Hẹn Nhau Ở Phiên Chợ TớiC.12 / 12
Chương 12

Hẹn nhau ở phiên chợ tới

Đỉnh đèo Khau Lếch chìm sâu trong màn sương muối bảng lảng của những ngày cuối đông, nơi phiên chợ cuối mùa họp thưa thớt hơn thường lệ bên bãi đất đá gồ ghề trơ khấc. Gió bấc từ phía sườn thung lũng sâu hoắm thốc ngược lên từng cơn rát buốt, mang theo cái lạnh thấu xương và mùi khói củi thông ngai ngái quẩn quanh khắp các lều quán. Đây là phiên họp giáp Tết cuối cùng của cả dải rẻo cao hiểm trở này trước khi cung đường đèo chính thức bước vào những tuần sương giá đóng băng đặc quánh, cắt đứt giao thương liên xã. Những mái sạp che bạt dứa xanh đỏ đã bạc phếch vì sương gió, vài đống củi sa mộc nổ lách tách phả tàn than đỏ rực vào khoảng không đùng đục sương mù. Dưới mặt đất, bùn nhão quyện lẫn sỏi dăm bị hàng trăm dấu chân giẫm nát, đóng thành những vệt rãnh xám ngoét quanh các gờ đá tai mèo.

Yến ngồi co ro ở góc chiếc bàn gỗ ghép mộc mạc của quán nước chè mạn đầu chợ, hai bàn tay áp chặt vào thành chiếc bát sứ hoa lam sứt mép đang bốc khói nghi ngút để tìm chút hơi ấm xua đi cảm giác tê cóng nơi các khớp ngón tay. Đôi giày vải bạt cao cổ bám đầy lớp bùn non khô quắt từ chuyến xe chở khách liên xã tối qua, nhưng chiếc cặp da dày đựng tài liệu và các tập bản vẽ vẫn được cô ôm ghì trước ngực, bọc cẩn thận bên trong hai lớp túi nilon chống ẩm dán băng dính mép kín mít. Gió luồn qua vách nứa thủng lỗ chỗ, thổi bay những sợi tóc mai lòa xòa trước trán cô, làm cay xè đôi mắt vốn đã trũng sâu vì chuỗi ngày thiếu ngủ triền miên.

Tiếng còi xe khách từ phía khúc cua tay áo dưới chân đèo bỗng rú lên từng hồi đứt quãng, dội vào vách núi đá vôi nghe trầm đục. Một chiếc xe khách giường nằm màu xanh rêu cũ kỹ, thân xe bám đầy bụi đỏ quánh đặc của tuyến đường dài ngược xuôi miền biên viễn, từ từ trườn tới trước khoảng sân đất nện rồi dừng lại với tiếng xả hơi phì phì nặng nhọc. Bánh xe trượt nhẹ trên nền đất ướt tạo thành một vệt dài trước khi đứng khựng lại. Cánh cửa xe rỉ sét vừa bật mở, một bóng dáng quen thuộc quàng khăn len kẻ carô sẫm màu, khoác chiếc ba lô dã chiến xơ xác bước thoăn thoắt xuống bậc thềm bùn đất.

— Mai! — Yến đứng bật dậy khỏi ghế, cất tiếng gọi át cả tiếng máy nổ gầm gừ chưa kịp tắt của chiếc xe đò.

Mai quay phắt lại, chiếc ba lô trĩu nặng trên vai khẽ nảy lên theo nhịp bước. Khuôn mặt cô hốc hác, hai bọng mắt thâm quầng sau một đêm dài lắc lư trên những cung đường xóc nảy, nhưng ánh mắt lập tức giãn ra trong nụ cười quen thuộc vừa nhìn thấy bạn. Cô rảo bước nhanh về phía chòi quán nước, bước chân dứt khoát tránh từng vũng nước đọng, đặt phịch chiếc ba lô nặng trĩu xuống băng ghế gỗ dài rồi thở hắt ra một làn hơi trắng xoá:

— Lạnh thấu xương thấu thịt! Dưới bến Mỹ Đình trưa hôm qua mới chỉ trở gió hanh hao, se se lạnh của đợt rét nàng Bân muộn, thế mà xe vừa bò qua đỉnh đèo sương mù đã quánh đặc như nồi cháo hoa thế này. Cậu đến đây lâu chưa?

— Tớ đến từ đầu giờ sáng, ngồi đợi chuyến xe sớm nhất của cậu từ dưới xuôi lên. Bác Lan ở nhà thế nào rồi? — Yến sốt sắng hỏi, vội vã kéo chiếc ghế gỗ khô ráo nhất lại gần bếp than cho bạn ngồi.

— Mẹ tớ cắt sốt hẳn rồi, đã tự dậy thổi cơm và đi lại quanh khoảng sân trước nhà được rồi. Bác sĩ ở trạm xá bảo chỉ cần kiêng nước lạnh với uống hết thuốc khớp đợt này là ổn định. Ba mươi cân nấm khô tớ cũng giao tận tay các mối quen dưới chợ Hôm, thu đủ toàn bộ tiền cước vận chuyển không hao hụt một lạng nào. — Mai cởi đôi găng tay len xù xì, lục từ đáy chiếc làn mây cũ ra một bọc giấy báo còn thơm mùi mực in mới. — Này, mẹ tớ gửi cho cậu hộp bánh khảo làng Chuông với gói chè lam dẻo quánh, bảo người vẽ tranh cả mùa trên núi rét mướt phải có chút ngọt lót dạ cho ấm bụng, giữ lấy cái sức mà bám nghề.

Yến đón lấy bọc quà nhỏ, những ngón tay chạm vào lớp giấy báo khô ráo, nghe vị ngọt ngào và ân cần của người già nơi góc phố thị thấm dần vào lòng bàn tay tê cóng. Cô cẩn thận cất gói quà vào góc ngăn kéo ba lô của mình, rồi kéo chiếc cặp tài liệu to bản đặt ngay ngắn lên mặt bàn gỗ đã được dùng mép khăn lau sạch bụi tàn thuốc lá.

— Tớ mang đủ toàn bộ rồi, Mai ạ. Mười một trang bản vẽ hoàn chỉnh cùng toàn bộ Bảng kiểm chứng lao động thu thập từ mười một phiên chợ trước. Không thiếu một chữ ký, không sót một dấu mộc nào.

Hai cô gái chụm đầu lại bên ngọn đèn dầu liu riu đặt giữa bàn quán nước, bắt đầu lật giở từng trang hồ sơ dày cộp. Mỗi tờ giấy ép lạnh định lượng ba trăm gam giờ đây không đơn thuần là những vệt màu nước và nét mực sắt mỹ thuật, mà là cả một tập hợp dữ liệu sinh kế sống động, thấm đẫm mồ hôi của những phận người nơi dải đất biên cương.

Trang thứ nhất là quầy bánh ngô Pả Lùng, nơi chiếc chõ gang bốc khói nghi ngút ngự trị bên cạnh chiếc thau nhôm móp quai được trả về đúng rãnh thoát nước ẩm ướt, có chữ ký run rẩy bằng mực tím của bà Hoàng Thị Duyên xác nhận công thức ngô nương cối đá nguyên bản.

Trang thứ hai, hạt ngô giống đỏ Tả Reng chỉ đặc tả đôi bàn tay nứt nẻ cáu bẩn của ông Vàng A Sính đang sảy nia tre bên bậc cửa đá, kèm theo bảng phân bổ ba phần hạt nghiêm ngặt chống nguy cơ ép giá của cánh lái buôn đường dài.

Trang thứ ba, giàn phơi măng Pú Chao với ranh giới sàn nứa rạch ròi, ghi rõ chu kỳ sáu tiếng luộc gang và bốn nắng giòn rụm, có dấu mộc vuông đỏ au của hợp tác xã bản chứng thực quy trình thủ công không hóa chất.

Rồi đến trang thứ tư, góc suối chợ đá Khe Nọi với kỹ thuật vót nan cật nứa tép luộc kỹ trong nước tro bếp của ông Chu Văn Phúc; trang thứ năm đặc tả chiếc xe tải Chiến Thắng màu vàng đất quay đầu chật vật trên Dốc Mù Sương giữa cơn mưa rừng tầm tã; trang thứ sáu là nia bánh cải biên gom từng đồng tiền lẻ để dành cho quỹ học nghề may của cô gái trẻ Triệu Thanh Vi ở bản Lùng Tủng; trang thứ bảy vẽ chái bếp muội than dời nồi chuyển sang xào khô của bà Đinh Thị Hảo tại Tả Vìn vì cạn kiệt mó nước đồi; và gần đây nhất là trang thứ mười một, đôi tay thâm xì vì nhựa mận tam hoa cùng tỷ lệ hao hụt quả dập nát của chị Thu Hà bên bờ hồ Nà Pao.

Mai lật chậm rãi từng trang, ngón tay thon dài lướt qua từng nét vẽ tả thực, từng chữ ký nguệch ngoạc, từng con dấu hợp tác xã và cả những vết điểm chỉ bằng muội than củi sa mộc đen nhánh. Cô đối chiếu tỉ mỉ từng con số về giá thành nguyên liệu, thời gian vận chuyển trên đường đèo, biên độ rủi ro thời tiết và tỷ lệ hao hụt mà hai người đã cùng ghi chép, tranh luận suốt những tháng ngày lăn lộn qua từng cung đèo gió rít.

— Đầy đủ, mạch lạc và không thừa một lời sáo rỗng nào, — Mai khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên sự nhẹ nhõm hiếm hoi sau chuỗi ngày đằng đẵng căng thẳng. — Người làm ăn thật nhìn vào những con số này sẽ biết tôn trọng món hàng, không dám hoạnh họe ép giá vô lý. Giờ chỉ còn trang thứ mười hai: bánh ngô nương nướng than của bà Lý Thị Nụ. Chúng mình vào chợ thôi, trời sắp đứng bóng rồi, chợ Khau Lếch giáp Tết tan nhanh lắm, người ta còn về lo dọn bàn thờ tổ tiên.

Hai người đứng dậy, khoác lại những chiếc ba lô nặng trĩu lên vai rồi hòa vào dòng người đang đổ về phía bãi đất trung tâm của chợ Khau Lếch.

Không khí phiên chợ cuối năm trên đỉnh đèo vừa hối hả vừa mang nét trầm buồn của một mùa vụ sắp khép lại. Không có tiếng nhạc loa đài xập xình hay những tấm băng rôn khẩu hiệu màu mè, chợ họp bằng những tiếng mặc cả rầm rì bằng đủ thứ tiếng Kinh, Tày, Mông, Dao xen lẫn tiếng lợn đen eng éc trong rọ tre và mùi lá dong rừng thơm the mát lẫn trong sương muối. Dọc con dốc dẫn xuống dãy lán ăn uống, những sạp bán vét cuối mùa dọn vội trên những tấm bạt nilông rách trải sát mặt đá tảng. Người ta bày ra những túm ớt khô đỏ quắt queo, vài bó hành tăm, những khúc mía de tím ngắt và những tảng thịt lợn treo sém khói bếp còn vương tro.

Đi sâu vào góc khuất sau dãy cột tre chống bạt của khu ẩm thực, họ nhìn thấy một đốm than hồng lập lòe ẩn hiện trong làn sương trắng đục. Phía sau làn khói mỏng thơm nồng mùi bột ngô già chín tới là dáng người nhỏ nhắn, quấn chiếc khăn chàm bạc màu của bà Lý Thị Nụ. Bà đang ngồi trên chiếc ghế gỗ con kê sát đất, một tay cầm quạt nan phe phẩy, tay kia dùng chiếc kẹp sắt dài lật từng chiếc bánh ngô tròn dẹt trên vỉ than hoa đỏ rực, đôi mắt nheo lại tránh tàn tro bay ngược vào mặt. So với quầy hàng hồi ở chợ Sín Mây, sạp bánh của bà ở Khau Lếch khiêm tốn hơn hẳn, chỉ gồm một chiếc bàn gỗ con kê tạm bợ trên mấy hòn đá hộc và chiếc sọt tre đựng bột đậy kín lớp lá chuối rừng để giữ ẩm.

— Bà Nụ ơi! — Mai cất tiếng gọi ấm áp khi hai người bước tới gần mép bạt.

Bà cụ ngẩng đầu lên, tay kẹp than khựng lại giữa chừng trong không trung. Phải mất vài giây nhận diện qua làn sương mù mờ ảo, đôi mắt đục mờ vì khói bếp của bà mới sáng bừng lên những tia ngạc nhiên xen lẫn xúc động:

— Ơ kìa… hai đứa cháu dạo ở Sín Mây đấy à? Sao lại mò lên tận cái chóp đèo Khau Lếch rét cắt ruột này thế này? Mau vào đây, ngồi sát bếp lò cho ấm, trên này gió thổi buốt buốt lắm, đứng ngoài ấy có mà cóng hết chân tay!

Yến và Mai bước vào dưới mái bạt thấp lè tè, ngồi xuống hai chiếc đòn gỗ thấp mà bà Nụ vội vã dùng tay áo chùi sạch rồi kê sẵn cho khách. Hơi ấm từ bếp than hoa sa mộc lập tức bao bọc lấy hai cô gái, xua tan đi lớp giá lạnh bám trên áo khoác. Yến cẩn thận mở túi chống ẩm, rút tập bản vẽ ra và lật tới bức tranh vẽ trang bánh ngô nương nướng than hoa đã hoàn thiện nét màu cuối cùng từ đêm hôm trước.

Bức tranh không hề có mẹt tre lót hoa dại màu mè, cũng tuyệt nhiên không có dòng chữ bịa đặt "Bánh ngô ngọt mật ong rừng tuyết Shan" từng suýt làm quầy hàng của bà tiêu điều vì sự thất vọng của những vị khách du lịch ảo. Dưới nét cọ tả thực tỉ mỉ của Yến, chiếc bánh ngô nương hiện lên với lớp vỏ sém vàng giòn rụm bên ngoài, thớ bánh bên trong đặc quánh màu vàng sẫm của giống ngô nương già phơi gác bếp nửa năm ròng rã, đồ chín rồi mới giã nhuyễn trên cối đá bản địa. Ngay phía dưới hình ảnh, khung thông tin nan tre chiếm đúng một phần ba diện tích trang giấy, ghi rõ ràng bằng nét chữ chân phương: *“Bánh ngô nương nướng than hoa truyền thống. Làm từ giống ngô đá trồng hốc đá tai mèo, chỉ làm vào mùa ngô đông (từ tháng 10 đến tháng 1 âm lịch). Bột xay nước cối đá, nặn tay thủ công, nướng than củi sa mộc. Không dùng hương liệu, không có mật ngọt nhân tạo, không bán trái mùa.”*

Bà Nụ run run đón lấy bức tranh bằng đôi bàn tay ám muội than và nứt nẻ ngang dọc vì giá buốt mùa đông. Bà đưa mắt đọc chậm rãi từng con chữ, ngón tay cái thô ráp khẽ miết nhẹ lên viền chiếc bánh ngô trên mặt giấy như thể đang chạm vào chính mẻ bánh mình vừa trở mặt trên bếp than hồng. Khoé mắt nhăn nheo của bà cụ chợt ươn ướt, ánh lên ngọn lửa phản chiếu từ đáy lò:

— Đúng cái bánh của già rồi… Đúng là nó rồi các cháu ạ. Từ ngày dọn sạp từ Sín Mây về đây bán vét nốt mấy bơ bột vụ cũ, già cứ sợ người ta lại xúm vào hỏi sao không ngọt lịm như bánh phố, sao không dẻo quẹo như bánh bột công nghiệp. Có chữ này của hai đứa, người ta đọc vào sẽ hiểu cái hạt ngô trên nương đá nó chát mặn mồ hôi thế nào mới thành được cái bánh nướng mùa đông. Người ta sẽ không đòi hỏi những thứ già không có nữa.

Bà Nụ cầm chiếc bút bi Mai đưa, cẩn thận nắn nót ký tên “Lý Thị Nụ” vào góc dưới của Bảng kiểm chứng lao động số mười hai. Nét chữ run rẩy, ngoằn ngoèo nhưng dứt khoát, chính thức khép lại trang tư liệu thực địa cuối cùng của toàn bộ dự án lịch ẩm thực mười hai tháng.

— Bánh nướng mẻ này vừa giòn tới, hai đứa cầm lấy ăn cho nóng ruột, không lấy tiền nong gì đâu nhé, già đãi công hai đứa lặn lội mang tranh lên tận đỉnh đèo này cho già, — bà Nụ dứt khoát dùng kẹp sắt gắp hai chiếc bánh nóng hổi bọc vào mảnh lá chuối rừng tươi rói, dúi chặt vào tay từng người.

Vừa cắn miếng bánh ngô nóng rẫy, cảm nhận vị ngọt bùi mộc mạc và hương khói bếp quen thuộc lan toả trên đầu lưỡi, sưởi ấm từ vòm họng xuống tận dạ dày, Yến chợt nghe thấy tiếng cười nói rổn rảng quen thuộc cất lên từ phía lối đi lát đá dăm ngoài mép chợ.

— Này bà Nụ ơi! Còn mẩu bánh nào vét nồi không, chia cho mụ Mỷ này một góc với, rét thế này mà ruột rỗng thì gánh hàng lòng ngựa đứt hơi mất thôi!

Từ trong màn sương mù mờ mịt, hai người phụ nữ lớn tuổi đang cùng nhau rảo bước bước tới. Người đi trước khoác chiếc tạp dề vải bạt sẫm màu lấm lem, hai tay xách chiếc thau nhôm lớn bọc nilon kín mít chính là bà Giàng Thị Mỷ — chủ chảo thắng cố nức tiếng ở chợ Sín Mây. Đi cạnh bà là một gương mặt mà Yến ngỡ như không thể nào gặp lại trong phiên chợ hẻo lánh này: bà Hoàng Thị Duyên từ Pả Lùng, vai đeo chiếc gùi nhỏ đựng những túm mộc nhĩ khô và miến dong chuẩn bị mang đi đổi gạo ăn Tết.

— Bác Duyên! Bác Mỷ! — Yến buột miệng reo lên, suýt nữa thì làm rơi miếng bánh ngô đang cầm trên tay.

Bà Mỷ khựng lại một nhịp, chớp chớp mắt nhìn vào trong lều rồi đập tay đánh đét vào đùi, tiếng cười vang lên giòn tan:

— Ái chà chà! Lại là hai cô họa sĩ níu bạt cứu chảo thắng cố của tôi đây mà! Hôm nay chợ phiên giáp Tết, tôi chạy xe ôm chở chuyến lòng ngựa giao vét cho người quen làm cỗ dưới phố huyện, ghé qua Khau Lếch kiếm miếng ăn ấm bụng, ai ngờ lại bắt gặp người quen cũ ở đây! Trái đất vùng cao này kể cũng hẹp thật đấy!

Bà Hoàng Thị Duyên bước lại gần mép bạt, nheo mắt nhìn Yến rồi nhìn sang Mai. Ánh mắt vốn dĩ nghiêm nghị, cảnh giác thường ngày của người phụ nữ làm bánh ở chợ Pả Lùng bỗng chốc mềm đi, thoáng nét ngạc nhiên khó giấu:

— Tôi mang ít mộc nhĩ nương sang bản bên gửi cho người nhà, tiện chuyến xe của bà Mỷ ghé qua chợ đổi chút muối hạt với dầu hỏa. Cô bé vẽ tranh hôm nọ đấy à? Vẫn chưa về xuôi ăn Tết sao?

Yến vội vàng đặt gói bánh xuống mặt bàn gỗ, cúi người mở ngăn đáy chiếc ba lô dã chiến. Từ bên trong, cô cẩn thận lấy ra một chiếc khung gỗ mộc vuông vức được bọc kỹ bằng nhiều lớp giấy xi măng và màng bọt khí chống sốc. Yến bóc từng lớp băng dính bảo vệ, để lộ ra bức tranh màu nước vẽ quầy bánh ngô Pả Lùng trong một buổi sớm mai mù sương rét mướt.

Trong tranh, ngọn lửa đỏ rực bén vào đáy chõ gang hun hút khói bếp cay nồng. Những người khách ăn ngồi chen chúc trên những chiếc đòn gỗ mộc, những chồng bát sứt mẻ xếp ngay ngắn đợi tráng nước sôi bốc hơi nghi ngút. Và ngay cạnh bậc đá dẫn ra rãnh thoát nước ẩm ướt, chiếc thau nhôm móp một bên quai — vật dụng từng làm bùng lên cuộc tranh cãi nảy lửa trong buổi sáng đầu tiên của chuyến hành trình — hiện diện rõ ràng, sáng ánh kim loại giản dị và chân thực dưới vệt nắng sớm le lói xuyên qua màn sương mù dày đặc. Phía góc dưới bức tranh là dòng chữ nắn nót bằng mực đen: *“Kính tặng bà Hoàng Thị Duyên — Quầy bánh ngô nương chợ Pả Lùng.”*

Yến trân trọng nâng bức tranh bằng cả hai tay, bước ra khỏi lều bạt, đứng trước mặt người phụ nữ miền ngược:

— Thưa bác Duyên, cháu giữ đúng lời hẹn ở Pả Lùng rồi ạ. Bức tranh này cháu đã vẽ hoàn chỉnh lại quầy hàng của bác, có cả chiếc thau nhôm mượn của bác Cúc và những chồng bát sứt mẻ ăn sáng. Cháu xin tặng lại bác bức vẽ này, để bác gửi xuống khu công nghiệp Bắc Ninh cho anh nhà. Để anh ấy nhìn vào tranh là nhớ được góc chợ lam lũ của mẹ, nhớ được nhịp lao động chân chính đã nuôi anh ấy ăn học suốt bao nhiêu năm qua.

Bà Duyên lặng người đi như hóa đá giữa trời gió lạnh. Đôi bàn tay gầy guộc, sạm đen vì nắng gió và muội tro bếp của bà khẽ run rẩy khi chạm vào mép khung gỗ mộc. Ánh mắt bà dừng lại thật lâu nơi chiếc thau nhôm móp quai trong tranh — một vật dụng lao động mọn mằn, xấu xí mà bà từng đinh ninh người ta sẽ gạt bỏ không thương tiếc để đổi lấy một khung cảnh lãng mạn vô hồn cho khách du lịch ngắm nghía.

— Cô… cô giữ lời thật đấy à? — Giọng bà Duyên nghẹn lại, khàn đặc trong gió rít. — Tôi tưởng người thành phố các cô nói một câu hẹn ở chợ phiên rồi xe lăn bánh là quên bẵng đi ngay. Người ta hẹn với dân buôn thúng bán mẹt chúng tôi nhiều lắm, nhưng có mấy ai quay lại đâu. Chiếc thau này… đúng là cái thau móp quai tôi mượn bà Cúc phiên hôm ấy rồi. Thằng cả nhà tôi mà nhìn thấy bức này, nó sẽ biết mẹ nó ở quê vẫn nhóm bếp đúng giờ, vẫn bán đúng cái bánh ngô cối đá của ông bà để lại, không hề làm bậy…

Bà Duyên lúng túng thò tay vào túi áo chàm sâu hoắm, định móc ra bọc tiền lẻ nhàu nhĩ bọc trong túi bóng kính, nhưng Yến đã nhanh nhẹn giữ tay bà lại, khẽ lắc đầu chân thành:

— Bác đừng đưa tiền cho cháu. Đây là lời hẹn danh dự của người làm nghề vẽ. Bác đã dạy cho cháu bài học đầu tiên về việc tôn trọng công cụ lao động và sự sòng phẳng của người đi chợ. Bức tranh này thuộc về bác và con trai bác, nó không phải món hàng để bán chác.

Bà Giàng Thị Mỷ đứng bên cạnh khoanh hai tay trước ngực, gật gù liên hồi rồi cất giọng sang sảng át cả tiếng gió hú:

— Được! Rất được! Con bé này hồi ở Sín Mây dám xé toẹt ba cái tranh vẽ bậy vẽ bạ từ ảnh mạng của cái thằng Huy dẻo mỏ, hôm nay lại giữ trọn lời hẹn mang tranh trả tận tay người bán hàng thế này là người có chữ tín. Chợ phiên miền ngược chúng tôi chỉ cần có thế thôi: nói lời nào, cắm cọc lời ấy! Đã cắm cọc thì gió bão cũng không được nhổ đi!

Bà Nụ trong lều cũng mỉm cười hiền hậu, gắp thêm mấy miếng bánh ngô nướng vàng ươm chia đều vào tay từng người. Giữa góc chợ đèo Khau Lếch rét buốt thấu xương, mùi khói củi thông và vị ngô nướng quyện chặt lấy nhau, ấm áp như một sự chứng giám bình dị và thiêng liêng cho những thỏa thuận không thành văn của những con người lao động chân chính.

Đúng lúc đó, chiếc điện thoại thông minh nằm sâu trong túi áo khoác của Yến rung lên bần bật, kéo theo một chuỗi chuông báo tin nhắn dồn dập cắt ngang bầu không khí ấm cúng.

Yến xin phép các bà cụ, cùng Mai lui lại góc quán nước đầu chợ để bắt sóng mạng viễn thông. Màn hình điện thoại hiện lên thông báo thư điện tử gửi từ địa chỉ của Vũ Minh An: *“Gửi Yến và Mai: Đã nhận đủ file scan 12 trang tranh thực địa. File ma-két dàn trang cuối cùng để duyệt in đính kèm bên dưới. Ban Giám đốc yêu cầu ký biên bản nghiệm thu trước 13h00 trưa nay để kịp chuyển lệnh in offset ca chiều. Xem và bấm duyệt gấp trên hệ thống.”*

— Tải file xuống đi, xem anh ta dàn trang thế nào, — Mai nhanh nhẹn nói, kéo chiếc ghế đẩu lại gần để lấy thân mình che gió cho màn hình điện thoại.

Tệp tài liệu dạng PDF có dung lượng lớn tải về chậm chạp giữa vùng sóng di động chập chờn nơi đỉnh đèo. Vạch tải nhích từng phần trăm trong sự hồi hộp của cả hai. Khi từng trang ma-két mười hai tháng lịch hiện ra rõ nét trên màn hình cảm ứng, nụ cười nhẹ nhõm trên môi Yến bỗng chốc tắt ngấm.

Phần hình ảnh minh họa phía trên — chiếm hai phần ba trang giấy theo đúng bố cục tỷ lệ vàng đã thỏa thuận ở cuộc gặp tại Mỏ Keng — được nhà in xử lý tách màu rất đẹp, giữ trọn vẹn gam màu trầm ấm và ánh sáng thực tế của các phiên chợ vùng cao. Từng vết nứt trên bàn tay ông Sính, từng ngọn khói mờ ảo nơi chõ bánh bà Duyên đều hiện lên sắc sảo. Nhưng khi ngón tay Yến lướt xuống một phần ba diện tích phía dưới trang giấy, nơi lẽ ra là khung nan tre chứa toàn bộ dữ liệu Bảng kiểm chứng lao động, Yến và Mai đồng loạt sững sờ, sững lại như bị dội một gáo nước lạnh giữa mùa đông.

Toàn bộ các dòng chữ cảnh báo nghiêm ngặt về tính mùa vụ, điều kiện thời tiết phụ thuộc nguồn nước mó tự nhiên, tỷ lệ hao hụt do sương muối và thời gian thu hoạch thực tế đều đã biến mất không dấu vết. Chiếc khung nan tre bị bóp nghẹt, thu hẹp lại chỉ còn một dải viền mỏng manh như một chi tiết hoa văn trang trí vô nghĩa ở mép dưới. Thay vào đó là một khoảng trống trắng trơn thênh thang, đi kèm dòng chú thích in chữ nghiêng uốn lượn mang tính gợi cảm xúc sáo rỗng: *“Hương vị thuần khiết của non ngàn — Nét đẹp văn hóa ẩm thực trường tồn qua thời gian.”*

— An lại giở trò cắt xén rồi! — Mai đập mạnh tập tài liệu xuống mặt bàn gỗ, tiếng đập khô khốc khiến người chủ quán nước giật mình quay lại nhìn. Giọng cô đanh lại đầy phẫn nộ: — Anh ta xóa sạch các cảnh báo mùa vụ và rủi ro thời tiết để lấy cái gọi là “khoảng thở thẩm mỹ”! Nếu in ra như thế này, người mua dưới xuôi sẽ lại nghĩ măng Pú Chao có quanh năm, bánh ngô Tả Reng lúc nào cũng sẵn có, rồi lại kéo nhau nườm nượp lên đây đòi ăn thắng cố mẹt tre vào giữa mùa hè cho mà xem! Đây không phải là làm lịch, đây là lừa dối người tiêu dùng và bóp méo cuộc sống của người ta!

Yến siết chặt quai chiếc bút vẽ trong túi áo, lồng ngực phập phồng vì cơn giận nghẹn ứ nơi cổ họng. Những vết bùn đất bám chặt trên gấu quần chưa kịp giặt, cơn trẹo chân buốt nhức của Mai ở dốc đá Nậm Vài, những đêm thức trắng cời than cùng bà Hảo bên chái bếp mù mịt, và đôi bàn tay nứt nẻ thâm sì vì nhựa mận của chị Thu Hà… tất cả những giọt mồ hôi, sự nhọc nhằn và phẩm giá lao động ấy không thể bị biến thành một khoảng trống trắng tinh vô nghĩa chỉ để chiều chuộng con mắt lười biếng, chuộng sự hào nhoáng giả tạo của dân thành thị.

— Không duyệt. Tuyệt đối không thể ký nghiệm thu bản ma-két này! — Yến nói dứt khoát, ánh mắt rực lên sự kiên quyết chưa từng thấy.

Cô bấm số gọi trực tiếp cho Vũ Minh An. Đầu dây bên kia chỉ đổ chuông đúng hai hồi là nhấc máy ngay, giọng An vang lên vội vã, kèm theo tiếng máy in công nghiệp chạy rầm rập, đinh tai nhức óc ở hậu cảnh:

— Alo, Yến à? Xem ma-két rồi đúng không? Đẹp xuất sắc em ơi! Đội mỹ thuật bên anh phải thức trắng cả đêm qua để tinh chỉnh lại từng chi tiết đấy. Bỏ bớt mấy cái dòng chữ chi chít về thời tiết với tỷ lệ hao hụt đi nhìn trang lịch sang trọng và thoáng hẳn ra, đúng chuẩn phong cách tối giản hiện đại mà khách hàng cao cấp ưa chuộng. Em bấm nút xác nhận duyệt in trên hệ thống đi để anh cho chạy máy luôn, khách hàng bên anh Huy đang giục giao lô đầu tiên trước Tết rồi, trễ một giờ là bị phạt hợp đồng đấy!

— Anh An, dừng máy in lại ngay lập tức! — Yến cất giọng dằn từng tiếng một qua điện thoại, giọng cô không còn chút rụt rè hay e ngại nào như những ngày đầu nhận việc ở xưởng vẽ. — Chúng tôi không chấp nhận bản ma-két này!

Đầu dây bên kia im bặt mất vài giây, tiếng máy in rầm rập dường như cũng lùi xa hơn, rồi tiếng An trở nên căng thẳng và gay gắt:

— Yến, em đùa đấy à? Giờ là mấy giờ rồi hả em? Còn đúng một tiếng nữa là xưởng in đóng ca cuối năm để công nhân nghỉ Tết. Không in bây giờ thì toàn bộ dự án lịch Tết coi như vỡ trận hoàn toàn, em có biết thiệt hại kinh tế sẽ lớn đến mức nào không? Em gánh nổi không?

Mai giật lấy chiếc điện thoại từ tay Yến, bật loa ngoài lên và nói thẳng vào micro bằng chất giọng lạnh như băng, sắc lẹm của một người buôn chuyến dày dạn thương trường:

— Anh An, nghe cho rõ từng lời đây. Tại quán trà Mỏ Keng hôm nọ, chính anh đã đặt bút ký vào biên bản ghi nhớ ba bên: hai phần ba diện tích dành cho tranh nghệ thuật, một phần ba bắt buộc phải giữ nguyên vẹn khung nan tre chứa dữ liệu Bảng kiểm chứng lao động và các cảnh báo mùa vụ. Bản ma-két này của anh đã tự ý cắt xén hơn sáu mươi phần trăm nội dung kiểm chứng đã được mười hai hộ dân bản địa ký xác nhận chịu trách nhiệm. Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận hợp đồng và vi phạm cam kết minh bạch thông tin thương mại!

— Nhưng Mai ơi, em phải hiểu cho góc độ thiết kế mỹ thuật chứ! — Tiếng An bắt đầu mất bình tĩnh, giọng the thé vì sốt ruột. — Để cả một đống chữ cảnh báo rủi ro thiên tai, hạn hán với tỷ lệ dập nát mận vào chân trang lịch trông nó nặng nề, thô kệch chẳng khác nào cái tờ rơi tuyên truyền của khuyến nông huyện cả! Khách hàng bỏ tiền triệu ra mua lịch để treo phòng khách đón Tết, người ta cần cảm xúc thanh thản, cần hình ảnh thơ mộng vùng cao, ai muốn ngày đầu năm nhìn vào những con số củi lửa lem luốc, hao hụt mất mùa ấy làm gì?

— Những con số ấy chính là cuộc sống thật của họ! — Yến giật lại chiếc điện thoại, đứng thẳng người nói dõng dạc giữa gió đèo Khau Lếch gầm rú. — Bánh ngô của bà Nụ chỉ làm vào mùa đông, măng của bà Sương chỉ phơi bốn nắng vào vụ thu, và canh hầm của bà Hảo hoàn toàn phụ thuộc vào mó nước trên đồi. Nếu anh xóa những dòng đó đi, người ta sẽ tiếp tục mang những hình ảnh giả tạo, tô hồng ấy lên đây để ép người bán hàng phải phục vụ trái mùa, để cánh lái buôn dưới xuôi ép giá và làm tổn hại sinh kế lâu dài của họ. Tôi là người vẽ bộ lịch này, và tôi kiên quyết giữ vững lập trường nghề nghiệp: Hoặc anh phục hồi nguyên vẹn một phần ba khung dữ liệu kiểm chứng thực địa như bản thảo đã duyệt ở Mỏ Keng, hoặc tôi từ chối ký biên bản nghiệm thu và tuyên bố hủy toàn bộ quyền sử dụng hình ảnh ngay lập tức!

— Em dọa anh đấy à Đỗ Hải Yến? — An gằn giọng qua điện thoại, sự tức giận lộ rõ. — Hủy hợp đồng thì khoản tiền thanh toán cuối cùng em đừng hòng nhận được một xu nào từ nhà xuất bản! Em lấy tiền đâu trả nợ tiền nhà, lấy tiền đâu bù chi phí chuyến đi suốt một tháng qua hả? Em nghĩ cho kỹ đi!

— Tôi thà mang nợ về xuôi cày cuốc trả dần, còn hơn đặt bút ký vào một sản phẩm phản bội lại lòng tin của những người đã mở cửa bếp và ký tên bảo chứng cho tôi suốt mười hai phiên chợ vừa qua! — Yến đáp lại đanh thép, từng từ rành rọt như đóng đinh vào đá. — Tôi cho anh đúng mười lăm phút để kỹ thuật viên thay lại đúng file ma-két gốc có khung dữ liệu thực địa. Quá mười lăm phút, tôi sẽ gửi văn bản từ chối nghiệm thu chính thức đến ban giám đốc nhà xuất bản kèm toàn bộ hồ sơ vi phạm thỏa thuận Mỏ Keng!

Không đợi An kịp phản ứng thêm lời nào, Yến dứt khoát bấm nút ngắt cuộc gọi màu đỏ trên màn hình.

Không gian đầu chợ Khau Lếch lại chìm vào tiếng gió rít gào qua những khe đá tai mèo nhọn hoắt. Hai cô gái đứng cạnh nhau bên chiếc bàn gỗ cũ kỹ, hơi thở phả ra trắng xóa hòa vào làn sương muối buốt giá. Yến nhìn Mai, Mai nhìn Yến. Cả hai đều có thể nghe thấy nhịp tim đập thình thịch trong lồng ngực mình vì căng thẳng. Không ai nói thêm một lời nào, nhưng trong ánh mắt của cả hai đều ánh lên sự kiên định tuyệt đối. Họ đã đi qua đủ những cơn mưa rừng xối xả, những lần trễ xe đò giữa đêm tối, những cú trẹo chân buốt nhức và những chảo than rực lửa của vùng cao để hiểu rằng: giá trị đích thực của một chuyến đi không nằm ở việc làm vừa lòng những con mắt trong phòng máy lạnh, mà nằm ở sự thật trần trụi và phẩm giá của cuộc mưu sinh.

Mười phút trôi qua trong sự im lặng căng như dây đàn kéo căng. Bát nước chè tươi trên mặt bàn đã nguội ngắt tự bao giờ, mặt nước đóng lại một lớp váng mỏng manh vì sương muối ngưng tụ.

Đúng mười hai phút sau, chuông điện thoại reo vang chói tai. Tên người gọi hiện lên: Vũ Minh An.

Yến hít một hơi thật sâu, đưa tay vuốt lại mái tóc rối rồi bấm nút nhận cuộc gọi:

— Alo.

Tiếng thở dài thườn thượt, đầy vẻ bất lực của An truyền qua ống nghe, hòa lẫn với tiếng gõ phím lách cách dồn dập:

— Anh chịu hai cô rồi đấy… Kỹ thuật viên vừa sửa lại toàn bộ ma-két theo đúng tỷ lệ khung nan tre đã chốt ở Mỏ Keng rồi. Đầy đủ cảnh báo mùa vụ, rủi ro thời tiết và chữ ký kiểm chứng của cả mười hai quầy hàng, không thiếu một dấu phẩy nào của các cô đâu. File mới vừa đẩy lên hệ thống đấy, hai cô vào kiểm tra lại rồi ký điện tử biên bản nghiệm thu hộ tôi cái, xưởng in đang réo chuông cháy máy đòi lệnh chạy rồi đây này!

Mai và Yến vội vàng mở lại ứng dụng làm việc trên điện thoại. Bản ma-két mới được tải lại chỉ sau vài giây: hình ảnh quầy bánh ngô bà Duyên bốc khói, chảo thắng cố nghi ngút của bà Mỷ, nia hạt ngô đỏ rực của ông Sính… tất cả đều tỏa sáng ấm áp ở hai phần ba phía trên mặt giấy. Và ngay phía dưới, khung nan tre mộc mạc đã trở lại đúng vị trí của nó, lưu giữ trọn vẹn từng dòng chữ trung thực về mùa màng, công sức nhọc nhằn và những điều kiện lao động khắc nghiệt nhất của vùng cao. Đó là một sự cân bằng hoàn hảo giữa thị giác nghệ thuật và đạo đức nghề nghiệp, không còn một vết gợn của sự tô hồng giả tạo.

Yến ngẩng lên nhìn Mai, Mai khẽ gật đầu, nở một nụ cười rạng rỡ. Yến dùng ngón tay lướt dứt khoát trên màn hình cảm ứng, ký tên xác nhận vào biên bản nghiệm thu điện tử rồi bấm lệnh gửi đi.

— Đã ký nghiệm thu xong rồi, anh An. Cảm ơn anh đã tôn trọng sự thật, — Yến nói ngắn gọn rồi chủ động tắt máy.

Chưa đầy ba mươi phút sau, khi hai người vừa quay lại quán nước gọi thêm một ấm chè nóng mới, tiếng chuông báo tin nhắn biến động số dư ngân hàng liên tiếp vang lên giòn giã từ điện thoại của cả hai. Khoản thanh toán bảy mươi phần trăm còn lại của hợp đồng bộ lịch ẩm thực mười hai tháng đã chính thức được phòng kế toán nhà xuất bản giải ngân đầy đủ vào tài khoản cá nhân.

Yến nhìn chằm chằm vào dãy số hiển thị trên màn hình: số tiền đủ để cô thanh toán dứt điểm ba tháng tiền thuê nhà trọ còn nợ ở Đống Đa, trả hết số tiền mua vật tư giấy vẽ ép lạnh và màu vẽ nhập khẩu, và vẫn còn dư ra một khoản nhỏ đủ để cô trang trải cuộc sống đàng hoàng trong những ngày đầu năm mới sắp tới. Ngay tại chiếc bàn gỗ của quán nước chè mạn, Yến lập tức mở ứng dụng chuyển khoản, thanh toán sòng phẳng cho Mai toàn bộ phần thù lao điều phối thực địa, cộng thêm khoản chi phí thời gian chờ đợi và quản lý rủi ro mà hai người đã thỏa thuận minh bạch từ chặng dừng chân ở Pú Chao.

Mai nhìn tin nhắn báo nhận tiền trên điện thoại mình, đôi vai gầy khẽ buông lỏng xuống như vừa trút bỏ được một tảng đá tảng đè nặng suốt cả một năm trời gian truân. Khoản tiền công xứng đáng này, cộng với số tiền bán ba mươi cân nấm khô thu về hôm qua, đủ để cô thanh toán nốt phần nợ đền bù tiền xe kẹt đèo từ vụ tai nạn năm ngoái, và mua trọn vẹn hai tháng thuốc bổ xương khớp loại tốt nhất cho người mẹ già ở quê nhà.

— Hết nợ rồi nhé, Đỗ Hải Yến, — Mai ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt bạn, cười rạng rỡ đến mức những nếp nhăn nơi khóe mắt dường như biến mất hoàn toàn, đôi mắt lấp lánh một niềm vui thuần khiết.

— Hết nợ rồi, Trần Mai ạ, — Yến cười đáp, nghe lồng ngực mình nhẹ bẫng đi như một đám mây trời đang bay qua đỉnh đèo.

Chiều muộn buông xuống đỉnh Khau Lếch rất nhanh, như một tấm màn xám sẫm đột ngột phủ trùm lên vạn vật. Sương muối bắt đầu kết lại thành những hạt trắng đục li ti bám dày trên mái lá của quán nước và trên những bờ đá tai mèo xung quanh. Những người bán hàng cuối cùng trong chợ đã nhanh chóng thu dọn xong quang gánh, gùi nốt những bọc hàng vét lên lưng ngựa thồ hoặc chằng buộc cẩn thận sau yên xe máy, lục tục rời chợ về các bản làng xa xôi để đón Tết. Tiếng người gọi nhau thưa dần, nhường chỗ cho tiếng lục lạc ngựa leng keng vang lên đều đặn rồi chìm dần vào thung lũng sâu hoắm mịt mù sương gió. Phiên chợ cuối mùa chính thức tan rã.

Quán nước đầu chợ giờ đây trở nên vắng lặng, chỉ còn lại hai cô gái ngồi bên hiên nứa, lặng lẽ nhìn ngắm thung lũng bao la bên dưới đang dần chìm vào màn sương xám bạc của buổi hoàng hôn cuối đông. Bếp củi sa mộc của quán nước vẫn cháy đượm, phả ra hơi ấm nồng nàn xua đi cái rét căm căm của đỉnh đèo cao vút.

Yến với tay lấy chiếc ba lô đặt bên cạnh, rút ra cuốn sổ ký họa bìa da màu nâu sờn mép — vật bất ly thân đã đồng hành cùng cô qua trọn vẹn mười hai phiên chợ vùng cao, vượt qua bao cơn mưa giông, bùn lầy, lũ quét và những khúc cua tay áo hiểm trở. Cô lật giở chậm rãi từng trang giấy dày dặn. Mười hai tháng lịch đã khép lại trọn vẹn bằng những bức tranh thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và phẩm giá của những con người lao động lam lũ nhưng kiên cường.

Nhưng khi ngón tay cô lật qua trang thứ mười hai, cuốn sổ vẫn còn lại một trang giấy trắng tinh khôi, sạch sẽ, thơm mùi giấy ép lạnh nguyên bản chưa hề vương một vệt màu nào.

Yến mở chiếc hộp màu nước nhỏ bằng kim loại, nhúng đầu chiếc cọ vẽ lông chồn mềm mại vào bát nước chè tươi còn ấm nóng trên bàn. Cô đưa tay, nhẹ nhàng chấm một vệt cọ ướt mềm mại lên chính giữa trang giấy trắng muốt ấy, để giọt nước trong veo thấm dần vào thớ giấy dày dặn, loang ra một vệt ẩm mịn màng.

Cô ngẩng đầu nhìn người bạn đồng hành của mình, ánh mắt ngập tràn niềm háo hức của những chân trời mới chưa từng đặt chân tới, rồi khẽ cất tiếng hỏi:

— Phiên chợ tới, cậu có đi được không?

Mai mỉm cười, bình thản rút cuốn sổ tay công việc mới tinh từ túi áo khoác ra, lật mở từng trang lịch biểu ghi chép các vụ mùa rồi đáp:

— Để tớ kiểm tra giờ xe chạy đã.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn