròng mắt đỏ ngầu những tia máu chằng chịt. Vừa bước chân vào xưởng, chạm phải ánh mắt của ba người và nhìn thấy Phong đang cầm chiếc panh giữ mẩu giấy điệp ngay trên bàn làm việc của mình, người thanh niên khựng sững lại như bị sét đánh ngang tai. Vẻ mặt anh ta biến sắc trong chớp mắt, hai hàm răng va vào nhau lập cập:
“Cậu… cậu An! Mấy người này… mấy người này là ai? Sao… sao cậu lại để người lạ tự tiện lục lọi, bới tung bàn làm việc của cháu lên thế này?”
Phạm Thanh Sơn lùi phắt lại nửa bước về phía sau, hai bàn tay run rẩy bấu chặt lấy quai chiếc ba lô vải dù đeo chéo trước ngực như một phản xạ tự vệ bản năng của một con thú hoang vừa sập bẫy.
Ông Lưu Văn An đứng chôn chân tại chỗ, ngón tay gầy guộc run rẩy chỉ thẳng vào mẩu giấy điệp trên mặt bàn, lồng ngực phập phồng dữ dội, giọng ông vỡ ra vì uất nghẹn và đớn đau tột cùng: “Sơn! Mày nhìn kỹ mẩu giấy này đi! Giấy điệp thủ công loại dày quét ba lớp hồ vỏ sò tán mịn, thứ giấy đặc chế chỉ có xưởng họ Lưu nhà ta mới pha chế được, tại sao lại bị cắt xén bằng chính chiếc kéo mẻ lưỡi trên bàn của mày? Mày nói thật cho cậu biết ngay lúc này… bức tranh ‘Đám cưới chuột’ bản in cổ của tổ tiên để lại… có phải chính tay mày đã đánh tráo hay không?”
Sơn biến sắc, sắc mặt từ tái nhợt chuyển sang xám ngoét. Mồ hôi lạnh bắt đầu túa ra lấm tấm trên trán anh ta bất chấp từng cơn gió bấc thổi lùa vào buốt giá. Anh ta đảo mắt nhìn quanh một cách tuyệt vọng, đôi bàn tay cuống quýt xua lia lịa vào không khí, cất giọng the the, vội vã thanh minh bằng một tràng ngụy biện lộn xộn:
“Cậu… cậu nói cái gì thế? Cháu tráo tranh của tổ tiên bao giờ? Cháu là cháu ruột gọi cậu bằng cậu ruột cơ mà! Cậu nuôi cháu từ tấm bé, dạy cháu từng nét đục, nét khắc, làm sao cháu dám làm cái chuyện tày đình thất đức ấy! Mẩu giấy đó… mẩu giấy đó là hôm trước cháu nhặt giấy vụn ngoài sân xén lại để tập chép tay thôi! Cháu thấy tay nghề chép tranh của mình còn non kém, cậu lại nghiêm khắc hay quở mắng, nên cháu mới tranh thủ mấy buổi tối ở lại xưởng thắp đèn tập chép lại các mẫu tranh cổ để nâng cao tay nghề đặng sau này đỡ đần cho cậu! Cháu chép hỏng vứt đi cả đống vụn giấy dưới gầm bàn, làm sao cháu biết mẩu giấy ấy lại dính dáng gì đến chuyện mất mát trong kho được!”
“Tập chép?”
Phong cất giọng bình thản đến lạnh lùng. Anh bước chậm rãi một bước về phía trước, thu hẹp khoảng cách giữa mình và Sơn. Ánh mắt thám tử của anh không hề lộ vẻ hung hăng hay áp đặt, nhưng lại sắc bén và lạnh lẽo tựa như một lưỡi dao mổ sẵn sàng rạch nát mọi lớp ngụy trang vụng về nhất.
“Nếu chỉ đơn thuần là tập chép tranh để nâng cao tay nghề dưới sự chỉ dạy của nghệ nhân, tại sao anh lại phải dùng keo dán công nghiệp gốc polyvinyl acetate mau khô để dán nẹp ván lưng cho bức tranh giả, thay vì nấu hồ nếp truyền thống có pha mật mía như thói quen trăm năm của dòng họ Lưu? Và tại sao một người học nghề chân chính, tôn kính tổ tiên, lại cần phải đặt vội một quân cờ xe đen mua ở tiệm tạp hóa rẻ tiền dưới chân giá gụ trong căn kho cổ của gia đình để lại làm dấu vết?”
Sơn giật bắn người, hai bả vai co rúm lại như vừa bị một dòng điện cực mạnh đánh trúng. Anh ta trân trân nhìn Phong, đôi môi khô nứt nẻ mấp máy liên hồi nhưng cổ họng như bị một khối đá chặn ngang ứ nghẹn, không thể thốt ra nổi một lời giải thích mạch lạc nào nữa.
Trong khi Sơn đang hoàn toàn rơi vào trạng thái bấn loạn tâm lý, Minh Ngọc vẫn đứng tựa lưng vào bậu cửa sổ gỗ từ nãy đến giờ, đôi ngón tay thon thả lướt thoăn thoắt trên màn hình chiếc điện thoại thông minh. Ánh sáng xanh nhạt từ màn hình phản chiếu lên đôi mắt thông minh của cô, nơi những dòng dữ liệu, thông tin cá nhân và lịch sử truy cập số đang nhảy múa liên hồi. Là một cựu sinh viên báo chí thành thạo các kỹ thuật khai thác dữ liệu nguồn mở (OSINT) và truy vết kỹ thuật số, Ngọc chẳng mất quá nhiều thời gian để xâu chuỗi những mảnh ghép rời rạc trong cuộc sống ngầm của người thợ khắc gỗ trẻ tuổi này.
“Phạm Thanh Sơn, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1999,” Ngọc cất giọng dõng dạc, rành rọt từng chữ ngắt ngang bầu không khí ngột ngạt đang bóp nghẹt gian xưởng. “Biệt danh trên không gian mạng là ‘Sơn_KinhBac’. Anh đã dùng chung một địa chỉ email cá nhân đăng ký tài khoản Facebook để tham gia vào diễn đàn ‘Đầu Tư Tương Lai 4.0’ và một sàn giao dịch quyền chọn nhị phân nặc danh có tên ‘GoldVip’.”
Sơn hoảng loạn quay phắt sang phía Ngọc, đôi mắt đỏ ngầu mở trừng trừng đầy vẻ kinh hãi: “Cô… cô làm cái trò gì đấy? Đừng có ăn nói hàm hồ, vu khống người khác!”
“Tôi không hề vu khống anh, anh Sơn,” Ngọc xoay màn hình điện thoại về phía trước, giơ thẳng ra trước mặt Sơn. “Bộ nhớ đệm (cache) của máy chủ tìm kiếm vẫn lưu lại toàn bộ các bài đăng của anh trước khi anh vội vã bấm lệnh xóa tài khoản vào lúc ba giờ sáng ngày hôm qua. Ba tuần trước, anh đã đăng một bài viết cầu cứu tuyệt vọng trên mục ‘Tâm sự vỡ nợ’: anh vay nóng qua năm ứng dụng tín dụng đen trực tuyến và thế chấp toàn bộ tài khoản đầu tư nhị phân với tổng số tiền gốc là ba trăm hai mươi triệu đồng. Lãi mẹ đẻ lãi con theo ngày, đến hạn chót thanh toán cách đây đúng ba ngày, con số đã nhảy vọt lên ba trăm năm mươi triệu đồng. Bọn đòi nợ đe dọa nếu anh không nôn tiền ra, chúng sẽ kéo người về tận Thuận Thành bêu rếu anh, tạt chất bẩn trước cổng xưởng tranh và đập nát cơ nghiệp của cậu ruột anh.”
Ngọc dùng ngón tay vuốt tiếp xuống một bức ảnh chụp màn hình ghi lại vết tích của chuỗi tin nhắn trao đổi công khai dưới bài đăng đã bị xóa: “Và đây, hãy nhìn kỹ vào đoạn này: một tài khoản nặc danh mang bí danh ‘Người Giao Dịch’ đã để lại bình luận riêng cho anh với nội dung: *‘Muốn xóa trắng toàn bộ nợ nần, chỉ cần đổi một món đồ cũ kỹ nằm phủ bụi trong kho họ Lưu. Sẽ có người nhận hàng và đứng ra thanh toán hộ toàn bộ các khoản nợ thay cho anh.’* Có đúng từng câu từng chữ như thế này không, anh Phạm Thanh Sơn?”
Sắc mặt của Sơn từ xám ngoét chuyển hẳn sang trắng bệch, không còn lấy một giọt máu đọng trên môi. Hai đầu gối anh ta run rẩy dữ dội, cả thân hình lảo đảo chực ngã quỵ xuống nền xưởng đất nện. Đôi bàn tay lấm lem mực đen và phẩm màu bấu chặt đến trắng bệch vào quai chiếc ba lô dù, giọng anh ta vỡ vụn ra trong một cơn hoảng loạn tột cùng:
“Không… không phải như mọi người đang nghĩ đâu… Cháu bị lừa… Cháu thực sự bị người ta gài bẫy lừa gạt mà cậu An ơi! Thằng môi giới trên mạng nó bảo với cháu là nó chỉ mượn tạm bức tranh gốc của tổ tiên trong vòng hai ngày thôi… Nó bảo có một nhà sưu tầm tranh cổ ở Hà Nội muốn chụp ảnh số hóa độ phân giải cao để làm vinh danh văn hóa dân gian, rồi sau đó nó sẽ chuyển khoản thanh toán hết nợ nần cho cháu… Nó thề độc là sẽ mang trả lại bản gốc nguyên vẹn không sứt mẻ một góc nào… Cháu không ngờ… cháu không thể ngờ được là đến phút cuối nó lại đưa cho cháu một bản tranh giả bằng giấy in công nghiệp rồi ép cháu phải mang vào kho đánh tráo…”
“Bản gốc hiện đang ở đâu?” Phong gắt nhẹ, bước thêm nửa bước ép sát, ánh mắt anh lóe lên tia nhìn sắc lạnh như thép nguội. “Tên môi giới đó hẹn giao dịch ở địa điểm nào? Mau nói!”
Sơn há hốc mồm, mồ hôi ướt đẫm hai bên thái dương, chưa kịp thốt ra lời nào thì từ mép hộc bàn mà Phong vừa mở kiểm tra lúc nãy, một tờ giấy mỏng manh bị kẹp chặt dưới tệp biên nhận giao hàng rơi sột soạt xuống nền đất.
Phong nhanh như cắt khom người nhặt tờ giấy lên.
Đó là một tờ hóa đơn vận chuyển hàng hóa nội địa đã nhàu nát, ghi chép việc giao nhận giấy điệp từ một cơ sở sản xuất ngoài đê sông Đuống. Nhưng điều khiến đồng tử của Phong lập tức co rút lại chính là tên của đơn vị vận tải trung gian được in bằng con dấu mực đỏ nhạt ở góc dưới bên phải: *“Công ty TNHH Vận tải Bắc Cầu — Trạm trung chuyển số 4”*.
Chữ “Bắc Cầu” đập thẳng vào mắt Phong tựa như một tia sét rạch ngang màn đêm u tối.
Cái tên này không hề xa lạ. Nó dội về trong tâm trí anh những ký ức nhức nhối từ ba năm về trước — cái tên từng xuất hiện lặp đi lặp lại trong những trang tài liệu điều tra dang dở, phủ đầy bụi bặm trong ngăn kéo bàn làm việc của thầy Minh trước ngày ông gặp nạn. Mối liên hệ vô hình giữa vụ tráo tranh dân gian này và những bóng ma trong quá khứ bỗng chốc hiện rõ mồn một qua mảnh giấy vận tải rách nát.
Đúng lúc bầu không khí trong xưởng tranh đang căng như một dây đàn sắp đứt, một tràng còi xe công vụ chói tai réo vang từ phía mặt đê sông Đuống. Chiếc xe bán tải chuyên dụng của lực lượng công an lao qua chiếc cổng ngói hẹp, phanh kít lại ngay giữa khoảng sân gạch, làm tung lên một đám bụi mù mịt giữa những nong giấy điệp đang phơi nắng.
Tiếng đế giày da quân dụng nện cồm cộp, dứt khoát và đanh gọn trên nền sân gạch báo hiệu sự xuất hiện của những người thực thi pháp luật.
Bước qua ngạch cửa gian xưởng tranh là ba cán bộ công an. Dẫn đầu là một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, dáng người cao lớn, vạm vỡ và đĩnh đạc trong bộ sắc phục Cảnh sát nhân dân phẳng phiu gắn quân hàm Thiếu tá. Gương mặt người đàn ông vuông chữ điền nghiêm nghị, sống mũi thẳng tắp, hàng chân mày rậm hơi xếch lên và đôi mắt sâu thẳm toát ra vẻ sắc sảo cùng kỷ luật thép của một điều tra viên dày dạn trận mạc — Thiếu tá Trần Quang Duy, cán bộ cốt cán của Đội Cảnh sát hình sự.
“Ai là người phụ trách xưởng tranh Lưu Văn An?”
Duy cất giọng trầm ấm, vang rền nhưng đầy uy lực bao trùm lấy toàn bộ gian phòng. Anh đưa mắt quét một vòng sắc lẹm qua từng góc xưởng, rồi ánh mắt ấy đột ngột dừng lại, khựng lại trong vài giây dài dằng dặc trên gương mặt của Lâm Phong.
Đôi lông mày rậm của Thiếu tá Duy khẽ nhíu lại thành một đường rãnh sâu trên trán: “Lâm Phong? Cậu làm cái gì ở đây?”
“Thiếu tá Duy,” Phong khẽ nghiêng đầu chào, giữ một thái độ chừng mực, điềm tĩnh cố hữu trước người đồng môn năm xưa. “Khách hàng có lời nhờ tôi hỗ trợ xác minh một vụ việc tranh chấp và mất mát nội bộ trong khuôn khổ gia đình.”
“Xác minh nội bộ?”
Duy sải bước tiến lại gần bàn làm việc, ánh mắt nghiêm khắc liếc nhìn chiếc kính lúp cán sừng, chiếc panh y tế đang kẹp mẩu giấy điệp trên tay Phong, rồi dừng lại ở đống đồ đạc bị xới xáo trong ngăn kéo của Sơn. Giọng Duy đanh lại:
“Chúng tôi vừa tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm chính thức từ công an xã về vụ trộm cắp tài sản cổ vật có giá trị văn hóa và kinh tế đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại xưởng tranh này. Vụ việc này hiện đã chính thức thuộc thẩm quyền thụ lý tin báo và tiến hành điều tra hình sự của cơ quan điều tra công an cấp trên.”
Duy bước thêm một bước, đứng đối diện trực tiếp với Phong, ánh mắt nhìn thẳng vào mắt anh, từng lời thốt ra như một lời nhắc nhở đanh thép về ranh giới thép của pháp luật:
“Cậu Phong, tôi buộc phải nhắc lại cho cậu nhớ một lần nữa về nguyên tắc cơ bản: cậu hiện tại đang hành nghề thám tử tư nhân, hoạt động dịch vụ dân sự của văn phòng cậu có giới hạn pháp lý hết sức rõ ràng và chặt chẽ! Cậu không phải là điều tra viên được pháp luật bổ nhiệm, không có tư cách hay thẩm quyền tiến hành khám nghiệm hiện trường hình sự, và tuyệt đối không được phép tự ý lục soát đồ đạc, tài sản riêng tư của công dân khi chưa có lệnh hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền! Mọi tài liệu, chứng cứ do cậu tự ý thu thập sai trình tự tố tụng hình sự đều hoàn toàn có thể bị tòa án tuyên vô hiệu, thậm chí hành vi vượt quá thẩm quyền của cậu có thể bị xem xét cấu thành tội xâm phạm chỗ ở hoặc tài sản của người khác. Cậu hiểu rất rõ những quy định này hơn bất cứ ai cơ mà?”
Ngọc đứng bên cạnh nghe vậy liền tiến lên nửa bước, đôi môi mím chặt định cất lời phân bua rằng họ vào đây hoàn toàn dựa trên sự đồng ý và lời khẩn cầu trực tiếp của ông Lưu Văn An — người chủ sở hữu hợp pháp duy nhất của gian xưởng này. Thế nhưng, Phong đã kịp thời đưa một cánh tay ra phía trước, nhẹ nhàng chặn cô lại.
Phong hiểu rất rõ bản tính của Duy. Anh biết Duy nói không hề sai về mặt quy chuẩn tố tụng hình sự. Sự cẩn trọng đến mức cực đoan và kỷ luật cứng nhắc ấy chính là chiếc khiên vững chắc nhất để bảo vệ tính toàn vẹn và hợp pháp cho các vụ án mà cả anh và Duy từng được thụ giáo từ người thầy quá cố của họ. Giữa họ là hai con đường khác nhau, nhưng đều chung một cái đích tìm kiếm sự thật.
“Tôi hoàn toàn hiểu rõ giới hạn hành nghề của mình, Thiếu tá Duy,” Phong bình thản đáp, động tác chậm rãi đặt chiếc panh kim loại và mẩu giấy điệp trở lại ngay ngắn trên mặt bàn nỉ. “Chúng tôi chỉ vừa mới phát hiện ra sự trùng khớp vật lý hoàn hảo giữa vết cắt ở mép bức tranh bị tráo đổi với dụng cụ kéo thủ công của anh Phạm Thanh Sơn đây. Bác An, chủ xưởng tranh, hoàn toàn có thể làm chứng cho toàn bộ quá trình quan sát này.”
Thiếu tá Duy quay ngoắt sang nhìn Sơn. Chỉ cần nhìn bộ dạng run lẩy bẩy như cầy sấy của người thợ phụ, đôi mắt thất thần cùng màn hình chiếc điện thoại của Ngọc vẫn còn đang hiển thị rành rành các bài đăng đòi nợ và đường dây tín dụng đen, Duy với kinh nghiệm phá án dày dạn thừa sắc sảo để nắm bắt toàn bộ diễn biến sự việc vừa diễn ra.
“Phạm Thanh Sơn, yêu cầu anh đi cùng chúng tôi về trụ sở cơ quan điều tra để làm việc,” Duy quay sang ra hiệu bằng mắt cho hai chiến sĩ công an đi cùng lập tức áp sát hai bên sườn của Sơn.
Không gian trong gian xưởng tranh họ Lưu lại một lần nữa rơi vào một khoảng lặng căng thẳng tột cùng. Ông An không gượng nổi nữa, ngồi sụp xuống chiếc ghế băng bằng gỗ thông dài, hai bàn tay run rẩy ôm chặt lấy gương mặt già nua đầy nếp nhăn. Những giọt nước mắt chua xót, đắng cay rỉ qua kẽ những ngón tay gầy guộc thâm đen vì phẩm màu truyền thống.
Bỗng nhiên, từ sâu trong túi chiếc áo khoác gió sờn màu xanh rêu của Sơn, một âm thanh điện tử khô khốc vang lên phá tan bầu không khí tĩnh mịch.
*Ting.*
Đó là âm thanh báo tin nhắn đặc trưng, sắc nhọn của một ứng dụng ví điện tử liên kết ngầm xuyên biên giới.
Màn hình chiếc điện thoại của Sơn đang nằm trên mặt bàn bỗng chốc sáng rực lên giữa ánh sáng mờ ảo của gian xưởng. Trên nền kính nứt vỡ, dòng thông báo nổi hiện lên ngắn gọn, rõ ràng từng con chữ nhưng mang một luồng hàn khí lạnh thấu xương tủy:
*“Tài khoản ẩn danh vừa chuyển cọc 100.000.000 VNĐ. Điểm hẹn cũ bến đò sông Đuống. Hạn chót giao nốt hàng thật: 120 phút. Quá giờ, nợ tự xử.”*