Hai Tác Giả Dưới Một Nếp Gấp
Dưới ánh đèn soi giấy rọi xiên của chiếc bàn lưu trữ đặt nơi góc tối tầng hai, Vi cẩn thận dùng nhíp chuyên dụng gắp từng bức thư nặc danh cùng ba chiếc phong bì tương ứng, xếp chúng ngay ngắn trên mặt gỗ theo một đường thẳng tắp. Chiếc kính lúp bản lớn có viền đồng thau xước mờ nằm trong lòng bàn tay cô, lạnh ngắt và đầm nặng.
Không gian phòng kho khi bóng hoàng hôn mùa thu hoàn toàn sụp xuống chìm vào một sự tĩnh lặng đặc quánh, mang mùi vị quen thuộc của giấy mục, mùn gỗ lim lâu năm và hơi ẩm luồn qua những thớ vữa vôi tôi thế kỷ trước. Thỉnh thoảng, một cơn gió heo may lướt qua khe cửa chớp nhìn sang khoảng trời chập choạng của phố Hàng Bồ, làm những thanh chốt đồng rỉ sét khẽ rên lên từng hồi cọt kẹt, buôn buốt như tiếng móng tay miết trên nẹp cửa.
Vi không bao giờ cho phép mình vội vàng. Những năm tháng từng ngồi trong bóng tối của các phòng văn thư lưu trữ tòa soạn cũ, hay những đêm dài rà soát hàng chồng hồ sơ điều tra bị các bên liên quan tìm cách can thiệp, gọt đẽo từng câu chữ đã dạy cho cô một bài học xương máu: sự hấp tấp luôn là người đồng hành đáng tin cậy nhất của kẻ ngụy tạo. Bất kỳ một phán đoán non nớt nào đưa ra trước khi các bằng chứng vật lý kịp lên tiếng đều sẽ dẫn người điều tra vào một mê cung bẫy rập đã được giăng sẵn.
Cô mở cuốn sổ tay bìa cứng bọc vải thô, lật sang trang giấy trắng tinh chưa có nếp gấp. Bằng một chiếc thước nhôm mỏng và ngòi bút chì 2B chuốt nhọn hoắt, cô kẻ một đường dứt khoát chia đôi mặt giấy làm hai nửa. Nửa bên trái dành cho lớp vỏ ngôn ngữ, nửa bên phải dành cho các dữ liệu vật lý vi mô.
Cô kéo ngọn đèn soi giấy lại gần hơn, cúi xuống bức thư thứ nhất – bức thư gửi đích danh cho ông Đỗ Vạn Lịch, người sáng lập kiêm giám đốc Bảo tàng tư nhân Vạn Lịch.
Từng dòng chữ in hoa mực đỏ hiện lên thô ráp, gãy góc và đầy những vết hằn lún sâu hoắm vào mặt giấy carton tái chế. Người viết dường như đã tì toàn bộ sức nặng của cổ tay và sự căm phẫn cơ học xuống ngòi bút, đến mức ở một vài đoạn cong gấp khúc, đầu bi sắt đã xé rách lớp xơ sợi ngoài cùng của bột giấy. Nhưng điều khiến ánh mắt Vi dừng lại thật lâu, khiến hai hàng lông mày của cô bất giác nhíu chặt, hoàn toàn không phải là sự hung bạo toát ra từ lực ấn ngòi bút.
Điều bất thường nằm ở sự xung đột kỳ quái bên trong chính lớp vỏ từ vựng mà kẻ viết sử dụng.
Người viết lá thư này lộ rõ sự dốt nát đến mức ngô nghê đối với toàn bộ hệ thống khái niệm lưu trữ học và quản lý bảo tàng cơ bản. Hắn gọi cuốn “Sổ đăng ký kiểm kê hiện vật quốc gia” – một văn bản pháp lý tối thượng của bất kỳ thiết chế bảo tàng nào – bằng một cái tên nực cười: “sổ biên bản dỡ hàng”. Hắn gọi mã số định danh độc bản được mã hóa theo hệ thống chữ và số khoa học gắn liền với từng hiện vật là “số kiện mã hiệu”. Thậm chí, thuật ngữ căn bản nhất của giới nghiên cứu di sản là “định kỳ đối soát hiện trạng hiện vật” cũng bị hắn đánh đồng thành một cụm từ sặc mùi lao động cơ bắp: “tổng kiểm kê theo ca”.
Một người nếu từng được đào tạo dù chỉ nửa ngày tại Khoa Di sản hay từng bước chân qua một lớp bồi dưỡng văn thư lưu trữ sơ cấp sẽ không bao giờ mắc phải những lỗi dùng từ ấu trĩ đến mức ấy. Những từ ngữ chuyên ngành bảo tàng không phải là thứ để người ta tự tiện sáng chế; chúng là những quy chuẩn hành chính đã được đóng dấu thành quy phạm, ăn sâu vào thói quen tư duy của bất kỳ ai từng cầm găng tay trắng chạm vào cổ vật.
Thế nhưng, mâu thuẫn nằm ở chỗ: trái ngược hoàn toàn với lỗ hổng học thuật mênh mông đó, người viết lại vận dụng vô cùng chính xác, sắc bén và nhuần nhuyễn hệ thống thuật ngữ chuyên biệt của ngành vận tải đường sắt, giao nhận kho bãi và bốc dỡ hàng hóa cồng kềnh.
Từng câu chữ tố cáo ông Đỗ Vạn Lịch trong bức thư thứ nhất đều đặc quánh mùi dầu luyn, mùi khói than đầu máy xe lửa và bụi bặm của những bến bãi trung chuyển ngoài rìa thành phố: *“Hàng tồn bãi mười tám tháng chưa có lệnh dỡ đã vội bốc dỡ qua đêm.”* *“Chuyển giao không vận đơn đối chiếu, không có chữ ký của áp tải viên.”* *“Niêm phong kho bãi bị xé góc mà không lập biên bản ca ba.”* *“Hàng quá cảnh không tờ khai hải quan đường sắt mà dám nhập thẳng vào gian trưng bày.”*
Vi đặt ngón tay trỏ miết nhẹ lên mặt bàn gỗ lim. Đầu óc cô tự động bóc tách từng lớp nghĩa. “Vận đơn đối chiếu”, “niêm phong xé góc”, “biên bản ca ba”, “hàng quá cảnh không tờ khai hải quan đường sắt”... Đây tuyệt đối không phải là thứ ngôn ngữ của một nhà nghiên cứu bất mãn hay một học giả bị gạt ra ngoài lề hội đồng khoa học. Một học giả tức giận sẽ dùng những từ ngữ cay độc về mặt học thuật, sẽ công kích vào tính nguyên bản, niên đại học, hoặc phương pháp giám định men gốm, thớ gỗ. Kẻ viết bức thư này thì không. Hắn không quan tâm chiếc sập gụ hay cái bình vôi thuộc triều Lê hay triều Nguyễn; hắn chỉ quan tâm đến việc kiện hàng ấy có đủ giấy tờ bến bãi hay không, chiếc kẹp chì niêm phong có bị bấm lại hay không, và tại sao nó lại được bốc dỡ lúc nửa đêm mà không có mặt người kiểm bãi.
Đó là vốn từ ngữ đã ăn sâu vào tầng tiềm thức, được tôi luyện qua hàng ngàn giờ đứng bên mép toa xe hàng, từng trực tiếp đếm từng thanh gỗ trắc, từng ôm những bao tải đồ cổ bọc rơm ướt rượt, từng ký vào các tập phôi giao nhận bẩn thỉu đầy dầu mỡ ở ga Giáp Bát, bến xe Nước Ngầm hay cảng Phà Đen.
Vi lật tiếp sang bức thư thứ hai và thứ ba – hai lá thư lần lượt gửi cho chuyên viên giám định Nguyễn Hà An và chính cô.
Một cảm giác ớn lạnh khẽ chạy dọc sống lưng Vi. Sự tương phản giữa bức thư thứ nhất và hai bức thư sau đập thẳng vào mắt cô như một sự chối bỏ phũ phàng mọi logic sơ cấp.
Ở bức thư gửi cho Hà An và bức gửi cho cô, toàn bộ cái mùi dầu mỡ của bến bãi xe lửa biến mất không để lại một dấu vết nhỏ nhất. Không còn một chữ “tồn bãi”, không còn bóng dáng của “vận đơn” hay “biên bản ca ba”. Thay vào đó, hai bức thư sau được bọc trong một tấm áo ngôn ngữ bảo tàng học cực kỳ hàn lâm, lạnh lùng, chính xác đến từng dấu chấm phẩy và chuẩn mực đến mức đáng sợ: *“Mã định danh nội bộ VL-TK/04.”* *“Thư mục nguồn sơ cấp bị đứt gãy tính liên tục.”* *“Chuỗi chuyển giao quyền sở hữu không bảo đảm nguyên tắc truy nguyên di sản.”* *“Hồ sơ độc bản khuyết chứng thư giám định đồng vị phóng xạ carbon C14.”*
Ngòi bút chì trên tay Vi khẽ khựng lại trên trang sổ tay.
Kẻ viết hai bức thư sau không chỉ hiểu cách vận hành của một bảo tàng tư nhân hiện đại, mà còn biết rõ từng ngóc ngách trong cấu trúc dữ liệu số hóa mà Vi mới chỉ vừa thiết lập trên máy tính nội bộ của phòng lưu trữ cách đây chưa đầy một tuần lễ. Từng ký hiệu phân loại mục lục, từng cách đặt tên thư mục gốc đều được trích dẫn vanh vách.
Hơn thế nữa, kẻ viết bức thư thứ hai nắm thóp được điểm yếu chí mạng trong tâm lý học nghề nghiệp của Nguyễn Hà An: nỗi ám ảnh hoang tưởng về một sai sót giám định có thể tước bỏ vĩnh viễn tư cách hội viên hội cổ vật của bà ta. Những câu chữ trong thư gửi Hà An không mang tính chửi bới thô bạo như thư gửi ông Lịch; nó là những mũi kim tẩm thuốc độc chích thẳng vào tử huyệt danh dự chuyên môn, được thiết kế để làm tê liệt thần kinh của một người đàn bà luôn sống trong nỗi sợ bị phát giác những thỏa hiệp ngầm trong quá khứ.
“Một người bình thường không thể có sự phân liệt ngôn ngữ kỳ quái đến thế này,” Vi thì thầm với chính mình, giọng nói chìm nghỉm giữa bốn bức tường vách gỗ. “Một người lao động bến bãi không thể tự nhiên học thuộc lòng quy chuẩn truy nguyên di sản chỉ sau một đêm. Và ngược lại, một kẻ có trình độ viết ra những luận điểm bảo tàng học sắc sảo như thế này sẽ không bao giờ hạ mình viết ra những câu chữ ngô nghê về 'sổ biên bản dỡ hàng' hay 'tổng kiểm kê theo ca'.”
Cô đứng bật dậy, chiếc ghế gỗ lim dưới chân phát ra một tiếng rít khô khốc. Vi bước nhanh về phía góc cuối phòng, nơi đặt chiếc kính hiển vi quang học soi mẫu vật hai thị kính – một trong những thiết bị kỹ thuật hiếm hoi mà cô đã phải đấu tranh gay gắt với ông Đỗ Vạn Lịch để được trang bị, nhằm phục vụ cho công tác phân tích bề mặt và tình trạng lão hóa của sợi giấy tài liệu.
Vi cắm điện nguồn sáng phản xạ, vặn núm điều chỉnh tụ quang. Một luồng sáng trắng lạnh lẽo chiếu thẳng xuống mặt đĩa sa trượt. Bằng chiếc nhíp kẹp không răng cưa, cô cẩn thận đưa mép bức thư thứ hai – lá thư gửi cho Nguyễn Hà An – vào dưới đầu vật kính độ phóng đại 40x.
Vi ghé sát mắt vào thị kính, tay xoay nhẹ núm vi cấp. Mặt giấy carton tái chế thô ráp vốn phẳng lặng dưới mắt thường lập tức biến thành một bình nguyên gồ ghề của những thớ sợi cellulose chằng chịt, đan xen nhau như những rễ cây mục.
Và trên cái nền bình nguyên ấy, cấu trúc của các vệt mực đỏ bắt đầu hiển lộ bản chất cơ học thực sự của chúng.
Vi nín thở. Dưới độ phóng đại 40 lần, những nét chữ in hoa màu đỏ hoàn toàn không phải là những vệt dung dịch lỏng ngấm sâu vào khe sợi giấy như cách mà ngòi bút bi, bút máy hay bút dạ kim thường để lại. Không hề có hiện tượng mao dẫn của mực nước làm nhòe mép chữ, cũng không có rãnh hằn kim loại do viên bi thép miết lõm bề mặt.
Thay vào đó, từng nét chữ được cấu thành từ hàng ngàn, hàng vạn những giọt mực màu hữu cơ siêu nhỏ li ti, có đường kính đồng đều một cách nhân tạo, được phun rải mịn màng lên bề mặt các thớ sợi.
Kẻ chế tác hai bức thư sau đã dùng một thủ đoạn ngụy tạo vô cùng tinh vi: hắn soạn thảo nội dung văn bản trên máy vi tính bằng một bộ phông chữ được thiết kế mô phỏng chữ viết tay in hoa, sau đó sử dụng máy in phun màu để in trực tiếp lên những mảnh giấy carton được cắt xén mép nham nhở. Bằng mắt thường dưới ánh sáng phòng thông thường, bất kỳ ai cũng sẽ dễ dàng nhầm tưởng đây là nét chữ viết vội bằng một cây bút lông kim đỏ mực dầu.
Thế nhưng, máy móc dù có tinh xảo đến đâu cũng luôn để lại dấu vết cơ học không thể xóa nhòa của chính cơ chế vận hành của nó.
Vi xoay nhẹ cần di chuyển bàn sa trượt, rà soát từng ký tự in hoa một cách có hệ thống. Khi thị kính dừng lại ở chữ “Đ” trong từ “ĐỊNH DANH”, một chi tiết bất thường lọt vào tầm ngắm của cô. Ở đường cong phía trên bên phải của vòng bụng chữ “Đ”, mép viền ngoài cùng bị khuyết mất một vệt rất mảnh, bề rộng chỉ chừng 0,1 milimét. Vệt khuyết này tạo thành một rãnh hở màu trắng ngà của nền giấy, cắt ngang qua lớp mực đỏ một cách đột ngột.
Vi tiếp tục dịch chuyển sa trượt sang chữ “B” trong từ “BẢO TÀNG”. Một lần nữa, đúng ở tọa độ góc cong phía trên bên phải của bụng chữ, một rãnh khuyết nét viền y hệt lại xuất hiện. Nó không phải là do người viết run tay nhấc ngòi, bởi vì rãnh khuyết này có hai bờ cắt thẳng đứng tuyệt đối, biểu hiện của việc những giọt mực phun đã không được bắn ra tại đúng vị trí tọa độ đó.
Cô chuyển tiếp sang bức thư thứ ba – lá thư gửi cho chính mình. Vi kiểm tra chữ “Đ” trong từ “ĐỒNG VỊ” và chữ “B” trong từ “BẢN THẢO”. Vết khuyết nét viền lặp lại chính xác đến từng phần trăm milimét tại cùng một tọa độ tương đối trên cung cong khép kín của ký tự!
“Hiện tượng nghẹt đầu phun cục bộ,” Vi khẽ thốt lên, mắt vẫn dán chặt vào thị kính.
Đây là một lỗi cơ học kinh điển, không thể trộn lẫn của các dòng máy in phun màu văn phòng khi một cụm kim phun vi mô trên đầu in bị đóng cặn mực khô hoặc vướng một hạt bụi mịn không được bảo dưỡng định kỳ. Khi đầu in quét ngang trang giấy theo trục X, kim phun bị nghẹt sẽ bỏ qua một dải tọa độ cố định, để lại một khoảng trống siêu vi trên bản in.
Ký ức thị giác sắc bén của Vi lập tức bị kích hoạt. Bộ não của cô tua ngược lại toàn bộ khối lượng tài liệu hành chính, các biên bản liên tịch và thư từ giao dịch mà cô đã xử lý trong suốt hai tháng làm việc tại bảo tàng. Từng văn bản, từng logo, từng tờ phụ lục lướt qua tâm trí như những khung hình trên cuộn phim nhựa.
Một điểm sáng lóe lên trong đầu cô: ba tuần trước, Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành – đối tác chiến lược đang ráo riết đàm phán gói tài trợ 1,5 triệu USD cho Vạn Lịch – có chuyển sang một tập hồ sơ dự thảo. Bản fax thông báo và bản in màu phụ lục danh mục các hiện vật dự kiến tài trợ phục chế do chính Bùi Quang Duy, người phụ trách pháp lý kiêm hậu cần của Minh Thành, trực tiếp mang sang giao cho phòng lưu trữ. Tờ phụ lục danh mục đó được in phun màu trên giấy bóng mờ.
Vi buông thị kính, bước vội đến dãy tủ hồ sơ bằng thép sơn tĩnh điện mang biển số 02. Cô kéo ngăn kéo thứ ba, lật giở từng tập bìa còng màu xanh cho đến khi ngón tay chạm vào tập hồ sơ mang mã hiệu “MT-TT/08: Phụ lục Di sản Minh Thành”.
Cô rút tờ phụ lục gốc ra, mang lại bàn kỹ thuật, đặt nó nằm cạnh bức thư nặc danh thứ hai dưới đèn chiếu. Không cần dùng đến kính hiển vi, chỉ với chiếc kính lúp phóng đại thông thường soi vào dòng tiêu đề in hoa “CÔNG TY CỔ PHẦN DI SẢN MINH THÀNH” ở phần ghi chú chân trang, Vi đã nhìn thấy vết nứt định mệnh: chữ “Đ” trong chữ “ĐỊNH MỨC” và chữ “B” trong chữ “BẢN QUYỀN” ở chân trang tờ phụ lục của Minh Thành cũng bị khuyết một nét viền siêu mảnh ở góc trên bên phải!
Cô đặt hai mẫu vật dưới kính hiển vi để kiểm tra chéo lần cuối.
Hoàn toàn trùng khớp. Độ dốc của vết cắt rãnh hở, mật độ các hạt mực đỏ hữu cơ bị tán xạ xung quanh mép khuyết tật và khoảng cách tọa độ vi mô giữa các điểm phun lỗi hoàn toàn đồng nhất. Bức thư thứ hai và thứ ba được in ra từ chính chiếc máy in phun màu đa năng đặt tại văn phòng hậu cần của Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành – nơi Bùi Quang Duy nắm toàn quyền điều hành!
Một tiếng bước chân dứt khoát, nặng và đều đặn nện trên những bậc cầu thang gỗ lim phía bên ngoài hành lang đột ngột cắt đứt dòng suy luận của Vi.
Tiếng bước chân dừng lại ở chiếu nghỉ tầng hai. Cánh cửa gỗ dày của phòng lưu trữ khẽ đẩy vào, tạo nên một khoảng hở hắt ánh sáng mờ từ hành lang vào căn phòng tối.
Thanh tra Lục Khang bước vào. Anh mặc chiếc áo khoác gió mỏng màu xanh rêu bên ngoài bộ cảnh phục thường dùng, ve áo còn đọng lại vài hạt sương đêm của phố cổ sau giờ tan tầm. Mái tóc cắt ngắn nghiêm cẩn hơi xơ xác vì gió lạnh, nhưng đôi mắt sâu phía dưới đôi mày rậm vẫn giữ nguyên vẻ tỉnh táo, sắc lạnh của một điều tra viên kinh tế kỳ cựu. Sự hiện diện cao lớn, vuông vức của anh dường như lập tức lấp đầy không gian chật chội, ẩm thấp của căn gác lưu trữ. Trên tay Khang là chiếc cặp da công vụ màu đen phẳng phiu, các góc kim loại đã mòn vẹt vì sử dụng nhiều năm.
“Tầng một đã tắt hết đèn chính,” Khang nói, giọng trầm ấm và ổn định, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch. Ánh mắt anh đảo một vòng quét nhanh qua các dãy kệ tài liệu cao ngất, lướt qua chiếc kính hiển vi đang sáng đèn, rồi dừng lại trên mặt bàn làm việc ngổn ngang giấy tờ của Vi. “Tôi thấy đèn phòng lưu trữ tầng hai vẫn còn hắt qua khe cửa chớp nên bảo ông bảo vệ Thịnh mở cửa ngách cho lên. Giờ này đã gần tám giờ tối, cô vẫn chưa định khóa cửa về nhà sao?”
“Tôi đang đợi một vài chi tiết vật lý tự nó khớp lại với nhau,” Vi đáp, tay vẫn cầm chiếc kẹp gắp tài liệu, khẽ nghiêng đầu chỉ về phía chiếc ghế tựa bằng gỗ đối diện. “Và tôi đoán, một thanh tra Đội Điều tra Kinh tế xuất hiện ở đây ngoài giờ hành chính với chiếc cặp công vụ dày cộp kia chắc chắn không phải chỉ để nhắc nhở nhân viên bảo tàng về việc tắt đèn tiết kiệm điện.”
Khang khẽ nhếch mép. Đó là một phản xạ quen thuộc mỗi khi anh bắt gặp sự sắc bén thẳng thắn của Vi – một nụ cười kín đáo, thoáng qua rất nhanh rồi lập tức bị thu lại sau vẻ mặt nghiêm nghị thường trực của người thực thi pháp luật. Anh kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống, đặt chiếc cặp da sang một góc bàn trống, cẩn thận tránh xa vùng ánh sáng kỹ thuật nơi Vi đang trải các mẫu vật chứng.
“Về mặt nguyên tắc tố tụng thuần túy, vụ việc ba bức thư nặc danh này chưa hề được thụ lý thành một vụ án hình sự độc lập,” Khang mở đầu, giọng điệu chuyển ngay sang sự chuẩn xác, thận trọng của biên bản điều tra. “Ông Đỗ Vạn Lịch kiên quyết từ chối ký vào đơn trình báo chính thức. Ông ta sợ tin tức rò rỉ sẽ làm hỏng buổi lễ ký kết tiếp nhận tài trợ vào cuối tuần. Bà Nguyễn Hà An thì khai báo lòng vòng, quanh co, luôn miệng khẳng định đây chỉ là trò đùa ác ý của mấy kẻ ghen ăn tức ở trong giới sưu tầm đồ cổ. Nhưng đối với Đội Điều tra Kinh tế chúng tôi, những thông tin tố giác ẩn danh liên quan đến nguy cơ tẩu tán di sản quốc gia, tráo đổi cổ vật và làm sai lệch hồ sơ nguồn gốc là dấu hiệu của tội phạm kinh tế có tổ chức. Chúng tôi có đầy đủ thẩm quyền thu thập thông tin tiền tố tụng.”
Khang mở khóa cặp da, rút ra một chiếc máy tính bảng chuyên dụng cùng một ổ cứng di động bọc cao su chống sốc. Anh cắm dây cáp nối, ngón tay lướt nhanh trên màn hình cảm ứng rồi xoay góc nhìn về phía Vi.
“Sau khi nghe cô thông báo vào đầu giờ sáng nay về việc ông Thịnh gom được ba bức thư trong hòm thư nội bộ lúc 6 giờ 15 phút, tôi đã yêu cầu Đội Cảnh sát Giao thông và Công an phường Hàng Bồ trích xuất toàn bộ dữ liệu từ hệ thống camera giám sát trật tự đô thị,” Khang nhấn nút phát đoạn video đã được cắt lọc. “Bảo tàng Vạn Lịch nằm thụt sâu vào con ngõ cụt, các camera dân sinh xung quanh đều có điểm mù. Nhưng chiếc thùng thư sắt công cộng của Bưu điện Hà Nội gắn ở góc ngã ba phố Hàng Bồ giao với phố Hàng Chỉ – nơi ông Thịnh vẫn có thói quen ra mở khóa gom thư báo chuyển tiếp cho bảo tàng mỗi sáng sớm – thì lại nằm trọn vẹn trong tầm quét của mắt camera giao thông số 04.”
Trên màn hình máy tính bảng, đoạn phim đen trắng có độ phân giải cao bắt đầu chuyển động. Góc trên bên phải nhấp nháy dòng mã thời gian màu vàng: *04:12:35 AM*.
Đường phố Hàng Bồ vào thời khắc hơn bốn giờ sáng chìm trong một sự vắng lặng tuyệt đối. Mặt đường nhựa ẩm ướt phản chiếu những vệt sáng vàng vọt từ ngọn đèn cao áp leo lét. Những mái nhà ngói rêu phong của phố cổ co cụm lại trong bóng tối nhờ nhờ của sương sớm.
Đúng 4 giờ 12 phút 35 giây, một bóng người điều khiển chiếc xe máy số màu đỏ, phía sau yên xe gắn một giá sắt chở hàng chuyên dụng của dân giao nhận bưu phẩm, từ từ giảm tốc độ rồi tấp sát vào lề đường ngay bên cạnh trụ thùng thư bưu điện. Người này mặc áo khoác gió sẫm màu, trùm kín mũ bảo hiểm có kính chắn gió, nửa mặt dưới bị che kín bởi khẩu trang y tế dày.
Tuy nhiên, vóc dáng của người đó lộ rõ vẻ dong dỏng cao, hai bờ vai hơi so lại về phía trước, và đặc biệt là khi chống chân trái xuống mặt đường để giữ thăng bằng cho xe, hông của hắn hơi lệch sang một bên – một tật vận động rất rõ rệt ở khớp gối.
Bóng người đó thò tay vào bên trong vạt áo khoác, rút ra hai chiếc phong bì màu vàng nâu. Hắn không hề ngập ngừng, nhanh chóng luồn tay nhét cả hai chiếc phong bì qua khe hẹp của thùng thư bưu điện. Động tác diễn ra trong chưa đầy ba giây. Ngay sau đó, hắn rồ ga, chiếc xe máy phụt ra một làn khói mỏng rồi lao vút đi trong màn đêm, rẽ ngoặt theo hướng phố Bát Đàn.
“Hãy nhìn kỹ số lượng phong bì,” Vi nheo mắt, ngón tay cô chỉ thẳng vào màn hình đang dừng hình ở giây thứ 42. “Chỉ có hai chiếc. Hắn cầm trên tay một tệp mỏng gồm đúng hai phong bì màu vàng nâu, nhét cùng một lúc vào thùng thư!”
“Đúng, chỉ có hai phong bì,” Khang gật đầu, ánh mắt anh lóe lên những tia nhìn sắc lạnh. “Và cô có nhận ra phương tiện cùng dáng đi của người này không? Dù biển số xe đã bị kẻ này cố tình bôi một lớp bùn khô để che giấu, nhưng hệ thống xử lý hình ảnh kỹ thuật số của phòng kỹ thuật hình sự đã phục hồi được năm chữ số cuối của biển kiểm soát: 681.42. Chiếc xe máy số màu đỏ này đăng ký đứng tên một công ty vận tải tư nhân, nhưng thực tế nó đang được giao cố định cho một nhân viên giao hàng thuộc bộ phận hậu cần của Công ty Di sản Minh Thành. Gã này vẫn thường xuyên chở các kiện hàng mẫu, catalogue quảng bá và các phụ kiện tủ kính sang bàn giao cho bảo tàng Vạn Lịch vào các chiều thứ Ba.”
“Gã đó tên là Toàn,” Vi tiếp lời ngay tắp lự, các mảnh ghép hồ sơ nhân sự và ký ức hình ảnh trong đầu cô kết nối lại với nhau không một chút sai lệch. “Toàn 'thọt'. Hắn từng bị tai nạn chấn thương gãy xương bánh chè chân trái vào giữa năm ngoái, nên khi đi lại trọng tâm luôn bị dồn lệch sang bên phải, vai trái hơi nhấp nhô. Hắn là lái xe kiêm chân chạy việc trung thành, nhận lệnh trực tiếp từ Bùi Quang Duy!”
“Nhưng nút thắt logic lớn nhất của vụ việc nằm ngay ở đây,” Khang dừng đoạn video, gõ đầu ngón tay trỏ xuống mặt bàn gỗ lim. “Nếu Toàn nhận lệnh của Duy đi thả thư vào lúc 4 giờ 12 phút sáng, tại sao camera chỉ ghi nhận hắn thả đúng hai chiếc phong bì vào thùng thư bưu điện? Trong khi đó, đến 6 giờ 15 phút sáng, khi ông Thịnh mở cả thùng thư bưu điện lẫn hòm thư nội bộ gắn ở cửa ngách của bảo tàng, ông ta lại thu được tổng cộng tới ba bức thư nặc danh?”
Một nụ cười khẽ nở trên môi Vi. Đó là nụ cười của một người làm công tác lưu trữ khi các bằng chứng vật lý bắt đầu phản ánh chính xác cấu trúc của sự thật.
Cô không trả lời ngay bằng lời nói. Cô đứng dậy, với lấy chiếc đèn kỹ thuật rọi xiên, hạ thấp góc chiếu xuống chỉ còn khoảng 15 độ so với mặt bàn. Bằng chiếc nhíp kẹp, cô lần lượt nhấc ba chiếc phong bì rỗng đặt nằm ngang cạnh nhau, để cho luồng sáng chiếu quét ngang qua phần nắp tam giác gập lại phía sau của từng phong bì.
“Câu trả lời nằm ở chính chất kết dính này, anh Khang,” Vi nói, giọng cô rành rọt, từng từ rơi xuống không gian tĩnh lặng như những giọt sáp nến. “Anh là người luôn đòi hỏi chuỗi lưu giữ vật chứng và các chỉ dấu cơ học không thể bác bỏ. Vậy thì xin mời anh nhìn thật kỹ vào mép nắp của chiếc phong bì thứ nhất – chiếc phong bì chứa lá thư gửi cho ông Đỗ Vạn Lịch.”
Khang cúi thấp người xuống, đưa mắt nhìn sát theo hướng chùm sáng xiên đang rọi quét qua mép giấy.
“Lớp chất dán ở nắp phong bì thứ nhất có bề mặt thô ráp, gồ ghề, không phẳng và đã chuyển sang màu vàng ngà đục,” Vi dùng đầu nhíp mảnh chỉ vào lớp vảy keo khô. “Thớ giấy ở rìa nắp bị co rút nhẹ, nhăn nheo cục bộ do hiện tượng mất nước không đồng đều trong quá trình khô tự nhiên. Đây chính là hồ nước được quấy thủ công từ bột sắn – thứ keo dán truyền thống cực kỳ phổ biến trong các cơ quan, trường học, xí nghiệp kho bãi thời kỳ bao cấp kéo dài cho đến tận những năm đầu thập niên 2000. Chất hồ này được quét lên giấy bằng chổi lông thô hoặc ngón tay, chính vì thế nó để lại những vệt gợn sóng nhấp nhô và có những vệt ố tinh bột kéo dài lem nhem ra khỏi mép phong bì.”
Vi chuyển đầu nhíp sang chỉ vào nắp của hai chiếc phong bì còn lại – những chiếc gửi cho Nguyễn Hà An và chính cô.
“Bây giờ, hãy nhìn sang hai chiếc này. Hoàn toàn không có một phân tử tinh bột sắn nào. Không có sự co rút của thớ giấy, không có vết nhăn nheo, và bề mặt giấy phẳng lì tuyệt đối.”
Dưới góc chiếu xiên 15 độ, mép dán của hai phong bì sau phẳng như một mặt gương cắt. Khi Vi dùng đầu nhíp khẽ tách nhẹ lớp giấy ở góc nắp lên, một dải màng polyme siêu mỏng, trong suốt lộ ra dưới ánh sáng, phản chiếu lại những tia sáng lấp lánh thành một đường thẳng tắp không tì vết.
“Dải băng dính hai mặt công nghiệp siêu mỏng,” Vi nhấn mạnh từng âm tiết một cách đanh thép. “Bề rộng chính xác của dải keo này là 12 milimét. Các góc cắt ở hai đầu mép dán sắc lẹm, vuông vức 90 độ, được cắt bằng dao xén chuyên dụng của các xưởng gia công văn phòng phẩm hiện đại. Kẻ dán hai phong bì sau chỉ việc lột dải giấy sáp chống dính màu trắng ra rồi dùng đầu ngón tay miết nhẹ một đường là nắp phong bì dính chặt khít. Nhanh gọn, tiện lợi, không mùi, không tốn thời gian quấy bột và hoàn toàn mang tính chất gia công công nghiệp hàng loạt.”
Khang nheo mắt nhìn chăm chú vào mép cắt của dải băng keo polyme, rồi từ từ ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt Vi. Trong ánh mắt sâu thẳm của người thanh tra kinh tế, vẻ cảnh giác nghiệp vụ thường thấy đã hoàn toàn nhường chỗ cho sự thán phục kín đáo trước phương pháp tiếp cận vật lý tỉ mỉ của cô gái lưu trữ.
“Hai cơ chế dán phong bì hoàn toàn khác biệt nhau,” Khang chậm rãi đúc kết, giọng nói trầm xuống đầy suy tư. “Một bên dùng hồ nước tinh bột cổ lỗ sĩ của thời bao cấp, một bên dùng dải băng dính hai mặt công nghiệp hiện đại. Kết hợp với dữ liệu camera cho thấy Toàn chỉ thả đúng hai phong bì vào thùng thư bưu điện lúc hơn 4 giờ sáng... Điểu đó khẳng định chắc chắn một điều: bức thư thứ nhất gửi cho ông Đỗ Vạn Lịch không hề đi qua thùng thư bưu điện công cộng!”
“Chính xác!” Vi tiếp lời, giọng cô đanh lại. “Bức thư thứ nhất đã được nhét trực tiếp vào hòm thư nội bộ gắn ở cửa ngách của bảo tàng từ chiều tối hôm trước, hoặc được ai đó lén lút nhét qua khe cửa gỗ lim vào đêm hôm qua. Bức thư đó là một sự việc độc lập, do một kẻ có động cơ hoàn toàn khác thực hiện. Sau đó, bức thư thứ nhất này đã bị phát hiện, bị chặn lại, hoặc nội dung của nó đã bị rò rỉ cho một kẻ thứ hai. Và kẻ thứ hai này – kẻ sở hữu chiếc máy in phun màu bị nghẹt đầu phun tại Công ty Minh Thành – đã vội vã chế tác thêm hai bức thư nữa bằng máy tính, dán nắp bằng băng dính hai mặt công nghiệp, rồi sai gã giao hàng tên Toàn chạy xe máy đi thả vào thùng thư Hàng Bồ lúc 4 giờ 12 phút sáng để biến cả ba bức thư thành một tệp thư báo duy nhất khi ông Thịnh đi thu gom đầu ngày!”
Cánh cửa gỗ dày của phòng lưu trữ bỗng nhiên phát ra một tiếng kẹt dài, khô khốc.
Một mùi hương trầm ấm áp, phảng phất vị quế chi ngào ngạt lập tức tràn vào căn gác xép ẩm mốc, xua tan đi cái lạnh lẽo của giấy mục và ánh đèn huỳnh quang. Cụ Phạm Tư Thời bước vào phòng. Trên tay cụ là một chiếc khay gỗ khảm ốc xà cừ cũ kỹ, bên trên đặt hai chén trà sen bốc khói nghi ngút cùng một đĩa kẹo lạc phủ vừng vàng óng ả. Cụ mặc chiếc áo len gile cổ tim màu xám khoác bên ngoài chiếc sơ mi dạ kẻ ô, đôi mắt sau cặp kính lão dày cộp lấp lánh vẻ hóm hỉnh, điềm đạm của một người cả đời ngồi trong tiệm đồng hồ cổ, thấu suốt từng nhịp tích tắc của thời gian và lòng người nơi phố cổ.
“Tôi đứng dưới sân ngửi thấy mùi tranh luận của hai cô cậu bốc lên tận nóc ngói rồi,” cụ Tư Thời đặt chiếc khay gỗ xuống khoảng bàn trống bên cạnh chiếc máy tính bảng của Khang, cười khà khà, nụ cười làm những nếp nhăn nơi khóe mắt cụ giãn ra ấm áp. “Đã tám giờ tối rồi, bụng dạ rỗng tuếch thì lấy đâu ra máu mà nuôi não để mổ xẻ mấy cái chữ nặc danh ấy nữa. Uống ngụm trà nóng cho nhuận giọng, nhai miếng kẹo lạc cho ấm bụng, rồi chuyện đâu khắc có đó.”
Khang vội buông cây bút bi trong tay, đứng bật dậy đỡ lấy chén trà từ tay cụ già, giọng anh mềm mại và lễ phép khác hẳn vẻ cứng nhắc thường ngày: “Cháu cảm ơn cụ Tư. Cầu thang gỗ lim này dốc và trơn, cụ lại phải cất công leo lên tận đây.”
“Dốc gì mấy bậc gỗ này, cái hồi ông thân sinh ra cô Vi còn đang cắp sách đi học vỡ lòng thì tôi đã ngày ngày leo lên cái gác này để kiểm tra mối mọt cho ông nội cô ấy rồi,” cụ Tư kéo một chiếc ghế đẩu gỗ thấp lại gần bàn, thong thả ngồi xuống. Cụ đưa mắt nhìn lướt qua ba chiếc phong bì đang nằm dưới ngọn đèn chiếu xiên, rồi liếc sang những dòng ghi chép chi chít của Vi trên cuốn sổ tay bọc vải thô. “Sao rồi hai cô cậu? Vẫn đang đánh vật với mấy cái tờ giấy dọa dẫm viết bằng mực đỏ học trò ấy à?”
“Chúng cháu vừa chứng minh được rằng có hai người viết khác nhau cụ ạ,” Vi đón lấy chén trà sen từ tay Khang, hai bàn tay cô áp chặt vào thân sứ nóng ấm để tìm lại cảm giác sau nhiều giờ tê cóng vì cầm nhíp thép. “Bức thư thứ nhất gửi cho ông Lịch viết bằng một thứ văn phong hết sức kỳ lạ. Người viết hoàn toàn mù tịt về các thuật ngữ lưu trữ và bảo tàng, nhưng lại nắm cực kỳ vững các từ ngữ chuyên ngành về giao nhận kho bãi, bốc dỡ đường sắt, hàng tồn bãi và biên bản kiểm kê ca ba. Cháu đang tự hỏi, trong số những người từng làm việc hoặc từng ra vào Bảo tàng Vạn Lịch trong vài năm trở lại đây, liệu có ai từng có chuyên môn vận tải đường sắt kỳ quặc như vậy không.”
Cụ Tư Thời nâng chén trà lên ngang mũi, khẽ nhắm mắt hít một hơi sâu để cảm nhận hương sen đầu mùa còn sót lại, rồi nhấp một ngụm nhỏ. Cụ chép miệng đánh 'khà' một tiếng khoan khoái, ánh mắt từ từ hướng ra khung cửa chớp nhìn vào màn đêm sâu thẳm của phố cổ Hàng Bồ, như thể đang lần giở lại từng trang ký ức đầy bụi bặm của những con người từng đi qua mảnh đất này.
“Thuật ngữ bốc dỡ kho bãi đường sắt à?” Cụ Tư khẽ gật gù, ngón tay gầy guộc có những vết chai sần của thợ sửa đồng hồ gõ nhịp nhè nhẹ lên mặt bàn gỗ. “Thế thì quanh quẩn ở cái bảo tàng này chỉ có đúng một người thôi. Các cô cậu trẻ tuổi bây giờ mới về đây làm việc sau này thì làm sao mà biết được những chuyện lục đục từ giữa năm ngoái.”
Cả Vi và Khang đều đồng loạt hướng ánh nhìn về phía cụ Tư. Khang không bỏ lỡ một giây, anh lập tức mở trang sổ tay nghiệp vụ mới, ngòi bút bi đã sẵn sàng đặt trên dòng kẻ trắng.
“Cụ biết người này sao, cụ Tư?” Khang hỏi, giọng nghiêm cẩn nhưng chứa đựng sự thúc giục nội tại.
“Biết chứ, người ngay trong phố cả mà,” cụ Tư thong thả kể, nhịp giọng của cụ trầm đều, chậm rãi như tiếng quả lắc đồng hồ cơ khí đung đưa trong hộp gỗ. “Năm ngoái, cái thời điểm trước khi cô Vi chuyển từ cơ quan báo chí về đây nhận chân phụ trách phòng lưu trữ, toàn bộ cái kho hiện vật dưới tầng một và căn gác xép này là do một cậu tên là Đặng Văn Cường trông nom. Cậu Cường này vốn xuất thân là công nhân bốc xếp, kiểm bãi chuyên nghiệp ở ga đường sắt Giáp Bát suốt bảy, tám năm trời. Về sau, ga tinh giản biên chế, cậu ta có người quen giới thiệu sang bảo tàng Vạn Lịch làm chân thủ kho kiêm quản lý hiện vật, nhưng thực chất là làm cửu vạn chuyên bốc vác, kê kích những kiện gỗ, sập gụ và tượng đá nặng cho ông Đỗ Vạn Lịch.”
“Sau đó thì sao ạ? Tại sao anh ta lại rời khỏi bảo tàng?” Vi hỏi dồn, bản năng nhạy bén của một cựu phóng viên điều tra trỗi dậy mãnh liệt trong từng mạch máu.
“Bị sa thải chứ rời nỗi gì,” cụ Tư lắc đầu, một thoáng buồn bã lướt qua đôi mắt già nua. “Khoảng giữa năm ngoái, bảo tàng nhập về một lô hàng lớn, toàn là sập gụ, tủ chè và đồ đồng cổ từ mạn dưới Nam Định đưa lên xe tải chở về ban đêm. Cậu Cường khi kiểm tra hàng hóa phát hiện ra trong số hóa đơn giao nhận có mấy món đồ đồng không hề có vận đơn gốc của bến xe, lại thấy hàng đưa vào kho toàn vào lúc một, hai giờ sáng nên sinh nghi. Cậu ta vốn quen nếp làm việc nguyên tắc của dân đường sắt, liền cự cãi lớn tiếng với bà Nguyễn Hà An, đòi phải có phiếu kiểm bãi, phải có biên bản niêm phong kẹp chì theo đúng quy chuẩn giao nhận vận tải thì mới chịu ký nhận vào sổ kho.”
Cụ Tư dừng lại, nhấp thêm một ngụm trà sen rồi nói tiếp: “Khổ nỗi, bảo tàng tư nhân thì người ta làm việc theo kiểu thỏa thuận miệng và phong bì ngầm, ai người ta chịu cái lối hành xử cứng nhắc của dân ga tàu. Ông Lịch sợ ầm ĩ làm kinh động đến công an kinh tế, lại thêm bà Hà An đứng bên cạnh thêm bớt, đặt điều bảo cậu ta là đồ vô học, phường bốc vác thô thiển không có nửa chữ bẻ đôi về chuyên môn bảo tàng mà lại hay vẽ chuyện hạch sách. Thế là ông Lịch viện cớ tái cơ cấu nhân sự, đuổi việc cậu Cường ngay trong ngày mà không trả một đồng tiền đền bù hợp đồng. Thằng bé ôm một mối uất ức to tướng bước ra khỏi cái cổng sắt kia.”
Vi nhìn sang Khang. Hai ánh mắt giao nhau trong một tích tắc đầy ăn ý và sắc sảo.
Mọi mắt xích kỳ quặc trong bức thư thứ nhất lập tức ráp nối vào nhau một cách hoàn hảo, không còn một kẽ hở: sự thiếu hụt hoàn toàn các khái niệm lưu trữ bảo tàng học, sự chuẩn xác tuyệt đối đến từng chi tiết về nghiệp vụ vận tải kho bãi đường sắt, và mối căm thù cá nhân sâu sắc nhắm thẳng vào ông Đỗ Vạn Lịch và bà Nguyễn Hà An vì một vụ sa thải bất công liên quan đến những chuyến hàng mờ ám không có nguồn gốc xuất xứ!
“Hiện giờ Đặng Văn Cường đang làm gì và ở đâu, cụ có nắm được tin tức gì không ạ?” Khang hỏi dồn, cây bút bi trên tay anh ghi chép thoăn thoắt từng thông tin nhân thân.
“Tôi tình cờ gặp lại nó cách đây độ hai tháng ở quán nước chè đầu ngõ Bát Đàn,” cụ Tư thở dài, với tay bốc một thanh kẹo lạc bẻ đôi làm hai nửa, đưa một nửa cho Vi. “Nó không xin được việc ở đâu tử tế cả, bởi vì không có bằng cấp chuyên môn, lại mang tiếng bị bảo tàng đuổi vì tội chống đối chủ. Giờ nó đang làm chân chạy việc bán thời gian, chuyên bốc vác gỗ thô, xẻ phôi và chuyển hàng lưu động cho xưởng mộc phục chế Bách Mộc của cậu Lê Bách bên mạn ngõ Bát Đàn.”
“Xưởng Bách Mộc của anh Lê Bách?” Vi thốt lên, chén trà sen trên tay cô khẽ sóng sánh một giọt nước nóng rơi xuống ngón tay.
“Đúng rồi, chính là cái xưởng mộc chuyên đóng khung tranh cổ, làm hộp gỗ sơn then và phục chế mấy cái hòm có then trượt bí mật mà hôm nọ cô Vi mang tài liệu sang hỏi đấy,” cụ Tư gật đầu xác nhận. “Thằng Cường tính khí cộc cằn, ăn to nói lớn nhưng ruột để ngoài da, có gì nói nấy chứ không có tâm địa hiểm độc. Cái hôm bị đuổi việc năm ngoái, nó từng đứng ở cổng bảo tàng chỉ tay vào mặt ông Lịch mà chửi đổng lên rằng sẽ có ngày nó vạch trần mấy cái trò tẩy trắng đồ gian, đồ trộm cắp ở cái đất này cho cả thiên hạ biết. Nhưng tôi dám lấy cái đầu bạc này ra mà bảo đảm với các cô cậu: thằng Cường nó chỉ nghĩ được đến việc viết một lá thư chửi đổng, dọa dẫm bằng mấy cái chữ mực đỏ xiêu vẹo ấy thôi. Chứ bảo nó ngồi gõ máy vi tính, rồi trích dẫn mấy cái mã số định danh khoa học với carbon C14 gì gì như cô Vi vừa nói thì có đập chết nó cũng không bao giờ làm nổi!”
Cụ Tư nói xong, phủi sạch những mẩu vụn kẹo lạc bám trên vạt áo len, rồi chống tay lên đầu gối từ từ đứng dậy: “Đấy, chuyện cũ của cái bảo tàng này tôi biết tường tận có bấy nhiêu. Hai đứa cứ ngồi tính toán tiếp cho ra nhẽ. Tôi phải xuống tiệm dưới nhà để tra dầu cho xong cụm bánh răng của chiếc đồng hồ cúc cu nhà bà bán phở, hẹn người ta sáng mai lấy rồi.”
Tiếng bước chân chậm rãi, lọc cọc của cụ Tư Thời khuất dần sau khúc ngoặt cầu thang gỗ. Tiếng chốt cửa ngách tầng một kêu lên một tiếng 'cạch' khô khốc, rồi căn gác lưu trữ lại rơi vào sự tĩnh mịch tuyệt đối. Giờ đây, chỉ còn lại tiếng vo ve khe khẽ của ngọn đèn huỳnh quang kỹ thuật và hơi nóng của hai chén trà sen đang nguội dần.
Khang gấp mạnh cuốn sổ tay nghiệp vụ lại, tạo nên một tiếng đập dứt khoát. Anh đứng dậy, ánh mắt nhìn Vi trở nên sắc lạnh và tập trung cao độ như một mũi khoan thép:
“Bây giờ thì toàn bộ bức tranh cơ chế đã hoàn toàn lộ diện rồi, Tường Vi.”
Vi gật đầu chậm rãi. Cô đứng dậy, bước từng bước vòng quanh chiếc bàn lưu trữ rộng lớn, nơi ba bức thư và ba chiếc phong bì vẫn nằm im dưới ánh sáng rọi xiên. Từng mảnh ghép logic, từng dấu vết vật lý và từng mối quan hệ nhân sự bắt đầu tự động xoay chuyển trong tâm trí cô, khớp vào nhau thành một chuỗi vận hành hoàn chỉnh:
“Mắt xích thứ nhất,” Vi mở đầu, giọng cô trầm và đều, từng từ ngữ được cân nhắc với sự chính xác tuyệt đối của một nhà lưu trữ học. “Đặng Văn Cường, cựu nhân viên bốc dỡ hiện vật, hiện đang làm thuê tại xưởng mộc Bách Mộc. Cường mang mối uất hận sâu sắc vì bị sa thải bất công sau khi phát hiện những lô hàng đồ đồng Nam Định không có vận đơn vào năm ngoái. Nhận thấy bảo tàng Vạn Lịch đang chuẩn bị bước vào lễ ký kết tiếp nhận gói tài trợ khổng lồ 1,5 triệu USD từ Quỹ Di sản quốc tế, Cường quyết định hành động để phá hoại hoặc trả thù ông Lịch. Anh ta tự tay viết lá thư thứ nhất bằng ngòi bút bi đỏ, dùng toàn bộ vốn từ ngữ bốc dỡ kho bãi đường sắt ăn sâu vào máu của mình, dán nắp phong bì bằng hồ tinh bột sắn thủ công cũ kỹ, rồi trực tiếp nhét vào hòm thư nội bộ bảo tàng vào chiều tối hôm qua.”
“Mắt xích thứ hai,” Khang tiếp lời ngay tắp lự, phong thái tố tụng hình sự sắc bén bao trùm lên từng câu chữ. “Lá thư thứ nhất của Đặng Văn Cường đã không thể nổ tung như một quả bom độc lập. Bùi Quang Duy – kẻ nắm toàn bộ khâu pháp lý, hậu cần và có chìa khóa ra vào bảo tàng tự do dưới danh nghĩa đại diện Công ty Di sản Minh Thành – đã nắm được thông tin về bức thư này. Hoặc là ông Đỗ Vạn Lịch trong cơn hoảng loạn tột độ đã đưa bức thư của Cường cho Duy xem để nhờ xử lý khủng hoảng, hoặc là Duy đã có tai mắt nội gián chặn được bức thư đó trước khi ông Lịch kịp đọc.”
“Và Bùi Quang Duy là một kẻ có bộ óc cực kỳ tinh vi, một kẻ chơi cờ tàn nhẫn không bao giờ bỏ qua một cơ hội thao túng,” Vi tiếp tục, giọng cô khẽ run lên bởi một cơn giận lạnh buốt. “Duy không hề xé bỏ hay tiêu hủy bức thư thô thiển của Cường. Hắn nhận ra lá thư nặc danh này chính là một món quà từ trên trời rơi xuống, một cơ hội hoàn hảo để hắn tung ra một đòn tâm lý 'nhất tiễn hạ tam điêu'!”
“Ba đích đến của một mũi tên?” Khang nhìn sâu vào mắt cô, chờ đợi sự phân tích tiếp theo.
“Đích thứ nhất,” Vi chỉ vào bức thư của Cường. “Duy giữ lại bức thư thứ nhất để làm một tấm bình phong hoàn hảo. Nếu cơ quan công an vào cuộc điều tra về những xáo trộn hay thư từ tống tiền tại bảo tàng, bức thư viết bằng tay của Cường với đầy đủ dấu vết về mối thù sa thải cũ sẽ lập tức biến vụ việc thành một vụ án trả thù nội bộ đơn thuần của một nhân viên bốc vác bất mãn, đánh lạc hướng hoàn toàn sự chú ý của các anh khỏi những đường dây chuyển ngân và thao túng cổ vật của Minh Thành.”
“Đích thứ hai,” Vi chuyển đầu nhíp sang bức thư gửi cho Nguyễn Hà An. “Hắn dùng máy vi tính soạn thảo một văn bản nặc danh thứ hai, sử dụng phông chữ in hoa giả chữ viết tay, in ra từ chiếc máy in phun văn phòng bị nghẹt đầu phun tại trụ sở Minh Thành. Hắn cố tình dùng ngôn ngữ giám định học chuẩn xác, viện dẫn các lỗ hổng về chuỗi truy nguyên di sản và chứng thư carbon C14 để chọc thẳng vào nỗi sợ hãi tột cùng của Hà An. Mục đích của hắn là làm cho Hà An hoàn toàn mất phương hướng, đẩy bà ta vào tình trạng hoảng loạn tột độ. Một chuyên viên giám định khi đã run sợ trước nguy cơ bị tước chứng chỉ hành nghề sẽ trở thành một con rối dễ bảo, sẵn sàng ký duyệt bất kỳ biên bản bàn giao nào, hoặc sẵn sàng mở kho ngoài giờ để Duy thực hiện các vụ tráo đổi hiện vật – giống hệt như kịch bản vụ tráo chiếc đồng hồ quả quýt mà chúng ta vừa lật tẩy tuần trước!”
Vi dừng lại. Cô hít một hơi thật sâu, lồng ngực khẽ phập phồng dưới lớp áo sơ mi thô.
Cô bước chậm rãi tới trước bàn soi giấy, ánh mắt dừng lại ở bức thư thứ ba – bức thư mang tên cô, nơi có dòng tái bút viết bằng thứ mực muội than dầu bóng vẫn còn đen thẫm, lấp lánh như một vết chém chưa lành trên trang giấy trắng:
*“Người lưu trữ tài liệu giả sẽ biến thành kẻ làm chứng dối. Chiếc đồng hồ đã chạy, nhưng khoang gỗ ở Hàng Gương sẽ không bao giờ mở ra cho một kẻ làm báo phản bội.”*
“Và đích thứ ba của Bùi Quang Duy,” Vi nói, giọng cô hạ thấp xuống thành một thanh âm thì thầm nhưng chứa đựng một sức nặng ghê gớm. “Chính là tôi. Duy hoàn toàn không hề có ý định phá hoại lễ ký kết tài trợ 1,5 triệu USD của Vạn Lịch. Cái liên minh ma quỷ giữa Minh Thành và bảo tàng này cần buổi lễ đó diễn ra suôn sẻ hơn bất kỳ ai để hợp thức hóa dòng tiền tài trợ di sản. Điều Duy thực sự muốn khi gửi lá thư thứ ba này là một phép thử tâm lý tàn độc nhắm thẳng vào tôi.”
Khang im lặng lắng nghe, ánh mắt anh không rời khỏi từng chuyển động trên gương mặt cô.
“Hắn muốn thử thách xem một cựu phóng viên điều tra từng ngã ngựa cay đắng vì một bộ hồ sơ giả mạo cách đây hai năm như tôi có đủ khả năng phát hiện ra chân tướng của những tài liệu này hay không,” Vi tiếp tục, ngón tay cô siết chặt lấy mép bàn gỗ lim. “Hắn muốn dò xét xem tôi đã thâm nhập sâu đến mức nào vào hệ thống hồ sơ nguồn gốc trong kho lưu trữ này. Và tàn nhẫn hơn cả, dòng tái bút kia là một đòn thăm dò xem tôi đã biết được những gì về căn nhà số 17 phố Hàng Gương, cùng cuốn sổ tay ghi chép thực địa của thầy Đạo trước khi thầy qua đời!”
Khang khẽ thở dài một hơi nặng nhọc. Anh bước lên một bước, đứng đối diện với Vi qua mặt bàn lưu trữ. Khoảng cách giữa hai người đủ gần để Vi có thể nhìn thấy những tia máu li ti trong mắt người thanh tra sau những đêm dài thức trắng trực chiến.
“Bùi Quang Duy đang chơi một ván cờ tâm lý cực kỳ hiểm hóc, Tường Vi,” Khang trầm giọng nói, bàn tay anh đặt lên mặt bàn, các khớp ngón tay trắng bệch vì tì lực. “Hắn hiểu rất rõ điểm yếu trong quá khứ của cô. Hắn biết vết thương danh dự của một người từng làm báo bị vu khống phản bội nguồn tin nhức nhối đến mức nào. Hắn ném ra cái tên Hàng Gương, ném ra ký ức về thầy Đạo nhằm một mục đích duy nhất: kích động cô. Hắn muốn cô hoảng loạn, muốn cô mất kiên nhẫn, và muốn cô phạm phải sai lầm chết người là tự ý đơn thương độc mã đi lùng sục tài liệu tại căn nhà số 17 Hàng Gương mà không thông qua trình tự pháp luật.”
Khang nhìn thẳng vào mắt Vi, giọng anh trở nên đanh thép nhưng ẩn chứa một sự bảo bọc sâu sắc:
“Cô phải nhớ rõ điều này: nếu cô manh động bước chân vào cái bẫy đó, cô sẽ lập tức vi phạm các quy định tố tụng hình sự về thu thập chứng cứ. Khi ấy, bất kỳ tài liệu nào cô tìm thấy tại Hàng Gương cũng sẽ bị vô hiệu hóa hoàn toàn trước tòa án, và hắn sẽ dễ dàng biến cô thành kẻ đột nhập bất hợp pháp. Đừng để sự phẫn nộ làm mờ đi lý trí của người điều tra.”
Vi ngẩng cao đầu, ánh mắt cô trong veo, phẳng lặng và kiên định dưới luồng sáng trắng lạnh lẽo của ngọn đèn kỹ thuật. Những dao động tâm lý mơ hồ của buổi chiều dường như đã bị cuốn sạch sau cuộc đối thoại logic với Khang.
“Tôi hiểu rất rõ điều đó, thanh tra Khang,” Vi đáp, giọng cô không còn một chút run rẩy. “Tôi không còn là cô phóng viên bốc đồng của hai năm về trước – người từng tin rằng sự thật có thể đạt được chỉ bằng lòng nhiệt huyết mù quáng. Hai năm ngồi trong bóng tối của các kho lưu trữ đã dạy cho tôi biết thế nào là sức mạnh của các chứng cứ vật chất. Vũ khí của một người làm công tác lưu trữ không phải là những bài viết giật gân trên mặt báo, mà là khả năng buộc từng thớ sợi cellulose, từng giọt keo dán, từng hạt mực in cơ học phải nói lên sự thật khách quan của chính nó.”
Cô cúi xuống mặt bàn, dùng chiếc nhíp kẹp bằng thép không gỉ cẩn thận kẹp lấy mép nắp chiếc phong bì dán bằng hồ tinh bột sắn của Đặng Văn Cường. Sau đó, bằng bàn tay còn lại, cô dùng một chiếc kẹp thứ hai gắp lấy mép chiếc phong bì dán bằng dải băng dính hai mặt công nghiệp 12 milimét của Công ty Di sản Minh Thành.
Dưới sự chứng kiến im lặng và chăm chú tuyệt đối của Lục Khang, Vi nhẹ nhàng đặt hai mép nắp phong bì nằm song song, sát cạnh nhau ngay bên dưới thấu kính lúp quang học có độ phóng đại lớn nhất.
Luồng sáng kỹ thuật rọi xiên chiếu thẳng xuống, làm nổi bật hai thực tại hoàn toàn đối lập nhau trên cùng một mặt phẳng: một bên là lớp hồ sắn thủ công vàng đục, nhăn nheo, vụng về của người thợ bốc vác bến bãi; một bên là dải keo polyme sắc lẹm, trong suốt, chính xác đến từng phần mười milimét của một cỗ máy ngụy tạo hồ sơ hiện đại.
Vi đặt hai mép phong bì cạnh nhau dưới kính lúp, giọng cô vang lên trầm tĩnh nhưng mang theo một sức nặng đanh thép:
“Kẻ thứ hai không muốn phá bảo tàng, hắn chỉ muốn xem tôi có nhận ra tài liệu trong kho là thật hay giả.”