Hẹn Nhau Ở Bàn Số BảyC.10 / 26
Chương 10

Món mềm không cần món riêng

Bốn giờ ba mươi chiều, tiếng dép lê lẹp xẹp quen thuộc của ông Bình dừng lại trước tấm bảng phấn ghi món trong ngày, kèm theo một tiếng thở dài thườn thượt.

Hà ngẩng lên từ sau quầy thu ngân bằng gỗ ép đã sờn mép. Nắng muộn của một ngày tháng tư oi nồng xiên qua những nan cửa sổ lá sách sơn xanh đã tróc vẩy, rọi một vệt dài vàng sẫm như mật mía cháy lên nền sàn gạch hoa cổ lỗ đã bạc gần hết hoa văn. Trong quán lúc này chỉ còn tiếng vo vo đều đặn, hơi gắt gỏng của chiếc quạt tường số hai đang quay tuốt năng qua lại, phả ra những luồng gió khô rát, cùng mùi thơm khen khét nhẹ của chảo dầu vừa được cọ rửa sạch sẽ sau ca cơm trưa. Cơn đông đúc nghẹt thở lúc mười hai giờ trưa—khi đám thợ máy của xưởng tiện bên hông ngõ, mấy cô nhân viên văn phòng chi nhánh ngân hàng và đám học trò trường cấp ba ùa vào tranh chỗ—đã rút đi từ lâu. Căn phòng ăn rộng chừng bốn mươi mét vuông giờ đây rộng rãi thênh thang nhưng lại toát lên vẻ trơ trọi, phơi ra từng vết dầu bám lâu năm trên chân tường và những vệt nước lau sàn vừa khô loang lổ.

Ông Bình đứng tì một khuỷu tay gầy guộc lên mép quầy kính. Dáng người ông cong xuống như một cành ổi khô, chiếc áo sơ mi cộc tay màu cháo lòng đã sờn cổ, vạt áo trước dính vài vệt dầu mỡ máy đen sì không bao giờ giặt sạch được. Bàn tay phải thô ráp, chai sần, những kẽ móng tay ngả màu kim loại cáu bẩn vì cả đời thọc vào xích líp xe máy đang áp chặt lấy bên má trái. Mắt ông nheo nheo, đuôi mắt hằn lên những rãnh nhăn sâu hoắm như vết nứt trên đất hạn, lướt chầm chậm qua từng dòng chữ phấn trắng nắn nót trên bảng đen: *Thịt ba rọi ram mặn — Canh mồng tơi cua đồng — Cá nục kho cà.*

— Cho chú đĩa cơm thịt ram mặn đi cô Hà, — ông Bình cất tiếng. Giọng ông hôm nay không rổn rảng vang khắp ngõ như mọi khi mà hơi ngọng nghịu, khẽ khàng, môi dưới giật nhẹ một cái giật cục như thể vừa chạm phải vết xước tấy mủ bên trong khoang miệng. — Nhưng mà này... dặn trong bếp làm mềm giùm chú nghen. Rim lại cho thiệt là rục, nêm thêm tí nước mắm đường với chan nhiều nước sốt sền sệt lên cơm như mấy lần trước mẹ cháu nấu riêng cho chú đó. Nấu mềm rục ra, đưa đầu lưỡi cái là tan liền á, chú mới nuốt nổi.

Hà khựng lại một nhịp, ngón tay đang cầm mép tờ hóa đơn khẽ dừng lại giữa không trung. Cô nhớ rất rõ những “lần trước” mà ông vừa nhắc tới.

Đó là những buổi trưa muộn, khi đồng hồ đã điểm một giờ ba mươi, mẹ cô vừa vặn tắt bếp, chiếc lưng còng vừa mới được tựa tạm vào thành ghế xếp thì ông Bình lững thững bước vào với vẻ mặt ỉu xìu, giọng nài nỉ. Thấy người quen cũ cùng xóm, bà Lan lại chép miệng, lụi hụi chống gậy đứng dậy, nhóm lại chiếc bếp than con hoặc vặn lửa nhỏ của bếp gas đôi. Bà lấy mấy miếng thịt ba rọi đã ram sẵn từ mẻ lớn, bỏ vào chiếc chảo nhôm con hoen ố, thêm chút nước dùng, thêm muỗng đường cát, rồi đứng canh lửa liu riu cả chục phút đồng hồ cho đến khi từng thớ thịt rục rã ra, mỡ tươm thành lớp sốt quánh đặc. Mẹ cô lần nào cũng bảo: *“Người già người quen cả chục năm trời, xá gì một cái chảo con hả con. Mình bớt ngủ mười phút mà người ta ăn được bữa cơm ngon lành, có mất mát đi đâu.”*

Nhưng cái giá của “một cái chảo con” ấy chưa bao giờ chỉ là mười phút. Cái giá thực sự là khớp gối thoái hóa độ ba của bà Lan phải chịu thêm một quãng đứng ráng; là dầu mỡ lại bắn thêm một lượt lên kiềng bếp vừa được lau chùi sáng bóng; là mùi khói mỡ lại bốc lên gian bếp vừa hạ nhiệt; và nhịp nghỉ trưa ngắn ngủi, quý giá giữa hai ca làm việc của cả quán bị xé vụn ra thành từng mảnh nhỏ. Để rồi đến bốn giờ chiều, khi chuẩn bị bước vào ca xế, bà Lan lại run rẩy xoa dầu nóng lên hai bên đầu gối sưng mọng, mắt trũng sâu vì thiếu ngủ.

Hà không đáp vội. Cô buông tập hóa đơn, khẽ lách người bước qua tấm bình phong gỗ ngăn cách giữa gian nhà ngoài và khu vực bếp phía sau.

Không gian bên trong bình phong hiện ra với một trật tự hoàn toàn khác lạ so với tuần trước. Chiếc bàn inox dài một mét hai vừa được Duy xoay ngang lúc đầu giờ chiều nay tạo thành một đường phân định rạch ròi, dứt khoát giữa khoảng sàn khô ráo bên ngoài và khu vực bồn rửa ướt sũng bên trong. Trên bếp gas đôi công nghiệp, hai chiếc kiềng sắt đen sì đã nguội ngắt, được úp ngược ngay ngắn trên giá inox để ráo sau khi cô Hạnh dùng búi sắt chà sạch từng mảng muội than. Đèn chụp trên bếp đã tắt ngấm, chỉ còn ánh sáng trắng le lói từ bóng đèn tuýp bên hông tường. Nồi nước dùng lớn bán trưa đã cạn trơ đáy, được cọ rửa sạch bóng và úp nghiêng trên kệ dưới. Trên mặt bàn inox lạnh tanh chỉ còn một âu nhựa trong suốt có nắp đậy, bên trong đựng chừng ba phần thịt ba rọi ram mặn đã được chia sẵn theo định lượng quy chuẩn cho ca xế chiều, nằm ngay ngắn trong ngăn mát của chiếc tủ lạnh đứng.

Hà đứng nhìn âu thịt ba rọi qua lớp cửa kính tủ lạnh chừng vài giây. Mùi thịt kho đậm đà, mùi tiêu sọ thoang thoảng sau lớp ron cao su dường như đang nhắc nhở cô về sự cám dỗ của lối mòn. Một phản xạ quen thuộc lập tức trỗi dậy trong đầu cô: *Hay là mình tự tay bật bếp lên? Lấy chiếc chảo con, cho thêm tí nước ấm, rim lại cho ông Bình một chút? Mất chừng mười phút chứ mấy, vừa chiều lòng khách ruột, vừa êm thấm không ai phải bực bội.*

Nhưng rồi ánh mắt cô chạm vào chiếc bảng theo dõi công việc bằng mica trắng được gắn chặt trên cột bê tông cạnh bếp. Dưới ánh đèn tuýp, vệt băng dính màu vàng tươi mà Duy vừa tỉ mẩn dán xuống sàn lúc trưa—đánh dấu ranh giới khu vực chuẩn bị nguyên liệu—vẫn còn sắc nét, không một vết xước. Cô nhớ lại ánh mắt mệt mỏi của mẹ sáng nay, nhớ lại lời nhắc nhở nghiêm khắc của bác sĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình ở bệnh viện quận: *“Nếu bà nhà cứ tiếp tục đứng bếp ráng từng chút một như thế này, dịch khớp tràn ra nhiều hơn thì chỉ có nước nhập viện mổ thay khớp gối nhân tạo thôi đấy.”*

Ngoại lệ một lần sẽ tự động đẻ ra ngoại lệ lần thứ hai. Và sự “dễ dãi” mang danh nghĩa nghĩa tình của cô hay của mẹ từ trước đến nay thực chất chưa bao giờ giải quyết được gốc rễ của vấn đề; nó chỉ đang âm thầm gặm nhấm sức lực của người làm bếp và phá nát kỷ luật vận hành vừa mới nhen nhóm thành hình.

Hà hít một hơi thật sâu, nén lại cảm giác ngập ngừng đang dâng lên nơi cuống họng. Cô khép nhẹ cánh tủ lạnh, quay trở lại quầy thu ngân.

Cô nhìn thẳng vào gương mặt già nua với làn da sạm đen vì nắng gió, nhìn vào những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt của người thợ sửa xe đầu ngõ. Giữ cho hai vai mình thẳng thớm, giọng Hà cất lên, mềm mại nhưng rành rọt từng từ:

— Chú Bình ơi, cơm trưa thịt ram quán con đã làm chín sẵn theo mẻ từ sáng rồi ạ. Bây giờ trong bếp cô Hạnh đã dọn sạch trơn, bếp gas cũng đã tắt lửa, úp kiềng để chuẩn bị sang ca xế chiều nên quán không thể bật lửa nấu riêng một chảo mới để rim mềm hơn cho chú được. Nếu chú ăn, con xin phép lấy đúng phần thịt ram theo định lượng này rồi hâm nóng lại trong lò vi sóng cho ấm sốt, được không chú?

Ông Bình tròn mắt nhìn Hà, ngỡ ngàng như thể vừa nghe thấy một điều vô lý nhất trần đời. Bàn tay thô ráp đang áp chặt bên má bỗng buông thõng xuống mặt quầy kính đánh *cộp* một cái:

— Ơ hay cái con bé này! Có tí thịt trong chảo mà bật cái bếp lên rim lại mấy hồi đâu cô bé? Trước giờ mẹ cháu có tính toán, so đo mấy cái chuyện con con đó bao giờ đâu! Chú chỉ cần kêu một tiếng, bà Lan bận mấy cũng lụi hụi làm cho chú liền mà.

Hà vẫn đứng yên tại chỗ, hai bàn tay đan nhẹ vào nhau đặt phía trước chiếc tạp dề màu xanh than. Cô không né tránh ánh nhìn hụt hẫng và bắt đầu có phần bực bội của ông, nhưng cô cũng kiên quyết không để sự bối rối kéo mình tụt xuống chiếc hố của lời xin lỗi vội vã như những ngày trước. Ánh mắt cô khẽ hạ xuống trang giấy đang mở của cuốn sổ cái bán hàng bìa cứng nằm ngay mép quầy thu ngân—nơi có hai dòng mực xanh nắn nót ghi tên khách nợ lẻ trong tuần:

— Dạ, mẹ con đợt này khớp gối đau nặng lắm chú, bác sĩ cấm đứng lâu nên quán bắt buộc phải đổi lại cách làm việc. Nấu mẻ nào ra mẻ đó, hết giờ là dọn bếp chứ không đứng riêng từng chảo được nữa chú à. Với lại... con cũng xin phép nhắc nhẹ chú một chút, tuần trước chú có ghé ăn hai bữa cơm trưa, tổng cộng là tám mươi nghìn đồng, chú có bảo gửi lại sau mà hôm nay chưa thấy chú tính ạ.

Hai từ “tám mươi nghìn” vừa rơi ra khỏi miệng Hà, không khí quanh quầy thu ngân bỗng chốc như đặc quánh lại. Tiếng quạt tường số hai vo vo dường như cũng trở nên chói gắt hơn.

Gương mặt sạm đen vì khói bụi và dầu nhớt của ông Bình thoáng chốc sượng sùng. Một vệt ửng đỏ lướt nhanh qua hai bên gò má gầy guộc của người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi, làm những vết nám do dầm mưa dãi nắng càng nổi rõ. Nhưng rồi rất nhanh, sự ngượng ngùng ấy biến thành một lớp vỏ bọc giận dỗi và tự ái dữ dội. Ông lùi lại nửa bước, chép miệng đánh *chách* một cái thật to, giọng gắt gỏng hẳn lên, từng chữ ném ra chan chát:

— Gớm chưa! Tám mươi nghìn của cô to quá cơ đấy! Tôi ở cái ngõ Vườn Me này từ hồi cô còn mặc quần thủng đít, ăn ở cái quán này hơn chục năm trời, có quỵt của nhà cô đồng nào bao giờ chưa mà cô phải nhắc ngay trước mặt bàn dân thiên hạ thế này?

Ông vung cánh tay gầy guộc, ngón tay trỏ đen nhẻm chỉ thẳng vào chiếc máy in nhiệt mini vừa đặt trên bàn thu ngân, rồi hất hàm sang góc bếp ngăn nắp, sáng choang phía sau tấm bình phong:

— Đúng là từ ngày có cậu nhân viên mới về, rồi vẽ ra ba cái quy định dán khắp cột, ba cái giấy tờ chia ô kẻ vạch, quán Cơm Nhà Bà Lan này đổi khác hẳn! Trở nên lạnh lùng, tính toán chi li, cạn tàu ráo máng với khách ruột! Khách ruột hơn mười năm trời ghé ăn đĩa cơm lót dạ mà xin tí nước sốt mềm cũng bị từ chối thẳng thừng, lại còn bị lôi sổ nợ ra đòi giữa ban ngày ban mặt! Được rồi, không bán thì thôi, tôi đi chỗ khác! Thiếu gì quán cơm trên cái đất Sài Gòn này mà phải đứng đây chịu nhục!

Từng lời trách móc, từng cái vung tay đập vào mắt, vào tai Hà rát buốt như tạt nước sôi.

Nếu là Hà của hai tháng trước, tim cô lúc này chắc chắn đã đập loạn xạ trong lồng ngực, mặt mày tái mét, hai tai lùng bùng vì xấu hổ và sợ hãi sự xung đột. Câu đầu tiên buột ra khỏi miệng cô trong quá khứ chắc chắn sẽ là một tràng thanh minh kèm theo sự nhượng bộ vô điều kiện: *“Dạ thôi chú Bình ơi chú đừng giận, con lỡ lời, con xin lỗi chú! Để con vào bật bếp rim ngay cho chú một chảo thật mềm nhé, còn tiền nợ bữa nào chú tiện gửi cũng được mà chú.”* Cô sẽ lại nhẫn nhịn, lại nhận hết phần sai về mình chỉ để đổi lấy một bầu không khí êm thấm giả tạo, để rồi sau đó, khi người khách quay lưng đi, cô lại ngồi thụp xuống sau quầy, ôm lấy nỗi ấm ức nghẹn đắng một mình và tự dằn vặt vì sự hèn nhát của bản thân.

Nhưng chiều hôm nay, một cảm giác khác lạ níu giữ lấy tâm trí cô.

Hình ảnh Duy ngồi bệt dưới sàn gạch trưa nay, tay cầm chiếc búa cao su gõ nhẹ vào mép chân bàn số bảy, tỉ mẩn chêm từng miếng đệm cao su đen bóng bỗng hiện về rõ mồn một. Câu nói trầm tĩnh của anh lúc ngẩng lên nhìn cô như vang vọng lại giữa gian phòng: *“Muốn người khác khi ngồi vào bàn mà cảm thấy yên tâm, thấy vững chãi... thì trước hết bản thân cái bàn đó cần phải tự tìm cho mình một chỗ đứng thật chắc chắn trên mặt đất, chứ không thể cứ nghiêng ngả, chao đảo theo từng cơn gió hay từng cái tỳ tay của người ngoài được.”*

Hà nhắm mắt lại trong nửa giây, hít một hơi thật sâu để giữ cho lồng ngực mình phẳng lặng. Khi mở mắt ra, sự hoảng hốt đã hoàn toàn biến mất. Cô không đáp trả bằng sự bực dọc, không lớn tiếng đôi co, nhưng cô cũng dứt khoát không nói một lời xin lỗi nào về việc quán đang làm đúng nguyên tắc.

Cô xoay người, với tay lấy một chiếc ly thủy tinh sạch từ trên giá úp ly. Mở nắp chiếc bình giữ nhiệt inox lớn đặt cạnh quầy, cô rót ra một dòng nước trà hoa cúc vàng óng ả, thả vào đó một viên đá lạnh trong veo cùng một lát chanh tươi mỏng tang. Mùi trà thơm dịu, thoang thoảng vị ngọt của cam thảo và cúc bạt ngàn lan tỏa ra không gian ngột ngạt.

Thay vì đứng đối diện qua tấm kính quầy thu ngân—nơi dễ tạo ra cảm giác đối đầu giữa người đòi và kẻ nợ—Hà tháo chiếc móc cài tạp dề, bước vòng qua mép quầy. Cô thong thả đi về phía chiếc bàn gỗ kê sát khung cửa sổ lá sách ở góc cuối quán.

— Chú Bình, trời bên ngoài đang hầm hập nắng, chú đi bộ từ góc ngã tư xưởng tiện lại đây chắc nóng nực lắm rồi. Chú qua bàn số bảy ngồi uống ngụm trà mát với con một chút đã ạ. Bàn này anh Duy vừa kê lại đệm cao su êm lắm, không còn kênh một ly nào đâu chú.

Thái độ điềm tĩnh đến lạ lùng cùng hành động hoàn toàn lệch khỏi quỹ đạo một cuộc cãi vã khiến cơn thịnh nộ đang bốc hỏa của ông Bình khựng lại giữa chừng. Cánh tay đang vung lên của ông chới với giữa không trung rồi hạ dần xuống. Ông đứng trơ trọi giữa khoảng trống nối giữa cửa ra vào và quầy thu ngân, hai vai so lại dưới lớp áo sơ mi sờn rách, mắt dán vào ly trà đá đang bốc một làn hơi lạnh mờ mờ trên mặt bàn gỗ bóng loáng.

Sau vài giây lúng túng, trước ánh nhìn bình thản, kiên nhẫn và không hề có chút mỉa mai nào của cô gái trẻ, cái tôi hung hãn của người thợ già bỗng chùng xuống. Ông lẹt xẹt kéo lê đôi dép tổ ong mòn vẹt, chậm rãi bước lại, kéo chiếc ghế gỗ ngồi phịch xuống bàn số bảy.

Hà nhẹ nhàng đặt ly nước trà hoa cúc trước mặt ông. Cô không đứng từ trên nhìn xuống mà kéo chiếc ghế gỗ đối diện, ngồi xuống ngang hàng với ông. Khoảng cách giữa hai người vừa vặn bằng một chiều rộng mặt bàn, nép mình bên khung cửa sổ râm mát, tách biệt hẳn với lối đi chung, tạo thành một không gian đối thoại kín đáo và chừng mực.

— Chú uống miếng nước cho hạ nhiệt đi chú, — Hà nhỏ nhẹ nói, đẩy nhẹ chiếc ly về phía ông.

Ông Bình liếc nhìn cô một cái, ngập ngừng một thoáng rồi cầm ly trà lên. Ông ngửa cổ uống một ngụm lớn như để giải tỏa cơn khát và xua đi nỗi bẽ bàng vừa trải qua. Nhưng viên đá lạnh vừa chạm vào vòm họng, ngụm nước vừa trôi qua hàm răng, cả người ông bỗng giật nảy lên. Ông vội vàng đặt mạnh chiếc ly xuống bàn làm nước trà sánh ra ngoài vài giọt, bàn tay trái theo phản xạ chụp vội lấy má, cả khuôn mặt nhăn tít lại, hàm răng rít lên một tiếng *khè* đau đớn đến run rẩy.

Hà quan sát từng cử chỉ nhỏ nhặt ấy, ánh mắt không hề rời khỏi gò má đang sưng gồ lên của ông. Cô không vội vã nhắc lại chuyện đĩa cơm ram mặn, cũng không đả động gì đến khoản nợ tám mươi nghìn. Giọng cô trầm xuống, đầy vẻ ân cần nhưng không hề có sự thương hại bề trên:

— Chú Bình ơi, trưa nay lúc chú bước vào, con đã thấy chú không cười đùa rổn rảng như mọi bữa rồi, lại cứ lấy tay ôm chặt bên má suốt. Có phải đĩa cơm thịt ram trưa nay không vừa ý chú, hay là chú đang có chuyện gì không khỏe trong người vậy chú?

Sự quan tâm bình thản, gặng hỏi đúng chỗ và hoàn toàn không mang một chút phán xét nào của Hà như một mũi kim chọc thủng lớp bong bóng tự ái đang căng cứng bên trong người đàn ông già.

Ông Bình nhìn trân trân vào ly trà đá còn dang dở. Những ngón tay thô ráp, nứt nẻ vì dầu mỡ và nước xà phòng ngâm bánh xe miết miết vào thành ly ươn ướt, vẽ thành những vệt nước ngoằn ngoèo. Sự dữ dằn, cay nghiệt lúc nãy xẹp xuống nhanh đến tội nghiệp, để lộ ra trên gương mặt ông một vẻ mệt mỏi, bất lực và kiệt quệ của tuổi già—thứ cảm giác mà ngày thường ông luôn cố tình giấu kín sau những câu bông đùa tếu táo và cái giọng oang oang ngoài vỉa hè.

Ông buông một tiếng thở dài thườn thượt, âm thanh nghe não nề như tiếng gió lọt qua khe cửa hẹp:

— Khổ lắm cô Hà ơi... Có phải chú cố tình kiếm chuyện làm khó làm dễ gì cháu hay chê bai cơm quán mình đâu. Mà là... chiếc răng hàm dưới bên trái của chú, nó lung lay dữ dội cả tuần nay rồi.

Hà ngồi yên, hai tay đặt trên đùi, chăm chú lắng nghe từng lời mà không hề ngắt nhịp.

— Mấy hôm trước nó mới chỉ ê ẩm âm ỉ, chú ráng nhai dồn hết qua bên phải, — ông Bình đưa ngón tay trỏ run rẩy chỉ vào khóe môi đang giật giật, giọng chùng hẳn xuống, rời rạc và cay đắng. — Đến hôm qua thì nó nhức buốt lên tận thái dương, mưng mủ đỏ lòm cả nướu rồi. Ban đêm nằm trằn trọc không tài nào chợp mắt nổi. Giờ nhai phải cọng rau muống hơi dai hay cắn trúng miếng thịt ram giòn một cái là nó giật nảy đom đóm mắt, đau điếng người luôn cô à. Mà ngặt nỗi... mình già rồi, bệnh tật ốm đau thì ngại nói ra cho người ta biết. Ai đời đàn ông sáu mươi mấy tuổi đầu, thân dài vai rộng, đi ăn đĩa cơm bụi mà lại mở miệng bảo: *“Bà ơi tôi đau răng không nhai nổi, bà băm nhỏ thịt ra nấu cháo loãng cho tôi”*... Nghe nó tủi, nó hèn, nó yếu đuối làm sao ấy cô. Nên chú mới viện cớ đòi rim mềm nhiều nước sốt để chan đẫm cơm rồi nuốt chửng cho xong bữa...

Hà nhìn vào đôi mắt đùng đục, viền mắt đỏ hoe vì mất ngủ của người thợ sửa xe. Trong lòng cô dâng lên một nỗi xót xa chân thật và sâu sắc. Hóa ra, đằng sau cái yêu cầu vô lý đòi “bật bếp nấu riêng một chảo”, đằng sau cơn giận dữ bốc hỏa về “sự lạnh lùng, tính toán của quán” không phải là thói hách dịch hay sự ích kỷ của một vị khách quen khó tính. Đó là tiếng kêu cứu vụng về của một lòng tự trọng bị tổn thương, của một người già đang đơn độc vật lộn với sự suy tàn không thể cưỡng lại của chính cơ thể mình.

— Chú đi khám nha khoa dưới trạm y tế hay bệnh viện quận chưa chú? — Hà hỏi khẽ.

— Khám gì nổi cô... — Ông Bình cười buồn, nụ cười méo xệch trên khuôn mặt lệch hẳn sang một bên vì sưng. Ánh mắt ông lảng ra phía rặng cây ngoài cửa sổ lá sách. — Tiệm sửa xe vỉa hè của chú dạo này ế ẩm đến thảm hại. Người ta giờ chuộng chạy xe tay ga đời mới, xe điện, hỏng hóc gì là tấp thẳng vào mấy cái tiệm lớn ngoài mặt đường lớn. Ở đó người ta có máy tháo lốp tự động, có súng bắn ốc bằng hơi tanh tách, lại có phòng máy lạnh cho khách ngồi lướt điện thoại. Cái bơm tay rỉ sét với mấy cái tròng cờ-lê cũ mèm của chú, cả ngày ngồi ngáp gió dưới gốc cây bàng, chỉ vá được dăm ba chiếc xe đạp cà tàng của mấy đứa học sinh tan trường về trễ. Tiền cơm bữa đực bữa cái, tiền phòng trọ cuối tháng còn đang phải khất lần khất lữa với bà chủ nhà, lấy đâu ra tiền triệu mà đi nhổ răng với làm răng giả hả cô...

Lời tâm sự nghẹn ngào rơi vào khoảng lặng êm đềm bên chiếc bàn số bảy. Giờ thì mọi mảnh ghép đã khớp lại hoàn chỉnh trong tâm trí Hà. Cô đã hiểu vì sao một người thợ già vốn sòng phẳng như ông Bình lại chậm hai bữa cơm trưa tuần trước, và vì sao lời nhắc nợ thẳng thắn giữa quầy thu ngân của cô lại khiến ông phản ứng bùng nổ, gay gắt đến thế. Một con người cả đời quen lao động chân tay, quen tự lực cánh sinh, khi bị dồn vào góc kẹt túng quẫn của nghèo khó và bệnh tật, sẽ trở nên cực kỳ nhạy cảm. Họ dễ dàng nhìn nhận mọi quy tắc, mọi giới hạn như một sự xua đuổi, một sự ruồng bỏ cay nghiệt của những người xung quanh.

— Kìa, ông Bình qua chơi đó hả?

Tiếng then cửa gỗ lạch cạch vang lên từ phía buồng trong. Tấm rèm vải hoa lay động, và bà Lan bước ra.

Bà một tay chống vào chiếc gậy gỗ mun quen thuộc, bước chân hơi khập khiễng vì khớp gối bên phải vẫn còn đang được quấn chặt một lớp băng chun co giãn màu da. Giấc ngủ trưa ngắn ngủi dù không trọn vẹn nhưng dường như cũng giúp sắc mặt bà bớt đi vẻ nhợt nhạt của cơn đau khớp.

Nghe tiếng đối đáp bên ngoài, bà Lan bước chậm rãi lại gần bàn số bảy. Đôi mắt từng trải của người phụ nữ cả đời bươn chải nơi đầu đường góc chợ lập tức dừng lại trên một bên má đang sưng vù của người bạn già:

— Nãy tôi nằm trong buồng thiu thiu ngủ mà nghe loáng thoáng tiếng ông ngoài quầy. Cái hàm răng lại dở chứng hành hạ ông rồi phải không? Tôi đã bảo bao nhiêu lần, đau đớn là phải ra trạm xá phường người ta phát thuốc giảm đau, thuốc kháng viêm cho mà uống, cứ cắn răng chịu đựng rồi ăn uống thất thường thế này thì cái thân già này trụ được bao lâu nữa!

— Bà Lan... — Ông Bình ngượng ngùng cúi đầu, hai bàn tay luống cuống xoay tròn chiếc ly thủy tinh trên mặt bàn gỗ. — Tôi... nãy tôi nóng nảy quá, lỡ lời gắt gỏng với con bé Hà ngoài quầy. Bà đừng để bụng nghen.

Bà Lan thở ra một hơi dài, kéo chiếc ghế trống bên cạnh Hà rồi ngồi xuống. Bà đưa bàn tay đầy những vết sẹo bỏng mỡ và gân guốc vỗ nhẹ lên mu bàn tay gầy trơ xương của người thợ sửa xe:

— Già với nhau cả nửa đời người ở cái ngõ này, lạ gì tính nết ông nữa mà để bụng với không để bụng. Nhưng mà này ông Bình, con Hà nó nói không có sai đâu. Quán giờ không như mấy năm trước được nữa rồi. Chân cẳng tôi dạo này nát lắm, đứng thêm năm mười phút là tối về dịch nó tràn ra khớp gối, nhức buốt tận óc không tài nào chợp mắt nổi. Bọn trẻ nó đặt ra quy chuẩn, làm theo giờ theo mẻ, cũng là để giữ cho cái quán này sống được, và để cái thân già này không phải vào viện nằm mổ thay khớp gối. Ông trách móc tụi nó thì tội nghiệp chúng nó lắm.

Ông Bình thở dài, gật đầu liên hồi, nét mặt ngập tràn vẻ ăn năn:

— Tôi biết rồi... Tôi sai. Tại cái miệng đau buốt quá đâm ra hóa hèn, nói năng bậy bạ làm tổn thương con bé.

Hà nhìn mẹ, rồi lại nhìn sang ông Bình. Trong sự tĩnh lặng của buổi chiều tà, một ý nghĩ rõ ràng, mạch lạc bỗng lóe lên trong đầu cô.

Không thể giải quyết vấn đề của ông Bình bằng một ngoại lệ tạm bợ như cách mẹ cô từng làm suốt bao năm qua. Bởi vì ngoại lệ ấy vắt kiệt sức khỏe của người làm bếp, phá vỡ tính kỷ luật của quy trình và tạo ra tiền lệ xấu. Nhưng ngược lại, quán cũng không thể cứng nhắc, vô cảm quay lưng lại với một nhu cầu hoàn toàn có thật và chính đáng của những thực khách lớn tuổi trong khu phố. Nếu chỉ biết khư khư giữ quy tắc mà không thấu hiểu đối tượng mình đang phục vụ, thì quy chuẩn ấy sẽ trở thành sự xơ cứng, máy móc.

Cô với tay kéo cuốn sổ ghi chép công việc đặt ở góc bàn lại gần, ngẩng đầu nhìn mẹ rồi nhìn thẳng vào ông Bình:

— Mẹ ơi, con tính thế này. Mỗi ngày quán mình nấu rất nhiều món mặn, nhưng hầu hết là đồ chiên, nướng, kho keo hoặc ram mặn — những món này thợ thuyền bên xưởng tiện hay dân văn phòng rất chuộng vì đậm vị và chắc bụng, nhưng các cô chú lớn tuổi trong xóm như chú Bình, bác Năm tổ dân phố hay bà Bảy đầu hẻm ăn rất khó khăn vì răng yếu, bụng dạ kém. Sao quán mình không đưa hẳn một món kho mềm hoặc một món hấp bùi bùi vào thực đơn cố định mỗi ngày hả mẹ?

Bà Lan chớp mắt, hàng lông mày hoa râm khẽ nhíu lại suy nghĩ một thoáng rồi gật gù:

— Ý con là... món trứng hấp thịt bằm mộc nhĩ? Hay là cá nục kho rục xương, thịt ba chỉ kho dưa cải hầm nhừ? Mấy món đó nếu kho một nồi to từ sáng chung với các món khác, vặn lửa liu riu cho rục rã xương thịt ra, vừa mềm vừa béo ngậy, người già chan cơm ăn êm ru mà không cần phải nhai nhiều.

— Dạ đúng rồi mẹ! — Mắt Hà sáng lên, giọng cô đầy hào hứng khi nhìn thấy lối thoát bền vững cho bài toán khó. — Khi mình đưa hẳn vào thực đơn chính thức, cô Hạnh sẽ chuẩn bị nguyên liệu và nấu cùng một mẻ lớn từ chín giờ sáng. Đến trưa hay xế chiều, khách nào răng yếu, người già trong xóm ghé ăn chỉ cần gọi đúng món đó là có sẵn ngay lập tức. Món ăn vừa nóng sốt, vừa mềm rục, không bắt bếp phải nổi lửa nấu riêng cho bất kỳ ai, không làm xáo trộn ca làm việc, mà quán lại mở rộng thêm phục vụ được cho nhiều cụ già khác quanh đây. Chú Bình thấy món trứng hấp thịt bằm mềm xốp hay cá kho rục xương như vậy có hợp với cái răng đau của chú không?

Ông Bình nghe Hà nói từng câu từng chữ, hai mắt mở to dần, nét mặt căng thẳng ban nãy giãn ra thấy rõ. Ông như không tin vào tai mình:

— Hợp chứ! Trời đất ơi, hợp quá đi chứ! Trứng hấp thịt bằm mềm xốp chan thìa nước tương dầm ớt, hay cá nục kho rục cả xương thì chú chỉ việc lấy thìa xắn nhẹ một miếng là trôi tuột xuống cổ họng liền, đâu cần phải dùng đến cái răng hàm khốn khổ này nữa! Mà... mà quán bán món đó thật hả cô Hà? Bán chung trên bảng món cho mọi người luôn chứ không phải là vì thương tình mà nấu riêng cho chú à?

— Dạ, bán cố định trên bảng món mỗi ngày luôn chú, — Hà mỉm cười khẳng định, ánh mắt ấm áp. — Bắt đầu từ ngày mai, con sẽ ghi rõ một dòng trên bảng phấn: *Món mềm trong ngày*. Chú cứ ghé vào bất cứ giờ nào trong ca bán là có sẵn phần của chú, không phải ngại ngùng, không phải xin xỏ, và cũng không phải chờ đợi ai bật bếp nấu riêng cho mình cả.

Sự tôn trọng đàng hoàng, minh bạch, không hề có chút ban ơn hay thương hại nào trong cách xử lý của Hà khiến ông Bình như trút bỏ được tảng đá nặng trĩu đè nặng trong lồng ngực suốt mấy ngày qua. Ông không còn là một ông già ốm yếu, rách rưới phải đi cầu xin một ân huệ đặc biệt từ lòng trắc ẩn của người khác; ông đã trở thành một khách hàng có nhu cầu chính đáng, được quán lắng nghe, tôn trọng và đáp ứng bằng một giải pháp chuyên nghiệp, văn minh.

— Còn về khoản nợ tám mươi nghìn của hai bữa trưa tuần trước, — Hà khéo léo kéo câu chuyện trở về với thực tế tài chính một cách tự nhiên nhưng dứt khoát. Cô mở trang sổ nợ, đặt chiếc bút bi ngay ngắn trên mặt bàn gỗ. — Con hiểu tiệm xe của chú dạo này vắng khách, chú lại đang kẹt tiền lo thuốc men cho cái răng. Con đề xuất thế này chú xem có hợp lý không nhé: Từ ngày mai, mỗi lần chú ghé quán ăn cơm, ngoài tiền của bữa ăn mới đó, chú gửi trả dần cho quán hai mươi nghìn đồng tiền nợ cũ. Cứ như vậy, chỉ sau bốn lần ghé ăn là chú trả dứt điểm tám mươi nghìn. Chú không bị nặng gánh một cục tiền lớn ngay lúc này, mà sổ sách của quán con cũng rõ ràng, minh bạch, không bị thất thoát.

Hà ngưng lại một nhịp ngắn, nhìn thẳng vào mắt ông Bình, nhấn mạnh một điều kiện nguyên tắc:

— Nhưng trong thời gian này, quán xin phép tạm dừng ghi nợ thêm bất kỳ bữa mới nào cho đến khi chú hoàn tất số nợ cũ này ạ. Bữa nào chú ghé ăn, chú thanh toán bữa đó kèm hai mươi nghìn tiền nợ cũ giùm con nghen.

Bà Lan ngồi bên cạnh khẽ mỉm cười, gật đầu tán đồng trọn vẹn với con gái. Bà hoàn toàn giữ im lặng để Hà toàn quyền điều hành và thương lượng, nhận ra con gái mình đã thực sự trưởng thành hơn những gì bà từng nghĩ.

Ông Bình ngẩn người nhìn cô gái trẻ trước mặt. Không có sự xua đuổi phũ phàng, không có lời mắng nhiếc đòi nợ gay gắt, nhưng cũng tuyệt đối không có sự nhắm mắt cho qua dễ dãi làm mất đi ranh giới của một cơ sở kinh doanh. Đề xuất trả góp từng phần của Hà vừa vặn với túi tiền eo hẹp, chắp vá mỗi ngày của ông, lại giữ trọn vẹn danh dự cho một người thợ già. Ông thấy mình không phải là kẻ ăn quỵt bị dồn vào chân tường, mà là một đối tác làm ăn đang được tạo điều kiện tốt nhất để hoàn thành trách nhiệm của mình một cách sòng phẳng và tự trọng.

— Được! Chú chịu liền! — Ông Bình đập mạnh bàn tay gầy xuống mặt bàn số bảy, một nụ cười hiếm hoi và rạng rỡ nở bừng trên gương mặt sạm nắng, dù khóe miệng bên trái vẫn hơi giật nhẹ vì cơn đau răng chưa dứt. — Mỗi bữa thêm hai mươi nghìn thì chú ráng bớt hai bao thuốc lá Caraven là dư sức trả cho quán! Con bé này tính toán đâu ra đấy, cứng cỏi, rạch ròi mà có tình có lý vô cùng! Chú đồng ý hai tay hai chân luôn!

Nói rồi, ông vội vã thọc tay sâu vào túi chiếc quần tây bạc màu, lôi ra một nắm tiền lẻ nhăn nhúm. Bằng những ngón tay thô ráp dính dầu máy, ông tỉ mỉ vuốt phẳng phiu lại từng mép gấp của tờ tiền trên mặt bàn gỗ bóng loáng của bàn số bảy:

— Đây, bữa nay chú ăn đĩa cơm thịt ram thường cũng được, về chú chan nước canh dằm nát ra chú nuốt tạm. Đĩa cơm ba lăm nghìn, với chú trả trước hai mươi nghìn nợ cũ của tuần trước đây này. Cô Hà thu tiền rồi lấy bút gạch bớt cho chú một dòng trong sổ đi nghen, để chú nhẹ cái đầu!

Hà nhận lấy năm mươi lăm nghìn đồng từ tay ông Bình. Những tờ tiền mười nghìn, năm nghìn hơi cũ kỹ nhưng đã được vuốt phẳng phiu, sạch sẽ. Cô cẩn thận đếm lại từng tờ trước mặt ông, rồi cầm bút bi, gạch một nét dứt khoát, gọn gàng bên cạnh con số 80.000 trong sổ cái, ghi chú rõ ràng bằng nét mực tím: *Đã trả 20.000đ, còn lại 60.000đ*.

Cô ngẩng lên, mỉm cười nhẹ nhõm:

— Dạ, con nhận đủ năm mươi lăm nghìn của chú. Chú ngồi đây đợi con hai phút, con vào bếp lấy cơm, hâm nóng lại phần thịt ram và múc thêm cho chú một chén canh mồng tơi cua đồng thật nóng để chú chan cơm cho dễ nuốt nghen.

— Ừ, lấy cho chú nhiều nước canh một chút là được rồi cô bé! — Ông Bình xua tay vui vẻ, đôi mắt đùng đục đã lấy lại vẻ lấp lánh, nhẹ nhõm quen thuộc.

Hà đứng dậy, bước nhanh vào khu vực bếp phía sau tấm bình phong gỗ.

Cô mở ngăn mát tủ lạnh, lấy âu thịt ram mặn, gắp đúng ba miếng thịt ba rọi theo định lượng vào đĩa sứ trắng, rồi đặt vào lò vi sóng, vặn nút hẹn giờ một phút ba mươi giây. Tiếng vo vo êm ái của chiếc lò vi sóng vang lên đều đặn.

Hà đứng tựa tay vào mép bàn inox một mét hai mà Duy đã xoay ngang. Dưới chân cô, đường ranh giới băng dính vàng vẫn nằm ngay ngắn, chia ranh giới rõ ràng giữa không gian khô và ướt. Chiếc kiềng bếp gas đôi vẫn úp ngược trên giá, nguội ngắt và sạch sẽ. Bếp không hề bị đỏ lửa lại giữa giờ nghỉ, chiếc lưng của mẹ không phải chịu thêm một gánh nặng nào, và cô Hạnh ca chiều sẽ không phải cau có vì một chiếc chảo con dính mỡ nằm trơ trọi trong bồn rửa.

Lần đầu tiên trong đời, Hà từ chối một yêu cầu vô lý của một người khách quen lâu năm mà không hề làm mất đi tình làng nghĩa xóm; ngược lại, cô còn tìm ra một giải pháp bền vững, mở ra một cơ hội phục vụ tốt hơn cho cả quán cơm. Không có sự ấm ức giấu kín, không có sự tổn thương tự ái, và cũng không có sự đổ vỡ nào trong mối quan hệ. Cô chợt hiểu sâu sắc rằng: ranh giới rõ ràng không bao giờ đẩy người ta ra xa nhau; ranh giới chỉ giúp mỗi người tìm thấy một chỗ đứng thật vững chãi trên mặt đất, để từ đó có thể đối xử với nhau một cách đàng hoàng, sòng phẳng và tôn trọng nhất.

Khi ông Bình vui vẻ cầm hộp cơm xốp nóng hổi cùng bọc canh mồng tơi bước ra khỏi quán, tiếng dép lê lẹp xẹp của ông dường như đã nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Ánh nắng muộn của buổi chiều tháng tư trên đường Vườn Me đã tắt ngấm từ lúc nào.

Hà bước ra phía hiên quán, với tay tháo sợi dây thừng để kéo tấm bạt che nắng xuống nửa chừng.

Bầu trời Sài Gòn cuối chiều bỗng chốc đổi màu xám xịt, nặng trĩu một màu chì ảm đạm. Những luồng gió lạnh đầu mùa bất ngờ từ phía bờ kênh thốc mạnh qua tán cây bàng cổ thụ bên đường, cuốn theo bụi đất mù mịt và những chiếc lá bàng khô bay xào xạc trên mặt đường nhựa. Không khí oi nồng nghẹt thở lúc ban trưa bị quét sạch, thay vào đó là mùi ngai ngái của hơi nước bốc lên từ lòng đất.

Mây đen kịt kéo đến kèm theo tiếng sấm rền vang trên mái tôn đường Vườn Me.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn