Người mới hỏi lại
Chín giờ ba mươi sáng, Phạm Duy xuất hiện trước cửa quán trong chiếc áo sơ mi sẫm màu cài cúc ngay ngắn, mang theo cuốn sổ tay khổ A6 và một vẻ điềm tĩnh trái ngược hoàn toàn với nhịp điệu cập rập thường nhật của gia đình họ Lê.
Cửa quán Cơm Nhà Bà Lan mở toang đón gió sớm từ đường Vườn Me hắt vào. Con đường nhựa hẹp ngoài kia bắt đầu rung lên dưới những chuyến xe ba gác chở hàng, tiếng còi xe máy lách qua những đoạn cua gấp, và làn hơi nóng mang theo bụi bặm lẫn mùi khói xăng đặc trưng của một ngày nắng gắt. Nhưng vừa qua khỏi bậc tam cấp phủ lớp gạch men xám đã mòn vẹt mép, mùi của đường phố lập tức bị lấn át bởi thứ mùi hương quen thuộc đã bám chặt vào từng thớ gỗ, từng mảng tường vôi bong tróc của căn nhà này suốt mười mấy năm qua: mùi ngò gai tươi nồng, mùi hành phi béo ngậy vừa vớt ra khỏi chảo dầu, và mùi nước lèo hầm từ xương ống đang sôi lục bục nơi góc bếp, tỏa ra làn khói trắng mỏng manh cuốn tròn dưới bóng quạt trần.
Hà đang cúi rạp người trên một chiếc bàn inox dài, hai bàn tay thoăn thoắt đưa chiếc giẻ lau loang loáng bọt xà phòng. Đốt ngón tay cô đỏ ửng vì ngâm nước từ sớm, còn hai bọng mắt thì thâm quầng, trĩu nặng sau một đêm dài gần như thức trắng. Đêm qua, trời trở lạnh về khuya, cơn đau buốt ở khớp gối mẹ cô lại tái phát dữ dội. Tiếng bà Lan rên khẽ sau tấm màn gió, tiếng bàn tay già nua run rẩy xoa dầu cù là lên lớp da nhăn nheo, và cả tiếng thở dài nén lại trong bóng tối của bà cứ như một hòn than âm ỉ nung nấu trong lồng ngực Hà. Cứ mỗi lần nhớ lại khoảnh khắc mẹ phải cắn răng bám vào thành giường để gượng đứng dậy đi vệ sinh lúc ba giờ sáng, đôi vai Hà lại bất giác co rút lại, một cơn thắt lòng quen thuộc nhói lên buốt giá.
Nghe tiếng bước chân lạ dừng lại ngay bậc thềm xi măng trước quán, Hà khựng tay lau, quệt vội những sợi tóc mai bết mồ hôi bên thái dương rồi ngẩng đầu lên.
Người thanh niên đứng ngược sáng nơi ngạch cửa trạc hai mươi chín tuổi. Dáng người anh dong dỏng cao, gầy nhưng khung xương săn chắc, nước da ngăm màu nắng gió toát lên vẻ dãi dầu nhưng tuyệt đối sạch sẽ. Anh không mặc chiếc áo thun ba lỗ thùng thình, chiếc quần lửng túi hộp bạc màu hay xỏ đôi dép lê lẹp xẹp như những người phụ việc trước đây từng ghé quán xin làm vài hôm rồi bỏ ngang khi gặp buổi trưa đông khách. Chiếc áo sơ mi sẫm màu của anh được giặt ủi thẳng thớm đến từng nếp gấp nơi cổ tay, vạt áo bỏ gọn gàng trong cạp quần tây tối màu. Trên tay trái anh kẹp một cuốn sổ tay nhỏ bìa xanh khổ A6, ngón tay cái giữ chặt một chiếc bút bi bấm bằng vỏ kim loại sáng bóng. Đôi mắt anh nhìn thẳng vào Hà, ánh nhìn phẳng lặng, không hề có nét ngơ ngác của kẻ mới đến, cũng không có vẻ khúm núm của người đi xin việc.
Từ trong kho nguyên liệu phía sau, tiếng bước chân khập khiễng nện từng nhịp nặng nề trên nền gạch men. Bà Lan bước ra, một tay phải vịn chặt vào mép gờ của tủ kính trưng bày thức ăn để san sẻ bớt trọng lượng cơ thể khỏi cái khớp gối đang sưng tấy. Dù trên gương mặt sạm nắng của bà đã được phủ một lớp phấn nụ mỏng để giấu đi nét nhợt nhạt và những rãnh nhăn xô lại sau cơn đau đêm qua, bước chân bà vẫn không giấu nổi sự gượng gạo, xiêu vẹo. Vừa nhìn thấy bóng dáng Duy nơi cửa, khóe mắt bà giãn ra, những nếp nhăn nơi đuôi mắt chùng xuống thành một nụ cười nhẹ nhõm hiếm hoi:
“Tới đúng giờ dữ hen con. Vô đây, vô đây mát nè.” Bà Lan quay sang phía Hà, vỗ nhẹ lên mu bàn tay đang cầm giẻ lau ướt sũng của con gái, giọng bà khàn đi vì thiếu ngủ nhưng cố tạo vẻ phấn chấn. “Hà nè, đây là Duy. Bác Năm bên tổ dân phố giới thiệu bữa trước mà mấy nay lu bu chuẩn bị đồ rằm mẹ chưa kịp nói với con. Duy hai mươi chín tuổi, lớn hơn con hai tuổi đó. Bắt đầu từ bữa nay Duy sẽ nhận ca sáng phụ việc với con. Con hướng dẫn sơ cho Duy mấy khâu đóng hộp mang đi với chạy bàn phía trước nghen. Đặng có người chia ca ra, con đỡ phải chạy đôn chạy đáo một mình từ sáng tới tối, cực thân con bé.”
Hà thoáng chớp mắt, ngón tay siết chặt mép vải ẩm ướt của chiếc giẻ lau bàn. Cô kín đáo quan sát người thanh niên thêm một lần nữa. Một người phụ quán cơm bình dân mà mang theo sổ tay và bút bi sắt sao? Trong trí nhớ của Hà, công việc ở quán cơm này chỉ cần hai thứ: một đôi chân biết chạy thật nhanh và một cái miệng biết dạ thưa ngọt xớt. Dẫu vậy, cô vẫn lịch sự gật đầu chào anh:
“Dạ, em chào anh.”
Duy hơi nghiêng đầu đáp lễ, giọng nói trầm ấm, âm lượng vừa phải nhưng từng âm tiết nhả ra đều tròn vành rõ chữ:
“Chào Hà. Tôi là Phạm Duy. Bác Lan hẹn tôi chín giờ rưỡi có mặt để làm quen mặt bằng với công việc trước khi mở bán lúc mười giờ. Nhờ Hà hướng dẫn giúp.”
Cách xưng hô “tôi - Hà” ngắn gọn, phẳng lặng như một dòng nước chảy xuôi dòng khiến Hà hơi khựng lại. Ở cái quán Cơm Nhà Bà Lan nép mình sâu trong con hẻm Vườn Me này, người ta đã quen với những tiếng gọi suồng sã kiểu “chú em”, “thằng cu”, “bé Ba”, hay chí ít cũng là lối xưng hô thân mật, vồ vập kiểu người một nhà. Sự nghiêm cẩn, giữ khoảng cách chừng mực toát ra từ cung cách của Duy làm cho không gian quán cơm bình dân đầy mùi mắm muối này bỗng chốc có vẻ trang trọng một cách lạ lùng, thậm chí có phần hơi xa cách.
Bà Lan dặn thêm vài câu về chỗ để tạp dề và vị trí thùng rác rồi lại phải vội vã chống tay vào hông, nặng nhọc xoay người bước lùi vào gian bếp. Tiếng mỡ sôi xèo xèo và mùi đường thắng cánh gián từ chảo sườn rim bắt đầu bốc lên ngào ngạt, giục giã người đứng bếp không được phép ngơi tay dù chỉ một phút. Trước khi khuất hẳn sau bức rèm nhựa màu xanh đã bạc màu vì khói dầu, bà còn ngoái đầu lại, ánh mắt đầy vẻ lo toan:
“Hà chỉ Duy cho kỹ nghen con, mười giờ là bắt đầu có mấy người bên trạm y tế với mấy chú thợ hồ ghé ăn sớm rồi đó.”
“Dạ, mẹ cứ vô coi chảo thịt đi, ngoài này con lo được,” Hà đáp với theo.
Cô buông chiếc giẻ lau vào chiếc xô nhựa màu đỏ dưới chân bàn, vắt ráo nước rồi bước nhanh lại quầy thu ngân. Quầy thu ngân thực chất là một chiếc bàn gỗ ép đã trầy xước vài mảng lớn ở góc, để lộ ra lớp mùn cưa xám xịt bên trong. Chiếc máy in nhiệt nhỏ bằng bàn tay nằm im lìm bên cạnh chiếc ngăn kéo đựng tiền bằng nhôm gỉ sét, sợi dây nguồn loằng ngoằng quấn quanh chân bàn cắm vào ổ điện lỏng lẻo.
Theo quán tính làm việc năm này qua năm khác, một quán tính được nhào nặn từ sự bận rộn và những cơn quá tải triền miên, Hà bắt đầu dặn dò Duy bằng những kinh nghiệm sống còn mà cô đã đúc kết trong đầu:
“Quán mình cũng đơn giản thôi anh, không có gì phức tạp đâu. Phía trước này có tất cả tám cái bàn inox. Tầm mười một giờ tới mười hai giờ rưỡi là lúc đông nhất, khách vô nườm nượp không kịp thở luôn đó. Thường thì mình cứ nhìn bàn là biết ai đến trước ai đến sau à. Khách vừa ngồi xuống là mình lẹ làng chạy ra hỏi người ta ăn gì, xong đứng ngó coi bàn nào người ta ăn xong đứng dậy là phải dọn liền, lau bàn cho sạch đặng đón người kế tiếp. Còn mấy người khách quen hay ăn món gì, khẩu vị ra sao thì mình ráng ghi nhớ trong đầu giùm em nhen. Như chị Thảo bên phòng trưng bày nội thất đầu hẻm là thích ăn cơm tấm nhiều sườn ít mỡ, nước mắm phải thêm ớt băm; chú Bảy chạy xe ôm đầu đường thì thích cơm thêm nhiều canh, chan nước cá kho; còn mấy anh thợ hồ làm công trình đằng kia thì ăn mặn dữ lắm, đĩa cơm nào cũng phải chan nước thịt kho ngập mặt… Mình nhớ mặt đặt tên người ta như vậy đặng người ta bước vô là mình múc liền cho nhanh, khách người ta thấy mình chu đáo, người ta thương người ta mới ghé hoài.”
Hà nói một hơi dài, giọng điệu đon đả, nhịp nhàng như cái cách cô vẫn thường dặn mấy đứa em họ dưới quê lên phụ quán vào mỗi dịp hè. Trong thâm tâm Hà, cô luôn tự hào về khả năng bao quát của mình. Cô tin rằng sự chu đáo, tận tụy, khả năng ghi nhớ từng chi tiết nhỏ nhặt của hàng chục con người mà không cần một mảnh giấy ghi chép nào chính là cái hồn, là bí quyết giữ chân thực khách của quán Cơm Nhà Bà Lan suốt bao năm qua.
Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với sự mong đợi của Hà, Duy không hề gật gù tán thưởng hay tỏ ra thán phục trước trí nhớ của cô.
Anh mở cuốn sổ tay A6 bìa xanh ra, ngón tay cái ấn mạnh vào đuôi chiếc bút bi kim loại. Một tiếng “tách” khô khốc, dứt khoát vang lên giữa không gian tĩnh lặng của buổi sáng. Duy không hề ghi lại sở thích ăn uống của chị Thảo bên nội thất hay thói quen ăn mặn của mấy anh thợ hồ. Thay vào đó, anh ngước mắt lên nhìn thẳng vào mắt Hà, đôi lông mày rậm hơi nhíu lại một cách nghiêm túc:
“Khoan đã Hà. Cho tôi hỏi lại chỗ này một chút.”
Hà chớp mắt, nụ cười niềm nở trên môi khẽ sững lại: “Dạ? Anh hỏi gì anh?”
Duy đặt đầu bút lên trang giấy trắng tinh kẻ ô li, giọng điệu anh bình thản nhưng sắc bén:
“Hà nói ‘nhìn bàn là biết ai đến trước’, nhưng nếu cùng lúc có ba nhóm khách vào ngồi ở ba góc khác nhau, một người gọi món trực tiếp với Hà ở quầy, một người vẫy tôi ngoài cửa, một người lại quen chân bước thẳng ra sau bếp gọi lớn cho bác Lan thì ai là người có thẩm quyền xác nhận đơn cuối cùng?”
Hà ngớ người ra. Đôi mắt cô mở to, miệng hơi hé nhưng không thốt ra được lời nào ngay lập tức. Cô chưa từng chuẩn bị cho một câu hỏi như thế trong suốt sáu năm đứng bán ở quán này. Trong thế giới của cô, mọi thứ luôn vận hành theo một trật tự tự nhiên, hỗn độn nhưng quen thuộc: ai rảnh tay thì làm, ai nghe thấy khách gọi thì chuyển lời vào bếp, và khi có sự cố nhầm lẫn hay khách phàn nàn thì chính cô sẽ là người chạy ra cúi đầu xin lỗi, cười xòa xoa dịu.
“Thì… thì ai nhận đơn thì nhớ mang ra cho người ta thôi anh,” Hà ấp úng, hai bàn tay đan vào nhau. “Còn nếu khách vô dồn dập kẹt quá thì cứ kêu em, em đứng ngay quầy em ngó coi bàn nào vô trước thì em sắp xếp mang ra trước.”
Duy vẫn giữ nguyên ngòi bút trên mặt giấy, không hề ghi một chữ nào về câu trả lời của cô. Anh tiếp tục hỏi, giọng nói vẫn điềm đạm, không gắt gỏng nhưng tuyệt đối không có ý định bỏ qua:
“Nghĩa là một mình Hà là người chốt đơn duy nhất? Vậy nếu đơn đặt qua điện thoại giao đi trùng giờ với khách ngồi tại chỗ, ai quyết định suất cơm nào được lấy trước? Bếp sẽ làm theo phiếu của người giao hàng hay làm theo đĩa của khách ngồi chờ tại bàn?”
“Thì… coi cái nào gấp hơn…” Hà bắt đầu cảm thấy sự lúng túng lan dần từ lồng ngực lên đến hai gò má. Má cô nóng bừng lên. “Thường là em tự canh giờ trong đầu à, shipper họ hối thì mình làm cho họ trước một chút, còn khách quen ngồi bàn thì mình bưng trà đá ra mời họ uống đỡ một ly rồi giải thích họ thông cảm.”
“Được rồi, tạm gác chuyện ưu tiên đơn sang một bên,” Duy ghi chép một dòng ngắn gọn vào sổ rồi giơ ngón trỏ chỉ về phía chiếc máy in nhiệt đang nằm chỏng chơ bên cạnh ngăn kéo tiền. “Thế còn phiếu in ra từ cái máy này, sau khi bếp làm xong món thì tờ phiếu đó sẽ để ở đâu? Và nếu khách đổi ý, ví dụ họ gọi cá bống kho nhưng lát sau đổi sang sườn nướng, hoặc họ hủy đơn không lấy nữa thì cái phiếu hủy đó để ở đâu để người làm ca sau không đóng gói nhầm?”
Câu hỏi thứ hai giáng xuống như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào sự tự tin bấy lâu nay của Hà. Ngón tay cô bất giác bấu chặt vào mép gỗ ép sần sùi của quầy thu ngân.
Phiếu hủy ư? Ở cái quán cơm này làm gì có cái khái niệm gọi là “phiếu hủy”! Từ ngày mẹ cô mở quán đến giờ, khi một người khách đổi món, họ chỉ cần ngoái đầu lại kêu một tiếng: “Út ơi, đổi cho chú đĩa cá sang miếng thịt luộc nghen con!”. Hà nghe thấy thì sẽ cất tiếng dạ thật to, rồi rướn cổ vào ô cửa sổ thông gió của bếp mà hét lên báo cho mẹ hoặc cô Hạnh. Nếu trong bếp lỡ tay múc cá ra đĩa rồi thì Hà lại lẳng lặng bưng đĩa cá đó đem cất tạm vào tủ kính, chờ xem có người khách nào vào sau ăn món đó không thì bán tiếp. Nếu đến cuối ngày mà ế ẩm, không ai mua thì đĩa cá đó sẽ thành bữa cơm chiều của mấy mẹ con, hoặc tệ hơn nữa là thức ăn bị thiu phải đổ bỏ thì cô tự trừ tiền túi bù vào sổ két. Nào có ai từng hỏi cô về một cái chỗ để cất “phiếu hủy” bao giờ!
“Thường… thường tụi em xé bỏ thùng rác luôn, hoặc là nhớ trong đầu à anh,” Hà giải thích, giọng cô bắt đầu dài ra và mang âm sắc thanh minh, một phản xạ tự nhiên của cô mỗi khi cảm thấy sự tồn tại và nỗ lực của mình đang bị nghi ngờ. “Tại quán ăn gia đình buôn bán quen miệng quen mắt rồi, khách ở đây cũng toàn là người trong xóm với dân lao động quanh đây, hổng có ai khó khăn quy củ như mấy nhà hàng lớn đâu anh. Mình làm ăn buôn bán bình dân thì mình cứ linh động một chút là êm xuôi hết á, cứng nhắc quá người ta lại thấy phiền.”
Duy ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Hà một nhịp trọn vẹn. Ánh mắt anh không hề có sự giễu cợt hay bực bội, nhưng cái vẻ thẳng thắn, rạch ròi đến mức khô khốc trong cái nhìn đó khiến lòng tự ái của Hà nhói lên đau đớn.
“Linh động mà không có điểm chốt bằng giấy tờ thì khi nhầm lẫn xảy ra, người nhận đơn miệng sẽ phải chịu trách nhiệm, hoặc hai người sẽ cùng làm một việc mà không hề hay biết,” Duy nói, giọng anh đều đều như thể đang phân tích một bài toán kỹ thuật. “Nếu không có một khay riêng để phiếu hủy, tôi đứng ở quầy sẽ không thể nào phân biệt được tờ giấy in nhiệt nào còn hiệu lực, tờ nào đã bỏ đi.”
Cảm giác bị một người mới toanh — một người vừa mới bước chân vào quán chưa đầy ba mươi phút đồng hồ — liên tục bắt bẻ, lật lại từng thói quen làm việc bấy lâu nay khiến lồng ngực Hà nghẹn ứ. Từng hơi thở của cô trở nên nông và gấp. Cô là người đã bám trụ ở góc quán này suốt bao năm trời, những ngón tay cô đã chai sần vì cầm dao chặt thịt, đôi chân cô đã mỏi nhừ vì hàng ngàn lượt chạy bàn mỗi trưa, cô nhớ từng sở thích ăn uống của từng người khách trong bán kính hai cây số… vậy mà người này xuất hiện, nói bằng cái giọng điềm nhiên như thể toàn bộ sự tận tụy của cô chỉ là một mớ bòng bong hỗn độn, sai trái và vô tích sự!
Hà mím chặt môi, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau. Cô định mở miệng nói thẳng rằng nếu anh thấy quán này xô bồ quá thì có thể tìm một chỗ khác quy củ hơn mà làm, thì một tiếng tắng hắng to và đục ngầu vang lên ngay ngoài ngạch cửa.
“Ủa, nay quán có thêm người mới hả cô Ba? Coi bộ nghiêm túc dữ dằn ta!”
Một người đàn ông trạc sáu mươi sáu tuổi bước vào. Ông Bình mặc một chiếc áo sơ mi cộc tay đã bạc màu, gấu áo lấm lem vài vệt dầu mỡ đen sì của nghề sửa xe máy. Dáng người ông gầy gò, hai bắp tay nổi rõ những đường gân xanh xao nhưng săn chắc, trên trán đọng một lớp mồ hôi mỏng. Ông chẳng thèm nhìn quanh xem quán xá dọn dẹp tới đâu, cứ thế bước những bước chân quen thuộc về phía góc trong cùng sát cửa sổ — chiếc bàn số bảy có một bên chân bị kênh, dưới đáy chân sắt đang phải chêm một miếng nhựa màu đỏ gấp làm tư cho khỏi bập bập mỗi khi có người tì tay.
Nhìn thấy ông Bình, Hà như vớ được một chiếc phao cứu sinh giữa dòng nước xoáy ngột ngạt. Cô lập tức nở một nụ cười rạng rỡ, giọng nói lấy lại vẻ đon đả vốn có:
“Dạ, chú Bình bữa nay tới sớm dữ vậy chú! Bữa nay mẹ con có làm món sườn non rim mặn ngọt với canh cải bẹ xanh nấu tôm khô nè chú, ngon dữ lắm.”
Ông Bình kéo chiếc ghế nhựa ra, tiếng chân ghế cọ vào mặt nền gạch men phát ra một âm thanh *ken két* chói tai. Ông đặt chiếc nón bảo hiểm cũ mèm lên mặt bàn, ngước mắt nhìn sang Duy — người lúc này vẫn đang đứng cạnh quầy thu ngân với cuốn sổ tay A6 và cây bút kim loại cầm ngay ngắn trên tay. Ông Bình bật cười khà khà, tiếng cười sảng khoái của một người già sống phóng khoáng:
“Chú ghé sớm đặng lót dạ miếng cơm rồi còn chạy về coi cái tiệm vá xe cho thằng cháu, trưa nay nó đi thi bằng lái xe máy ngoài bãi. Nãy giờ chú đứng gạt chân chống ngoài cửa sổ, nghe cậu em đây đứng hỏi han dữ dội quá nghen! Hỏi ai chốt đơn, hỏi phiếu hủy để ở đâu… Chà chà, hỏi kỹ lưỡng như thể đang chuẩn bị kiểm kê từng hột lúa củ khoai trong bồ của bà Lan vậy đó! Quán cơm bình dân ở cái xóm Vườn Me này chớ bộ ngân hàng nhà nước hay cơ quan hành chính sao mà mặt mày căng thẳng dữ vậy mậy?”
Hà lén liếc mắt nhìn Duy, bụng thầm nghĩ có lẽ sự bẽ bàng này sẽ khiến anh ta bớt cái vẻ trịnh trọng không đúng chỗ đi. Thế nhưng, Duy không hề tỏ ra lúng túng, gương mặt anh phẳng lặng không một gợn sóng. Anh không hề đỏ mặt, cũng không hề tỏ ra khó chịu vì lời bông đùa của người khách già. Duy quay hẳn người về phía bàn số bảy, hơi cúi đầu chào ông Bình một cách lịch sự, nhã nhặn nhưng giữ một khoảng cách vô cùng chừng mực:
“Dạ chào chú. Cháu hỏi kỹ từ đầu để chút nữa khách vô đông, cháu không mang nhầm cơm của chú cho người khác, và không để chú phải ngồi đợi lâu trễ giờ coi tiệm thôi ạ.”
Câu trả lời ngắn gọn, khúc chiết, không thừa không thiếu một lời và hoàn toàn đánh trúng vào cái lý của người đi ăn trưa. Nụ cười trêu chọc trên gương mặt đầy nếp nhăn của ông Bình bỗng nhiên sượng lại một nhịp. Ông chớp chớp mắt, nhìn sâu vào đôi mắt điềm tĩnh của người thanh niên trẻ tuổi, rồi bất giác gật đầu cái rụp, giọng ông dịu xuống hẳn:
“Ờ… nghe mày nói vậy kể ra cũng chí lý đó chớ! Thôi được rồi, cho chú một đĩa sườn rim nghen cô Ba. Dặn bà Lan lựa cho chú miếng nào thịt mềm mềm chút xíu nghen con, dạo này cái răng hàm bên trái của chú nó trở chứng, nhai đồ dai hổng nổi.”
“Dạ, chú đợi con một chút xíu nhen, có liền cho chú!” Hà đáp nhanh, rồi quay sang nhìn Duy.
Duy đã cúi đầu xuống, bàn tay cầm bút lướt nhẹ trên mặt giấy kẻ ô. Bằng những nét chữ đều đặn, ngay ngắn, anh ghi vào cuốn sổ: *Bàn số bảy - 1 sườn rim mềm*. Không hề có một động tác thừa, không một nét vẽ nguệch ngoạc.
Mười một giờ trưa ập đến như một cơn triều cường quen thuộc và hung hãn.
Cái oi nồng của buổi sáng nhanh chóng bị đốt cháy bởi cái nắng chói chang giữa trưa. Ngoài đường Vườn Me, tiếng còi xe máy rộ lên từng chập inh ỏi, tiếng động cơ gầm rú hòa lẫn tiếng bước chân rầm rập của khách văn phòng, nhân viên tiếp thị và thợ công trình từ các con hẻm lân cận đổ xô vào quán. Không khí bên trong quán Cơm Nhà Bà Lan đặc quánh lại, ngột ngạt dưới làn hơi nóng bốc lên từ những khay thức ăn bằng inox và mùi dầu mỡ chiên xào phả ra từ ô cửa bếp. Chiếc máy in nhiệt ở quầy thu ngân bắt đầu bước vào cơn co giật quen thuộc của nó, phát ra những chuỗi âm thanh liên tục: *Rè… rè… rè… cạch! Rè… rè… rè… cạch!*
Hà lập tức bị cuốn vào vòng xoáy cuồng loạn của công việc như một con thiêu thân. Đôi bàn tay cô thoăn thoắt bấm phím trên màn hình cảm ứng đã mờ dấu số, một tay kia giật phắt từng đoạn giấy in nhiệt mỏng dính vừa nhè ra khỏi khe máy, miệng liên tục rướn lên hô to vượt qua tiếng ồn ào của đám đông:
“Bếp ơi, một đùi gà chiên nước mắm cho bàn ba! Hai ba chỉ luộc cà pháo mang về!”
Phía sau bức rèm nhựa, cô Hạnh — người phụ bếp lâu năm của gia đình — mồ hôi nhễ nhại chảy dài trên má, hai cánh tay thoăn thoắt xới từng muỗng cơm đầy ắp đổ vào những chiếc hộp xốp trắng. Bà Lan, dù một bên đầu gối đã sưng tấy đến mức mỗi bước đi đều run rẩy, vẫn phải cắn răng đứng tựa hông vào góc bàn bếp bằng gỗ, tay cầm đôi đũa dài liên tục lật từng miếng sườn trên chảo gang lớn. Cứ mỗi lần xoay người gắp thịt, lưng bà lại còng rạp xuống, gương mặt nhăn lại vì đau đớn.
Nhìn thấy dáng vẻ khập khiễng của mẹ qua khe cửa thông gió, lồng ngực Hà như có một ngọn lửa thiêu đốt. Cô xót xa đến quặn lòng. Càng thương mẹ bao nhiêu, Hà lại càng muốn đôi tay mình làm nhanh hơn bấy nhiêu, muốn giải quyết cho thật mau cái đống đơn hàng dồn dập này để mẹ cô có thể sớm rời khỏi cái chảo dầu hừng hực kia mà ngồi xuống xoa dầu cho cái chân đau.
Chính trong cái trạng thái vội vã, cuống cuồng và đầy áp lực ấy, bản năng làm việc lâu năm lại trỗi dậy một cách mù quáng trong Hà: làm nhanh bằng mắt, đoán đơn bằng trí nhớ, giải quyết mọi việc bằng sự linh cảm.
“Đơn anh Tuấn bên xây dựng, bốn mươi lăm ngàn, lấy ba suất cơm trưa!” Một người giao hàng mặc áo khoác công nghệ ướt đẫm mồ hôi bước xộc vào cửa, chìa thẳng màn hình điện thoại đang sáng lóa vào trước mặt Hà.
Hà chỉ kịp liếc mắt qua màn hình, thấy hiện lên chữ “Tuấn” cùng con số ba suất cơm, liền với tay giật ngay một mẩu giấy in nhiệt vừa rơi ra khỏi máy, quay ngoắt người sang chiếc bàn đóng gói bên cạnh:
“Cô Hạnh ơi, ba suất thịt kho trứng cho anh Tuấn mang đi nhen cô!”
Nói đoạn, Hà với tay kéo phắt ba chiếc hộp xốp trắng trên kệ xuống, ngón tay bật nắp hộp kêu *tanh tách*, tay kia vớ lấy chiếc muỗng xới cơm to bản định xúc cơm. Đúng lúc đó, mắt cô lại vô tình quét qua mặt quầy thu ngân. Nơi đó, một mẩu phiếu in nhiệt khác nằm lẫn lộn giữa mớ cuộn giấy thừa và mấy túi nilon đựng canh. Hà liếc thấy dòng chữ đen in nhiệt mờ mờ trên mẩu giấy thứ hai: “Tuấn - 3 thịt kho”.
Một phản xạ quen thuộc lập tức nhảy múa trong đầu cô. Tay cô đã vô thức vươn ra chộp lấy thêm ba chiếc hộp xốp nữa, miệng lẩm bẩm một cách vội vã:
“Ủa, anh Tuấn bên xây dựng gọi thêm ba hộp nữa hả ta? Chắc bữa nay bên đó có thợ tăng ca…”
“Hà, dừng lại một chút.”
Một bàn tay rắn rỏi, dứt khoát đưa ngang ra, chặn đứng mép chiếc hộp xốp mà Hà vừa định mở nắp.
Duy đứng sừng sững bên cạnh bàn đóng gói tự lúc nào. Gương mặt anh vẫn không một giọt mồ hôi, ánh mắt sắc bén và bình tĩnh lạ thường nhìn xoáy vào hai mẩu giấy in đang nằm cách nhau vài gang tay trên mặt quầy.
Hà giật thót mình, một cơn bực bội dữ dội bùng lên trong lồng ngực. Mồ hôi trên trán cô túa ra cay xè hai mắt. Giữa lúc nước sôi lửa bỏng, khách hàng thì đứng vây kín trước mặt, tiếng gọi món réo rắt bên tai, vậy mà người thanh niên này lại đưa tay cản trở công việc của cô! Giọng Hà gắt gỏng, run rẩy vì giận dữ:
“Gì vậy anh Duy? Đang đông khách nghẹt thở nè anh không thấy sao? Để yên cho em làm cho kịp giao người ta, thợ công trình nghỉ trưa có ba mươi phút à, giao trễ người ta chửi em chết!”
Duy không hề rụt tay lại, cũng không hề bị sự cáu kỉnh và lớn tiếng của cô làm cho dao động. Anh dùng bàn tay còn lại nhấc cả hai mẩu phiếu in nhiệt lên, đặt chúng nằm song song ngay trước tầm mắt của Hà, rồi dùng đầu ngón tay trỏ gõ nhẹ từng nhịp dứt khoát vào góc trên cùng của từng mẩu giấy:
“Hà nhìn kỹ lại giờ in và mã số trên hai phiếu này đi.”
Giọng Duy vang lên, không hề cao giọng nhưng từng chữ rành rọt át đi cả tiếng xèo xèo của chảo mỡ sau bếp:
“Phiếu này in lúc mười một giờ mười lăm phút, mã đơn là 042, tên khách hàng lưu trên hệ thống là ‘Tuấn Xây Dựng’, số lượng ba suất thịt kho trứng. Còn mẩu phiếu này in lúc mười một giờ hai mươi mốt phút, mã đơn là 048, tên khách là ‘Tuấn - thợ sơn’, gọi một suất thịt kho trứng và hai suất cá ba sa kho tộ. Hai người này chỉ trùng tên Tuấn, nhưng mã đơn khác nhau hoàn toàn, giờ in cách nhau sáu phút, và món ăn họ yêu cầu cũng hoàn toàn khác nhau.”
Hà sững sờ. Đôi bàn tay đang cầm muỗng xới cơm của cô đông cứng lại giữa không trung.
Ánh mắt cô dán chặt vào hai mảnh giấy nhiệt mỏng tang đang nằm cạnh nhau. Từng con số, từng dòng chữ đen nhạt hiện lên rõ ràng, chuẩn xác đến tàn nhẫn. Đúng là hai đơn hàng hoàn toàn khác nhau! Một bên là ba phần thịt kho của đội thợ xây, còn một bên là đơn cơm của một người thợ sơn chỉ lấy một thịt và hai cá.
Nếu ban nãy Duy không đưa tay chặn ngang nắp hộp xốp lại, theo thói quen suy đoán và quán tính vội vã của mình, cô đã múc một mạch sáu hộp cơm thịt kho trứng. Quán Cơm Nhà Bà Lan sẽ dư ra hai hộp thịt kho mà chẳng ai nhận, trong khi người thợ sơn tên Tuấn kia — người có lẽ đang ngồi đợi cơm ở bàn số bốn — sẽ phải chờ dài cổ trong đói bụng vì thiếu mất hai phần cá ba sa. Và rồi chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo? Người khách sẽ nổi giận, người giao hàng sẽ cằn nhằn, cô lại phải rối rít cúi đầu xin lỗi, mẹ cô lại phải khập khiễng chạy ra dỗ dành, và cuối buổi trưa, chính Hà sẽ lại phải tự móc tiền túi ra để bù vào chi phí của hai suất thịt kho bị lãng phí do sự bất cẩn của mình.
Cổ họng Hà khô khốc, đắng ngắt. Một cảm giác nhẹ nhõm vì vừa thoát khỏi một sai lầm quen thuộc ùa đến, nhưng ngay sau đó, một làn sóng tủi thân, ngượng ngùng và lòng tự ái bị tổn thương dâng tràn lên, làm cay xè sống mũi cô.
Duy nhẹ nhàng đặt hai mẩu phiếu xuống mặt bàn, giọng anh vẫn phẳng lặng, không hề có chút mỉa mai nhưng từng lời nói ra lại như một mũi kim châm vào da thịt:
“Nếu vừa rồi Hà làm theo quán tính, quán sẽ lãng phí hai suất cơm thịt kho vì múc ra rồi không ai lấy ngay được, thịt sẽ nguội và khô. Trong khi đó, bàn số bốn đang đợi cá ba sa sẽ bị trễ thêm ít nhất mười phút. Giờ cao điểm thế này, chỉ cần chậm một đơn hàng là toàn bộ dây chuyền đóng gói và phục vụ phía sau sẽ bị nghẽn lại hết.”
Hà cắn chặt môi dưới, cắn mạnh đến mức cảm nhận được vị mằn mặn nơi khóe miệng. Cô muốn mở miệng nói một câu cảm ơn cho phải phép, nhưng những từ ngữ ấy nghẹn ứ lại nơi cuống họng, nặng trĩu. Cô cảm thấy bản thân mình vừa bị bóc trần sự cẩu thả, sự tùy tiện bấy lâu nay ngay trước mặt một người hoàn toàn xa lạ. Cô vừa muốn khóc vì xấu hổ, vừa thấy ấm ức khôn cùng vì Duy nói quá đúng — đúng đến mức cô không thể tìm ra một lý do, một cái cớ nào để chống chế hay biện minh cho sự vội vàng của mình.
“Em… em biết rồi,” Hà lí nhí trong miệng, vội vã quay mặt đi hướng khác để che giấu viền mắt đang đỏ hoe của mình. “Cảm ơn anh đã nhắc.”
Duy không nói thêm một lời nào nữa. Anh không hề tỏ ra đắc thắng hay tỏ vẻ kẻ cả của một người vừa chứng minh mình đúng. Anh bình thản cầm lấy mẩu phiếu mã số 048, xoay người bước lại ô cửa sổ bếp, cất giọng rõ ràng với cô phụ bếp:
“Cô Hạnh ơi, cho cháu lấy hai phần cá ba sa với một phần thịt kho vô ba cái hộp này nghen cô.”
Cơn lốc giờ cao điểm buổi trưa kéo dài dằng dặc, như vắt kiệt từng chút sức lực cuối cùng của những người trong quán, mãi cho đến gần một giờ ba mươi chiều mới bắt đầu hạ nhiệt.
Những đợt khách ồn ào thưa dần rồi dứt hẳn. Lòng đường Vườn Me bên ngoài cũng chìm vào cái im ắng ngột ngạt của buổi trưa hè. Những chiếc bàn inox trong quán giờ đây trơ trọi, loang lổ những vết nước canh khô lại, những mẩu xương vụn và vô số khăn giấy lau miệng vo tròn nằm lăn lóc dưới chân bàn. Bà Lan lúc này đã kiệt sức hoàn toàn. Đôi chân không còn gượng nổi nữa, bà phải nhờ cô Hạnh dìu vào góc giường nhỏ phía sau kho hàng để nằm duỗi thẳng chân ra. Thỉnh thoảng, tiếng thở dài nặng nhọc, mệt mỏi của bà lại lọt qua khe cửa gỗ ép, nghe não nề cả gian nhà. Cô Hạnh cũng nhanh chóng tháo chiếc tạp dề ướt sũng, dọn dẹp sơ qua bồn rửa chén đầy ắp rồi xin phép ra về sớm để kịp giờ đưa người cha già đi khám bệnh ở bệnh viện quận.
Không gian quán cơm rộng lớn bỗng chốc rơi vào sự tĩnh lặng mệt mỏi. Trong quán lúc này chỉ còn lại Hà và Duy.
Hà ngồi thụp xuống sau chiếc quầy thu ngân, lưng dựa vào góc tường ẩm mốc để tìm một điểm tựa cho bờ vai đang mỏi nhừ. Đôi bàn tay cô run run đếm lại từng cọc tiền lẻ bết dính dầu mỡ trong ngăn kéo nhôm. Đôi chân cô tê dại sau hơn bốn tiếng đồng hồ đứng liên tục không một phút nghỉ ngơi. Chiếc đồng hồ tròn treo trên vách tường nhích từng nhịp tích tắc khô khốc, kim ngắn chỉ vào số một, kim dài chỉ đúng số mười một: một giờ năm mươi lăm phút chiều.
Tiếng bước chân từ phía nhà vệ sinh bước ra đều đặn. Duy xuất hiện. Anh đã cởi chiếc tạp dề màu xanh đen của quán, gấp lại ngay ngắn làm tư rồi treo phẳng phiu lên chiếc móc sắt gắn trên tường. Chiếc áo sơ mi sẫm màu của anh vẫn cài cúc ngay ngắn đến tận cổ, không một vệt bẩn, phẳng phiu hệt như lúc anh bước chân vào quán hồi chín giờ ba mươi sáng. Anh đeo chiếc ba lô vải dù sẫm màu lên một bên vai, tay cầm cuốn sổ tay A6 bước lại gần quầy thu ngân.
“Hà này.”
Hà giật mình ngẩng đầu lên, gương mặt bơ phờ lộ rõ nét kiệt sức: “Dạ, anh Duy cần gì hả anh?”
Duy đưa tay lên nhìn chiếc đồng hồ dây da trên cổ tay trái, rồi nhìn thẳng vào mắt Hà, giọng nói dứt khoát, rành rọt không một chút ngập ngừng:
“Ca làm việc hôm nay của tôi kết thúc lúc hai giờ chiều. Theo thỏa thuận lúc sáng với bác Lan, tôi làm ca trưa từ chín giờ rưỡi đến mười bốn giờ. Bây giờ là một giờ năm mươi lăm. Chiều nay tôi có việc riêng, đúng hai giờ tôi phải rời khỏi quán. Hà xác nhận giùm tôi ai là người tiếp nhận bàn giao ca này?”
Hà ngơ ngác nhìn Duy, đôi mắt mở to như không thể tin vào những gì mình vừa nghe thấy.
Ở cái quán Cơm Nhà Bà Lan này, suốt bao nhiêu năm qua, cái khái niệm “hết ca làm việc” chưa bao giờ tồn tại một cách rạch ròi, sòng phẳng đến mức tàn nhẫn như vậy. Những người từng làm việc ở đây — từ cô Hạnh phụ bếp, anh Khải giao hàng cho tới chính bản thân Hà — hễ cứ nhìn ra ngoài quán thấy còn hai ba cái bàn chưa lau, thấy trong bồn còn một thau muỗng đũa chưa rửa, hay thấy vài ba người khách quen còn ngồi nán lại uống trà đá tâm tình, thì đều mặc nhiên xắn tay áo ở lại làm cho xong xuôi hết mọi thứ rồi mới tính đến chuyện dắt xe ra về. Đó là cái nếp sống, cái thói quen “tình nghĩa” mà mẹ cô luôn nhắc nhở. Việc Duy đứng đây, đúng một giờ năm mươi lăm phút xách ba lô lên vai và yêu cầu “tiếp nhận bàn giao ca” khiến Hà cảm thấy một sự xa lạ đến sững sờ, thậm chí trong lòng cô trỗi dậy một cảm giác tức tối vì thấy anh quá đỗi lạnh lùng và vô tình.
“Ủa… nhưng mà ngoài kia còn hai cái bàn chưa lau xong kìa anh,” Hà buột miệng nói, ngón tay cô chỉ về phía dãy bàn inox còn vương vãi khăn giấy và nước canh. “Với lại đống muỗng đũa trong bồn rửa chén cô Hạnh mới tráng sơ qua thôi, chưa ai lau khô để cắm vô ống kìa. Anh không phụ em làm cho xong hết luôn rồi hãy về? Mẹ em đang đau khớp nằm liệt giường trong kia, một mình em làm sao dọn dẹp xuể hết đống này trước ba giờ chiều…”
Duy không hề né tránh ánh mắt đầy vẻ trách móc của cô, nhưng đôi chân anh vẫn đứng vững chãi, không hề có một động tác nào cho thấy anh có ý định hạ chiếc ba lô trên vai xuống.
“Tôi được thuê làm việc theo giờ, từ chín giờ rưỡi đến hai giờ chiều, với mức lương tính đúng theo khung giờ đó,” Duy nói, từng chữ nhả ra đều đặn, chậm rãi nhưng mang một sức nặng không thể lay chuyển. “Việc dọn dẹp sau ca nếu không nằm trong thỏa thuận ban đầu thì phải được thông báo trước để tôi sắp xếp thời gian biểu cá nhân. Chiều nay tôi có buổi học kỹ thuật điện dân dụng bắt đầu lúc ba giờ ở quận bên cạnh. Từ đây chạy xe qua đó mất ít nhất ba mươi phút, tôi cần mười lăm phút chuẩn bị tài liệu và kiểm tra xe cộ. Tôi không thể ở lại trễ hơn hai giờ được.”
Duy dừng lại một nhịp ngắn. Anh nhìn vẻ mặt sượng sùng, bàng hoàng xen lẫn sự bất lực hiện rõ trên khóe mắt của Hà, rồi bổ sung thêm một câu, âm lượng có phần mềm mỏng hơn đôi chút nhưng nguyên tắc thì không hề suy suyển:
“Nếu quán cần người làm thêm giờ để dọn dẹp sau ca trưa, ngày mai Hà hoặc bác Lan có thể trao đổi lại để điều chỉnh hợp đồng làm việc và tính thêm tiền công theo giờ phụ trội. Nhưng hôm nay, ca làm việc của tôi kết thúc lúc hai giờ. Tôi cần bàn giao lại toàn bộ số tiền mặt tôi đã trực tiếp thu trong ca sáng và tình trạng các bàn còn khách để Hà nắm rõ.”
Hà ngồi chết lặng trên chiếc ghế xoay bọc nỉ đã rách mép, để lộ lớp mút xốp ố vàng bên trong.
Một cảm giác hụt hẫng, cay đắng và giận dữ vô cớ trào dâng trong lồng ngực cô. Cô muốn đứng bật dậy, muốn chỉ tay vào mặt anh mà trách rằng anh là một kẻ tính toán chi li từng hào từng phút, một kẻ không có chút tình người, thấy người ta hoạn nạn, thấy mẹ già đau ốm nằm rên rỉ phía sau mà nỡ lòng nào quay lưng bỏ về đúng giờ như một cỗ máy vô tri. Thế nhưng, khi nhìn thẳng vào dáng đứng thẳng thớm, ánh mắt đàng hoàng, ngay thẳng và nghe những lý lẽ không thể bắt bẻ của Duy, cơn giận trong lòng Hà bỗng nhiên chùng xuống, nhường chỗ cho một sự thật trần trụi và cay đắng đến nghẹt thở.
Duy không hề làm gì sai cả. Anh đã đến đúng chín giờ ba mươi sáng như đã hẹn. Anh làm việc nghiêm túc, tập trung suốt bốn tiếng rưỡi đồng hồ. Anh đã dùng sự cẩn trọng của mình để ngăn chặn cho cô một vụ nhầm lẫn đơn hàng tai hại có thể khiến cô mất đứt một buổi tiền công. Và bây giờ, khi đồng hồ điểm hai giờ chiều, anh có toàn quyền rời khỏi nơi này để bước tiếp vào cuộc sống riêng của mình, để đi học, để theo đuổi tương lai của anh.
Chỉ có cô — người con gái luôn nói “dạ được”, “dạ không sao đâu” với tất cả mọi người trên đời này — mới là người đang có vấn đề. Cô luôn sẵn sàng gánh thêm việc của anh trai khi anh ta say xỉn không về phụ quán, luôn gánh thêm phần việc của người làm công khi họ xin về sớm, luôn nhẫn nhịn chịu đựng sự thất thường của khách hàng, và tự biến bản thân mình thành một cái thùng chứa vô tận cho mọi sự hỗn độn, quá tải của gia đình này. Cô tự trói mình vào trách nhiệm, rồi lại ấm ức khi người khác không chịu để bị trói giống như cô.
Hà nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng, cố gắng điều hòa lại nhịp thở để giọng nói của mình không bị run rẩy:
“Dạ… em hiểu rồi. Tiền thu được anh cứ để lên mặt bàn giùm em. Bàn giao xong rồi thì anh về đi cho kịp giờ học bên quận kia.”
Duy gật đầu. Anh đặt xấp tiền lẻ đã được phân loại cẩn thận theo từng mệnh giá — tiền năm mươi ngàn ra năm mươi ngàn, hai mươi ngàn ra hai mươi ngàn, các góc tiền đều được vuốt phẳng phiu — xuống mặt bàn gỗ của quầy thu ngân. Sau đó, anh mở cuốn sổ tay A6, xé một mảnh giấy nhỏ đã ghi sẵn những dòng chữ ngắn gọn, rõ ràng: *Tiền thu ca sáng: 840.000đ. Bàn số năm còn một khách uống trà đá chờ bạn.* Anh đặt mẩu giấy ngay ngắn đè lên trên cọc tiền.
Xong xuôi, anh không lập tức quay lưng bước đi ngay.
Duy đứng yên tại chỗ, đưa mắt quan sát toàn bộ khu vực quầy thu ngân một lượt. Trên mặt bàn gỗ ép bừa bộn đủ thứ đồ vật: những cuộn giấy in nhiệt đã dùng hết bị vứt lăn lóc, những cây bút bi gãy nắp nằm xiêu vẹo, tăm xỉa răng rơi vãi, và cả những tờ hóa đơn cũ bị vo tròn thành những cục giấy nhăn nhúm nằm rải rác cạnh khay tiền. Đôi lông mày của anh lại khẽ nhíu lại.
Duy quay người, bước sang chiếc kệ nhựa ba tầng màu đỏ kê sát vách tường phía sau lưng quầy — nơi vốn dùng để nhét bừa bãi những bịch nilon đựng rác, những bó dây thun lòng thòng và hộp tăm dở. Anh đưa tay với vào góc trong cùng của tầng thứ hai, lấy ra một chiếc khay nhựa màu xanh lá cây hình chữ nhật. Đó là loại khay nhựa nhỏ xíu, sâu lòng chừng hai lóng tay, vốn là khay đựng khăn giấy ướt khuyến mãi của một hãng nước ngọt từ mấy năm trước nhưng đã bị bỏ xó, phủ một lớp bụi mỏng xám xịt.
Duy cầm chiếc khay lên, lấy vạt áo sơ mi cẩn thận lau sạch lớp bụi bám trên thành và đáy khay. Đoạn, anh bước lại quầy thu ngân, đặt chiếc khay nhựa màu xanh ngay ngắn vào khoảng trống bên tay phải của chiếc máy in nhiệt, thẳng hàng với mép bàn.
Hà ngơ ngác nhìn theo từng động tác tỉ mỉ của anh, không nhịn được tò mò: “Anh làm gì vậy?”
Duy đặt một đầu ngón tay lên mép chiếc khay nhựa màu xanh, ngước mắt nhìn thẳng vào Hà, ánh mắt anh nghiêm nghị như một người thầy đang vạch ra một lằn ranh kỹ thuật:
“Hôm nay trong ca sáng, tôi đếm được có ít nhất ba lần phiếu in nhiệt bị gió từ quạt trần thổi bay xuống đất, và có hai lần phiếu đã tính tiền xong bị để lẫn lộn với phiếu mới in đang chờ bếp làm món. Suýt chút nữa thì xảy ra chuyện trùng đơn nghiêm trọng của hai người khách cùng tên Tuấn ban nãy.”
Anh chỉ ngón tay vào lòng chiếc khay nhựa rỗng:
“Từ ngày mai, tôi đề nghị chúng ta thống nhất một quy tắc thế này: Mọi phiếu in nhiệt chạy ra từ máy này, sau khi khách đã trả tiền xong và đơn hàng đã được giao hoàn tất, bắt buộc phải bỏ ngay vào trong chiếc khay nhựa màu xanh này. Bất kỳ phiếu nào còn nằm ngoài mặt bàn, dù ở vị trí nào, đều có nghĩa là bếp chưa làm xong hoặc tiền chưa được thu. Và nguyên tắc là: ai trực tiếp thu tiền của khách, người đó phải tự tay nhặt tờ phiếu bỏ vào khay này, không nhờ người khác làm thay.”
Hà ngây người nhìn chiếc khay nhựa màu xanh lá cây.
Nó nằm đó, nhỏ bé, cũ kỹ, trầy xước vài đường nơi góc cạnh, nhưng lại vô cùng nổi bật giữa một bãi chiến trường bừa bộn những giấy tờ và tiền lẻ trên mặt quầy thu ngân.
Đó là một đề nghị đơn giản đến mức hiển nhiên. Nó không đòi hỏi quán phải bỏ ra thêm một đồng chi phí nào để đầu tư phần mềm đắt đỏ. Nó cũng không đòi hỏi những lời hứa hẹn đao to búa lớn hay những cuộc họp gia đình căng thẳng. Nó chỉ là một chiếc khay nhựa cũ được nhặt ra từ đống rác rưởi lãng quên, được lau sạch và đặt đúng vào vị trí cần thiết để phân định một ranh giới rõ ràng, rành mạch giữa cái “đã hoàn thành” và cái “chưa hoàn thành”.
“Được không Hà?” Duy hỏi lại, giọng anh trầm xuống một tông, kiên nhẫn chờ đợi một câu trả lời thực chất chứ không phải một cái gật đầu đãi bôi cho xong chuyện.
Hà nhìn chiếc khay nhựa, rồi ngước lên nhìn người thanh niên đối diện.
Cơn giận dữ, nỗi ấm ức và lòng tự ái bốc đồng trong lòng cô nãy giờ bỗng chốc lắng dịu xuống, tan biến như làn khói mỏng. Thay vào đó, một cảm giác trật tự mơ hồ, một sự an tâm kỳ lạ vừa mới nhen nhóm bên trong mớ hỗn độn thường nhật của cuộc đời cô. Lần đầu tiên sau nhiều năm làm việc quần quật, cô nhìn thấy một lối thoát khả dĩ khỏi cái vòng luẩn quẩn của những sai sót và đền bù.
Hà khẽ gật đầu. Lần này, giọng nói của cô không còn mang âm sắc đon đả của một người bán hàng cố làm hài lòng thiên hạ, mà trở nên ngắn gọn, dứt khoát và chắc nịch:
“Được. Từ mai, phiếu chốt tiền bỏ vô đây.”
Khóe miệng Duy khẽ nhếch lên — một nụ cười kín đáo, vừa vặn, chỉ thoáng hiện qua trong tích tắc rồi biến mất vào vẻ điềm tĩnh thường ngày. Anh khẽ nghiêng đầu chào cô:
“Cảm ơn Hà. Mai tôi tới đúng chín giờ rưỡi.”
Duy quay lưng, bước những bước sải dài dứt khoát ra khỏi bậc tam cấp của quán. Bóng dáng cao gầy, chiếc áo sơ mi sẫm màu và chiếc ba lô vải của anh nhanh chóng hòa vào dòng người tấp nập, hối hả ngoài đường Vườn Me, rồi biến mất sau khúc quanh râm mát của con hẻm.
Hà đứng lại một mình bên quầy thu ngân vắng lặng.
Không gian quán cơm lúc hai giờ chiều chỉ còn lại tiếng vo ve đều đặn, rầu rĩ của chiếc quạt tường cũ kỹ gắn trên cột nhà, và mùi khói sườn rim nồng đượm vẫn còn vương vấn trên những thanh xà gồ gỗ phía trên cao. Cô đưa bàn tay thô ráp của mình ra, chạm nhẹ những đầu ngón tay lên vành chiếc khay nhựa màu xanh. Lớp nhựa vẫn còn vương chút hơi ấm nhè nhẹ từ bàn tay của Duy.
Một thỏa thuận nghiệp vụ đầu tiên đã được xác lập một cách lặng lẽ nhưng dứt khoát giữa hai con người xa lạ. Thế nhưng, khi Hà phóng tầm mắt nhìn ra khoảng sân trước quán — nơi những tờ giấy ghi nhớ viết tay nguệch ngoạc, những mẩu giấy dán ghi nợ của khách quen vẫn còn dán rải rác, lem nhem trên vách kính tủ thức ăn — một câu hỏi đầy bất an và hoài nghi chợt hiện lên trong tâm trí cô:
Liệu chiếc khay nhựa mới có đủ sức ngăn được những đơn hàng nhận vội bằng miệng vào ngày hôm sau?