Giang Hồ Hết Cứu: Một Kiếm, Ba Cú LừaC.13 / 30
Chương 13

Những Con Số Đi Bằng Thuyền

Tiếng búa gõ chêm gỗ chan chát và mùi hắc ín trám thuyền nồng nặc, ngột ngạt bao trùm toàn bộ xưởng vá buồm Bến Hạ Thủy khi ráng chiều cuối cùng tắt ngấm trên mặt nước.

Gió từ phía hạ lưu sông Vọng Giang thốc từng luồng buốt giá qua khoảng sân rộng đầy bùn lầy, nơi ngổn ngang những cuộn vải bạt thô màu xám tro, những tấm gỗ mục ngâm nước lâu ngày bốc mùi rêu nhớt và hàng chục thùng tôn rỉ sét đựng dầu lanh. Trong góc sâu nhất của xưởng, dưới ánh đèn dầu lạc vàng đục phập phồng bên vách ván ghép, khói khét lẹt cuộn lại thành từng vệt mỏng dưới mái hiên thấp lè kè. Trần Ngọc Nương ngồi xếp bằng trên một tấm cói rách. Nàng đang thoăn thoắt đưa mũi kim thép to bản, dài bằng chiếc đũa, xuyên qua ba lớp vải gai buồm đã ngấm nước muối khô cứng lại như da trâu. Mỗi đường dùi cắm xuống là một tiếng "phập" nặng nề, sau đó là âm thanh sàn sạt rợn người của sợi chỉ gai bện ba tao được xiết chặt bằng chiếc kẹp da buộc quanh cổ tay. Nhịp thở của nàng đều đặn, cơ bắp cánh tay nổi lên từng thớ săn chắc, thói quen của một kẻ từ thuở lên mười đã phải bám lấy từng thớ buồm rách để kiếm miếng cơm qua ngày.

Nàng không hề ngẩng đầu lên khi ba bóng người bước qua ngưỡng cửa liếp tre xiêu vẹo, dẫu cho tiếng bước chân của họ đã làm đàn chuột cống dưới sàn gỗ chạy tán loạn. Nhưng mũi kéo cắt chỉ bằng thép rèn nguội đặt ngay mép bậu cửa bỗng nhích nhẹ sang bên phải một tấc, vừa vặn nằm gọn trong tầm với của bàn tay trái đang rảnh rang.

Tạ Vô Danh bước vào đầu tiên. Chàng đi bằng những bước chân chấm phẩy chậm rãi, cố ý dằn gót giày rách xuống nền đất nện ẩm ướt để triệt tiêu mọi xung chấn có thể dội ngược lên bả vai. Cánh tay phải của chàng bị cố định cứng đờ bằng hai thanh tre già cật, chằng nép chặt vào mạn sườn bằng nhiều lớp vải xô nhuộm hoàng liên vàng ệch, trông chẳng khác nào một nhánh cây khô gãy gập sau cơn bão lớn. Dù vạt áo nâu sồng đã được chỉnh đốn, nhưng mùi thuốc đắp thảo mộc nồng nặc pha lẫn mùi máu khô bám nơi mép vải vẫn không tài nào giấu nổi sự tàn tạ của một thân thể vừa trải qua một kiếp nạn thập tử nhất sinh.

Ngay sát gót chàng, Đỗ Thanh vẫn giữ nguyên dáng vẻ điềm tĩnh thường nhật trong chiếc áo choàng màu chàm cắt ngắn gấu gọn gàng của người làm nghề khám nghiệm tử thi. Ánh mắt nàng lạnh lùng, cảnh giác quét qua từng đống dây thừng tẩm hắc ín, từng góc tối dưới xà ngang và những chiếc móc sắt rỉ sét treo lơ lửng trên đầu, như thể đang thẩm định từng ngóc ngách của một hiện trường án mạng mới.

Đi sau cùng là Bùi Bát Quái. Gã buôn tin tức của bến sông giờ đây trông chẳng khác nào một cái xác biết đi, mặt mày xám ngoét không còn lấy một giọt máu. Hai vai gã co rụt lại dưới lớp áo cánh kép xộc xệch, hai bàn tay run lẩy bẩy không ngừng xoa vào nhau trong vô thức. Nơi túi ngực áo gã, phong thư đòi nợ đóng dấu sáp đỏ chót của Hiệu bạc Đồng Tín cộm lên rõ rệt, cứng quắc và nhọn hoắt như một mảnh gang nung đỏ chực chờ thiêu rụi cả sinh mạng lẫn cái quán trà tồi tàn bên bến đò của gã.

Ngọc Nương đột ngột dừng tay kim. Sợi chỉ gai đang kéo dở khựng lại giữa không trung. Nàng chậm rãi ngước mắt lên, ánh nhìn sắc lẹm như lưỡi trích buồm quét qua ba người, rồi dừng lại rất lâu nơi cánh tay phải bó nẹp bất động và những vệt bùn sình pha lẫn máu tươi đóng vảy trên vạt áo thô của Tạ Vô Danh.

Tin tức ở cái xóm nghèo ven mép nước này truyền đi nhanh hơn cả nước lũ đầu nguồn. Chỉ trong một buổi chiều muộn, chuyện gã kiếm khách nghèo rớt mồng tơi Tạ Vô Danh bất chấp cổ tay đang rạn nứt vì những trận đấu kiếm thuê trước đó, lao mình vào vũng bùn lầy lội, dùng trọn bờ vai và xương sống chống đỡ vách lều đất sắp sập để che chắn cho đứa con thơ của người tiêu sư tàn tật Lương Đức trước sự hung bạo của đám côn đồ đòi nợ, đã bay khắp các ngõ ngách phường thợ thuyền. Giữa một giang hồ đầy rẫy những màn biểu diễn kiếm thuật hào nhoáng bán vé thu tiền, nơi các võ sĩ của Danh Kiếm Lâu sẵn sàng đâm chém nhau theo kịch bản dựng sẵn để vơ vét bạc lẻ của dân đen, một kẻ chịu phế đi cánh tay kiếm cơm duy nhất của mình chỉ để cứu một đứa trẻ con nhà phu phen rách rưới là một thứ nghịch lý đến mức nực cười. Nhưng giữa cái thời buổi nhiễu nhương này, chính cái nghịch lý đẫm máu ấy lại là thứ duy nhất không thể làm giả bằng ngân phiếu, cũng chẳng thể ngụy tạo bằng những lời hoa mỹ sáo rỗng.

"Cổ tay của ngươi... rách bao khớp rồi phải không?" Ngọc Nương cất giọng, phá tan sự im lặng ngột ngạt. Tiếng nói của nàng khàn đặc, lẫn trong đó là sự khô khốc của bụi vải buồm và sự mệt mỏi đè nén suốt mấy ngày đêm lẩn trốn.

"Rạn xương quay, trẹo khớp cổ tay độ ba," Đỗ Thanh lạnh lùng cướp lời, giọng điệu chuẩn xác và vô cảm theo đúng thói quen nghề nghiệp của một giám định viên. "Mười ngày tới, nếu hắn dám dùng lực của bàn tay phải quá nửa cân, toàn bộ gân cổ tay sẽ đứt lìa. Khi đó, cánh tay này coi như vứt cho chó gặm."

Tạ Vô Danh khẽ nhếch khóe môi, để lộ một nụ cười nhàn nhạt dù mồ hôi lạnh vì đau đớn đã rịn ra đầy trên thái dương: "Tay trái của ta vẫn còn cầm đũa gắp thịt được, chưa đến mức phải nhờ người đút. Cùng lắm chỉ là ăn chậm hơn thiên hạ nửa khắc đồng hồ mà thôi."

Ngọc Nương nhìn chằm chằm vào đôi mắt thản nhiên của chàng, cơ mặt khẽ giật giật. Đôi môi mỏng của nàng mím chặt lại thành một đường thẳng tắp, hằn lên nỗi đau xót và dằn vặt khôn nguôi. Chiếc kim khâu buồm bằng thép cắm phập vào cuộn dây thừng bên cạnh sâu tới hai đốt ngón tay. Nàng đứng dậy, hai bàn tay thô ráp phủi sạch những vụn chỉ gai bám trên chiếc tạp dề da bò đã nhẵn bóng. Nỗi ngờ vực, sự thù hằn và lớp vỏ bọc sắc nhọn từng hiện diện trong ánh mắt nàng suốt những ngày qua dường như đã vỡ vụn hoàn toàn dưới sức nặng của vết thương trên tay gã kiếm khách.

"Đi theo ta," nàng nói ngắn gọn, thanh âm trầm xuống chỉ đủ cho bốn người nghe thấy, rồi dứt khoát xoay người bước về phía góc tối nhất của xưởng.

Ba người lặng lẽ bước theo sau. Họ len lỏi qua những chồng vải buồm cao ngất ngưởng bốc mùi dầu lanh nồng hắc, bước qua những đống dây chão mục ngâm nước muối cáu ghét, tiến sâu vào gian kho chứa vật tư phế thải nằm chìm dưới mặt đất chừng ba thước. Nơi này ẩm thấp vô cùng, vách tường rỉ nước rêu phong và lạnh buốt như một nấm mồ. Đẩy một tấm ván gỗ sồi dày cộp phủ đầy mùn cưa và mạng nhện sang một bên, để lộ ra một hốc tường xây bằng đá hộc xám xịt, Ngọc Nương cúi mình, thò sâu cánh tay vào bên trong và móc ra một bọc đồ.

Đó là một bọc vải dầu sáp màu nâu sẫm, được buộc chặt bằng ba tao dây da bò thắt nút kép vô cùng cẩn mật. Bọc hàng không quá lớn, chỉ cỡ bằng hai viên gạch vồ úp lại, nhưng các góc cạnh của lớp vải sáp đã sờn rách, lem luốc những vệt dầu mỡ và in hằn những dấu vân tay cáu ghét mồ hôi của một kẻ đã ôm nó chạy trốn trong cơn hoảng loạn tột cùng.

"Anh trai ta trước đêm bị người của Danh Kiếm Lâu vây sát đã chạy về xưởng này," Ngọc Nương nói, hai bàn tay nàng nắm chặt lấy mép bọc vải sáp, những khớp xương ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực trước khi nàng run rẩy trao nó vào tay Đỗ Thanh. "Anh ấy bảo nếu anh ấy có mệnh hệ nào, tuyệt đối không bao giờ được đem thứ này nộp cho quan nha Vọng Giang. Anh ấy bảo quan nha không phải là nơi giữ cán cân công lý, mà chính là kẻ đang nắm giữ chiếc chìa khóa của cái kho chứa đầy dối trá và máu người đó. Suốt mấy ngày qua, ta thấy các ngươi lởn vởn quanh bến, ta cứ ngỡ các ngươi cũng chỉ là một lũ chó săn được các môn phái lớn hay nha môn phái đến để thu dọn tàn cuộc, bịt miệng những kẻ biết chuyện. Nhưng một kẻ dám liều mạng phế đi cánh tay kiếm ăn của mình vì một đứa trẻ phu phen nghèo hèn... thì tuyệt đối không thể nào là tay sai của Danh Kiếm Lâu được."

Đỗ Thanh cẩn thận đón lấy bọc hàng, không nói một lời thừa thãi. Nàng ngồi xổm xuống một thanh dầm gỗ khô ráo, rút chiếc dao mổ nhỏ bằng bạc từ trong tay áo ra, khéo léo lách mũi dao cắt đứt từng nút thắt da bò mà không làm tổn hại đến lớp giấy bọc mỏng manh bên trong.

Lớp vải sáp dỡ ra, một mùi giấy ẩm mốc hòa lẫn mùi mực tàu nồng đậm xộc thẳng vào mũi. Hiện ra trước mắt họ là một tập tài liệu dày cộp chép trên loại giấy bản thô dầm nước vôi xám xịt, mép giấy đã ố vàng và quăn queo vì hơi ẩm sông nước. Từng trang giấy được kẻ ô vuông vắn bằng mực tàu đen kịt, nét chữ nhỏ li ti, cứng cỏi, đều tăm tắp và ngay ngắn đến rợn người — nét chữ đặc trưng của một kẻ cả đời chỉ biết cắm cúi sống bằng nghề chép sổ sách thuê cho nha môn.

Trần Hữu Sổ cả đời chưa từng cầm qua một thanh kiếm, không biết nửa chiêu quyền cước, nhưng chính sự tỉ mỉ, cẩn trọng đến mức hèn mọn của một kẻ làm công ăn lương dưới đáy cùng của bộ máy công quyền đã biến tập tài liệu này thành một bản cáo trạng đanh thép và tàn nhẫn nhất trần đời.

Gã đã lập ra một bảng đối chiếu chéo vô cùng phức tạp nhưng lại rành mạch, chuẩn xác đến từng phân, từng hào:

Cột thứ nhất ghi rõ các số hiệu lệnh truy nã đang lưu trữ tại phòng hồ sơ lưu trữ của nha môn Vọng Giang;

Cột thứ hai liệt kê chi tiết các khoản chi trả công thưởng khống được Quầy Công Thưởng giải ngân đều đặn vào ngày rằm và mùng một hàng tháng;

Và cột thứ ba — cột chấn động nhất, nơi mực tàu đỏ được dùng để khoanh vùng — chính là các khoản "phí duy trì bảng xếp hạng" và "phí bảo trợ thi đấu" được chuyển ngược ra ngoài hệ thống công môn, chảy thẳng vào túi các thuyền buôn tư nhân mang danh nghĩa vận tải thủy sản ven sông.

"Nhìn vào chỗ này xem," Đỗ Thanh khẽ lật giở từng trang giấy ráp, ngón tay thon dài của nàng dừng lại ở một dãy mã số son đỏ bị gạch chéo rồi viết đè lên bằng mực đen. "Lệnh truy nã mang mã hiệu Đinh-Bính 104... không chỉ được nha môn dùng làm chứng cớ giả để bắt oan phu bến Lỗ Thiết Tử thế mạng cho một tên cướp đường sông, mà trước đó ba tháng, chính mã lệnh này đã được giải ngân tới hai lần tại Quầy Công Thưởng với tổng số tiền lên đến bốn mươi lượng bạc trắng. Người đứng tên ký nhận tiền trên sổ sách hành chính là hai kẻ trinh sát vô danh nào đó không có hộ tịch rõ ràng, nhưng tiền mặt xuất ra khỏi kho công quỹ lại được gom chung vào một tài khoản mập mờ mang tên 'Phí kiểm định võ tịch'."

"Và số bạc đó tuyệt nhiên không hề nằm lại trong hòm của nha môn hay chảy vào túi của tri phủ," Bùi Bát Quái ghé sát mắt vào trang giấy, bản năng nghề nghiệp của một kẻ lăn lộn nơi đầu đường xó chợ lập tức bùng lên dữ dội, tạm thời đè bẹp cả nỗi sợ hãi về món nợ siết cổ đang treo lơ lửng trên đầu. Gã chỉ ngón tay cáu bẩn vào những dòng ghi chú nhỏ bằng mực son ở lề trang giấy: "Nó biến thành bạc nén mặt! Các ngươi nhìn kỹ các ký hiệu viết tắt ở mép trang này đi: 'Chuyển mạn thuyền cá khoang số ba', 'Nhận tại Bến Hạ Thủy lúc giờ Hợi'... Trời đất quỷ thần ơi! Trần Hữu Sổ đã âm thầm bám theo và ghi chép toàn bộ đường đi nước bước của số bạc bẩn thỉu này suốt sáu tháng trời ròng rã!"

Ngọc Nương cúi người xuống, ngón tay thô ráp của nàng trỏ vào góc dưới cùng của một trang giấy đã bị ố vàng bởi một vết nước chè đặc: "Chưa hết đâu. Dưới đáy của tập tài liệu này có kẹp ba tờ biên lai nhận hàng trung gian. Người ký tên nhận tiền không mang chức sắc hay danh phận gì trong quan nha, mà chỉ đóng một con dấu hình cánh quạt gỗ khắc chìm và một chữ 'Mộc' viết theo lối chữ triện... Ngày trước, có lần anh trai ta uống rượu say đã lỡ lời kể rằng, những kẻ đứng ra nhận các chuyến hàng trung gian này đều là người của các gánh hát rong và các xưởng chế tác đạo cụ sân khấu lớn ở mạn đông thành."

Tạ Vô Danh nheo mắt nhìn ký hiệu hình cánh quạt gỗ khắc chìm trên góc tờ biên lai rách nát. Đồng tử chàng khẽ co lại: "Xưởng Rối Mộc Ảnh. Lại là dấu vết của Kỷ Song và mạng lưới đạo cụ sân khấu ngầm."

"Nhưng tại sao lại là thuyền buôn cá khô?" Đỗ Thanh cau mày lại thật chặt, ánh mắt sắc sảo của nàng miết đi miết lại trên những dòng chữ ghi chú về các chuyến hải hành đêm. "Một nha môn nắm trọn quyền sinh sát trong tay, muốn biển thủ hay luân chuyển công quỹ thì có thiếu gì cách danh chính ngôn thuận? Chúng có thể mượn cớ tu bổ đê điều, mua sắm quân lương, chi trả công tác phí cho tuần giang ty... Cớ sao phải nhét bạc nén vào khoang của một chiếc thuyền chở cá muối tanh tưởi làm gì cho thêm phần rủi ro?"

Bùi Bát Quái bỗng nhiên khựng người lại như bị sét đánh ngang tai. Gã chớp chớp mắt liên hồi, đôi con ngươi đảo qua đảo lại như con thoi dệt cửi giữa trang sổ của Trần Hữu Sổ và khoảng không tối tăm trong hầm. Bất thình lình, gã đưa tay giật lấy tờ lịch trình thủy vận được kẹp cẩn thận ở bìa sau của tập hồ sơ. Đôi bàn tay gầy gò khẳng khiu của gã run bắn lên bần bật, nhưng lần này không phải vì run sợ, mà là vì sự hưng phấn tột độ của một kẻ làm nghề buôn tin vừa bóc trần được một mánh khóe lừa đảo kinh thiên động địa.

"Đúng rồi! Mẹ kiếp, bấy lâu nay ta thật là ngu muội quá!" Bùi Bát Quái vỗ đùi đánh bốp một cái thật mạnh, khiến đám bụi mùn cưa trên sàn bay lên mù mịt. "Bạc nén là kim loại nặng! Nếu các ngươi vận chuyển một lượng bạc lớn trên đường bộ, qua các cổng tuần phòng, trạm thu thuế của phủ hay các trạm kiểm soát môn bài, bọn lính gác chỉ cần dùng que sắt chọc vào bao tải hoặc nhìn độ lún của bánh xe bò là biết ngay có uẩn khúc. Bạc mặt với số lượng hàng trăm cân không thể giấu nổi mắt thiên hạ! Nhưng thuyền chở cá khô thì lại là một chuyện hoàn toàn khác!"

Gã nuốt nước bọt ực một cái, vội vã lôi từ trong bọc áo tơi rách rưới của mình ra một tập giấy bản sao chép nguệch ngoạc lịch xuất bến tại phòng thuế đường thủy mà gã vừa cắn răng bỏ bạc ra mua chuộc mấy tên thư lại biến chất vào sáng sớm nay:

"Các ngươi hãy đối chiếu hai bảng lịch trình này đi! Chiếc thuyền buôn mang tên 'Thuận Phong', đăng ký chủ tàu dưới danh nghĩa một thương nhân họ Tiền, chuyên nghề vận chuyển cá mòi muối diêm từ các làng chài hạ lưu sông Vọng Giang về trả hàng tại Bến Hạ Thủy. Cứ nhìn vào những ngày cập bến định kỳ của nó mà xem: Ngày mười lăm tháng trước — hoàn toàn trùng khớp với ngày Quầy Công Thưởng đóng sổ quyết toán khoản tiền thưởng bắt cướp ở Hắc Hổ Lĩnh! Ngày mùng một đầu tháng này — trùng khít với thời điểm Danh Kiếm Hội giải ngân khoản tiền tài trợ khổng lồ cho chuỗi ba mươi trận toàn thắng của Vệ Thiên Kiêu tại Đài Bách Thắng! Bất cứ khi nào nha môn cần rút một khoản bạc lớn từ công quỹ ra ngoài, hoặc Danh Kiếm Hội cần thanh khoản một lượng bạc nén mặt khổng lồ để bí mật cho vay nặng lãi và siết nợ các võ quán nhỏ, chiếc thuyền chở cá thối của lão Tiền đều cập bến vào đúng canh ba đêm muộn!"

Gã buôn tin thở hổn hển, chỉ tay vào dòng ghi chú cuối cùng: "Cá mòi muối diêm ướp trong hầm kín bốc mùi tanh tưởi, thối khẳm đến mức chó săn ngửi thấy cũng phải quay đầu bỏ chạy. Lũ nha dịch tuần giang ty hay lính thuế vụ chẳng bao giờ thèm thò mũi, thò tay áo lụa vào cái khoang thuyền ngập ngụa nước mắm thối ấy để mà lục lọi kiểm tra. Đó là bức bình phong che mắt hoàn hảo nhất trần đời!"

"Và đêm nay," Tạ Vô Danh hướng ánh mắt nhìn qua khe vách nứa, nơi màn đêm đen đặc như mực tàu đã nuốt trọn dòng sông Vọng Giang cuộn sóng, "chính là đêm mà bọn chúng buộc phải gom sạch toàn bộ số bạc nén mặt này để tẩu tán xuôi dòng về phương nam, trước khi thuyền tuần tra của Khâm sai Nguyễn Minh Luật chính thức cập bến vào sáng ngày mai."

Bầu không khí trong căn hầm chứa vải buồm ẩm mốc bỗng chốc đặc quánh lại, ngột ngạt đến khó thở. Mùi hắc ín từ xưởng thuyền bên ngoài dường như đã bị đè bẹp hoàn toàn bởi sự nhớp nhúa, tanh tưởi của một đường dây rửa tiền bẩn thỉu đang thản nhiên vận hành ngay dưới mũi bàn dân thiên hạ.

Một canh giờ sau, tại một khúc lạch sông tối tăm và quạnh quẽ nằm cách bến chính của Bến Hạ Thủy chừng hai trăm bước chân.

Gió đêm rít qua những rặng lau sậy rậm rạp bên bờ, mang theo hơi nước buốt giá cắt da cắt thịt. Dưới chân chiếc cầu tàu bằng gỗ mục nát ngập đầy bùn rác và vỏ ốc hến vỡ, Tạ Vô Danh và Bùi Bát Quái đã lột bỏ toàn bộ y phục thường ngày. Họ khoác lên mình những bộ áo cộc rách bươm làm bằng vải bao tải cáu bẩn, bốc mùi bùn sông nồng nặc và tanh tưởi — bộ dạng đặc trưng của đám phu phen bốc vác chuyên làm ca đêm nơi bến bãi.

Tạ Vô Danh dùng một dải vải gai đen bản rộng, cẩn thận quấn chặt cánh tay phải bị thương ép sát vào lồng ngực mình, bên ngoài trùm thêm một chiếc áo tơi lá cọ xơ xác, tả tơi để che giấu hoàn toàn hai thanh nẹp tre. Tay trái chàng cầm lăm lăm một chiếc móc sắt chuyên dùng để bốc dỡ các kiện hàng nặng, dáng đi hơi khom khom, bước chân lảo đảo giả vờ mệt mỏi, hòa lẫn một cách hoàn hảo vào bóng tối của những phu phen đang co ro ngồi chờ việc bên điếm canh xiêu vẹo.

Bùi Bát Quái trét một lớp bùn non ướt nhẹp lên khắp mặt mũi để che đi làn da nhợt nhạt, miệng ngậm chặt một cọng cỏ khô dập nát, hai mắt không ngừng đảo quanh cảnh giới, vừa run rẩy vừa lầm bầm chửi rủa cái lạnh thấu xương của gió sông.

"Đến rồi," Tạ Vô Danh hạ giọng thật thấp, âm thanh chỉ vừa đủ lọt qua kẽ răng.

Từ khúc quanh ngập tràn sương mù mờ ảo của dòng sông, một bóng thuyền buôn mũi nhọn lù lù tiến vào lạch nước êm ả. Con thuyền không hề treo đèn lồng dẫn đường ở cột buồm như luật đi lại ban đêm quy định, chỉ duy nhất một ngọn đèn bão nhỏ bọc vải dầu le lói treo nơi mũi thuyền, hắt ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù chẳng soi sáng quá một sải tay. Thân thuyền chìm sâu một cách bất thường dưới mặt nước, rãnh mớn nước hai bên mạn bị dìm xuống sát vạt sơn đỏ đánh dấu tải trọng tối đa — một dấu hiệu hoàn toàn phi lý đối với một chuyến thuyền buôn tuyên bố chỉ chở toàn cá khô muối nhẹ xốp.

Tiếng dây chão bằng sợi dừa ma sát ken két vào những chiếc cọc neo gỗ lim bên mép nước vang lên chói tai. Cùng lúc đó, mùi tanh tưởi đặc quánh, nồng nặc của cá mòi muối diêm ươn thối từ dưới khoang thuyền xộc thẳng lên bờ, tạt thẳng vào mặt đám người khiến Bùi Bát Quái phải cắn chặt môi, cố nén cơn buồn nôn đang dâng lên cuồn cuộn nơi cổ họng.

"Tất cả lũ phu bốc vác đứng yên tại chỗ!" Một giọng nói the thé, sắc lạnh và đầy vẻ hách dịch cất lên từ mạn thuyền phía trước.

Bốn gã đàn ông vạm vỡ, vạt áo ngắn bó sát người, thắt lưng bọc da thú và tay lăm lăm những thanh đoản côn bịt sắt nhảy phắt xuống bờ đá lởm chởm. Ánh mắt chúng đảo qua đảo lại đầy cảnh giác, dò xét từng gương mặt của đám phu phen đang đứng co ro. Chúng tuyệt đối không cho phép đám bốc vác tự do ùa lên thuyền như lệ thường, mà chỉ dùng đầu gậy chỉ trỏ, chia tách từng cặp phu một với thái độ đề phòng cao độ.

"Hai tên to con kia, lại đây!" Một tên gác bến có vết sẹo dài trên trán chỉ thẳng đầu gậy vào ngực Tạ Vô Danh và Bùi Bát Quái. "Hai ngươi chỉ có nhiệm vụ chuyển các thùng gỗ ở khoang giữa lên xe lôi đỗ trên bờ đá. Cấm mở nắp, cấm dòm ngó, cấm nói chuyện riêng. Làm rơi một thùng xuống nước, hay để sứt mẻ một góc gỗ, bọn ta chặt đứt một bàn tay!"

Tạ Vô Danh khẽ cúi đầu cụp mắt, không đáp lấy nửa lời. Chàng dùng bàn tay trái thuần thục móc lấy càng chiếc xe lôi bằng gỗ gụ thô sơ, ra hiệu cho Bùi Bát Quái bám sát phía sau, rồi cùng nhau bước lên tấm ván gỗ bắc ngang từ bờ đá sang mạn thuyền. Tấm ván gỗ dày cộp oằn mình xuống dưới sức nặng, phát ra những tiếng răng rắc khô khốc giữa đêm vắng.

Khoang giữa của con thuyền mở toang, ngập ngụa những hạt muối biển trắng đục cáu bẩn và hàng chục nong cá khô xếp tầng tầng lớp lớp trên các giàn tre mục. Nhưng khi hai tên gác thuyền lực lưỡng dùng xẻng sắt gạt phăng lớp cá muối phủ dày bên trên sang hai bên mạn, lộ ra bên dưới đáy khoang không phải là cá, mà là những chiếc hòm gỗ sồi dài chừng ba thước, nẹp sắt đen sì quanh bốn góc và được khóa chặt bằng những then cài sắt to bản có tra khóa đồng kiên cố.

"Nhấc lên! Nhanh cái tay lên!" Tên gác thuyền quát khẽ, giọng rít qua kẽ răng.

Bùi Bát Quái hít một hơi thật sâu, ghé vai gầy vào một đầu đòn khiêng bện bằng dây thừng. Tạ Vô Danh khéo léo dùng cánh tay trái luồn qua quai thao dây gai chịu lực ở đầu bên kia, dồn toàn bộ trọng tâm cơ thể vào phần hông và sống lưng, phối hợp nhịp nhàng nâng bổng chiếc hòm gỗ lên khỏi sàn thuyền nhầy nhụa.

Sức nặng khủng khiếp của chiếc hòm gỗ làm bả vai của Bùi Bát Quái sụp xuống gần nửa tấc. Gã buôn tin lảo đảo, hai đầu gối run lên bần bật, suýt chút nữa thì khuỵu ngã xuống lớp muối hạt nhớp nháp mỡ cá. Sức nặng ngàn cân này tuyệt đối không thể nào là cá khô, thảo dược hay vải vóc — đó là một khối lượng đặc quánh, nặng trịch và dồn nén đến mức từng thớ gỗ sồi dày cộp phải cọ xát vào nhau kêu ken két dưới sức ép nghìn cân. Đó là trọng lượng không thể chối cãi của kim loại đúc đặc nguyên khối.

Trong khoảnh khắc lách người qua cửa khoang hẹp đầy dầu mỡ để chuyển chiếc hòm gỗ lên bờ đá, Tạ Vô Danh giả vờ trượt chân trên lớp muối nhão trơn tuột. Chàng nhanh như chớp xoay nửa thân người sang bên trái để giữ thăng bằng, vạt áo tơi bằng lá cọ rách rưới khẽ quét mạnh qua lớp bùn cá bám dính trên góc nắp hòm gỗ sồi.

Dưới ánh sáng vàng vọt, tù mù của ngọn đèn bão hắt ra từ điếm canh gần đó, mắt Tạ Vô Danh mở to. Từng chi tiết hiện lên rõ mồn một trước mắt chàng: Ở góc mép nắp hòm gỗ, ẩn giấu bên dưới một lớp hắc ín chống nước mỏng dính quét vội, có đóng một dấu triện chìm hình cánh con rối giật dây tinh xảo — con dấu độc môn không lẫn vào đâu được của Xưởng Rối Mộc Ảnh, thứ ký hiệu ma quái từng xuất hiện trên hệ thống ròng rọc giấu kín tại Đài Bách Thắng!

Những chiếc hòm gỗ này đã được thửa riêng từ xưởng của Kỷ Song, được chế tạo với khoang rỗng ngụy trang và hệ thống then sắt đệm nỉ tinh xảo bên trong, nhằm mục đích duy nhất: vận chuyển một lượng lớn ngân lượng mà không hề phát ra tiếng động va đập lách cách của kim loại khi con thuyền dập dềnh trên sóng nước.

Cách vị trí chiếc thuyền neo đậu chừng ba mươi bước chân, nấp sâu trong bóng tối đặc quánh của một đống thùng tô nô gỗ rỗng chất cao ngất bên mép bờ đá, Đỗ Thanh đang chăm chú dõi theo từng cử động trên boong thuyền qua một chiếc ống nhòm đồng nhỏ xíu — vật dụng chuyên dùng cho hoa tiêu đường thủy mà nàng luôn mang theo bên mình.

Trên mạn thuyền phía mũi, một người đàn ông mặc áo dài lụa màu lam sẫm viền đen đang đứng tựa lưng vào cột buồm. Tay gã cầm một cuốn sổ dày bọc da cá đuối, tay kia thoăn thoắt chấm bút lông vào lọ mực treo bên hông, cẩn thận đối chiếu từng mã số đóng chìm trên nắp các hòm gỗ với tờ biên nhận vận tải đường sông. Gã đội một chiếc nón chóp nghiêng nghiêng để che khuất nửa khuôn mặt trong bóng tối. Nhưng khi gã ngẩng đầu lên để đón lấy ngọn đèn bão từ tay một tên thủy thủ vừa bước tới, ánh lửa chập chờn đã soi rọi rõ mồn một sống mũi gãy gập gồ ghề và một vết chàm màu tro to bằng hạt ngô nằm ngay dưới hõm tai bên phải của gã.

Đôi mắt Đỗ Thanh khẽ co rút lại sau ống kính bằng đồng lạnh ngắt.

Từng trang hồ sơ lưu trữ, từng mảnh công văn hành chính tại nha môn Vọng Giang mà nàng từng đọc qua trong suốt những năm tháng làm việc lập tức hiện về rõ ràng, mạch lạc như một bức tranh được lật giở.

Kẻ đang đứng trên mạn thuyền kia tuyệt đối không phải là một thương nhân buôn cá tầm thường, càng không phải là lão chủ tàu họ Tiền nào đó ở vùng hạ lưu.

Hắn chính là Trịnh Tam — cựu đầu mục nha dịch của Quầy Công Thưởng, kẻ từng có mười năm ròng rã phục vụ dưới trướng Thư lại Hà Công Bút, kẻ nắm giữ toàn bộ đường đi nước bước của các văn bản mật và việc giải ngân bạc thưởng tại nha môn. Đúng một tháng trước, ngay trước khi những tin tức mật về đợt thanh tra gắt gao của Khâm sai Nguyễn Minh Luật bắt đầu rò rỉ từ Kinh đô về phủ Vọng Giang, Trịnh Tam đã bất ngờ đệ đơn xin từ quan lui về ở ẩn, với lý do "mắc chứng ho lao tái phát, sức khỏe suy kiệt, xin về quê an dưỡng tuổi già".

Hắn không hề về quê làm ruộng như trong đơn từ chức. Hắn chỉ đơn giản là cởi bỏ tấm áo nha dịch để bước ra ngoài bóng tối, trực tiếp trở thành mắt xích vận hành tuyến đường thủy bẩn thỉu này, áp tải những đồng tiền công thưởng khống được chuyển hóa thành bạc nén mặt, tẩu tán sạch sẽ ra khỏi bờ cõi trước khi lưỡi kiếm công lý của quan Khâm sai kịp hạ xuống.

Một tiếng "rầm" nặng nề vang lên khi chiếc hòm gỗ sồi thứ tư vừa được đặt mạnh xuống sàn xe lôi ngay phía sau lưng Tạ Vô Danh.

Cú va chạm mạnh trên nền đá hộc gồ ghề làm then sắt của chiếc khóa đồng khẽ nảy lên khỏi ngàm giữ. Giữa không gian nồng nặc mùi tanh tưởi của cá muối diêm và hắc ín ướt, một âm thanh trầm đục vang lên, rất khẽ nhưng sắc lẹm, dội thẳng vào màng nhĩ của những kẻ đang căng mình trong đêm tối.

Mùi tanh nồng của cá khô không át nổi tiếng va chạm lách cách quen thuộc của những thỏi bạc nén dưới đáy thuyền.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn