Buổi họp không có lời hứa chắc thắng
Cuốn sổ tính toán chi phí tháng thứ sáu nằm mở toang giữa mặt bàn số bảy, những trang giấy kẻ ô li ngả màu cháo lòng phơi mình dưới luồng gió lười nhác của chiếc quạt tường cũ kỹ. Khách ăn trưa cuối cùng vừa bước ra khỏi bậc tam cấp chừng mười lăm phút trước, để lại một không gian tĩnh lặng đến mức có thể nghe rõ tiếng những giọt nước thừa rỉ tí tách từ vòi rửa phía sau bức vách tôn.
Mùi thịt ba chỉ kho tiêu đen, mùi tép rang mặn ngọt và hơi dầu rán bám chặt vào chân tường qua bao nhiêu ca cao điểm trưa nay đã bắt đầu loãng dần. Chúng quyện vào vị ngai ngái, nồng hắc quen thuộc của nước lau sàn hương sả vừa khô tới trên nền gạch bông cổ điển hoa văn chữ thập. Dưới chân bàn số bảy, góc bàn từng một thời chênh vênh khiến bao lượt khách gõ bát làm đổ canh nay nằm im lìm, vững như đá tảng. Miếng đệm cao su giảm chấn màu đen có xẻ rãnh chống trượt mà Duy tỉ mẩn dùng dao rọc giấy gọt giũa, chêm chặt vào góc chân sắt từ mấy hôm trước vẫn bám riết lấy mặt sàn, triệt tiêu hoàn toàn mọi độ rung lắc, giữ cho mặt gỗ nâu sẫm phẳng lặng như một mặt gương không gợn sóng.
Hà ngồi thẳng lưng, hít một hơi thật sâu để lồng ngực căng tràn thứ không khí ẩm nóng nhưng đã bớt đi mùi ngột ngạt của bếp núc. Luồng gió quạt phả từng nhịp đều đặn vào sau gáy cô, làm bay mấy sợi tóc con bết mồ hôi. Đôi mắt thâm quầng sau những đêm thức trắng cộng sổ của cô dừng lại trên chiếc kẹp tài liệu bằng nhựa trong suốt đặt bên mép bàn. Cô với tay, ngón tay miết nhẹ vào mép kẹp nhựa rồi rút ra ba tờ giấy A4 được kẻ sẵn những bảng biểu bằng mực đen sắc nét. Bằng động tác thong thả, cẩn trọng như một người chia bài đang chuẩn bị cho ván cược quyết định vận mệnh cả gia đình, Hà vuốt phẳng từng nếp gấp, lần lượt trải ba tờ giấy ra trước mặt bốn con người đang ngồi vây quanh: bà Lan, Khải, cô Hạnh và Duy.
— Con đã tổng hợp và rà soát lại toàn bộ số liệu thu chi thực tế của ba tháng vừa qua, chia thành ba phương án cụ thể, — giọng Hà cất lên, bình thản, không nhanh không chậm, rành rọt từng âm tiết giữa căn phòng vắng. Đôi mắt cô lướt qua từng gương mặt, dừng lại một giây ở chiếc nẹp chân của mẹ trước khi nhìn thẳng vào anh trai. — Con mong mọi người đọc kỹ từng con số trước khi chúng ta bắt đầu thảo luận. Phương án một: Giữ nguyên vẹn mô hình vận hành cũ. Chúng ta tiếp tục đỏ lửa cả ca trưa lẫn ca tối, mở cửa từ mười giờ sáng kéo dài tới hai mươi giờ ba mươi đêm, cố gắng gồng mình giữ mối và kéo lại lượng khách quen buổi tối. Phương án hai: Tái cấu trúc triệt để toàn bộ quán cơm. Chúng ta cắt bỏ hoàn toàn ca tối, chỉ bán duy nhất bữa trưa từ mười giờ sáng đến mười lăm giờ chiều, hoạt động sáu ngày mỗi tuần và đóng cửa nghỉ ngơi trọn vẹn vào ngày thứ Hai. Phương án ba: Nếu qua tính toán chi li mà thấy việc thu hẹp quy mô vẫn không thể gánh nổi chi phí cố định, chúng ta sẽ chủ động thương lượng để trả lại mặt bằng cho ông Tín trước thời hạn hợp đồng, thanh lý toàn bộ xoong nồi bàn ghế và đóng cửa quán trong trật tự, không để nợ nần dây dưa.
Vừa nghe dứt lời, hai hàng lông mày rậm rạp của Khải đã lập tức giật mạnh rồi nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm giữa trán. Khải không thèm liếc mắt sang phương án ba; anh chộp lấy tờ giấy ghi phương án hai, kéo xoẹt một cái về phía mình. Bàn tay thô ráp xù xì, những đốt ngón tay chai sạn vì hàng chục năm cầm ghi-đông xe máy và bốc vác hàng nặng gõ cộc cộc lên một con số được Hà bôi đậm bằng mực dạ quang màu vàng ở góc trên bên trái tờ giấy.
— Mày tính toán kiểu này là tự mình chặt chân mình, là đứt gánh giữa đường đó Hà! — Khải gắt lên, giọng khàn đặc vì thuốc lá và sự sốt ruột không giấu giếm. Đôi mắt anh đỏ hoe, những tia máu li ti giăng kín nơi tròng trắng vì chuỗi ngày thiếu ngủ triền miên. — Mày mở to mắt ra nhìn vô con số này coi: Năm triệu rưỡi tiền thuê nhà của ông Tín mỗi tháng, một xu cũng không bớt! Đó là chưa tính tiền rác dân lập, tiền điện, tiền nước định mức cơ bản. Ca tối dù vắng, dù ế ẩm cách mấy thì ít ra cũng là lúc dân lao động quanh xóm, mấy chú thợ tiện cơ khí bên xưởng chú Thắng, hay mấy đứa nhân viên văn phòng phải làm tăng ca muộn tạt vô ăn dĩa cơm sườn, uống ly trà đá hai ngàn. Giờ mày đòi cắt cái rụp, chỉ mở đúng từ mười giờ trưa tới ba giờ chiều, vị chi vỏn vẹn có năm tiếng đồng hồ mỗi ngày! Mất đứt cái lượng khách ăn đêm đó thì mày lấy cái gì đắp vô năm triệu rưỡi tiền nhà cho lão Tín? Rồi tiền hàng gối đầu mua thiếu bên sạp thịt cô Vân, tiền phòng trọ của tao mỗi tuần phải trích ra bảy trăm rưỡi ngàn gửi về cho chủ trọ nữa? Năm tiếng đồng hồ bán trưa thì làm sao kham nổi ngần ấy miệng ăn với cái núi chi phí cố định đè trên đầu?
Ngồi ngay cạnh con trai, bà Lan khẽ giật bắn mình trước tiếng gõ bàn chan chát của Khải. Hai bàn tay gầy guộc, mu bàn tay nổi đầy những đường gân xanh xao đan chặt vào nhau đặt trên đùi. Bà liếc nhìn con số năm triệu rưỡi đỏ chót trên trang giấy, rồi lại ngước nhìn Hà. Vẻ âu lo cố hữu, thứ bóng ma sợ hãi đã bám riết lấy người đàn bà goá bụa suốt nửa đời người buôn gánh bán bưng, lại dợn lên run rẩy nơi khóe mắt đầy vết chân chim.
Hà không hề giật mình, cũng không có vẻ gì là bực tức trước phản ứng gay gắt của anh trai. Cô đã lường trước từng câu chữ, từng cơn giận dữ này từ nhiều đêm trước, khi một mình cô ngồi dưới bóng đèn tuýp mờ mờ để cộng từng hóa đơn tiền gas. Đợi cho Khải trút hết cơn bốc hỏa và tiếng thở dốc của anh dần chùng lại, Hà mới vươn tay, rút tờ giấy ghi phương án một cùng bảng kê chi tiết chi phí năng lượng đặt đè lên ngay trước mặt Khải.
— Anh Khải, anh cầm tờ này lên, nhìn thật kỹ bảng đối chiếu công nợ và chi phí điện gas tháng vừa rồi giùm em, — Hà chỉ đầu bút bi vào hàng số liệu được đóng khung viền đỏ sẫm. Giọng cô vẫn giữ nguyên độ lạnh lùng của những con số, nhưng từng lời nói ra lại như một nhát búa đập vỡ lớp vỏ ảo tưởng. — Ca tối tháng vừa rồi mang về cho quán ngót nghét hai mươi ba triệu đồng doanh thu trên giấy tờ sổ sách. Nghe thì có vẻ xôm tụ, nghe thì tưởng là cứu cánh cho cả cái quán. Nhưng để đổi lấy hai mươi ba triệu bạc gộp đó, anh nhìn xem mình đã đốt bao nhiêu thứ vào gian bếp? Một triệu ba trăm năm mươi ngàn tiền gas, vì cái bếp khè lúc nào cũng phải đỏ lửa liu riu từ năm giờ chiều tới tám rưỡi tối chỉ để hâm nóng mấy khay thức ăn nguội ngắt chờ dăm ba người khách lỡ độ đường. Một triệu bốn trăm ngàn tiền điện cho bốn cái quạt chạy hết công suất, giàn đèn tuýp ngoài hiên, quạt hút mùi và cái tủ bảo quản chạy rầm rì thâu đêm.
Hà lật sang trang sau, ngón tay ấn mạnh vào cột số liệu hao hụt:
— Và đau nhất là cái khoản này đây: Thức ăn nấu ra cho ca tối nếu không bán hết thì hôm sau tuyệt đối không thể nào đem bán lại cho dân văn phòng ca trưa được, vì thịt cá lưu cữu qua đêm sẽ bốc mùi ôi, xỉn màu. Toàn bộ phần ế đó chỉ có một con đường duy nhất là trút thẳng vô thùng nước gạo bán cho trại nuôi heo, ngốn đứt của quán tròn trèm một triệu tám trăm ngàn tiền cốt nguyên liệu mỗi tháng! Đó là em còn chưa thèm tính tới những đơn hàng đóng nhầm, những lần thối lộn tiền hay bù tiền cho khách vì người làm kiệt sức, hoa mắt chóng mặt lúc chập tối, ngót nghét mất thêm hơn sáu trăm ngàn nữa.
Hà dừng lại một nhịp thở, ánh mắt cô không né tránh mà ghim thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu của Khải:
— Lợi nhuận ròng thực tế của cả ca tối ròng rã suốt ba mươi ngày qua chỉ vỏn vẹn có bốn trăm tám mươi ngàn đồng chẵn! Anh chia đều cho ba mươi ngày đi: Mỗi một đêm thức khuya dậy sớm, hít khói hít bụi, quán mình chỉ lời đúng mười sáu ngàn đồng! Mười sáu ngàn đồng đó, nếu tính sòng phẳng và công bằng tiền công đứng bếp của mẹ, tiền xăng xe công sức anh Khải chạy tới chạy lui, tiền công Duy đứng đóng hộp và công em bưng bê cọ rửa, thì cái ca tối này đang âm vốn nặng nề, âm vào tận xương tủy! Chúng ta đang làm cái trò lấy mỡ nó rán nó, cắn răng lấy đồng lời ít ỏi của ca trưa đem đi nuôi báo cô sự kiệt sức của ca tối mà cứ huyễn hoặc bản thân là tiền vô đều đều. Em khẳng định luôn: Nếu bây giờ mình tính đúng giá thị trường, trả đủ lương theo giờ cho một người làm thêm buổi tối để giải phóng sức lao động cho mẹ và anh, cái quán này cầm chắc phá sản sau đúng hai tháng! Cho nên, đóng cửa ca tối không phải là vứt bỏ mối manh, mà là cầm dao cắt phăng cái khối u đang làm cái quán này chảy máu từng ngày từng giờ!
Khải dán chặt mắt vào con số mười sáu ngàn đồng được khoanh tròn bằng mực đỏ trên trang giấy. Bàn tay đang đặt trên mặt bàn của anh khẽ run lên bần bật. Ngón tay trỏ thô ráp không còn gõ cộc cộc xuống mặt gỗ nữa, mà từ từ co quắp lại thành một nắm đấm lỏng lẻo. Cổ họng anh ứ nghẹn, anh nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt. Bờ vai vạm vỡ nhưng trĩu nặng gánh nặng mưu sinh của người đàn ông ngoài ba mươi hơi chùng xuống. Anh né tránh ánh nhìn của em gái, đưa mắt nhìn ra khoảng sân nắng chang chang ngoài cửa, giọng lẩm bẩm trong sự bất lực:
— Nhưng... nhưng khách quen người ta tới... tối mịt ghé qua thấy cửa đóng then cài, tắt ngúm đèn đuốc... người ta lại tưởng quán mình dẹp tiệm...
— Khách quen buổi tối họ ghé vì họ cần một chỗ ăn cho no với giá thật rẻ, điều đó không có gì sai, — Hà nói, giọng cô dịu xuống một tông, không còn gay gắt nhưng sự kiên định thì không suy suyển một li. — Nhưng anh Khải ơi, những vị khách đó họ không thể trả tiền thuốc men cho mẹ, họ cũng không thể gánh nợ ngân hàng hay trả tiền mặt bằng thay cho anh em mình khi quán sập tiệm. Hơn nữa, anh nghĩ coi, nếu mình dồn toàn lực đánh một trận duy nhất vào bữa trưa, toàn bộ thịt, cá, rau củ nhập tươi roi rói từ sáng sớm sẽ được tiêu thụ sạch bách trong vòng vài tiếng đồng hồ. Đến ba giờ chiều là đáy nồi cạn, tủ mát trống trơn, hao hụt tồn kho sẽ giảm thẳng về con số không tròn trĩnh. Chúng ta đem toàn bộ sự tỉnh táo, nguồn lực sung mãn nhất và những phần cơm ngon lành nhất phục vụ cho khối văn phòng và thợ thuyền ăn trưa — những người sẵn sàng trả đúng giá trị cho một bữa ăn tươm tất. Đó mới là con đường sống duy nhất của mình lúc này.
Từ nãy đến giờ, cô Hạnh vẫn ngồi im như tượng bên mép bàn, hai bàn tay thô kệch vì ngâm nước rửa chén nhiều năm chốc chốc lại xoa nhẹ lên vạt tạp dề vải thô đã giặt sạch bong, thoang thoảng mùi xà phòng phơi giòn nắng. Nghe Hà dứt câu, cô với cánh tay săn chắc kéo tờ giấy phương án hai lại gần tầm mắt, nheo nheo đôi mắt đã có nhiều nếp nhăn nơi đuôi mắt để rà từng hàng chữ số. Một lát sau, cô ngẩng đầu lên, vẻ mặt đầy nét trải đời của một người đã lăn lộn qua không biết bao nhiêu gian bếp thuê mướn:
— Con Hà nó bóc tách cái vụ hao hụt nguyên liệu là trúng tim đen đó Khải à. Mấy tháng qua tao đứng bếp phụ chị Lan ca tối, nhìn mấy ơ cá nục kho mục, mấy chảo thịt kho trứng với đậu hũ dồn thịt còn ế lại cả khúc sau tám giờ tối mà ruột gan tao nó thắt lại từng cơn. Đem đổ thì phải tội chết với trời phật, mà ráng tọng vô tủ đông để trưa mai hâm lại bán cho khách văn phòng thì người ta cắn một miếng là biết đồ cũ liền, mất sạch mối ruột. Nhưng mà này, tao nói trước cho rõ ràng sòng phẳng, nếu chuyển hẳn sang chỉ đánh một trận buổi trưa, khối lượng sơ chế đè lên vai tao không có nhẹ đâu nghen.
Cô Hạnh đặt bàn tay với những khớp ngón sưng to vì phong thấp lên mặt bàn số bảy, ánh mắt nghiêm nghị chuyển từ bà Lan sang Hà rồi dừng lại ở Khải:
— Tao nhận đứng bếp chính cho ca trưa từ ngày mai, nhưng tao cần ba điều kiện rành mạch, phải gút lại trước mặt mọi người ở đây. Điều thứ nhất: Tao phải được toàn quyền quyết định định lượng ba món mặn chủ lực mỗi ngày theo đúng cuốn sổ công thức mà tao với chị Lan đã chốt, không ai được đứng ngoài chỉ chỏ thêm bớt nửa chừng làm hỏng vị hay lệch cân lượng. Điều thứ hai: Vào khung giờ cao điểm nhất, từ mười một giờ trưa tới một giờ chiều, khách ăn tại quán dồn vô một lượt, shipper đứng nghẹt cửa, tao đứng xào nấu bên hai cái chảo gang đỏ lửa thì dứt khoát không thể nào kiêm thêm việc múc canh, xới cơm hay cúi xuống kỳ cọ chảo nóng. Tao cần một người phụ bếp cứng tay đứng kè bên cạnh trong đúng hai tiếng đồng hồ đó. Và điều thứ ba, cũng là điều sống còn của tao: Đúng mười lăm giờ chiều là tao phải được tắt bếp, cởi tạp dề bàn giao lại toàn bộ để tao dắt xe về. Ông già tao ở nhà bị tai biến nằm liệt giường, cứ đúng cữ chiều đó là phải có tao về đút cháo, lau mình rồi thay tã lót. Trễ một chút là ông cụ lở loét, tao không an lòng được.
Ở đầu bàn đối diện, Duy vẫn ngồi ngay ngắn, lưng giữ một góc thẳng tắp như thói quen của một người làm việc kỹ thuật. Trước mặt anh là cuốn sổ tay nhỏ bìa xanh sẫm cài cây bút kim loại sáng loáng, các trang giấy được kẻ cột ghi chép tỉ mỉ từng mốc giờ giao nhận hàng. Lắng nghe trọn vẹn những lời bộc bạch của cô Hạnh, Duy khẽ gật đầu, cất giọng điềm tĩnh và chắc nịch:
— Về việc tiếp ứng cho cô Hạnh trong hai tiếng cao điểm từ mười một giờ đến mười ba giờ, cháu hoàn toàn có thể đảm nhiệm được. Theo quy trình đóng gói mới mà cháu và chị Hà vừa chuẩn hóa tuần trước, các đơn hàng cơm trưa giao cho khối văn phòng và công ty đã được chốt trần tối đa là hai mươi tư suất mỗi ngày và buộc phải khóa sổ nhận đơn trước mười giờ sáng. Cháu sẽ tập trung toàn bộ tốc độ để hoàn thành việc đóng hộp, dán tem nhãn niêm phong và bàn giao hết cho shipper trước mười một giờ. Đúng mười một giờ, cháu sẽ có mặt tại khu vực bếp, đứng ngay bên vạch ngăn bàn inox để phụ cô Hạnh múc canh nóng, xới cơm theo định lượng và tiếp ứng thịt cá sơ chế sẵn từ tủ mát ra chảo.
Duy dừng lại một chút, đưa mắt nhìn Khải rồi nhìn sang bà Lan, giọng anh trầm xuống, thẳng thắn nhưng mang đầy sự tôn trọng:
— Còn về phần cá nhân cháu, việc chuyển đổi sang mô hình bán trưa sáu ngày một tuần này thực sự là giải pháp phù hợp nhất với cam kết ban đầu của cháu khi nhận việc tại quán. Cháu cần giữ trọn vẹn hai buổi tối thứ Ba và thứ Năm hàng tuần để sang quận Năm theo học lớp kỹ thuật điện dân dụng. Nếu quán mình cứ tiếp tục duy trì ca tối trong tình trạng chập chờn, bữa bán bữa nghỉ hoặc kéo dài lê thê tới đêm, cháu sẽ không thể nào bảo đảm việc tăng ca đột xuất ngoài giờ. Sự xáo trộn đó sớm muộn cũng sẽ dẫn tới việc đứt gãy nhân sự như những tháng trước đây. Khung giờ bán trưa cố định từ mười giờ sáng đến mười lăm giờ chiều giúp cháu tập trung một trăm phần trăm năng lượng cho công đoạn đóng gói, kiểm soát khớp từng phiếu xuất kho và đồng thời bảo đảm được việc học hành, cuộc sống riêng của cháu.
Lời nói của Duy như một dấu chấm câu dứt khoát, khép lại những toan tính về mặt nhân lực. Không gian quanh chiếc bàn số bảy bỗng chùng hẳn xuống. Tiếng cánh quạt tường đảo qua đảo lại, phát ra những tiếng cọt kẹt khô khốc giữa bầu không khí oi nồng của buổi xế trưa. Mọi ánh mắt trong bàn, từ cái nhìn đau đáu của Khải, nét dò xét thực tế của cô Hạnh, sự cương quyết của Hà cho đến sự chờ đợi của Duy, giờ đây đều vô thức dồn cả về phía người phụ nữ lớn tuổi nhất đang ngồi bất động ở giữa.
Bà Lan cúi gằm mặt, đôi mắt đùng đục nhìn trừng trừng vào đôi bàn tay mình đang đặt trên vạt quần. Đôi bàn tay của một người đàn bà đã bước qua tuổi năm mươi tám, da dẻ sạm đen, chằng chịt những vết sẹo bỏng mỡ li ti và những vết chai sần tích tụ qua mười lăm năm bám trụ nơi góc phố Vườn Me này. Bên dưới lớp vải lanh hoa của ống quần bên phải, chiếc nẹp cố định khớp gối bằng kim loại và dây dán y tế vẫn cộm lên thô kệch. Miếng cao dán thảo dược màu nâu sẫm dán chặt quanh bánh chè phả ra mùi thuốc bắc cay nồng, ngột ngạt. Bốn mươi mi-li-lít dịch khớp vàng đục mà bác sĩ vừa dùng kim tiêm rút ra khỏi đầu gối bà sáng hôm kia tại bệnh viện quận vẫn còn như một cơn ác mộng buốt nhói. Đó là một lời cảnh báo bằng xương bằng thịt, tàn nhẫn và sòng phẳng, mách bảo rằng cỗ máy sinh học trong người bà đã rệu rã tới mức không còn có thể đánh lừa thêm một ngày nào nữa.
Khải nhìn thấy nét mặt nhăn nhó vì đau đớn của mẹ, ngực anh phập phồng, giọng anh chùng hẳn xuống, nghe như có một cục nghẹn ứ lại nơi cổ họng:
— Mẹ... ý mẹ tính sao? Nếu mẹ thấy tiếc cái ca tối... tiếc cái công gầy dựng mười mấy năm trời... thì con ráng. Con ráng chạy xe ôm ngoài đường thêm vài ba tiếng buổi trưa, tối về con mở cửa sắt ra, con đứng quán con bán cho... Mẹ cứ lên gác nằm nghỉ...
— Thôi... thôi đi con ơi! — Bà Lan run run cất tiếng, ngắt ngang lời con trai.
Bà ngẩng đầu lên. Hai hốc mắt bà đã đỏ hoe tự lúc nào, ngấn đầy những giọt nước mắt chực trào ra nhưng không rơi xuống. Ánh nhìn của người mẹ già không còn vẻ hoang mang, bấu víu vào những hy vọng hão huyền như hồi đầu tháng nữa. Bà nhìn sang cô Hạnh, người bạn bè cùng cảnh ngộ buôn bán bao năm; bà nhìn sang Duy, chàng trai trẻ tỉ mỉ luôn đúng giờ; và cuối cùng, ánh mắt bà dừng lại thật lâu trên gương mặt gầy rộc, đôi mắt trũng sâu nhưng ngời sáng sự kiên cường của đứa con gái út.
— Tao tiếc chứ... Sao mà không tiếc cho được... — Giọng bà Lan nghẹn lại, một ngón tay run rẩy đưa lên miết miết vào mặt gỗ mát rượi của bàn số bảy. — Mười lăm năm ròng rã, cái quán cơm này là nơi tao chắt chiu từng cắc từng đồng nuôi hai đứa mày ăn học nên người, trả hết đống nợ nần của ba mày để lại, rồi dựng được cái mái nhà che mưa che nắng. Tất cả cũng từ cái bếp lò lúc nào cũng đỏ lửa từ năm giờ sáng tới mịt mù đêm đen. Cứ mỗi lần nghĩ tới chuyện mới chiều tà mà phải kéo sập cái cửa sắt xuống, tắt hết đèn đuốc, để khách quen người ta đi làm về ngang qua ngơ ngác nhìn vô... tao xót xa như có ai lấy dao lam cứa từng khúc ruột khúc gan. Tao cứ tự lừa dối mình, cứ nghĩ thôi ráng thêm một bữa, thử vận may thêm một tháng nữa coi sao, biết đâu trời thương ngày mai khách lại đông, biết đâu cái đầu gối của tao nó bớt sưng bớt nhức...
Bà Lan hít một hơi run rẩy, cố nuốt tiếng nấc nghẹn ngào xuống lồng ngực gầy guộc:
— Nhưng con Hà nó nói không sai một chữ nào hết. Tao ráng, rồi tao ngã quỵ xuống ngay cạnh cái bếp dầu, tụi mày lại phải nửa đêm nửa hôm cuống cuồng cõng tao đi cấp cứu. Tiền kiếm được cả tháng trời thức khuya dậy sớm gom lại không đủ trả tiền một mũi tiêm giảm đau, một toa thuốc kháng viêm của bác sĩ. Tao làm mẹ, mà tao cứ ích kỷ biến cái thân già tật nguyền này thành cái gông cùm trói chặt lấy tương lai của hai đứa mày. Tao bắt con Hà phải gánh hàng trăm tiếng làm việc không tên không tuổi tới mức mặt mày xám ngoét, bắt thằng Khải ngoài đường thì chạy xe bạt mạng, trong lòng thì nơm nớp lo mẹ ở nhà té ngã. Tao không thể đem mạng sống và tương lai của cả nhà ra mà thử vận may mù quáng kiểu đó nữa! Tao thuận theo phương án hai của con Hà. Tao lùi lại phía sau. Từ ngày mai, tao giao trọn vẹn gian bếp lại cho cô Hạnh quán xuyến. Tao chỉ ngồi ngoài hiên nhặt mớ rau muống, canh nồi nước sôi, chỉ dẫn nêm nếm chút đỉnh khi cần thiết. Cái quán này muốn sống sót qua cơn bão này thì người trong nhà phải được sống cho ra con người cái đã!
Từng lời, từng chữ của bà Lan như một tảng đá ngàn cân rơi xuống mặt sàn, rồi lập tức giải thoát cho bầu không khí ngột ngạt đang đè nặng lên ngực từng người. Khải từ từ cúi gằm mặt xuống mép bàn gỗ, hai bả vai rộng khẽ rung lên theo từng nhịp thở dồn. Anh không thốt thêm một lời phản bác nào nữa. Toàn bộ sự bướng bỉnh, cộc cằn và nỗi cay cú thường ngày của một kẻ bất lực trước đồng tiền bỗng chốc tan biến sạch trơn, nhường chỗ cho một sự thừa nhận cay đắng nhưng nhẹ nhõm đến cùng cực.
Hà thở hắt ra một hơi dài, cảm giác như một luồng sinh khí ấm áp vừa len lỏi vào lồng ngực mình, quét sạch những dồn nén tích tụ bấy lâu. Cô với tay kéo tờ giấy ghi phương án hai lại gần trước mặt, mở nắp cây bút bi mực xanh, đặt cây thước kẻ ngay ngắn cạnh mép giấy.
— Dạ. Nếu mẹ, anh Khải, cô Hạnh và Duy đều đã đồng lòng, con xin phép được chốt lại toàn bộ các điều khoản vận hành cụ thể cho mô hình mới, — Hà cất tiếng, giọng cô đanh lại, mạch lạc và mang đầy tính tổ chức. — Chúng ta sẽ áp dụng thử nghiệm mô hình bán bữa trưa sáu ngày một tuần trong vòng đúng tám tuần lễ, bắt đầu tính từ ngày mai. Về lịch hoạt động: Quán sẽ mở cửa từ thứ Ba đến Chủ nhật hàng tuần. Thời gian mở cửa đón khách ăn tại chỗ và giao hàng mang về bắt đầu từ đúng mười giờ sáng và kết thúc dứt điểm vào mười lăm giờ chiều. Toàn bộ ngày thứ Hai trong tuần quán sẽ hạ cửa sắt, nghỉ trọn vẹn một trăm phần trăm. Ngày thứ Hai đó chỉ dành cho hai việc: Buổi sáng tổng vệ sinh sâu toàn bộ bếp bãi, khử trùng, bảo trì các thiết bị điện gas; và buổi chiều để tất cả mọi người được nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động, đi khám bệnh hoặc lo toan việc riêng của gia đình.
Hà ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt từng người để đo lường mức độ tập trung, rồi nhấn mạnh điều khoản quan trọng nhất:
— Về mặt tài chính và giới hạn an toàn: Trong suốt tám tuần thử nghiệm này, chúng ta sẽ chấp nhận trích quỹ dự phòng tích lũy hiện có để bù đắp các chi phí cố định nếu doanh thu ban đầu chưa kịp tăng trưởng. Nhưng chúng ta phải đặt ra một ranh giới sinh tử tuyệt đối: Mức thâm hụt lũy kế tối đa cho phép từ quỹ dự phòng là mười triệu đồng! Nếu trong vòng tám tuần, số tiền thâm hụt chạm đúng ngưỡng mười triệu đồng, chúng ta sẽ lập tức dừng cuộc thử nghiệm này lại ngay trong ngày hôm đó. Không ai được phép đổ lỗi cho ai, không ai được phép dây dưa, chúng ta sẽ lập tức kích hoạt phương án ba: Trả mặt bằng cho ông Tín trong êm đẹp, thanh lý đồ đạc và đóng cửa quán cơm vĩnh viễn. Mọi người có chấp thuận mức trần rủi ro mười triệu đồng này không?
Khải ngẩng đầu lên. Ánh mắt anh không còn sự hoang mang hay u uất nữa, mà đã lấy lại được vẻ rắn rỏi, cương nghị vốn có của người con trai lớn trong nhà. Anh nhìn thẳng vào dòng chữ quy định mức trần mười triệu đồng, gật đầu thật mạnh:
— Tao đồng ý! Mười triệu là cái ngưỡng cuối cùng, quá một xu cũng không được phép ráng. Nếu trong tám tuần mà năm con người xúm vô làm năm tiếng mỗi ngày không kiếm nổi tiền trả mặt bằng với tiền công tối thiểu cho mình thì có cố sống cố chết bấu víu cũng chỉ kéo nhau xuống hố sâu nợ nần. Tao đồng ý! Chiều nay tao sẽ chạy thẳng ra chợ đầu mối, gặp riêng cô Vân để thương lượng lại toàn bộ công nợ cũ, chốt lại số lượng thịt nạc, sườn non và rau muống giao theo từng ngày đúng theo định lượng ba món của cô Hạnh. Tao hứa tao sẽ không lấy dư một cọng cải, và từ nay tuyệt đối không nhận mấy cái cuốc xe ôm bao lô ngoài đường trong giờ quán mở cửa nữa.
— Tao cũng đồng thuận, — cô Hạnh nói, giọng chắc nịch như đinh đóng cột. — Tao ký nhận mức lương sáu triệu rưỡi mỗi tháng theo đúng giấy tờ con Hà làm, làm tròn bổn phận bếp chính từ sáu giờ ba mươi sáng tới đúng mười lăm giờ chiều. Sau ba giờ chiều tao giao lại chảo nồi cho hai anh em tụi mày dọn rửa, tao dắt xe về lo cho ông cụ nhà tao. Việc ai nấy làm, không ai tị nạnh ai một câu nào hết.
Duy nở một nụ cười kín đáo bên khóe môi. Anh xoay xoay cây bút kim loại trên tay, ánh mắt ánh lên sự an tâm tuyệt đối trước một kế hoạch có kỷ luật rõ ràng:
— Cháu hoàn toàn tán thành khung giờ hoạt động và mức trần thâm hụt mười triệu đồng. Cháu xin chịu trách nhiệm toàn bộ về khâu dán tem niêm phong, kiểm đếm các phần cơm giao đi đúng định lượng và đối soát từng tờ phiếu in nhiệt với số tiền mặt thu về mỗi ngày, bảo đảm không thất thoát một đồng.
Hà đặt cây thước kẻ xuống trang giấy trắng, dùng bút bi vạch hai đường kẻ song song tạo thành một khung hình chữ nhật trang trọng ở góc dưới cùng của tờ A4. Bằng những nét chữ nắn nót, rõ ràng và dứt khoát, cô viết từng dòng:
*BIÊN BẢN THỬ NGHIỆM TÁI CẤU TRÚC VẬN HÀNH QUÁN CƠM NHÀ BÀ LAN* *Thời hạn áp dụng: 08 tuần (kể từ ngày mai).* *Lịch phục vụ: 10h00 – 15h00, Thứ Ba đến Chủ Nhật (Nghỉ trọn vẹn cả ngày Thứ Hai).* *Thực đơn cốt lõi: 03 món mặn chủ lực + 01 món mềm/canh nhật trình.* *Trần rủi ro cho phép: Thâm hụt lũy kế tối đa 10.000.000 đồng trích từ quỹ dự phòng.* *Cam kết chung: Tuyệt đối tuân thủ phân công công việc, tôn trọng ranh giới trách nhiệm và thời gian cá nhân của từng thành viên.*
Viết xong dòng cuối cùng, Hà đặt cây bút bi xuống ngay giữa mặt bàn số bảy, phát ra một tiếng "cạch" khô giòn. Giữa căn phòng lúc này không có một tiếng vỗ tay, không có bất kỳ một lời hứa hẹn sáo rỗng hay những khẩu hiệu đao to búa lớn. Không một ai trong số họ mơ mộng rằng quán cơm bình dân nép mình trong con hẻm Vườn Me này sẽ vụt biến thành một mỏ vàng mười hay phát đạt vượt bậc sau một đêm. Họ ngồi đó, mặt đối mặt với sự thật trần trụi về những món nợ, về giới hạn của những khớp xương rệu rã và về quỹ thời gian hữu hạn của kiếp người nghèo khó. Nhưng chính sự trần trụi ấy lại đem đến cho họ một sự thanh thản kỳ lạ.
Bà Lan là người đầu tiên vươn bàn tay run rẩy cầm lấy cây bút. Ngón tay bà hơi run, nhưng nét mực ấn xuống mặt giấy thì dứt khoát lạ thường. Bà ký tên mình bằng những nét chữ ngoằn ngoèo, mộc mạc của một người đàn bà cả đời chỉ quen cầm đũa bếp và dao phay: *Nguyễn Thị Lan*.
Bà chuyển cây bút sang cho con trai. Khải đón lấy, các khớp ngón tay siết chặt thân bút nhựa. Anh gằn mạnh ngòi bút xuống mặt giấy, ký một chữ ký to bản, góc cạnh và dứt khoát: *Lê Minh Khải*.
Cô Hạnh đón lấy bút từ tay Khải. Đôi mắt sắc sảo của người đầu bếp nhìn lướt qua tên của hai mẹ con, rồi cô hạ bút ký một nét tròn trịa, chắc nịch: *Trần Thị Hạnh*.
Duy nhận lấy tờ biên bản, cẩn thận kéo thẳng mép giấy về phía mình. Bằng nét chữ thanh mảnh, đều đặn của người làm sổ sách kỹ thuật, anh ký tên mình vào ô tiếp theo: *Phạm Duy*.
Cuối cùng, tờ giấy được chuyền về lại trước mặt Hà. Cô cầm cây bút bi lên, cảm nhận được hơi ấm mồ hôi tay của bốn con người vừa truyền qua thân bút. Lồng ngực cô nhẹ bẫng, không còn cảm giác tức nghẹn của sự gánh vác đơn độc, cũng không còn nỗi sợ hãi mơ hồ về tương lai. Hà nắn nót đặt bút ký vào góc phải của biên bản: *Lê Thu Hà*.
Năm chữ ký mực xanh nằm thẳng hàng cạnh nhau trên nền giấy trắng tinh khôi, dưới ánh nắng chiều vàng vọt hắt qua khung cửa sổ bàn số bảy. Bản giao kèo này không thể bảo đảm cho họ một sự thành công rực rỡ, nhưng nó là tấm khiên bảo vệ lòng tự trọng của từng con người dưới mái nhà này. Kể từ giây phút này, sẽ không còn ai phải âm thầm chịu đựng sự kiệt sức vì phần việc vô lý của người khác; mọi sự hy sinh sẽ được đo đếm bằng những con số sòng phẳng và minh bạch.
Khải đứng phắt dậy, động tác nhanh nhẹn và dứt khoát hơn hẳn mọi ngày. Anh với tay lấy chùm chìa khóa xe máy treo trên vách gỗ quầy thu ngân, tiếng kim loại va vào nhau leng keng vui tai. Anh quay lại nhìn mẹ và Hà, giọng trầm khàn nhưng đã lấy lại được sự tự tin của một trụ cột gia đình:
— Chiều nay tao chạy xe qua tiệm cơ khí của anh Năm bên mé đường ray, nhờ ổng lấy máy hàn chấm lại mấy mối rỉ sét rồi sơn chống rỉ lại cái khung sắt treo biển. Tao ghé tiệm in lấy luôn cái biển hiệu mới mà hôm nọ con Hà gởi file đặt làm về luôn thể.
Nói rồi, Khải dắt chiếc xe máy cũ ra khỏi hiên, đạp nổ giòn giã rồi phóng vút đi vào dòng người hối hả ngoài đầu hẻm.
Đúng ba mươi phút sau, tiếng bô xe máy quen thuộc của Khải lại rền vang đầu ngõ rồi dừng hẳn trước hiên nhà. Khải tắt máy, dựng chân chống nghiêng rồi bước nhanh vào trong quán, ngoắc tay gọi Duy ra phụ một tay.
Hai người đàn ông cẩn thận khiêng một khung kim loại hình chữ nhật còn bọc kín lớp bạt nhựa màu xám chống trầy xước bước qua ngưỡng cửa, đặt ngay ngắn tựa vào vách tường đối diện bàn số bảy. Mùi sơn sắt mới quyện với mùi nhựa bạt tỏa ra hăng hắc.
Hà bước tới, dùng mũi kéo bấm đứt sợi dây cước buộc túm bốn góc. Cô cùng Khải và Duy từ từ lột bỏ lớp bạt ni-lông bảo vệ bên ngoài ra.
Tấm biển hiệu mới tinh lộ ra dưới ánh sáng rực rỡ của buổi chiều. Từng dòng chữ sơn đỏ thắm, vuông vức, sắc sảo nổi bật hoàn toàn trên nền bạt màu vàng nhạt tinh tươm:
*CƠM NHÀ BÀ LAN — Phục vụ cơm trưa 10h00 - 15h00*.