Những Chuyến Hàng Đêm
Ánh trăng mờ đục như dải lụa xơ xác vắt ngang những mái ngói rêu phong của khu phố cổ, nơi hơi lạnh đầu mùa bắt đầu len lỏi qua từng khe gạch xám, phả vào màn đêm tĩnh mịch một thứ ẩm ướt buốt giá đặc trưng của mùa thu Hà Nội. Cứ cách chừng mươi phút, từ mạn cầu Long Biên lại dội về tiếng gầm gừ nặng nề, trầm đục của những chuyến xe tải chở hàng đêm hướng về phía đê ngoại thành. Tiếng bánh xích cao su nghiến trên mặt đường bê tông rạn nứt, tiếng kim loại thùng xe va đập lách cách dội vào vách tường của những con ngõ sâu hun hút, rồi chìm nghỉm giữa vạt sương mỏng manh đang giăng kín những thân bàng khẳng khiu trơ trụi lá. Phố phường phần lớn đã tắt đèn đi ngủ, chỉ còn lại những vệt sáng vàng vọt, tù mù hắt ra từ những cột đèn cao áp cổ lỗ, vẽ lên mặt nhựa đường loang loáng hơi sương những bóng hình xiêu vẹo, đơn độc.
Thế nhưng trên tầng hai của trụ sở Đội Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Tham nhũng, Kinh tế và Buôn lậu Công an quận, ánh sáng trắng xanh lạnh ngắt từ bốn bóng đèn tuýp đôi vẫn dội xuống gay gắt, rọi rõ từng hạt bụi li ti lơ lửng trong không gian kín mít. Mùi cà phê đen nguội ngắt đóng cặn dưới đáy cốc sứ hòa quyện với mùi giấy pơ-luya lưu trữ lâu năm, mùi mực in laser nồng hắc và khói thuốc lá phảng phất tạo nên một thứ bầu không khí khô khốc, ngột ngạt quen thuộc của những đêm trắng phá án.
Thanh tra Lục Khang cẩn trọng đặt tập hồ sơ vừa được hoàn thiện biên bản tố tụng lên góc chiếc bàn gỗ sồi đã tróc sơn mép của Trung tá Hoàng Thanh Sơn. Xung quanh mặt bàn rộng thênh thang nhưng chật ních tài liệu ấy, mọi thứ được sắp xếp theo một trật tự nghiệp vụ nghiêm ngặt: phía bên trái là toàn bộ các xấp phiếu xuất kho ố vàng, hóa đơn vận chuyển đường thủy nội địa và chứng từ tài chính thu giữ từ khoang tường đôi ở căn nhà số 17 phố Hàng Gương; phía bên phải là bộ hồ sơ dày dặn vừa tiếp nhận từ văn phòng của luật sư Phan Gia Nam, đại diện pháp lý theo ủy quyền của người thợ đóng khung tranh Trần An Huy.
Trung tá Sơn tựa lưng sâu vào chiếc ghế xoay bọc da giả đã rạn chân chim, hai bàn tay thô ráp với những khớp ngón to bè đan chặt vào nhau đặt trước bụng. Đôi mắt thâm quầng sau ba đêm liền chập chờn thức trắng chăm chú nhìn người thanh tra trẻ tuổi. Vị đội phó dày dạn trận mạc không vội vàng lật giở xấp giấy tờ còn thơm mùi mực photocopy mới tinh, mà chỉ hơi nghiêng đầu, cất giọng khàn đặc:
— Báo cáo tình hình tiếp nhận đi. Rành mạch từng khâu một.
Khang đứng thẳng lưng, ngực hơi ưỡn ra theo thói quen điều lệnh, giọng nói trầm ấm nhưng dứt khoát, rành rọt từng âm tiết:
— Báo cáo Đội phó, toàn bộ chứng cứ do luật sư Phan Gia Nam đại diện cho nhân chứng Trần An Huy giao nộp vào chiều muộn ngày hôm nay đã được chúng tôi hoàn tất thủ tục niêm phong, lập biên bản giao nhận có sự chứng kiến của kiểm sát viên thụ lý vụ án và đại diện tư pháp phường sở tại. Bộ hồ sơ gốc bao gồm ba hạng mục chính. Thứ nhất là mười hai phiếu yêu cầu kỹ thuật bản gốc, in trên giấy tiêu đề có logo chìm của Công ty Cổ phần Quản lý và Phát triển Di sản Minh Thành, toàn bộ đều có chữ ký phê duyệt nháy của Bùi Quang Duy và con dấu đỏ của Phòng Nghiên cứu và Thẩm định Kỹ thuật. Thứ hai là ba mươi sáu bức ảnh chụp thực địa khổ mười ba nhân mười tám xăng-ti-mét, ghi lại tường tận từng công đoạn gia công, xử lý hóa chất và khoét rãnh khung tranh tại xưởng Bách Mộc. Thứ ba là một thẻ nhớ SanDisk dung lượng sáu mươi tư gigabyte chứa toàn bộ các tập tin ảnh kỹ thuật số gốc định dạng RAW, lưu giữ đầy đủ siêu dữ liệu EXIF về thời gian chụp, khẩu độ, tốc độ màn trập và tọa độ địa lý GPS khớp đúng với vị trí nhà xưởng của Lê Bách bên bãi sông Hồng.
Khang vừa dứt lời liền cúi xuống lật mở tập tài liệu bìa xanh lá cây, rút ra bản biểu đồ đối chiếu chéo mà anh đã cặm cụi kẻ vẽ, lập bảng số liệu suốt sáu tiếng đồng hồ vừa qua:
— Điểm mấu chốt mang tính đột phá nằm ở sự tương thích tuyệt đối giữa lời khai chi tiết của An Huy với các tài liệu vật chất mà chúng ta đã giải mã từ khoang tường bí mật ở số 17 Hàng Gương. Khi tiến hành đối chiếu mười hai phiếu yêu cầu kỹ thuật do Duy ký duyệt với danh mục ba mươi sáu phiếu xuất kho của Công ty Vận tải và Thương mại Tổng hợp Á Châu giai đoạn 2010–2011, chúng tôi đã tái dựng được một chuỗi luân chuyển khép kín. Cụ thể, trong tất cả các phiếu kỹ thuật gửi cho thợ mộc, Duy đều đưa ra thông số kỹ thuật mang tính bắt buộc: các khung tranh gỗ dổi cổ hoặc gỗ dổi mới đã qua xử lý bề mặt đều phải được khoét một khoang rỗng hai đáy sâu đúng năm milimét phía sau tấm nẹp lưng. Đây chính là kích thước chuẩn xác tuyệt đối để gài vừa một tệp gồm ba đến năm tờ chứng thư giám định niên đại cổ vật, chứng nhận xuất xứ của các học viện mỹ thuật tư nhân tại Pháp hoặc các văn tự ủy quyền nguồn gốc được in lùi thời gian bằng mực sắt cổ. Đáng chú ý hơn cả, trên các phiếu kỹ thuật này, mã nhận diện đơn hàng đều được chỉ định chuyển giao với tiền tố 'ĐP-.../MT'. Cấu trúc mã ký hiệu này tương thích hoàn toàn với ký hiệu '03:15-ĐP/894' ghi trên mẩu giấy than điều vận kho bãi mà Đội thu giữ được tại nhà riêng của cụ Trịnh Khắc Thư ở phố Bát Đàn tuần trước.
Trung tá Sơn khẽ nhíu mày, những nếp nhăn sâu hoắm trên vầng trán dồn lại thành từng luồng sóng gợn. Ông với tay lấy chiếc kính lão gọng đồi mồi đặt trên nóc chiếc máy ghi âm, đeo vào mắt rồi kéo chiếc đèn bàn lại gần. Những ngón tay thô ráp của ông lật nhẹ từng trang ảnh chụp chi tiết. Đó là những bức hình chụp cận cảnh mộng ghép góc hình mang cá của khung gỗ, những vết khắc axít giả mốc meo và các miếng nhãn đồng nhỏ xíu, mép bị ăn mòn loang lổ với dòng chữ dập nổi bằng tiếng Pháp: *"Atelier d'Art Indochinois — Fin XIXe Siècle"*.
— Về mặt thủ thuật ngụy tạo kỹ thuật số và phương pháp lão hóa gỗ, thằng bé khai báo cụ thể đến mức nào? — Sơn hỏi, mắt vẫn không rời khỏi bức ảnh chụp cận cảnh một đường đục rãnh còn vương vụn mùn cưa.
— Rất chi tiết và có hệ thống, thưa anh, — Khang chỉ tay vào đoạn trích biên bản ghi lời khai đính kèm. — Theo lời khai của Huy, Bùi Quang Duy không chỉ là người cung cấp các bản phôi nhãn đồng thời thuộc địa giả mạo được đặt khắc vi tính rồi ăn mòn bằng dung dịch axít clohydric loãng, mà chính Duy là kẻ trực tiếp mang hóa chất đến xưởng ép Huy thực nghiệm. Quy trình ngụy tạo diễn ra qua bốn bước cực kỳ tinh vi. Đầu tiên, chúng dùng xút công nghiệp nồng độ cao để ngâm tẩy toàn bộ nhựa tươi và tinh dầu tự nhiên trong các thanh gỗ dổi mới xẻ, triệt tiêu hoàn toàn mùi thơm đặc trưng của gỗ sống. Sau đó, chúng dùng chổi đót quét nhiều lớp dung dịch thuốc tím pemanganat kali pha loãng để tạo sắc nâu thẫm tự nhiên của gỗ để hàng trăm năm. Tiếp theo, một lớp nước vôi tôi trong vắt được phết lên bề mặt nhằm tạo ra các vết nứt chân chim và vệt mốc xám li ti dưới ánh sáng tự nhiên. Cuối cùng, toàn bộ khung gỗ được đưa vào lò sấy hun bằng khói rơm nếp khô trộn trấu mục trong suốt bốn mươi tám tiếng để tạo lớp muội than mỏng dính bám chặt vào thớ gỗ. Sau khi khoét rãnh năm milimét và đặt tài liệu vào, chúng dùng đinh đồng đầu dẹt loại cổ điển đóng chốt lại rồi trát phủ kín rãnh hở bằng hỗn hợp sáp ong rừng trộn tro bếp mịn. Với thủ thuật này, ngay cả những chuyên gia phục chế của Bảo tàng Mỹ thuật nếu chỉ dùng mắt thường quan sát hoặc gõ nhẹ để nghe tiếng vang của gỗ cũng không tài nào phát hiện ra khoang rỗng bên trong.
Sơn tháo kính lão ra, đặt cạch xuống mặt bàn gỗ. Tiếng gõ nhịp nhịp của ngón trỏ tay phải ông trên mặt bàn phát ra âm thanh cộc cộc khô khốc, đều đặn như nhịp quả lắc đồng hồ treo tường:
— Chữ ký trên mười hai phiếu này là của Bùi Quang Duy. Con dấu đóng giáp lai là con dấu chức danh của Phòng Nghiên cứu và Thẩm định Kỹ thuật thuộc Công ty Di sản Minh Thành. Đây là chứng cứ vật chất đanh thép chứng minh Duy là kẻ trực tiếp điều hành đường dây chế tác công cụ ngụy tạo xuất xứ cổ vật. Nhưng... Khang này, trong toàn bộ số tài liệu dày cộp mà luật sư Nam vừa chuyển qua, có lấy một dòng chữ viết tay, một chữ ký nháy, hay một dấu triện riêng của cá nhân Tạ Minh Thành không?
Câu hỏi của người chỉ huy rơi vào khoảng không tĩnh lặng của căn phòng làm việc như một tảng đá ném xuống mặt nước hồ đóng băng. Khang thoáng khựng lại, ánh mắt rực lửa nhiệt huyết của người lính trẻ hơi chùng xuống một thoáng, nhưng anh nhanh chóng lấy lại sự bình tĩnh và thẳng thắn vốn có:
— Báo cáo Đội phó, hoàn toàn không có. Tạ Minh Thành không ký duyệt bất kỳ văn bản mang tính kỹ thuật hay nghiệp vụ điều hành trực tiếp nào liên quan đến xưởng Bách Mộc. Trên hồ sơ pháp nhân của Minh Thành Heritage, Thành chỉ xuất hiện với tư cách người đại diện theo pháp luật trong các hợp đồng nguyên tắc mang tính vĩ mô: hợp đồng tư vấn bảo tồn di sản, hợp đồng trưng bày hiện vật phi lợi nhuận với các nhà sưu tập tư nhân hoặc các văn bản tài trợ văn hóa với đối tác nước ngoài. Còn trên thực tế cơ học, toàn bộ mạng lưới từ việc đặt hàng mộc của Lê Bách, chỉ đạo Trần An Huy khoét rãnh, nhận giấy tờ giả cho đến việc điều xe tải chuyên chở qua lại giữa các trạm trung chuyển đều do Bùi Quang Duy đứng tên điều phối, thông qua danh nghĩa của các pháp nhân vệ tinh như Công ty Vận tải Á Châu trước đây và Công ty Cổ phần Thiết kế Không Gian Đô Thị Mới hiện nay.
— Đó chính là cái bẫy chết người mà những kẻ có đầu óc lọc lõi như Tạ Minh Thành luôn giăng sẵn để đón lõng chúng ta, — Sơn đứng bật dậy, chiếc ghế da khẽ kêu lên một tiếng cót két. Ông bước chậm rãi về phía bức tường lớn treo tấm bản đồ quy hoạch chi tiết vùng ven đô Hà Nội, nơi khúc cong của con sông Hồng chảy qua địa phận huyện Thanh Trì được đánh dấu bằng những nét bút lông dầu chằng chịt. Ngón tay trỏ chai sần của ông gõ mạnh vào vòng tròn mực đỏ bao quanh khu vực bến bốc dỡ Cảng sông Hồng thuộc xã Đông Phù. — Thành không phải là mấy tay buôn lậu cổ vật vùng biên giới chỉ biết dùng tiền đè luật hay thuê mướn giang hồ bảo kê. Hắn là một kẻ có bằng cấp, có quan hệ xã hội sâu rộng, am hiểu luật tố tụng hình sự đến từng dấu chấm dấu phẩy và thừa thãi kinh nghiệm xây dựng các vách ngăn lửa trong cấu trúc doanh nghiệp. Nếu lúc này chúng ta nôn nóng, căn cứ vào lời khai của An Huy và xấp phiếu kỹ thuật của Duy mà vội vã trình Viện Kiểm sát phê chuẩn lệnh khám xét khẩn cấp Kho Ngoại thành Đông Phù, cậu có lường trước được hậu quả không?
Khang đứng nghiêm, hai hàm răng khẽ nghiến lại. Những lời răn dạy của người đội phó dày dạn kinh nghiệm lập tức khơi gợi lại trong tâm trí anh vết thương nghề nghiệp sâu sắc của bốn năm về trước. Khi ấy, cũng chính vì sự nóng vội muốn bóc gỡ nhanh một đường dây buôn lậu gỗ quý quy mô lớn qua biên giới Tây Bắc, anh đã thúc đẩy việc bắt giữ sớm khi chuỗi chứng cứ dòng tiền chưa được phong tỏa hoàn toàn. Kết quả là kẻ cầm đầu đã nhanh chóng cắt đứt liên lạc, đẩy toàn bộ tội danh cho tay giám đốc bù nhìn của một công ty ma, khiến vụ án bị tắc nghẽn suốt nhiều tháng trời và để lại cho Khang một bài học cay đắng về sự kiên nhẫn nghiệp vụ.
— Kho Đông Phù trên danh nghĩa giấy phép đăng ký kinh doanh hiện tại đứng tên một công ty cổ phần dịch vụ kho vận hậu cần hoàn toàn độc lập, — Trung tá Sơn quay người lại, tựa hông vào mép bàn, ánh mắt sắc như dao nhìn thẳng vào cấp dưới. — Nếu chúng ta ập vào bến bốc dỡ lúc này, kịch bản khả dĩ nhất là gì? Chúng ta sẽ thu giữ được ba bốn chục kiện hàng mỹ thuật giả cổ, tạm giữ vài ba anh công nhân bốc vác làm thuê theo ca, và cùng lắm là ra lệnh bắt khẩn cấp Bùi Quang Duy với tội danh 'Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức' hoặc 'Lừa dối khách hàng'. Còn Tạ Minh Thành? Hắn sẽ thong dong xuất hiện trước ống kính truyền thông với tư cách một doanh nhân văn hóa bị cấp dưới biến chất lừa gạt. Hắn sẽ trưng ra các hợp đồng kiểm toán độc lập, đổ sạch mọi tội lỗi lên lòng tham cá nhân của Duy và sự móc ngoặc vô lương tâm giữa Duy với Lê Bách. Lúc đó, con cá mập thực sự sẽ ung dung bơi thoát khỏi lưới, toàn bộ Mạng lưới Sông Ngầm sẽ ngay lập tức kích hoạt cơ chế xóa dấu vết, tẩu tán tài liệu sang địa bàn các tỉnh lân cận hoặc đưa thẳng qua biên giới. Mọi công sức ròng rã suốt hai năm trời của chúng ta, và cả những nguy hiểm mà nhân chứng đã đánh đổi, sẽ tan thành mây khói!
— Vậy phương án tác chiến của Đội là... — Khang khẽ hạ giọng, cẩn trọng ướm lời.
— Tiếp tục duy trì chế độ giám sát ngầm kho Đông Phù hai mươi tư trên hai mươi tư, — Sơn nhấn từng từ một cách rành rọt, dứt khoát như một mệnh lệnh thép. — Cắt cử ngay một tổ trinh sát mật phục luân phiên cắm chốt tại ngã ba đê tả ngạn, ghi nhận toàn bộ biển số xe tải ra vào bến, đặc biệt lưu tâm đến các chuyến xe tải kín thùng chạy trong khung giờ từ một giờ đến bốn giờ sáng từ mạn cầu Long Biên dạt về cảng bốc dỡ. Tuyệt đối cấm không được bứt dây động rừng, không được để lộ bất kỳ dấu hiệu nghiệp vụ nào tại khu vực ngoại thành. Việc cấp bách của cậu lúc này là phải củng cố bằng được chứng cứ vật chất chứng minh Thành là người trực tiếp chỉ đạo dòng tiền thanh toán và đích thân ra lệnh điều chuyển hàng hóa vào kho bí mật. Sáng mai, tôi và cậu sẽ trực tiếp đấu trí với Lê Bách. Phải dùng chính những phiếu kỹ thuật này và lời khai của An Huy để bẻ gãy tuyến phòng thủ tâm lý của Bách, buộc hắn phải thừa nhận những cuộc gặp riêng không có Duy tham gia. Đồng thời, yêu cầu bên an ninh ngân hàng sao kê khẩn cấp toàn bộ các giao dịch chuyển tiền cá nhân ngầm giữa tài khoản cá nhân của Tạ Minh Thành với các pháp nhân vệ tinh. Chỉ khi nào chúng ta khóa chặt sợi dây xích trách nhiệm hình sự vào đúng cổ tay Tạ Minh Thành, khi ấy mới là thời điểm tung lưới! Cậu đã thông suốt chưa?
— Báo cáo Đội phó, tôi đã hoàn toàn thông suốt! — Khang giơ tay chào theo đúng điều lệnh, ánh mắt kiên định không chút dao động.
Sơn thở hắt ra một hơi dài, nét căng thẳng trên gương mặt già dặn giãn ra đôi chút. Ông bước lại gần, vỗ mạnh vào bờ vai rắn rỏi của người thanh tra trẻ:
— Tốt lắm. Cậu đã xử lý vụ việc tiếp nhận nhân chứng An Huy thông qua kênh luật sư rất bài bản, chặt chẽ về mặt tố tụng và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho nguồn tin. Cậu đã trưởng thành hơn trước rất nhiều, Khang ạ. Giờ thì thu dọn toàn bộ hồ sơ gốc cho vào két bảo mật hai lớp của Đội, khóa mã cẩn thận rồi về nghỉ ngơi chợp mắt đôi tiếng. Ngày mai sẽ là một trận đánh cân não thực sự với Lê Bách đấy.
***
Rời khỏi trụ sở công an quận khi chiếc đồng hồ cơ trên nóc nhà bưu điện trung tâm đã điểm mười một giờ ba mươi lăm phút đêm, luồng gió bấc rít qua các tàng cây cổ thụ ven hồ Hoàn Kiếm mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt. Khang cài chặt cúc chiếc áo khoác gió chuyên dụng màu sẫm, nổ máy chiếc xe máy cà tàng chạy chầm chậm qua những con phố cổ vắng tanh không một bóng người qua lại. Tiếng máy nổ lẹp xẹp vang vọng đều đặn giữa những bức tường quét vôi vàng đã bong tróc từng mảng lớn vì ẩm mốc.
Bánh xe anh như bị một lực hút vô hình dẫn lối, vô thức rẽ vào con ngõ Hàng Chỉ hẹp và sâu hun hút. Dừng xe cách đầu ngõ một đoạn, Khang tắt máy, chống chân chống nghiêng rồi ngước nhìn lên căn gác nhỏ phía trên hiệu sách cũ thân thuộc. Trái ngược với không gian tối om của những mái nhà san sát xung quanh, từ khe cửa gỗ bức bàn dán giấy bản đã ngả màu cánh gián ở tầng trệt của hiệu sách, một vệt sáng vàng ấm áp, dịu nhẹ vẫn bền bỉ hắt ra mặt ngõ lát gạch nghiêng, nhuộm sáng một khoảng sân nhỏ vương vãi lá rụng.
Bên trong hiệu sách cũ, không gian ngập tràn một thứ mùi hương đặc thù không thể trộn lẫn: mùi ngai ngái, ẩm mốc của những trang sách xơ xác qua hàng chục năm lưu trữ, mùi keo da trâu dùng để dán gáy sách đóng thủ công, hòa lẫn với làn khói mỏng manh, thơm dìu dịu của nụ trầm hoàng đàn đang cháy dở trên chiếc đĩa gốm da chuối đặt ở góc bàn thu ngân. Những chồng sách cũ chất cao quá đầu người nằm san sát, ken đặc hai bên lối đi, tạo thành những hẻm nhỏ ngoằn ngoèo, khúc khuỷu như một mê cung chữ nghĩa trong lòng gian nhà ống sâu tới gần ba mươi mét.
Vi đã xắn cao tay chiếc áo len dệt kim mỏng màu xanh rêu, trên mái tóc đen nhánh buộc vội sau gáy quấn một chiếc khăn xô trắng tinh để chắn bụi trần rơi xuống. Cô đang quỳ một chân trên chiếc chiếu cói trải tạm, tay cầm chiếc chổi lông gà cán tre nhẹ nhàng phẩy từng lớp bụi xám bám dày trên dãy kệ gỗ tạp chứa các tập san, tạp chí văn nghệ và tài liệu khảo cứu xuất bản từ những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ trước. Dưới chân cô, ba chiếc thùng carton cỡ lớn đã được mở tung nắp, bên ngoài thành thùng được đánh dấu cẩn thận bằng mực bút lông dầu màu xanh và đỏ: *"Sách nghiên cứu — giữ lại"*, *"Tạp chí cũ — kiểm tra lại"*, và *"Giấy vụn, sách nát — thanh lý"*.
Dì Ninh Thu Hà đang ngồi trên một chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ thông ở góc kho phía sau, đôi bàn tay gầy guộc nhưng thoăn thoắt phân loại từng tập sách bìa mềm đã rách gáy để xếp vào thùng carton thanh lý. Dáng người bà hơi đậm, khuôn mặt tròn phúc hậu nhưng hằn sâu những nếp chân chim nơi khóe mắt, mái tóc hoa râm lốm đốm bạc được cố định gọn gàng bằng chiếc cặp tóc bằng đồi mồi đã mòn vẹt mép. Dù đã bước qua tuổi năm mươi nhăm và chứng đau khớp lưng mãn tính cứ mỗi độ chuyển mùa lại hành hạ khiến bà đi lại khập khiễng, nhưng mỗi khi đụng đến việc thu dọn kho tàng chữ nghĩa của người chị gái quá cố để lại, bà không bao giờ nỡ để bất kỳ ai làm thay toàn bộ.
— Dì đã bảo con từ chập tối rồi, cứ để mặc đấy sáng sớm mai mấy đứa thanh niên bên vựa ve chai đầu dốc họ đánh xe ba gác sang họ khuân đi một mẻ cho rảnh nợ, — bà Hà vừa dùng sống bàn tay đập nhẹ gáy một cuốn kỷ yếu văn học xuống sàn xi măng cho phẳng mép, vừa càm ràm bằng chất giọng Hà Nội cổ đặc sệt nhưng chứa chan nỗi xót xa giấu kín. — Con vừa ở viện lưu trữ bên bảo tàng về, mặt mũi phờ phạc, lại còn chạy đôn chạy đáo ngoài đường theo mấy cái việc kiểm tra xác minh gì đó cả ngày trời. Cứ xông xáo chui đầu vào cái xó kho ẩm thấp này mà hít bụi giấy mục, rồi đêm về lại ho rũ rượi ra đấy thì ai hầu cho được?
Vi ngẩng đầu lên, khẽ đưa mu bàn tay áo quệt ngang trán để lau đi những giọt mồ hôi lấm tấm quyện với bụi tro xám, nở một nụ cười hiền dịu nhưng ánh mắt vẫn ánh lên sự tỉ mỉ của người làm nghề văn bản học:
— Con quen với bụi kho lưu trữ từ ngày mới bước chân vào trường đại học rồi mà dì. Sách báo cũ để trong kho ẩm ngõ ẩm này cả chục năm trời, nếu mình không chịu khó ngồi lọc từng trang, cứ thế tống tháo cả đống ra xe đồng nát thì mang tội với tiền nhân lắm dì ơi. Chiều nay con mới bới sơ qua một góc kệ ngoài thôi mà đã nhặt ra được hai tập chuyên khảo về mỹ thuật cung đình thời Nguyễn in bản khắc gỗ năm 1942, với lại ba cuốn từ điển Hán Việt của cụ Đào Duy Anh in từ thời kháng chiến lẫn lộn trong đống tạp chí phong trào. Những thứ ấy bây giờ đối với giới nghiên cứu văn bản cổ là vô giá, người ta săn lùng khắp các phiên đấu giá sách xưa cũng chẳng tìm đâu ra bản nguyên vẹn, mình mà đem cân theo giá giấy vụn hai nghìn một ký thì xót ruột chết đi được.
Bà Hà khẽ buông một tiếng thở dài thườn thượt, ánh mắt mệt mỏi dừng lại trên những giá sách cao ngất ngưởng, nơi chứa đựng cả một phần ba thế kỷ buồn vui của gia đình bà:
— Thì dì cũng tiếc chứ nào có phải sắt đá gì đâu con. Nhưng con xem cái nhà này xem, nó chật chội đến mức không còn chỗ mà đặt chân nữa rồi. Từ gian nhà ngoài kéo dài tít tắp vào đến tận gian kho gác xép, chỗ nào cũng ngập ngụa giấy má tài liệu đến tận xà nhà. Mấy ông cán bộ trật tự đô thị với bên phòng cháy chữa cháy của phường hôm đầu tuần vừa sang kiểm tra, họ lập biên bản nhắc nhở gay gắt lắm. Họ bảo phố cổ ngõ hẹp xe cứu hỏa không vào được, giấy khô chất thành núi thế này lỡ chẳng may chập một tia điện hay có tàn thuốc rơi vào thì trở tay làm sao kịp, có mà thiêu rụi cả dãy phố. Với lại... dạo này dì thấy mình hụt hơi quá, huyết áp cứ lên xuống thất thường, mắt mũi kèm nhem trông nom cái cửa hàng này một mình nhiều bữa thấy tối tăm mặt mũi. Thôi thì thanh lý bớt mấy cái thứ báo cũ mục nát không ai đọc này đi cho gian nhà nó thoáng đãng ra, lấy chỗ trống mà kê thêm cái quầy nhập ít truyện tranh thiếu nhi với sách giáo khoa tái bản về bán túc tắc cho lũ trẻ con trong ngõ kiếm đồng rau đồng cháo qua ngày...
Vi khẽ gật đầu đồng cảm, bước lại gần chiếc chiếu cói của dì Hà, ngồi thụp xuống bên cạnh rồi đón lấy một chồng báo giấy mỏng dính ngả màu vàng ố từ đôi tay thô ráp của bà. Ngón tay cô chạm vào chất giấy xốp mềm giòn rụm của những tờ nhật báo cũ kỹ, cảm nhận rõ rệt độ ẩm mốc đang từ từ gặm nhấm từng dòng chữ in chì từ nhiều thập kỷ trước. Bất giác, những hình ảnh chắp vá của ký ức hai năm về trước lại trỗi dậy trong tâm trí cô, sắc nét và nhức nhối như một vết thương chưa bao giờ khép miệng.
— Dì Hà này... — Vi ngập ngừng cất tiếng, ngón tay cái miết nhẹ lên mép một tờ phụ trương văn nghệ đã mủn góc. — Kho sách ở góc trong cùng sát vách tường đá kia kìa... từ cái dạo thầy Đạo gặp chuyện chẳng lành đến nay, dì có dọn dẹp hay chuyển dịch đồ đạc gì ở đấy đi không?
Đôi bàn tay đang cầm một cuốn sách bìa mềm của bà Hà bỗng nhiên khựng lại giữa không trung trong một tích tắc ngắn ngủi. Vệt sáng vàng vọt từ bóng đèn tròn treo lơ lửng phía trên đỉnh đầu chiếu rọi xuống, bắt trọn khoảnh khắc gương mặt bà bỗng chốc cứng đờ, các cơ mặt co rúm lại trong sự giằng xé nội tâm dữ dội. Nhưng phản xạ lảng tránh đã quá quen thuộc trỗi dậy ngay lập tức, bà vội vã cúi gằm mặt xuống, cố tình dùng gáy cuốn sách che đi đôi mắt đang dao động hoảng loạn:
— Cái con bé này... chuyện cũ rích từ đời tám hoánh nào rồi, người ta cũng đã nằm liệt giường ở viện dưỡng lão suốt ngần ấy năm trời, tự dưng đêm hôm khuya khoắt lại bới móc nhắc lại làm cái gì cho thêm dông dài xui xẻo ra?
— Con không thể nào không nhớ được, dì à, — giọng Vi chùng hẳn xuống, run rẩy bởi một nỗi xúc động và day dứt nghẹn ứ nơi cuống họng. — Chiều hôm đó trời mưa to tầm tã, nước ngập lút cả bậc thềm trước ngõ Hàng Chỉ. Thầy Đạo hớt hải đội mưa chạy thốc vào hiệu sách nhà mình, áo quần ướt sũng, người run bần bật vì lạnh và vì sợ hãi. Thầy ôm chặt trong lòng một bọc bưu kiện được gói bằng ba bốn lớp giấy xi măng màu nâu, bên ngoài dán chằng chịt băng dính bản to và có đóng dấu niêm phong màu đỏ tươi ở bốn góc. Thầy nắm chặt lấy tay dì và tay con, giọng thầy run bắn lên khi dặn dò rằng tuyệt đối không được để cho bất kỳ ai biết, bảo rằng đó là sinh mạng nghề nghiệp, là toàn bộ danh dự và sự thật cả cuộc đời làm nghiên cứu của thầy. Thầy dặn gửi nhờ ở nhà mình vài hôm rồi thầy sẽ quay lại lấy... Thế mà... ngay sáng ngày hôm sau, tờ báo nơi thầy cộng tác ra thông báo đình chỉ chuyên mục điều tra di sản, người ta kéo đến khám xét văn phòng của thầy, rồi thầy bị tai biến đột quỵ ngã quỵ ngay trên cầu thang... Suốt hai năm qua, con vẫn đinh ninh là bọc tài liệu định mệnh ấy dì đã cất kỹ trong chiếc hộp gỗ sơn then của gia đình mình để ở ngăn dưới cùng của kệ sách góc kho kia...
Bà Hà bất thần đặt mạnh cuốn sách trên tay xuống đáy thùng carton, phát ra một tiếng "bịch" khô khốc, nặng nề phá tan sự tĩnh lặng của căn phòng. Bà không dám ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo nhưng thăm thẳm u hoài của cháu gái. Với lấy chiếc chổi đót dựng ở góc chân tường, bà đứng phắt dậy, bước ra giữa nhà quét lia lịa những mảnh giấy vụn và bụi rác vương vãi trên nền xi măng, động tác hối hả, dồn dập như muốn dùng tiếng sột soạt của chổi để át đi những lời Vi vừa nói:
— Con cứ nghĩ ngợi vẩn vơ, tưởng tượng lung tung mãi thôi! Thầy con lúc đó đầu óc đã có dấu hiệu mê sảng, bị người ta dồn ép vào đường cùng, bị búa rìu dư luận đe dọa đến phát điên phát rồ thì nhớ nhớ quên quên, lúc mê lúc tỉnh chứ có cái gì đâu mà bảo là sinh mạng với danh dự! Cái hộp gỗ sơn then ấy à... ôi dào ôi, cái hộp gỗ mục nát ấy mẹ con với ông ngoại ngày xưa dùng để đựng mấy mẩu văn tự nhà đất bằng chữ Nôm với giấy thuế môn bài từ thời thuộc địa, mọt nó ăn rỗng hết cả ruột từ lâu rồi, ẩm ướt mốc meo có ra cái tích sự gì đâu mà con cứ bận tâm bám riết lấy mãi thế không biết!
Vi chậm rãi đứng dậy theo dì, vóc dáng mảnh mai của cô đổ một bóng dài thẫm đẫm trên vách tường đầy giá sách. Bằng trực giác nhạy bén của một chuyên viên lưu trữ vốn quen làm việc với những chi tiết ngụy tạo tinh vi nhất, và bằng linh cảm ruột thịt của một đứa cháu lớn lên dưới sự bao bọc của người phụ nữ này, cô nhận ra ngay sự bất thường tột độ trong từng phản ứng của dì mình. Dì Hà cả đời là người thật thà đến mức thô ráp, nghĩ gì nói nấy, ruột để ngoài da, tính tình tuy hay cằn nhằn nhưng chưa bao giờ biết cách che đậy cảm xúc thật. Mỗi khi bà có điều gì gian dối hoặc đang giấu giếm một bí mật khủng khiếp, ánh mắt bà sẽ không ngừng đảo quanh, hơi thở dồn dập và hai bàn tay sẽ cuống cuồng tìm kiếm một công việc chân tay nặng nhọc nào đó để lấp liếm sự hoang mang.
— Dì Hà, — Vi bước lên hai bước, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết đưa bàn tay mảnh khảnh giữ chặt lấy cán chiếc chổi đót trên tay bà Hà, buộc bà phải dừng lại. — Chiếc hộp gỗ sơn then đó là kỷ vật duy nhất mà mẹ con và ông ngoại để lại cho con trước ngày mẹ mất. Trong chiếc hộp đó không chỉ có giấy tờ nguồn cội của gia đình mình, mà chính mắt con đã nhìn thấy chiều hôm ấy, dì đã mở khóa đồng hình con cá và đích thân đặt bọc tài liệu niêm phong của thầy Đạo vào sâu bên trong. Tại sao suốt mấy tháng nay, hễ cứ mỗi lần con ngỏ ý muốn dọn góc kho phía trong, muốn kiểm tra lại chiếc hộp ấy hay nhắc đến tên thầy Đạo, dì đều gạt phắt đi bằng thái độ gay gắt như vậy? Dì đang giấu con điều gì phải không, dì Hà?
Bà Hà giật mạnh cán chổi ra khỏi tay Vi, khuôn mặt phúc hậu đỏ bừng lên vì bối rối pha lẫn một sự giận dữ bột phát nhằm dựng lên bức tường tự vệ cuối cùng:
— Cái con bé này, càng ngày mày càng ăn nói xấc xược, giọng điệu y hệt như mấy ông công an điều tra xét hỏi tội phạm ngoài phường ấy nhỉ! Dì là dì ruột của mày, dứt ruột nuôi mày ăn học thành người từ ngày mẹ mày nằm xuống, chẳng lẽ dì lại đi hại mày, đi lừa gạt mày à? Đã bảo là không có cái gì thì là không có cái gì! Mau dẹp cái mồm lại rồi kiểm tra cho xong mấy cái thùng sách thanh lý đằng kia đi! Người ta đã nhận tiền cọc, hẹn đúng sáu giờ sáng mai người ta cho xe ba gác đến bốc chở ra chợ đồ cũ ngoài bãi ven đê rồi đấy! Đừng có đứng đấy mà tra khảo dì nữa, dì nhức hết cả đầu óc đây này!
Nói một hơi dài như trút hết tàn lực, bà Hà quay ngoắt người đi, đôi chân khập khiễng bước thật nhanh về phía chiếc bàn thu ngân phía trước cửa hàng. Bà với lấy cuốn sổ lò xo ghi chép công nợ bán sách hàng ngày, cắm cúi lật từng trang giấy một cách máy móc, vờ như đang kiểm tra lại từng con số thu chi. Nhưng Vi vẫn đứng chôn chân giữa những chồng sách phủ đầy bụi xám. Đôi mắt trong veo của cô dõi theo từng bước chân gượng gạo của người dì, rồi từ từ chuyển hướng nhìn sâu vào góc tối tăm nhất của gian kho. Dưới ánh sáng vàng yếu ớt, cô mơ hồ nhận thấy lớp bụi mịn bám trên mặt sàn xi măng ở góc kẹt ấy có những vệt xước dài còn rất mới, tựa như một vật thể nặng vừa bị kéo lê qua đó cách đây không lâu. Một linh cảm bất an mơ hồ nhưng nhức nhối dâng lên nghẹn đắng nơi lồng ngực cô.
***
Cùng thời điểm ấy, tại tầng bảy của tòa nhà văn phòng cao cấp mang phong cách kiến trúc Pháp cổ kết hợp hiện đại của Công ty Cổ phần Quản lý và Phát triển Di sản Minh Thành trên phố Lý Thường Kiệt, một bầu không khí nghẹt thở hoàn toàn khác đang bao trùm.
Căn phòng làm việc thênh thang của Tổng Giám đốc Tạ Minh Thành được bài trí theo phong cách tân cổ điển đầy vương giả và học thuật. Bốn bức tường được ốp gỗ óc chó màu nâu sẫm, tĩnh mịch đến mức người ta có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng vo ve nhè nhẹ, đều đặn phát ra từ hệ thống lọc không khí ion âm gắn chìm trên trần thạch cao. Dọc theo các hốc tường là hệ thống tủ kính chống đạn được chiếu sáng bằng các dải đèn LED rọi điểm tinh xảo, nơi trưng bày hàng chục món cổ vật quý hiếm: từ những chiếc bình gốm hoa lam thời Lê sơ, tượng đồng Champa thế kỷ thứ mười hai cho đến những bản thảo thư tịch cổ thời Tây Sơn, tất cả toát lên vẻ uy nghi, thâm trầm của quyền lực và tri thức đỉnh cao.
Tạ Minh Thành ngồi tựa lưng một cách vương giả sau chiếc bàn làm việc đồ sộ bằng gỗ mun đen bóng loáng. Ông ta đã ngoài năm mươi tuổi, vóc người dong dỏng cao, quắc thước, mái tóc hoa râm được chải chuốt vuốt keo nếp nào ra nếp ấy, khoác trên mình bộ âu phục ba mảnh bằng dạ len cao cấp được cắt may đo thủ công tinh tế. Trên bàn tay trái của ông ta là một chiếc chén trà bằng sứ men ngọc mỏng như cánh ve, khói trà shan tuyết cổ thụ bốc lên nghi ngút, thơm ngát nhưng ông ta không hề đưa lên miệng nhấp. Ánh mắt sắc lạnh, sâu hoắm và vô cảm như mặt nước giếng khơi mùa đông của Thành đang ghim chặt vào người thanh niên đang đứng run rẩy trước mặt.
Bùi Quang Duy đứng chôn chân giữa tấm thảm dệt Ba Tư dày cộp, hai đầu gối run lên bần bật khiến gấu quần âu khẽ rung rinh. Chiếc cà vạt lụa Hermes đắt tiền của anh ta đã bị tháo lỏng xộc xệch sang một bên cổ áo sơ mi, trán và hai bên thái dương rịn ra từng giọt mồ hôi hột to tướng, chảy dài xuống má dù nhiệt độ trong phòng điều hòa trung tâm đang được duy trì ở mức hai mươi độ C. Mặt gã trợ lý trắng bệch, cắt không còn một giọt máu.
— Cậu nhắc lại rành rọt từng từ một lần nữa cho tôi nghe xem nào? — giọng Tạ Minh Thành cất lên rất khẽ, âm điệu trầm tĩnh, êm ái như một lời thủ thỉ tâm tình, nhưng lại mang theo một thứ uy lực vô hình nặng tựa ngàn cân bóp nghẹt lấy lồng ngực người đối diện.
— Báo... báo cáo anh Thành... — Duy lắp bắp, hai bàn tay đan chặt vào nhau sau lưng đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra, cổ họng khô khốc khiến gã phải nuốt nước bọt ực một cái đầy khó nhọc. — Bên... bên Văn phòng Trợ giúp Pháp lý vì Cộng đồng... tay luật sư Phan Gia Nam... vào hồi mười bảy giờ ba mươi phút chiều nay, đã chính thức đại diện theo ủy quyền của thằng thợ khung Trần An Huy... nộp toàn bộ tài liệu hồ sơ nghiệp vụ cho Đội Điều tra Kinh tế của lão Hoàng Thanh Sơn rồi ạ...
Tạ Minh Thành vẫn giữ nguyên tư thế bất động, ngón tay trỏ khẽ gõ nhẹ vào thân chén sứ men ngọc, phát ra một tiếng "coong" thanh mảnh:
— Toàn bộ tài liệu nghiệp vụ mà cậu vừa nói... cụ thể là bao gồm những thứ gì?
— Dạ... toàn bộ... mười hai phiếu yêu cầu kỹ thuật bản gốc có chữ ký phê duyệt nháy của em và dấu của phòng chuyên môn... ba mươi sáu bức ảnh chụp thực địa quá trình tẩy rửa axít, nhuộm thuốc tím và khoét rãnh khung hai đáy... và... và cả một chiếc thẻ nhớ chứa file ảnh gốc có lưu định vị GPS tại nhà xưởng Bách Mộc nữa ạ... — Giọng Duy méo xệch đi, đuôi mắt giật giật, hai bờ môi run rẩy như sắp bật khóc. — Em thực sự không thể ngờ được thằng ranh con ấy lại xảo quyệt và mưu mô đến mức độ như thế! Nó cố tình dàn dựng một màn kịch hoàn hảo về việc vướng vào nợ nần cờ bạc, thuê phòng trọ rẻ tiền rồi bỏ lại vé xe khách tuyến Hà Nội đi Lào Cai ở bến xe Mỹ Đình để đánh lạc hướng tai mắt của chúng ta. Trong khi người của chúng ta lùng sục khắp các tỉnh biên giới phía Bắc, thì thực chất nó đã chui tọt vào trốn biệt trong trụ sở văn phòng luật sư suốt ba ngày nay để chờ thời cơ hoàn thiện văn bản ủy quyền nộp chứng cứ...
Một tiếng "cạch" khô khốc vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch.
Tạ Minh Thành thong thả đặt chiếc chén sứ xuống chiếc đĩa lót bằng bạc. Động tác của ông ta chậm rãi, chuẩn xác đến từng mi-li-mét, không làm sánh ra dù chỉ một giọt nước trà, nhưng âm thanh va chạm kim loại ấy lại khiến Duy giật nảy mình như vừa bị điện giật, lùi lại phía sau nửa bước theo bản năng sinh tồn.
— Tôi đã cảnh báo cậu bao nhiêu lần rồi hả Duy? — Thành ngước mắt lên nhìn thẳng vào mặt gã trợ lý thân cận. Nụ cười nhàn nhạt trên môi ông ta biến mất hoàn toàn, thay vào đó là một vẻ uy nghiêm tàn nhẫn đến rợn gáy. — Người có học, làm việc lớn thì phải dùng cái đầu và các kẽ hở của luật pháp, chỉ có những kẻ ngu xuẩn hạ đẳng mới dùng bạo lực cơ bắp và sự đe dọa rẻ tiền! Cậu tưởng cậu là ai? Một tay cai thầu chợ trời hay một tên lưu manh đầu đường xó chợ mà dám vác mặt sang tận xưởng gỗ dọa ném người ta xuống sông Hồng? Cậu bắt nó ký vào những văn bản đóng dấu chức danh của công ty mẹ, để lại cả chữ ký nháy của chính cậu trên từng tờ lệnh kỹ thuật? Cậu có hiểu hai chữ 'nghiệp vụ' được viết như thế nào không?
— Em... em xin lỗi anh Thành... Em thề có trời đất là em chỉ muốn ép nó đẩy nhanh tiến độ cho kịp ngày xuất xưởng lô khung để khớp với lịch đóng công-ten-nơ hàng mỹ nghệ chuyển đi... — Duy run lẩy bẩy, mồ hôi ướt đẫm cả sống lưng.
— Câm mồm lại! — Thành gằn giọng. Âm lượng không hề lớn nhưng từng chữ thốt ra đanh thép như búa gõ vào đe, khiến Duy lập tức cắn chặt môi, nín bặt không dám thở mạnh. — Cái tiến độ chết tiệt của cậu suýt chút nữa đã kéo toàn bộ cái tập đoàn này xuống bùn lầy! Cậu có biết hai thùng tài liệu vận chuyển đường thủy thu giữ tại căn nhà số mười bảy phố Hàng Gương rơi vào tay thằng Lục Khang đã là một thảm họa kiểm soát rủi ro lớn đến mức nào chưa? Bây giờ cậu lại dâng thêm cả một tập hồ sơ mười hai phiếu kỹ thuật đóng dấu đỏ cho lão Sơn, cậu muốn đích thân dẫn công an kinh tế đến tận phòng làm việc này để còng tay tôi vào chấn song sắt hay sao?
Nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lấy tâm trí Duy. Nghĩ đến viễn cảnh phải đối diện với bản án tù đày hàng chục năm và sự sụp đổ của toàn bộ tương lai danh vọng, gã trợ lý sụp xuống, bước vội lên một bước, hai tay chắp lại trước ngực với ánh mắt van lơn đến cùng cực:
— Anh Thành ơi... anh cứu em với! Em theo anh từ ngày mới chân ướt chân ráo ra trường, mọi việc em làm, từng bước đi nước bước từ trước đến nay em cũng chỉ là thừa hành tuyệt đối theo mọi chỉ đạo miệng của anh thôi mà! Nếu ngày mai công an kinh tế triệu tập em lên đối chất... nếu họ bắt giam em... thì em...
Tạ Minh Thành khẽ nhếch mép bật ra một tiếng cười khẩy. Một nụ cười lạnh tanh, không hề có lấy một tia ấm áp nơi đáy mắt sâu hoắm. Ông ta chậm rãi đứng dậy, hai tay đút vào túi quần âu, thong thả bước vòng qua chiếc bàn làm việc bằng gỗ mun đồ sộ, tiến lại gần Duy. Từng bước chân nện êm ru trên lớp thảm Ba Tư dày cộp, nhưng đối với Duy, mỗi bước đi ấy lại giống như bước chân của một con thú săn mồi thượng đẳng đang tiến lại gần để bẻ gãy cổ con mồi đã cùng đường.
— Cứu cậu? Cậu bảo tôi phải cứu cậu bằng cách nào khi chính nét bút, chữ ký và con dấu chuyên môn của cậu nằm rành rành trên mười hai cái phiếu yêu cầu khoét rãnh khung hai đáy ấy? — Thành dừng lại cách Duy chỉ nửa bước chân, cúi thấp người xuống, nhìn xuyên qua đôi mắt đang hoảng loạn tột độ của gã. — Nhưng cậu nên nhớ một điều, Tạ Minh Thành này xưa nay chưa bao giờ bỏ rơi những kẻ dưới trướng của mình, với một điều kiện duy nhất: kẻ đó phải biết nghe lời, biết giữ mồm giữ miệng và biết chính xác vị trí của mình ở đâu trong bàn cờ này.
Duy ngước mắt lên, ánh mắt lóe lên một tia hy vọng mong manh như người sắp chết đuối chộp được chiếc cọc tiêu trôi dạt:
— Anh... anh dạy em... anh bảo em phải khai báo thế nào, em xin cắn rơm cắn cỏ làm theo răm rắp ạ!
Thành mỉm cười, một nụ cười đầy toan tính, lạnh lùng và sắc bén của một kẻ quen thao túng số phận kẻ khác:
— Ngay trong đêm nay, cậu quay về phòng làm việc, lục tìm toàn bộ hồ sơ lưu trữ và soạn thảo sẵn một bộ hồ sơ pháp lý hoàn chỉnh để chuẩn bị cho buổi làm việc sáng mai với cơ quan điều tra. Kịch bản của chúng ta rất rõ ràng và hoàn toàn hợp pháp trên mặt giấy tờ: Công ty Di sản Minh Thành chỉ ký một hợp đồng dịch vụ kinh tế thông thường với Xưởng Phục chế Bách Mộc để phục chế, bảo dưỡng và đóng mới hệ thống khung bảo quản tranh cổ theo tiêu chuẩn bảo tàng cơ bản. Chúng ta hoàn toàn không biết, không chỉ đạo và không bao giờ yêu cầu họ chế tác bất kỳ loại khung hai đáy nào cả. Toàn bộ hành vi đục khoét rãnh ngầm, ngâm tẩm hóa chất thuốc tím, xút ăn da để tẩy màu gỗ dổi mới và làm giả nhãn mác niên đại thuộc địa là do cá nhân tay nghệ nhân Lê Bách tự ý chỉ đạo thợ mộc thực hiện nhằm mục đích ăn bớt vật tư gỗ quý, trục lợi bất chính từ khoản chênh lệch chi phí phục chế cổ vật.
Duy mở to hai mắt, miệng há hốc kinh ngạc trước sự tráo trở tinh vi của kế hoạch:
— Đổ... đổ sạch toàn bộ trách nhiệm hình sự lên đầu xưởng Bách Mộc ư anh? Nhưng... nhưng còn mười hai cái phiếu kỹ thuật có chữ ký nháy của em...
— Chữ ký của cậu? — Thành ghé sát tai Duy, cất giọng thì thầm chậm rãi, từng lời từng chữ rành rọt rót vào màng nhĩ gã trợ lý như liều thuốc độc tê liệt thần kinh. — Cậu sẽ khai báo trước điều tra viên rằng cậu là một cán bộ giám sát hành chính bị Lê Bách lừa gạt và qua mặt. Lê Bách đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết sâu về kỹ thuật mộc của cậu, trình lên các phiếu nghiệm thu khống đan xen vào các đợt giao hàng định kỳ. Cậu vì quá tin tưởng vào danh tiếng và thâm niên tay nghề của một nghệ nhân phục chế gỗ lâu năm nên đã ký xác nhận một cách tắc trách mà không trực tiếp kiểm tra cấu trúc cơ học bên trong thanh gỗ. Cùng lắm, sai phạm của cậu chỉ dừng lại ở mức độ thiếu trách nhiệm trong công tác giám sát hành chính nội bộ, hiểu chưa? Còn hành vi làm giả con dấu, làm giả chứng thư giám định của các viện nghiên cứu và khoét rãnh cất giấu tài liệu? Tất cả là một chuỗi hành vi phạm tội có tổ chức do Lê Bách và thằng thợ khung An Huy cấu kết với nhau để sản xuất tranh giả, tuồn ra thị trường chợ đen nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các nhà sưu tập tư nhân. Đây là một vụ án hình sự độc lập của một cơ sở thủ công nghiệp cá thể, hoàn toàn không dính dáng gì đến tư cách pháp nhân hay ban lãnh đạo của Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành!
Duy sững sờ, toàn thân run rẩy trước sự tàn nhẫn, lạnh lùng đến mức ghê rợn trong nước cờ thí tốt cứu xe của Tạ Minh Thành. Nhưng trong hoàn cảnh ngặt nghèo, khi lưỡi hái pháp luật đã kề sát cổ họng, gã hiểu rất rõ đây chính là lối thoát duy nhất giúp gã tránh được chiếc còng số tám của tội danh đồng phạm chủ mưu.
— Dạ... dạ vâng... em đã hiểu tường tận rồi ạ... — Duy cúi gập người xuống, giọng run rẩy phục tùng. — Em sẽ chuẩn bị lại toàn bộ hợp đồng dịch vụ nguyên bản kèm theo các biên bản quy trách nhiệm vật tư của xưởng Bách Mộc ngay trong đêm nay.
— Tốt. — Thành quay lưng bước thong thả trở lại chiếc bàn làm việc bằng gỗ mun, khẽ phẩy tay như xua đuổi một con ruồi phiền toái. — Biến khỏi đây và làm cho sạch sẽ, không để lại bất kỳ một tì vết nào. Đừng bao giờ để tôi phải thất vọng về sự cẩu thả của cậu thêm một lần nào nữa. Và hãy ghi nhớ cho thật kỹ vào trong óc: nếu ngày mai bên công an kinh tế có hỏi đến bất kỳ điều gì, một nửa chữ 'Đông Phù', một ký hiệu kho bãi nào liên quan đến mạn bến sông Hồng cũng tuyệt đối không được phép lọt ra khỏi kẽ răng cậu. Nếu cái tên Đông Phù bị lộ ra từ miệng cậu... thì cái giá mà cậu và gia đình cậu phải trả sẽ không đơn giản chỉ là vài năm ngồi bóc lịch sau song sắt đâu. Rõ chưa?
— Dạ rõ... dạ em xin khắc cốt ghi tâm... — Duy nuốt nghẹn một ngụm nước bọt lạnh ngắt, liên tục cúi đầu lùi dần về phía cửa ra vào, rồi nhẹ nhàng khép cánh cửa cách âm bọc da dày cộp lại, biến mất vào hành lang mờ tối trong nỗi sợ hãi tột cùng.
Trong căn phòng làm việc thênh thang lúc này chỉ còn lại một mình Tạ Minh Thành. Vị tổng giám đốc không quay lại bàn làm việc, mà chậm rãi bước tới bên khung cửa kính lớn sát sàn, phóng tầm mắt qua lớp kính hai lớp nhìn xuống dòng người và xe cộ thưa thớt đang trôi đi dưới lòng đường Lý Thường Kiệt đêm muộn. Thành đưa bàn tay trái lên, khẽ xoay tròn chiếc nhẫn ngọc bích màu xanh thẫm ngự trên ngón tay cái, khóe miệng nhếch lên một đường cong lạnh lẽo đầy u ám:
— Trần Minh Đạo... ông tưởng rằng một cơn đột quỵ và sự im lặng của ông có thể chôn vùi vĩnh viễn sự thật dưới nấm mồ hay sao? Căn nhà số mười bảy Hàng Gương đã bị niêm phong, nhưng những thứ báu vật định mệnh mà ông nắm giữ... chắc chắn vẫn đang nằm đâu đó quanh quẩn giữa những con ngõ mục nát của cái đất phố cổ này thôi...
***
Đêm càng trôi dần về sáng, nhiệt độ ngoài trời càng hạ thấp, phả từng đợt gió lạnh buốt qua những rặng xà cừ cổ thụ. Không gian bên trong hiệu sách cũ ngõ Hàng Chỉ chìm vào một thứ im lặng đặc quánh, lạnh lẽo đến mức người ta có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng chuông đồng hồ từ tháp chuông Nhà thờ Lớn vọng lại: mười hai tiếng gõ trầm đục, cô tịch buông rơi giữa đêm sương.
Bà Ninh Thu Hà sau một hồi càm ràm mệt mỏi, do cơn đau lưng tái phát dữ dội đã phải vịn tay vào cầu thang gỗ, khập khiễng lê bước lên căn phòng nhỏ ở tầng lửng để uống thuốc giảm đau và ngả lưng nghỉ ngơi. Gian kho sách tầng trệt lúc này chỉ còn lại một mình Vi. Không gian tĩnh mịch đến rợn người, thỉnh thoảng chỉ có tiếng mọt nghiến gỗ lạo xạo phát ra từ sâu trong những thớ gỗ của các kệ sách tạp chí cũ, và tiếng gió rít nhè nhẹ qua ô cửa sổ thông gió bằng sắt hoen gỉ tít trên trần cao.
Vi chậm rãi tháo chiếc khăn xô trắng trên đầu xuống, phủi nhẹ những hạt bụi giấy xám xịt bám trên vạt áo len màu xanh rêu. Những lời trần tình ấp úng, ánh mắt né tránh đầy bối rối và thái độ gắt gỏng bất thường của dì Hà ban nãy cứ lởn vởn trong tâm trí cô như một đám mây đen vần vũ, không tài nào xua tan đi được. Trực giác của một người làm công tác lưu trữ học — ngành khoa học của sự chuẩn xác, của việc lần tìm những mối liên kết logic ẩn giấu sau những mảnh vỡ lịch sử — thôi thúc cô phải đi tìm câu trả lời cho chính mình.
Vi cầm lấy chiếc đèn pin nhỏ bằng kim loại giắt ở túi quần, bật công tắc. Luồng ánh sáng trắng tập trung quét một vệt dài qua những chồng sách báo nằm ngổn ngang, dẫn lối cho cô bước chầm chậm về phía góc kho sâu nhất — nơi đặt chiếc kệ sách bốn tầng bằng gỗ lim cổ thụ đã đen bóng vì thời gian.
Chiếc kệ gỗ lim này vốn là nơi chứa đựng toàn bộ các bộ từ điển bách khoa toàn thư của Liên Xô cũ, các bộ đại từ điển ngôn ngữ học và các tập niên giám thống kê xuất bản từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước — những cuốn sách khổ lớn, nặng trịch, quanh năm suốt tháng chẳng mấy khi có ai buồn ngó ngàng hay nhấc ra khỏi vị trí. Đây chính là góc khuất nhất, ẩm thấp nhất của toàn bộ ngôi nhà, nơi ánh sáng mặt trời không bao giờ có thể rọi tới được, và mặt sàn xi măng luôn phủ một lớp bụi mịn màu xám tro dày đặc.
Theo trí nhớ chuẩn xác đến từng xăng-ti-mét của Vi — một trí nhớ được tôi rèn qua hàng ngàn giờ phân loại tư liệu tại kho lưu trữ bảo tàng — chiếc hộp gỗ sơn then của gia đình luôn được đặt cẩn trọng ở ngăn dưới cùng của chiếc kệ lim này. Đó là một chiếc hộp gỗ thị đen tuyền, bóng loáng nhờ lớp sơn ta truyền thống, bốn góc được bọc bằng các miếng đồng chạm trổ hoa cúc dây, và ở chính giữa nắp hộp là một chiếc khóa đồng cổ hình đôi cá chép ngậm ngọc. Chiếc hộp ấy luôn được đặt lùi sâu vào sát mép vách tường gạch mục, được che chắn một cách kín đáo phía trước bởi hai chồng tạp chí Địa lý thế giới xuất bản năm 1995 dày cộp.
Vi quỳ gối xuống nền xi măng buốt lạnh, chiếc quần vải chạm vào mặt sàn ẩm ướt khiến cô khẽ rùng mình. Đặt chiếc đèn pin sang một bên để luồng sáng rọi nghiêng vào ngăn kệ, cô đưa hai tay nhẹ nhàng nhấc từng tập tạp chí Địa lý thế giới bám đầy bụi sang một bên.
Hai chồng tạp chí nặng trịch được dời đi.
Khoảng trống tối tăm phía sau bức vách hiện ra trước mắt cô.
Nhưng bên trong hoàn toàn trống trỗng.
Vi chết lặng. Toàn thân cô như đông cứng lại, tim đập thắt lại một nhịp đau nhói.
Cô vội vã nhoài hẳn người vào trong lòng ngăn kệ gỗ lim, hai bàn tay run rẩy quờ quạng, sờ soạng khắp góc kẹt tối tăm ẩm mốc. Những ngón tay cô chỉ chạm vào lớp vữa tường gạch sần sùi đang bong tróc từng mảng lớn vì ẩm thấp, và những sợi mạng nhện dính dớp giăng mắc ở góc kệ.
Không có chiếc hộp gỗ nào ở đó cả.
Vi run rẩy cầm chiếc đèn pin soi sát vào mặt gỗ của ngăn kệ dưới cùng. Dưới ánh sáng trắng gay gắt rọi thẳng, sự thật phơi bày một cách tàn nhẫn: giữa bề mặt gỗ lim phủ một lớp bụi tro xám xịt dày cộp tích tụ qua hàng năm trời, một khoảng trống hình chữ nhật có kích thước chừng ba mươi nhân bốn mươi xăng-ti-mét hiện lên sạch bóng, không một hạt bụi. Bốn góc của khoảng trống in hằn bốn vết lõm tròn nhỏ xíu — dấu vết không thể chối cãi của bốn chiếc chân đồng gắn dưới đáy hộp gỗ sơn then.
Dấu vết xê dịch ấy còn rất mới. Những hạt bụi xung quanh mép viền hình chữ nhật chỉ vừa mới bị xáo trộn, chưa hề kịp lắng đọng lại.
Mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa sau gáy Vi, chảy dọc theo sống lưng khiến cô ớn lạnh đến tận xương tủy. Ánh mắt hoảng loạn của cô lập tức quay ngoắt sang ba chiếc thùng carton thanh lý chất đầy sách báo cũ vừa được đóng nẹp băng dính dán kín miệng nằm im lìm giữa gian nhà ngoài, rồi câu nói lảng tránh đầy hối hả của dì Hà ban nãy bỗng dội về trong tâm trí cô như một tiếng sét đánh ngang tai:
*"Người ta đã nhận tiền cọc, hẹn đúng sáu giờ sáng mai người ta cho xe ba gác đến bốc chở ra chợ đồ cũ ngoài bãi ven đê rồi đấy..."*
Một nỗi kinh hoàng và sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lấy cuống họng Vi, khiến cô gần như không thể thở nổi. Chiếc hộp gỗ sơn then chứa đựng bưu kiện niêm phong bí mật — sinh mạng nghề nghiệp và bằng chứng sống còn của thầy Trần Minh Đạo gửi gắm... đã biến mất khỏi nơi trú ẩn an toàn của nó.
Lật tung góc kho sách phủ bụi, Vi sững sờ nhận ra chiếc hộp gỗ sơn then quen thuộc của gia đình đã không còn ở vị trí cũ.