Chiếc thau rửa bát ở Pả Lùng
Sương sớm ở bãi đất dốc chợ Pả Lùng cuộn tròn như một lớp bông ẩm, át đi cả mùi bùn non cho đến khi ngọn lửa đầu tiên bén vào chõ gang quầy bánh ngô.
Gió thốc từ thung lũng sâu hun hút thốc ngược lên sườn đèo, mang theo cái buốt nhức đặc trưng của buổi sớm vùng cao miền biên viễn, thứ lạnh luồn qua từng thớ vải thô ráp, cắn sâu vào da thịt buốt cóng. Dưới chân con dốc lổn nhổn sỏi cuội, tiếng cọc tre nện huỳnh huỵch xuống nền đất nhão hòa lẫn với tiếng lách cách của những chiếc xích sắt chằng hàng sau đuôi xe máy Minsk, tiếng bánh xe nghiến trèo trẹo trên đá hộc và tiếng lục lạc trâu khua dồn dập từ phía bìa rừng.
Hải Yến khẽ hà hơi vào những đầu ngón tay đang cứng đờ, kéo lại khóa chiếc áo khoác gió hai lớp đã ngả màu bụi đường đỏ quạch. Cô ngồi bệt trên một phiến đá cuội phẳng lì bên mép dốc, hai đầu gối co lên làm giá đỡ tạm bợ, cẩn thận mở chiếc hộp sắt tráng men đựng những thỏi màu nước đã mòn vẹt quá nửa. Mùi thuốc vẽ ngai ngái, ngai ngái hòa cùng mùi kim loại hoen rỉ và hơi ẩm bốc lên từ mặt đất lạnh ngắt.
Trước mắt cô, quầy bánh ngô của một người phụ nữ trạc năm mươi tuổi vừa bắt đầu đỏ lửa. Chiếc chõ gang đen sì, dày cộp đặt ngay ngắn trên kiềng sắt ba chân găm sâu xuống nền đất dốc, bắt đầu phì ra những luồng hơi nước đặc quánh mang theo mùi ngô ngâm vôi âm ỉ chín. Nhưng điều giữ chặt lấy ánh mắt Yến lại không phải là chiếc chõ gang sứt sẹo, mà là lớp khói lam mỏng mảnh lách qua những kẽ hở của phên nứa che tạm bên hông, bay tạt ngang tầm mắt người rồi chầm chậm hòa tan vào màn sương xám đục như sữa loãng.
Đó là thứ ánh sáng ngược tuyệt đẹp mà cô đã cất công săn tìm suốt từ bốn giờ sáng: ánh lửa vàng cam từ thanh củi nghiến đượm than hắt ngược qua màn hơi nước mịt mù, viền một đường sáng sắc lẹm, óng ả như sợi chỉ vàng lên bờ vai áo chàm đã bạc màu sương gió của người đàn bà đang cặm cụi nhóm bếp. Khung cảnh ấy mang đầy đủ sự thanh sạch, thoát tục mà những kẻ làm nghệ thuật thị thành luôn khao khát được nắm bắt.
Trong bản đề cương chi tiết gửi cho Vũ Minh An – biên tập viên kỳ cựu của một nhà xuất bản mỹ thuật lớn tại Hà Nội, người đang nắm giữ hợp đồng bộ lịch ẩm thực mười hai tháng mang tên *“Hương Nương Mùa Gặt”* của cô – bức tranh mở đầu cho tháng Giêng đã được Yến miêu tả bằng những mỹ từ trau chuốt, nồng đượm chất thơ lãng mạn: *“Bếp sớm vùng cao, khói lam và sương ngậm.”*
Yến đã nhận khoản tiền tạm ứng ba mươi phần trăm từ hai tuần trước. Phần lớn số tiền ít ỏi ấy đã trôi tuột vào tài khoản của bà chủ nhà trọ khó tính dưới ngõ sâu quận Đống Đa, trang trải cho đống tiền điện nước tồn đọng và thanh toán một xấp hóa đơn mua cọ tỉa lông chồn, giấy ép lạnh ba trăm gam loại hạt mịn đắt đỏ.
Trong chiếc ví vải sờn góc của Yến lúc này chỉ còn vừa vặn tiền xe cộ đi lại, cộng thêm một khoản dự phòng ăn uống chắt bóp từng đồng cho chuyến đi thực tế kéo dài nửa tháng dọc các phiên chợ miền Tây Bắc. Nếu An không ưng những bản phác thảo đợt một gửi về vào cuối tuần này, đợt giải ngân tiếp theo sẽ bị treo lại vô thời hạn, đồng nghĩa với việc toàn bộ hành trình đi tìm chất liệu dân gian của cô sẽ gãy gánh giữa đường.
Yến khẽ nhích mông trên phiến đá, xoay người tìm kiếm một góc nhìn khoáng đạt hơn để lấy trọn vẹn vệt khói bảng lảng mà không bị tạp âm thị giác chen ngang. Góc ngồi hiện tại của cô hơi lệch về phía bên phải chiếc chõ gang, tầm nhìn bị cản trở bởi một chiếc sọt nứa đựng đầy ngô hạt đã bóc vỏ, đặt chỏng trơ ngay bên hông bếp. Ngay sát chân sọt ngô ấy, nằm chình ình trên khoảng đất trống duy nhất tương đối khô ráo giữa vùng bùn lầy của bãi chợ, là một chiếc thau nhôm cũ kỹ.
Chiếc thau có vẻ ngoài vô cùng nhếch nhác: đáy móp méo lõm sâu một mảng lớn, quai bên phải đã đứt rời chỉ còn trơ lại mấu đinh tán gỉ sét, xung quanh thành thau bám cáu bẩn những vệt xỉ than đen sì xen lẫn váng dầu xám xịt từ những phiên chợ trước còn sót lại. Nó nằm nghiêng ngả, vô duyên giữa khung hình thơ mộng mà Yến đang chăm chút đóng khung trong tâm tưởng.
Nghĩ rằng ai đó tiện tay vứt rác, hoặc một người bán hàng vô ý bỏ quên chiếc thau hỏng sau buổi chợ chiều ẩm ướt hôm trước, Yến cúi người xuống. Cô dùng hai đầu ngón tay khẽ nhấc mép chiếc thau nhôm cáu bẩn lên, đưa nó ra xa khỏi tầm mắt mình, đặt sang mép cỏ dại phía sau gốc cây sa mộc cách đó chừng hai mét. Chiếc thau va vào rễ cây phát ra một tiếng *cạch* khô khốc, đanh gọn, nhưng âm thanh nhỏ nhoi ấy lập tức bị tiếng lửa reo phừng phực và tiếng củi nổ lách tách trong lò át mất.
Khoảng đất trống khô ráo bên cạnh sọt ngô nay đã hoàn toàn sạch bóng chướng ngại vật. Yến nhanh nhẹn giũ tấm bạt bọc đồ chống nước bằng nilon xanh dày dặn của mình, trải trùm lên khoảng đất vừa dọn sạch để ngăn hơi ẩm từ bùn đất ngấm lên mông và đồ nghề. Cô đặt ba lô du lịch, khay pha màu bằng sứ trắng và tập giấy vẽ nặng trịch nén chặt bốn góc bạt. Tấm bạt nilon xanh mướt, phẳng phiu che kín cả vạt cỏ ẩm lẫn mép đất trũng.
Hải Yến thở phào nhẹ nhõm, lùi người lại lấy lại tư thế thăng bằng, rút cây cọ bản lớn nhúng đẫm vào chiếc lọ thủy tinh đựng nước suối trong vắt. Cô bắt đầu quét những vệt nước đầu tiên lên mặt giấy trắng muốt, chuẩn bị thi triển kỹ thuật loang ướt để bắt lấy lớp sương mai bồng bềnh và mảng khói hư ảo đang lượn lờ quanh miệng chõ gang.
***
Chưa đầy hai mươi phút sau, khi mặt trời đỏ ối như lòng đỏ trứng muối bắt đầu nhú lên khỏi rặng sa mộc mờ mịt trên đỉnh đèo, con dốc Pả Lùng bừng tỉnh trong một nhịp sống náo nhiệt, ồn ã đến nghẹt thở. Dòng người từ các bản làng heo hút trên núi cao ồ ạt đổ dồn xuống lòng chợ phiên. Người gùi từng bó rau cải mèo non mơn mởn đẫm sương, người dắt lợn cắp nách kêu eng éc, từng tốp đàn ông quấn khăn chàm đen rảo bước thật nhanh để tìm chỗ ăn bát phở nóng hoặc lót dạ một miếng bánh ngô trước khi bước vào những cuộc ngã giá bò, ngựa căng thẳng.
Quầy bánh ngô của người đàn bà nọ lập tức bước vào giờ cao điểm của phiên chợ. Người đứng, người ngồi vây kín mít quanh chiếc chõ gang đang phì khói trắng xóa ngút trời.
Người bán hàng – bà Hoàng Thị Duyên, người đàn bà trạc năm mươi với khuôn mặt vuông vức sạm nắng và đôi bàn tay gân guốc – mang một chiếc tạp dề may bằng vải dù in hoa đã sờn rách mép gấu. Đôi tay bà thoăn thoắt không một động tác thừa: nhấc vung gỗ, dùng đôi đũa cả dài ngoằng bằng gỗ nghiến xới từng mảng bánh ngô hấp vàng ươm, dẻo quánh, nóng hổi đặt sang chiếc mẹt tre tròn đã lót sẵn lớp lá chuối rừng hơ qua lửa. Mùi ngô nương xay mịn đồ chín tỏa ra ngào ngạt, thơm ngậy, ngòn ngọt, mang theo chút ngai ngái của tro củi và hương rừng hoang dại, đánh thức cơn cồn cào trong bụng dạ những kẻ vừa lội bộ hàng chục cây số đường rừng.
Thực khách xúm xít quanh ba chiếc ghế băng dài ghép bằng những tấm ván thông xẻ thô sơ kê tạm quanh chiếc bàn gỗ hẹp. Tiếng người xì xụp ăn, tiếng đũa tre lách cách, tiếng gọi nhau râm ran bằng cả tiếng Kinh lẫn tiếng Mông, tiếng Dao. Cứ một người ăn xong đứng dậy rời đi thì ngay lập tức có hai người khác chen vào thế chỗ.
Thế nhưng, cái nhịp điệu quay vòng trơn tru, hối hả ấy bỗng nhiên vấp phải một cú khựng sững sờ.
Những chiếc bát sứ tráng men trắng miệng sứt sẹo, đáy in hoa văn xanh mờ nhạt bắt đầu dồn ứ lại trên mặt bàn gỗ dính đầy vệt nước ngô. Ban đầu chỉ là một chồng hai chiếc, rồi ba chiếc, chẳng mấy chốc đã thành một đống ngổn ngang đến hơn chục chiếc bát dính bột ngô vàng óng và mỡ hành bóng nhẫy. Nước dùng thừa và cặn bột ngô từ những chiếc bát xếp chồng lên nhau bắt đầu rỉ ra, rỏ tong tòng xuống đất qua kẽ hở giữa hai thanh ván thông. Khách mới kéo đến đứng chật nêm quanh quầy, tay cầm tiền lẻ chìa ra phía trước, nhưng không còn chiếc bát sạch nào để múc bánh.
Bà Duyên quệt vội mồ hôi đang túa ra trên trán bằng mu bàn tay áo chàm sũng khói, tay kia vẫn giữ chặt đôi đũa cả, miệng sốt ruột giục người đàn ông phụ việc đang lúi húi bổ củi phía sau:
— Dọn bát đi chứ! Đem tráng qua nước ấm rồi xếp lên kệ cho khách sau người ta ăn! Người ta đứng chật cả lối đi rồi kìa, có thấy không hả trời!
Bà vừa dứt lời, người hơi nghiêng sang một bên, theo phản xạ quen thuộc suốt bao nhiêu năm bán chợ, bà cúi rạp người xuống khoảng không gian sát chân sọt ngô hạt – nơi bà vẫn đặt chiếc thau nhôm để tráng sơ bát đĩa trước khi đổ nước sôi luộc lại. Bàn tay thô ráp của bà quờ quờ xuống phía dưới theo thói quen quán tính mà không cần nhìn.
Nhưng đầu ngón tay bà không chạm vào thành nhôm lạnh ngắt quen thuộc. Bà chỉ quờ trúng vào khoảng không ẩm ướt và góc mép trơn tuột của một tấm bạt nilon màu xanh mướt được căng kéo thẳng thớm, ghim chặt dưới những tảng đá nhỏ.
Bà Duyên đứng phắt dậy. Đôi lông mày rậm rạp nhíu chặt lại thành một rãnh sâu hoắm giữa trán, hai con mắt sắc như dao cau lập tức quét một vòng đầy phẫn nộ qua đám đông thực khách đang đứng xô đẩy quanh chõ bánh:
— Ơ kìa! Cái thau rửa bát của tôi đâu rồi? Đứa nào dọn sạp mà bưng cái thau đi đâu mất rồi?
Tiếng bà the thé, sắc nhọn, gắt gỏng xuyên thủng màn khói bếp và át đi cả tiếng củi cháy phừng phực.
Đám đông đang xôn xao bỗng nhiên chùng xuống một nhịp. Một vài người khách cầm những tờ tiền năm nghìn, mười nghìn lẻ nhàu nhĩ định chìa vào mẹt bánh vội rụt tay lại, nhìn nhau dò xét. Tiếng xì xào bắt đầu lan ra như ong vỡ tổ:
— Thau nào cơ bà Duyên? Nãy giờ chúng tôi ngồi ăn ở đây có thấy ai bưng cái gì đi đâu ngoài mấy xọt rau cải.
— Không có thau thì lấy cái gì mà rửa bát múc tiếp đây? Bát bẩn để đầy bàn thế kia thì ai dám ăn, mà có muốn ăn cũng lấy đâu ra bát!
— Nhanh lên bà Duyên ơi, nhà tôi còn phải xuống bãi cắp con lợn giống về trước trưa kẻo nắng to!
Bà Duyên mặt đỏ gay gắt vì hơi lửa và cơn tức giận bốc lên đùng đùng. Bà dộng mạnh chiếc muôi gỗ cầm trên tay xuống thành chõ gang phát ra một tiếng *choang* chói tai, làm một mảng muội than đen kịt bắn tung ra ngoài không khí:
— Đã bảo là cái thau nhôm móp một bên quai! Tao vừa mới sang mượn bên hàng phở của mợ Cúc từ lúc bốn giờ sáng để đựng nước tráng bát tạm cho phiên này! Đứa nào tự tiện dời đồ của tôi đi đâu rồi? Rõ ràng tao để ngay sau sọt ngô này từ lúc trời chưa rạng mặt người cơ mà!
Dòng người nghẽn ứ lại hoàn toàn ngay trước mặt tiền quầy bánh. Lối đi hẹp giữa quầy bánh ngô và hàng bán thổ cẩm đối diện bị bịt kín bởi những người sốt ruột chờ ăn và những người hiếu kỳ dừng lại ngó nghiêng.
Mùi khói bếp mỏng manh, lãng mạn mà Hải Yến đang chăm chú tô vẽ trên trang giấy ép lạnh bỗng chốc trở nên cay xè, ngột ngạt đến khó thở bởi mùi than củi nồng nặc và bầu không khí căng như dây đàn vừa bị kéo quá trớn.
Yến giật bắn mình. Tiếng quát nạt thô bạo và tiếng kim loại va đập bất ngờ khiến cổ tay cô run lên một nhịp không tự chủ. Đầu ngọn cọ tỉa số 4 lông chồn đang ngậm đẫm màu xanh chàm lập tức trượt dài trên mặt giấy ẩm ướt, để lại một vệt màu thô kệch, đậm đặc và nguệch ngoạc, cắt phăng qua mảng sương mù bảng lảng mà cô đã tỉ mẩn gầy dựng suốt nửa tiếng đồng hồ qua.
***
Từ hướng bến xe thồ phía đầu dốc, Trần Mai bước thoăn thoắt tới, trên tay xách lỉnh kỉnh hai chiếc túi lưới đựng vài gói nấm hương rừng và mộc nhĩ khô vừa khảo sát giá từ các tiểu thương bản địa. Mai mặc chiếc áo khoác rằn ri bụi bặm, bước chân nhanh nhẹn, dứt khoát của một người đã quá quen thuộc với từng ngóc ngách, từng quy luật bất thành văn của các phiên chợ miền núi.
Vừa nhìn thấy cảnh tượng lộn xộn, nhốn nháo trước quầy bánh ngô của bà Duyên, lại nghe tiếng quát tháo ong ỏng xé tan không gian, đôi mắt Mai lập tức nheo lại. Cô không dừng lại để hỏi han hay hùa vào đám đông hiếu kỳ, mà đưa ánh mắt sắc sảo quét nhanh một lượt từ mặt bàn đầy bát đĩa dồn ứ, lướt qua vẻ mặt giận dữ của bà Duyên, rồi hạ thẳng xuống nền đất nhão nhoét quanh chân chõ gang.
Ánh mắt của Mai dừng khựng lại ngay tại tấm bạt nilon màu xanh nổi bật giữa vạt cỏ ẩm – nơi Hải Yến đang ngồi co ro, mặt cắt không còn hột máu, tay vẫn cầm chiếc cọ vẽ dính màu chàm lem nhem.
Ngay sát mép tấm bạt, nơi tiếp giáp với bờ cỏ dại mọc lúp xúp phía sau gốc cây sa mộc, một góc bạt nilon bị phồng lên một cách bất thường. Bên dưới lớp nhựa bóng loáng ấy, nhô ra một mảng kim loại sáng mờ có hình vòng cung méo mó, bị đất bùn nhão chèn ép bẹp dí.
Mai không nói nửa lời, lao tới như một cơn gió. Bàn tay rắn rỏi của cô túm chặt lấy quai chiếc ba lô du lịch của Yến, dùng lực kéo mạnh người bạn đồng hành đứng thẳng dậy khỏi phiến đá.
— Yến, đứng dậy ngay! Dừng cọ lại! — Mai hạ thấp giọng xuống mức tối thiểu, nhưng từng âm tiết phát ra đều rắn đanh, dứt khoát như một mệnh lệnh nơi thao trường.
— Sao… sao thế Mai? Tớ đang vẽ dở vệt sáng… bị hỏng mất một đường rồi… — Yến ngơ ngác, ánh mắt lộ rõ vẻ hốt hoảng và tiếc nuối nhìn xuống tờ giấy vẽ đang loang lổ vết màu xanh chàm.
— Vệt sáng cái nỗi gì vào lúc này! Cậu nhìn xuống chân cậu xem cậu đang đè cái gì lên kia kìa! — Mai chỉ thẳng ngón tay xuống góc bạt.
Hải Yến chớp chớp mắt, ngơ ngác nhìn theo ngón tay Mai. Khi cô bị kéo lùi lại phía sau, mép tấm bạt nilon bị xô lệch, làm lộ ra trọn vẹn một nửa thân chiếc thau nhôm cũ kỹ, méo mó mà lúc sáng sớm cô đã tiện tay nhấc bỏ sang một bên để lấy chỗ ngồi sạch sẽ. Đáy chiếc thau dính bết một lớp bùn đất đen ngòm nhão nhoét do sức nặng của ba lô và chân người giẫm đè lên suốt từ nãy đến giờ, khiến nó bị dìm sâu xuống một rãnh nước thải hẹp chảy ngầm dưới lớp cỏ.
Bên kia chõ gang, bà Duyên đang đỏ bừng mặt vì uất ức, hai tay chống nạnh, chuẩn bị bước vòng qua sọt ngô nứa để lùng sục xem có đứa trẻ con nào nghịch ngợm lấy mất đồ nghề hay không.
Nhìn thấy tình thế hiểm nghèo, Mai nhanh trí ghé sát tai Yến, thì thầm dặn dò thật nhanh:
— Đứng nguyên đấy, giữ cái mặt bình tĩnh! Cứ để nguyên cái thau ở chỗ đó, đừng có mở mồm cãi hay phân bua nửa lời nào nghe chưa!
Dứt lời, Mai quay ngoắt người chín mươi độ, guồng chân chạy vội sang quầy phở tráng bánh bằng tay nằm cách đó khoảng bảy mét.
Đó là quầy của bà Lê Thu Cúc – một sạp phở có tiếng lâu năm ở chợ Pả Lùng, nơi luôn luôn túc trực hai thùng phuy bằng tôn dày đựng đầy nước sôi sùng sục để chần bánh phở và ninh xương bò.
Bằng sự lão luyện và khôn khéo của một người đã lăn lộn khắp các nẻo đường thu mua nông sản, Mai không hề tỏ ra lúng túng hay hớt hải. Cô đứng nép bên cạnh trụ dựng lều của bà Cúc, cúi đầu chào thật lễ phép nhưng giọng nói cất lên cực kỳ rành rọt, khúc chiết, mang đúng âm hưởng của dân buôn bán sành sỏi:
— Cô Cúc ơi, cháu chào cô ạ! Bên quầy bánh ngô của cô Duyên đang bị nghẽn khách quá chừng vì thiếu đồ tráng bát, dồn ứ cả lối đi rồi. Cháu xin phép cô cho cháu mượn tạm chiếc xô nhôm múc một xô nước sôi để tráng bát đỡ cho cô Duyên cầm cự nhịp khách chục phút nhé cô! Lát xong việc cháu mang xô sạch sang trả lại cô ngay, cháu xin hứa không để cô thiếu nước rửa đâu ạ!
Bà Cúc đang tay dao tay thớt thái thịt bò, nghe tiếng Mai thì ngẩng đầu lên, nhìn chéo sang phía quầy bà Duyên. Thấy cảnh khách đứng chen chúc, bát đĩa dồn đống như núi trên bàn còn bà Duyên thì đang đứng giậm chân giậm cẳng tìm kiếm đồ đạc, bà Cúc lập tức hiểu ra cơ sự. Tình nghĩa láng giềng buôn bán nơi chợ phiên vốn tối lửa tắt đèn có nhau, bà xua tay áo dính mỡ bò, giục rối rít:
— Ừ, xách mau sang bên đấy đi kẻo vỡ chợ mất! Múc ở cái vòi dưới đáy thùng phuy thứ hai ấy cho nước nó trong và nóng già! Khổ quá, cái chợ này đông người mà nghẽn nước là chết dở, khách người ta bỏ đi hàng khác ngay!
Chỉ mất chưa đầy một phút đồng hồ, Mai đã khệ nệ xách chiếc xô nhôm đầy ắp nước nóng còn bốc hơi nghi ngút nghi ngút, bước thoăn thoắt vượt qua đám đông đang xô đẩy. Cô đặt phịch chiếc xô xuống cạnh chân chiếc bàn gỗ của bà Duyên, tạo nên một tiếng vang trầm đục và dứt khoát:
— Nước sôi tráng bát đây cô Duyên ơi! Cô cứ dùng tạm chỗ nước này tráng đống bát dồn kia để múc bánh phục vụ khách kẻo người ta sốt ruột bỏ đi mất ạ! Thau nhôm của cô thấy rồi, chỉ bị trượt chân rơi xuống mép rãnh cỏ bên kia thôi, bạn cháu đang dọn sạch mang sang ngay đây ạ!
Sự xuất hiện đột ngột nhưng vô cùng kịp thời của xô nước sôi nóng rẫy giống như một chiếc van xả áp suất cực mạnh mở tung nút thắt cổ chai đang nghẽn đặc.
Bà Duyên liếc xô nước bốc khói, sắc mặt vẫn còn hầm hầm giận dữ nhưng bản năng buôn bán của một tiểu thương ba mươi năm kinh nghiệm không cho phép bà đứng đôi co làm lỡ dở nhịp kiếm tiền. Khách hàng là miếng cơm manh áo. Bà vớ ngay chiếc giẻ lau sạch nhúng đánh *xèo* vào xô nước nóng, thoăn thoắt lau từng chiếc bát men sứ sứt sẹo, múc từng thìa bánh ngô vàng ruộm trao tận tay cho những người đang đợi.
Dòng người chen chúc bắt đầu chuyển động nhịp nhàng trở lại. Tiếng xì xụp ăn bánh, tiếng nhai ngô giòn sần sật và tiếng trò chuyện rôm rả nổi lên, xua tan đi phần nào sự căng thẳng, ngột ngạt bao trùm cả góc chợ suốt mười lăm phút qua.
***
Trong lúc Mai thoăn thoắt hỗ trợ bà Duyên điều phối dòng khách, bưng bê từng bát bánh ngô nóng hổi ra cho thực khách ngồi ở góc bàn xa, Hải Yến vẫn đứng chết trân bên mép tấm bạt nilon xanh.
Hai má cô nóng bừng bừng như thể vừa bị ai tát thẳng vào mặt giữa chốn đông người. Cái lạnh cắt da cắt thịt của chợ sớm Pả Lùng dường như biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho một cơn sốt ngượng ngùng và tủi hổ đang dâng ngập lồng ngực.
Yến nhìn chằm chằm vào chiếc thau nhôm móp méo đang nằm dính bùn dưới rãnh cỏ. Trong khoảnh khắc ấy, cô nhận ra sự thiển cận đến ngớ ngẩn và tàn nhẫn của chính mình.
Đối với cô – một kẻ từ đồng bằng mang theo ống kính máy ảnh và hộp màu nước lên vùng cao để đi tìm cái gọi là “vẻ đẹp thuần khiết” – chiếc thau nhôm cũ kỹ, cáu bẩn kia chỉ là một thứ rác rưởi làm hoen ố bố cục thị giác, một chướng ngại vật xấu xí cần phải gạt phăng sang một bên để nhường chỗ cho một khung cảnh nên thơ, thoát tục.
Nhưng đối với cái quầy hàng rộng chưa đầy bốn mét vuông này, đối với kế sinh nhai của bà Duyên, chiếc thau nhôm ấy lại là một mắt xích sống còn. Nó là nơi hứng dòng nước tráng bát, là công cụ duy trì nhịp điệu phục vụ của cả một buổi sáng kiếm cơm. Không có nó, không gian nghệ thuật nên thơ của cô lập tức biến thành sự hỗn loạn, bế tắc và bực dọc cho hàng chục con người lao động lam lũ.
Yến từ từ quỳ một gối xuống lớp cỏ đẫm sương đêm. Cô dùng hai tay kéo hẳn tấm bạt bọc đồ chống nước ra phía sau, cẩn thận nhấc chiếc thau nhôm lên.
Đáy thau và thành thau bết một lớp bùn đất sền sệt, đen kịt do bị gót chân cô vô tình chà đạp lúc nãy. Yến mở khóa ba lô, rút ra xấp khăn giấy ướt dày cộp – thứ đồ dùng cá nhân đắt tiền cô mang theo để lau cọ vẽ. Cô tỉ mẩn, cẩn trọng lau từng mảng bùn bám quanh gờ thau, miết sạch từng rãnh nhôm bị móp méo, lau cả đáy thau dính xỉ than cho đến khi bề mặt kim loại sáng mờ trở lại, chỉ còn trơ lại những vết xước xát dọc ngang do năm tháng va đập để lại.
Yến bưng chiếc thau nhôm bằng cả hai bàn tay, bước từng bước chầm chậm, vững chãi đến bên cạnh chõ gang của bà Duyên. Cô đứng nép mình ở một góc, kiên nhẫn chờ đợi cho bà Duyên trao xong gói bánh ngô bọc lá chuối cuối cùng cho một người đàn ông gùi măng rừng.
Khi người khách vừa quay lưng đi, Yến mới khẽ cất lời. Giọng cô nhỏ nhưng chân thành, từng âm thanh phát ra dứt khoát, không hề có một chút quanh co hay biện bạch:
— Cháu xin lỗi bà ạ. Lúc sáng sớm cháu tới đây ngồi vẽ tranh, thấy chiếc thau nằm sau sọt ngô cũ kỹ quá, cháu lại tưởng là đồ người ta bỏ đi sau phiên chợ trước nên đã tự tiện dời nó sang góc cỏ rồi trải bạt ngồi lên. Cháu thật sự không biết đây là thau thao tác của quầy bà. Cháu đã dùng khăn lau sạch sẽ hết bùn đất rồi ạ, cháu xin gửi lại bà. Lỗi này hoàn toàn do cháu bất cẩn, không hỏi han ai mà đã tự ý động chạm vào đồ đạc của quầy. Cháu mong bà bỏ qua cho cháu.
Bà Duyên dừng phắt tay lại. Chiếc đũa cả dựng đứng trong lòng chõ gang. Bà ngước đôi mắt kèm nhèm khói bụi nhìn thẳng vào mặt Yến.
Nhìn thấy thái độ thẳng thắn, không chút giảo biện của cô gái trẻ thị thành, lại nhìn xuống đôi bàn tay nhỏ nhắn đang dính đầy những vệt màu xanh đen lem nhem của mực vẽ và bùn đất đang bưng chiếc thau nhôm một cách cẩn trọng, trân trọng như bưng một món đồ quý giá, ngọn lửa giận dữ ngùn ngụt trong mắt người đàn bà vùng cao bỗng chùng xuống vài phần.
Mai đứng ngay bên cạnh, nhanh nhẹn kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông thô mộc lại gần, ấn nhẹ vai Yến xuống rồi rút ví tiền trong túi áo khoác:
— Cô Duyên cho hai đứa cháu ăn hai bát bánh ngô nóng với cô nhé. Bọn cháu ngồi nép ở góc bàn này thôi ạ, không làm vướng lối đi của khách đâu.
Nhưng Yến đã nhanh tay hơn Mai một nhịp. Cô đặt chiếc thau nhôm xuống khoảng đất khô ráo cạnh sọt ngô hạt, rồi rút từ túi áo gió ra hai tờ tiền: một tờ năm mươi nghìn đồng phẳng phiu và một tờ một trăm nghìn đồng còn mới nguyên. Cô đặt cả hai tờ tiền ngay ngắn lên chiếc khay nhôm đựng tiền lẻ của bà Duyên.
Ở chợ phiên Pả Lùng, giá một bát bánh ngô nương nóng hổi chỉ có hai mươi nghìn đồng, hai bát hết bốn mươi nghìn.
— Bác cho cháu gửi tiền hai bát bánh ngô nóng ạ. Còn tờ một trăm nghìn này… cháu xin phép gửi thêm bác tiền phụ phí phát sinh sáng nay. Lúc nãy sự vô ý của cháu đã làm lỡ mất một nhịp bán hàng đông khách nhất của bác, lại làm phiền bác và cô Cúc bên kia phải nháo nhào xách nước, lau dọn. Bác nhận lấy chỗ này cho cháu đỡ cắn rứt trong lòng ạ.
Khoản tiền một trăm nghìn đồng đối với nhiều người có thể chẳng đáng là bao, nhưng với hoàn cảnh eo hẹp của Yến lúc này – một kẻ đang phải tằn tiện từng đồng bạc tạm ứng để kéo dài chuyến đi thực tế, đang phải ăn mì tôm trừ bữa để tiết kiệm tiền mua giấy vẽ – số tiền ấy tương đương với hai ngày tiền ăn tươm tất. Nhưng Yến hiểu rất rõ, lòng tự trọng của một người cầm bút vẽ và sự tôn trọng tối thiểu dành cho giọt mồ hôi của người lao động chân chính không bao giờ có thể bù đắp được bằng những lời xin lỗi sáo rỗng đầu môi.
***
Bà Duyên cúi xuống, nhìn tờ tiền một trăm nghìn đồng màu xanh nằm trơ trọi giữa đống tiền lẻ năm nghìn, mười nghìn nhàu nát bốc mùi tro bếp trong khay nhôm, rồi lại ngước lên nhìn xoáy vào mắt Hải Yến.
Bà thở dài ra một hơi thật sâu, làm rung rinh cả lớp ria mép lấm tấm mồ hôi. Đôi bàn tay sần sùi của bà cầm lấy chiếc thau nhôm cáu bẩn mà Yến vừa lau sạch, đặt phịch nó xuống đúng vị trí cũ sát chân sọt ngô – nơi nó đã nằm ở đó suốt bao nhiêu năm qua. Bằng một động tác dứt khoát, bà trút nửa xô nước nóng của bà Cúc vào lòng thau:
— Tôi chỉ nhận tiền bánh thôi, còn cái tiền phạt, tiền bù gì đấy của cô thì cô cầm cất lại vào túi ngay đi. Ở cái chợ Pả Lùng này, từ người già đến con nít, đồng tiền kiếm được đều phải từ mồ hôi nước mắt đổ xuống nương rẫy, không ai ở đây đi lấy không, lấy dư của ai một đồng một cắc nào hết.
Bà Duyên gạt mạnh tờ một trăm nghìn trả ngược về phía Yến, chỉ nhặt lấy tờ năm mươi nghìn rồi thò tay vào túi tạp dề, rút ra một tờ mười nghìn đồng rách mép, nhăn nhúm thối lại cho cô.
Xong xuôi việc tiền nong, đôi bàn tay thoăn thoắt của bà lại thoăn thoắt cầm chiếc muôi gỗ, xới đầy hai bát bánh ngô hấp vàng ruộm, nóng bỏng rẫy. Bà rưới lên trên mỗi bát một thìa mỡ lợn phi hành hoa thơm nức mũi, rắc thêm một nhúm muối ớt sim rừng giã nhuyễn rồi đẩy mạnh hai chiếc bát men sứt miệng về phía hai cô gái:
— Ăn đi cho nóng, ngô nguội là lại sượng đấy. Nhưng mà tôi dặn cô điều này này cô em họa sĩ, lần sau có đi đến cái xó xỉnh nào vùng cao này, nhìn thấy bất cứ thứ gì, từ cái đòn gánh gãy, cái rổ rách cho đến hòn đá kê chân kiềng, cô cũng đừng có tự tiện dời đi chỗ khác như thế. Chiếc thau này tôi không có tiền mua mới đâu, tôi phải mượn của bà Cúc bên hàng phở kia đấy. Nhà bà ấy buôn bán lớn, thừa ra cái thau cũ móp quai mới cho tôi mượn dùng nhờ mỗi bận chợ phiên. Tôi mà làm mất chiếc thau của người ta, không phải chỉ là chuyện bỏ ra dăm ba chục nghìn đi mua chiếc thau mới đền là xong chuyện đâu! Cái mất lớn nhất là mất cái chữ tín!
Bà Duyên dừng lại một nhịp, đôi mắt đăm đăm nhìn vào làn khói nghi ngút bốc lên từ chõ gang:
— Mất chữ tín rồi thì lần sau phiên chợ tới ai người ta còn mở lòng cho mình mượn đồ nữa? Ở cái chốn rừng thiêng nước độc, chợ búa xa xôi này, mất tiền thì người ta còn lên nương tỉa bắp cuốc đất kiếm lại được, chứ một khi đã làm mất cái lòng tin của những người hàng xóm quanh mình thì chỉ có nước dẹp gánh, cuốn chiếu về bản mà ăn ngô trừ bữa thôi cô hiểu chưa?
Hải Yến ngồi im phăng phắc trên chiếc ghế băng thô mộc, hai bàn tay run rẩy đón lấy chiếc bát sứ nóng rực đang tỏa khói nghi ngút vào mặt. Từng lời răn dạy mộc mạc, thô ráp nhưng thấm đẫm triết lý sinh tồn của người đàn bà bán bánh ngô như từng mũi kim châm vào tâm trí cô:
— Dạ… cháu nhớ rồi ạ. Cháu đội ơn bà đã dạy bảo cháu, cháu sẽ ghi nhớ điều này suốt đời.
Bà Duyên lại trở tay lật một mẻ bánh mới trong chõ. Hơi nước mù mịt phả lên gương mặt đầy những nếp nhăn hằn sâu nơi khóe mắt của bà, làm mềm đi vẻ dữ dằn ban nãy. Có lẽ nhìn thấy hai cô gái người Kinh từ thành phố lên mà không hề tỏ vẻ kiểu cách, kiêu kỳ, lại chịu ngồi nép một góc ăn ngon lành bát bánh ngô thô ráp của mình, cái bụng người vùng cao vốn ruột để ngoài da của bà bắt đầu dịu lại, cởi mở hơn:
— Mấy đứa ở dưới xuôi lên đây cứ nhìn thấy người ta bán cái bánh ngô hai mươi nghìn một bát thì nghĩ bụng làm cái này dễ ăn lắm, tưởng vớ bở lời nhiều. Có ai biết đâu, để có được chõ ngô thơm ngọt bán cho các người sáng nay, từ ba giờ rưỡi sáng khi sương mù còn vít chặt ngọn cây sa mộc, tôi đã phải dậy nhóm lửa đỏ chõ gang này rồi.
Bà chỉ tay vào sọt ngô hạt vàng óng đặt bên hông chõ:
— Ngô này không phải thứ ngô ngọt, ngô lai mềm èo bẻ dưới đồng bằng mang lên luộc bán đâu nhé. Nó phải là giống ngô nương cũ của đồng bào mình gieo trên những hốc đá tai mèo cheo leo trên đỉnh núi cao. Hạt ngô đanh chắc như sỏi, thu hoạch về phải treo trên gác bếp suốt cả mùa đông cho bồ hóng bám đen xì vào để chống mọt, rồi mới đem xuống tẽ hạt, cho vào cối đá xay tay ròng rã nửa ngày trời. Xay xong lại phải dùng dần sàng sảy cho sạch hết mày ngô, ngâm vào nước lã cho hạt ngậm no nước vừa đủ độ ẩm rồi mới đem đồ lên chõ. Đồ ngô này nước nhiều một tí thì bột nát nhét, dính chặt vào nhau nuốt không nổi; mà thiếu một gáo nước thì hạt ngô khô khốc, cứng quắc, cắn vào mẻ cả răng.
Trần Mai vừa nhai miếng bánh ngô dẻo quánh, đậm đà vị béo ngậy của mỡ hành vừa chăm chú lắng nghe, ngón tay thoăn thoắt rút cuốn sổ tay bọc da nhỏ trong túi áo ghi chép lại những chi tiết quý giá:
— Thế mỗi phiên chợ bà chỉ làm ngô hấp truyền thống này thôi ạ? Cháu đi khảo sát dưới chợ thị trấn thấy người ta bắt đầu làm cả bánh ngô chiên dầu giòn tan, rồi còn kẹp thêm thịt băm với xúc xích công nghiệp nữa cơ bà ạ.
Bà Duyên xua tay quầy quậy, nét mặt lộ rõ vẻ khinh nhờn, dứt khoát:
— Không có chiên xào xúc xích gì ở cái sạp này hết! Cái quầy bánh ngô này từ thời mẹ tôi truyền lại cho tôi, ba đời nay chỉ có một món duy nhất: ngô nương xay đồ chín tới, ăn kèm mỡ hành phi và muối ớt rừng. Mấy đứa thanh niên du lịch dưới xuôi hôm nọ mang cả cái hộp phô mai béo ngậy với mấy hộp sữa đặc có đường đến đây, bảo tôi nướng kèm vào bánh rồi chúng nó trả thêm gấp đôi tiền, tôi xua đuổi thẳng cổ!
Bà hừ một tiếng sắc lẹm:
— Quầy này của tôi là để bán cho những người đi chợ phiên ăn cho no cái bụng, ấm cái lòng để người ta còn đủ sức leo dốc ba bốn quả núi về bản, để người ta có sức gùi bắp gùi măng! Bày vẽ thêm mấy cái thứ tây tàu ấy vừa làm bẩn chõ, vừa mất thìa mất bát, lại làm mất toi cái vị ngọt bùi nguyên bản của ngô nương Pả Lùng. Ai thích ăn mấy thứ tạp nham ấy thì đi chỗ khác mà mua, tôi dứt khoát không nhận làm ngoài thực đơn truyền thống!
Hải Yến im lặng lắng nghe từng câu từng chữ. Miếng bánh ngô dẻo quánh trong miệng cô lúc này bỗng mang một tầng hương vị hoàn toàn khác biệt.
Đó không còn là một khối màu vàng cam trừu tượng điểm xuyết trên nền giấy vẽ để phục vụ cho một ý niệm thẩm mỹ lãng đãng, xa vời. Nó là kết tinh của một quy trình lao động cực nhọc, nhẫn nại, của sự tôn trọng đất đai và là sự kiên định đến bướng bỉnh với những nguyên tắc nghề nghiệp không cho phép bất cứ thứ lai căng nào xâm phạm.
***
Ăn xong bát bánh ngô ấm sực cả người, Yến đứng dậy quay trở lại chỗ tấm bạt nilon xanh. Cô ngồi xuống tảng đá, mở cuốn sổ vẽ ra và nhìn chằm chằm vào bức tranh phong cảnh đang vẽ dở dang.
Vệt màu xanh chàm thô kệch do sự giật mình lúc nãy cắt ngang qua mảng sương mù bảng lảng trông thật chướng mắt. Nhưng kỳ lạ thay, lúc này nhìn lại, Yến thấy cả bức tranh vẽ dở ấy bỗng trở nên giả tạo đến ngột ngạt. Bức tranh ấy chỉ toàn những làn khói lam uốn lượn vô nghĩa, những vệt sương mờ mịt làm duyên làm dáng và bóng dáng một người đàn bà bán bánh ngô mờ ảo, không gương mặt, không danh tính như một bóng ma bước ra từ những bức tranh thủy mặc lỗi thời. Nó đã tẩy sạch hoàn toàn sự sống động, nhọc nhằn, những vết cáu bẩn của muội than và cả sự xô bồ, lộn xộn đầy sức sống của quầy bánh ngô ngoài đời thực.
Hải Yến hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng không khí lạnh buốt của núi rừng vào căng lồng ngực. Cô dứt khoát lật sang một trang giấy mới toanh, trắng tinh, thơm mùi sợi bông tự nhiên.
Lần này, cô không dùng cây cọ bản lớn để quét nước làm kỹ thuật loang ướt mộng mị nữa. Yến rút ra một cây bút sắt ngòi kim bằng thép sắc bén, chấm vào lọ mực đen kháng nước. Cô bắt đầu đặt bút đi những nét mực đầu tiên: chắc nịch, góc cạnh và chuẩn xác.
Khung tranh mới không còn cắt cúp né tránh sự bừa bộn của thực tế.
Ở vị trí trung tâm bức vẽ, cô khắc họa chiếc chõ gang xám xịt bám đầy muội than đen kịt, với những vết gỉ sét xù xì và luồng hơi nước bốc lên cuồn cuộn thành từng khối đậm đặc, mạnh mẽ.
Dưới chân chõ là sọt ngô nứa đan thô mộc, từng bắp ngô phơi khô hiện rõ những hàng hạt đanh chắc, vàng rực.
Bên cạnh chõ gang, Yến vẽ rõ lối đi hẹp lầy lội những dấu ủng cao su, vẽ đám đông thực khách chen chúc nhau trong manh áo chàm bạc màu, những cánh tay gân guốc vươn ra trả bát, những chồng bát sứ men trắng miệng sứt sẹo chất đống ngổn ngang trên mặt bàn gỗ đang chờ được dọn rửa.
Và ngay tại góc dưới cùng bên phải của bức tranh – nằm nép mình bên chân sọt ngô trên nền đá cuội ướt rượt nước thải của chợ – Yến cẩn thận phác họa chiếc thau nhôm cũ kỹ, méo mó một bên quai.
Trong lòng chiếc thau nhôm ấy là ngấn nước ấm đang bốc hơi nhè nhẹ, nổi những váng mỡ hành phi vàng óng. Chiếc thau nhôm không hề phá hỏng bố cục bức tranh như cô từng lầm tưởng; ngược lại, chính sự hiện diện thô ráp, trần trụi của nó đã neo toàn bộ khung cảnh bay bổng của khói sương xuống mặt đất thực tại, biến không gian ẩm thực thành một bức tranh lao động chân thực, sống động và tràn đầy sinh khí của con người vùng cao.
Yến cầm cọ quét những mảng màu nước ấm áp: màu vàng đất của tinh bột ngô chín, màu đỏ rực rỡ của thanh củi nghiến đang đượm than dưới kiềng sắt, màu xanh bạc phếch của chiếc tạp dề hoa dù và màu xám bạc gồ ghề, loang lổ của chiếc thau nhôm cũ. Đôi bàn tay cô di chuyển nhịp nhàng, thanh thoát theo từng nhịp điệu của phiên chợ: tiếng cười nói rổn rảng, tiếng củi nổ tí tách và tiếng xối nước tráng bát rào rào của bà Duyên.
Gần chín giờ sáng, phiên chợ Pả Lùng bắt đầu vãn dần lượng khách ăn sáng để chuyển dịch trọng tâm sang khu vực mua bán trâu bò và nông cụ rèn đúc phía cuối dốc. Nồi bánh ngô của bà Duyên cũng vừa kịp cạn đáy, chỉ còn trơ lại lớp lá chuối rừng khô khốc nằm dưới đáy chõ gang.
Bà Duyên tháo chiếc tạp dề hoa dù vắt lên thành chõ, vặn mình một cái cho giãn xương cốt sau một buổi sáng quần quật. Bà chắp hai tay sau lưng, bước chầm chậm lại gần chỗ Hải Yến đang ngồi đợi cho lớp màu nước cuối cùng trên mặt giấy khô hẳn. Người đàn bà tò mò ngó đầu qua bờ vai gầy của cô gái trẻ:
— Thế nào rồi, vẽ xong cái làn khói bay lượn chưa cô em thành phố?
Hải Yến mỉm cười nhẹ nhõm. Cô hai tay nâng cuốn sổ vẽ lên ngang tầm mắt bà Duyên:
— Dạ, cháu vẽ xong rồi ạ. Bác xem giúp cháu xem quầy bánh của bác lên tranh trông có đúng cái nhịp chợ sáng nay không ạ.
Bà Duyên nheo đôi mắt kèm nhèm lại, chăm chú nhìn từng nét vẽ trên trang giấy ép lạnh. Ánh mắt bà lướt qua chiếc chõ gang đen sì, dừng lại ở dáng đứng hơi còng còng của chính mình đang cầm đôi đũa cả dài ngoằng, rồi bỗng nhiên bà bật cười thành tiếng – một nụ cười sảng khoái, giòn giã làm rung rung cả vạt áo chàm:
— Cha bố cô! Cô vẽ cả cái thau nhôm móp quai của bà Cúc vào đây cơ à? Lại còn vẽ cả đống bát mẻ miệng của tôi chất đống trên bàn nữa chứ!
— Dạ, cháu thấy phải có chiếc thau nhôm ấy thì quầy của bác mới trọn vẹn, mới đúng là nhịp bán hàng tất bật sáng nay của bác ạ, — Yến ngập ngừng đáp, trong lòng vẫn hơi gợn chút lo lắng sợ bà lại phật ý.
Bà Duyên ngắm nghía bức tranh hồi lâu, không nói thêm lời nào. Nụ cười sảng khoái trên môi bà chầm chậm chùng xuống, hóa thành một nét dịu dàng, trầm lắng hiếm thấy trên gương mặt khắc khổ của một người đàn bà buôn bán lam lũ:
— Đẹp đấy cô em ạ. Trông bức tranh này nó thật cái bụng hơn nhiều so với mấy cái ảnh người ta dùng điện thoại chụp bóng loáng, nhẵn nhụi đưa lên mạng, nhìn chẳng giống cái chợ Pả Lùng nhà mình tí nào cả. Thằng con trai cả của tôi… nó đi làm công nhân dưới khu công nghiệp mạn Bắc Ninh hai năm nay rồi. Tết vừa rồi dịch dã khó khăn, công ty tăng ca nên nó cũng chẳng gom đủ tiền bắt xe về bản được. Mỗi bận nó gọi điện thoại về, nó cứ bảo với tôi là thèm mùi bánh ngô nương của mẹ, nhớ cái chõ gang sứt quai với góc chợ này đến thắt cả ruột…
Bà Duyên ngập ngừng một lát, ánh mắt đăm đắm nhìn vào từng vệt màu nước, rồi bà ngước lên nhìn Yến, giọng nói hạ thấp hẳn xuống, chứa đựng một sự ngượng ngùng chân chất:
— Này cô em, cái bức tranh này cô có bán lại không? Hoặc phiên chợ tới, nếu cô có dịp qua lại con dốc này, cô vẽ lại cho tôi một bức giống hệt như thế này được không? Tôi trả tiền vẽ đàng hoàng cho cô. Tôi muốn gói bưu điện gửi xuống khu công nghiệp cho thằng cu con, để những lúc tan ca nó nhìn vào tranh cho đỡ nhớ cái bếp của mẹ nó.
Lồng ngực Hải Yến bỗng nhiên thắt nghẹn lại bởi một niềm xúc động ấm áp, tinh khôi lan tỏa khắp cơ thể. Cô vội vàng lắc đầu, hai mắt lấp lánh:
— Cháu không lấy tiền của bác đâu ạ! Bức tranh này cháu xin phép giữ lại để làm tư liệu hoàn thiện bản thảo bộ lịch cho nhà xuất bản. Nhưng cháu hứa danh dự với bác, phiên chợ tới sau khi quay lại tuyến này để trả bản thảo cho các quầy hàng, cháu nhất định sẽ mang tặng bác một bức vẽ màu nước hoàn chỉnh, đóng khung kính cẩn thận để bác gửi bưu điện xuống cho anh ấy ạ.
Đôi mắt đùng đục sương khói của bà Duyên bỗng sáng rực lên:
— Thật nhé? Đã nói là phải giữ lời đấy cô em! Ở cái chợ Pả Lùng này, người vùng cao nói một là một, nói hai là hai! Phiên chợ tới cô lên đây, tôi nhất định sẽ để dành riêng cho cô một chõ bánh ngô nương đầu mùa ngọt nhất, thơm nhất!
— Dạ, cháu hứa chắc chắn với bác ạ!
***
Bà Duyên quay trở lại quầy, thoăn thoắt xếp những chiếc bát sứ men sứt miệng cuối cùng vào lòng chiếc thau nhôm móp để bưng sang trả cho bà Cúc bên hàng phở. Tiếng thành thau nhôm va vào đá hộc lách cách, lanh lảnh vang lên giòn giã giữa lòng chợ phiên đang bước vào độ rộn rã nhất của tiếng khèn bè, tiếng lục lạc ngựa và tiếng ngã giá mua bán ồn ả.
Trần Mai đứng bên cạnh, liếc nhìn chiếc đồng hồ cơ đeo trên cổ tay rồi lại nhìn xuống màn hình chiếc điện thoại đen trắng cũ kỹ đang rung lên bần bật trong túi quần, báo hiệu một tin nhắn mới vừa tới.
Khuôn mặt Mai thoáng nét sốt ruột, căng thẳng. Cô bước nhanh tới, đưa tay đỡ lấy chiếc bảng vẽ và xếp gọn những tuýp màu nước giúp Yến:
— Yến này, tranh khô hẳn chưa? Thu dọn đồ đạc nhanh tay lên nào, chín giờ mười lăm rồi đấy!
Hải Yến ngẩng đầu lên, trong lòng vẫn còn dâng trào dư vị ngọt ngào, ấm áp của bức tranh vừa hoàn thành và lời hứa với người đàn bà vùng cao:
— Sao vội thế Mai? Tớ định nán lại chụp thêm vài kiểu ảnh quanh sọt ngô của bà Duyên để lấy thêm chi tiết vân gỗ làm tư liệu…
Mai lắc đầu dứt khoát, giọng nói nghiêm lại, đôi mắt ánh lên vẻ lo lắng về một lịch trình công việc không thể có chỗ cho sự chậm trễ:
— Không kịp nữa đâu! Chúng ta phải chạy thốc ra bến xe thồ ngay bây giờ cho kịp chuyến xe đò duy nhất trong ngày đi Nậm Vài. Ông Vàng A Sính vừa nhắn tin báo xe chở chuyến túi hạt giống của ông ấy sắp tới bến rồi. Ông ấy dặn dứt khoát không được trễ hẹn dù chỉ mười phút, nếu lỡ chuyến xe này là toàn bộ số hạt giống vụ mới sẽ bị người ta chuyển thẳng đi nơi khác đấy!