Vị nhà là một động từ
Ánh nắng ban mai rọi qua vòm lá xanh mướt của cây trứng cá trước hiên nhà, rắc những đốm sáng lung linh lên tấm biển gỗ mộc mạc vừa được cẩn thận treo lên ngay ngắn: “Bếp Hạ - Bếp Cộng Đồng”.
Tấm biển ấy được bào nhẵn từ những thanh gỗ mít cũ kỹ dỡ xuống từ căn gác xép ám khói, mặt gỗ hằn rõ những đường vân nổi cuộn sẫm màu thời gian. Chữ được đục bằng tay, nét khắc chìm vừa dứt khoát vừa đôn hậu, không phủ lớp sơn son thếp vàng lộng lẫy, cũng chẳng gắn dải đèn led chớp nháy sặc sỡ như những biển hiệu ẩm thực thời thượng ngoài đại lộ thênh thang. Gió sớm từ phía triền sông thổi lùa vào con hẻm số 42 đường Cảng Cũ, mang theo hơi sương ẩm lành lạnh quyện với mùi bùn non và nhịp thở lao xao của phiên chợ cá họp sớm ven bờ. Cánh cổng sắt hoen gỉ, tróc vảy từng mảng xám xịt năm nào nay đã được tháo dỡ hoàn toàn những chấn song nhọn hoắt nặng nề. Thay vào đó là một hàng rào gỗ thấp sơn màu trắng ngà giản dị, cánh cổng con hé mở toang hoác, đón trọn vẹn luồng sinh khí ấm áp của một ngày mới bắt đầu.
Để có được buổi sáng phẳng lặng và thanh thản đến từng hơi thở này, gia đình họ Trần đã phải cùng nhau bước qua một khúc quanh đầy thực tế, tỉnh táo và sòng phẳng. Cuộc đời vốn dĩ không có những phép màu từ trên trời rơi xuống để giữ lại nguyên vẹn tòa nhà ba tầng đồ sộ như thuở mẹ Hạ còn tại thế. Sau bữa cơm đối chất định mệnh giữa gian nhà cũ với viên đại diện ngân hàng và Đỗ Khải Nam, ba dì cháu đã ngồi lại bên chiếc bàn trà gỗ thô suốt một đêm trắng. Giữa ánh đèn vàng vọt và những tách trà nguội ngắt, họ đã cùng nhau đi đến một quyết định dứt khoát: làm thủ tục pháp lý tách thửa, bán đứt toàn bộ quyền sử dụng hai tầng lầu cùng khoảng sân thượng lộng gió phía trên cho một gia đình công chức trẻ với giá một tỷ bốn trăm triệu đồng.
Cộng với khoản tiền tạm ứng ban đầu trích từ hợp đồng cấp phép thương hiệu không độc quyền ký kết với Tập đoàn Vị Việt Mới, toàn bộ số tiền một tỷ tám trăm triệu đồng bao gồm nợ gốc lẫn các khoản lãi phạt dồn ứ tại ngân hàng đã được tất toán dứt điểm vào một buổi chiều tuần trước. Khoản nợ đen ba trăm triệu đồng bị bủa vây bởi những lời đe dọa của nhóm Bảy Rồng cũng được thanh toán sạch bách tới từng đồng lẻ, có biên bản bàn giao và đóng dấu hủy nợ rành mạch trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương. Bếp Hạ rốt cuộc đã tự tay chặt đứt chiếc thòng lọng vô hình siết cổ gia đình suốt bao năm tháng điêu đứng. Cái giá phải trả là diện tích sinh hoạt bị thu hẹp đáng kể, nhưng đổi lại, gia đình giữ được trọn vẹn phần cốt lõi thiêng liêng nhất: toàn bộ mặt bằng tầng trệt thênh thang và khoảng sân nhỏ lát gạch tàu rợp bóng mát—nơi ngọn lửa từ chiếc bếp lò của mẹ từng bập bùng đỏ rực suốt hai mươi năm lam lũ nuôi nấng những đứa con thơ.
Gian bếp mở giờ đây được cải tạo thông suốt một dải với khoảng sân gạch tàu đỏ thắm. Toàn bộ những bức tường bê tông ngột ngạt, ẩm mốc ngăn chia trước sau đã bị đập bỏ hoàn toàn, nhường chỗ cho một hệ thống quầy bếp bằng gỗ tràm tự nhiên mở rộng ra bốn hướng. Đứng từ ngoài ngõ nhìn vào qua hàng rào thấp, bất kỳ ai cũng có thể chiêm ngưỡng trọn vẹn một không gian làm bếp chân thực: ngọn lửa xanh reo vui dưới đáy chiếc nồi nhôm cỡ lớn bốc khói mờ ảo, từng động tác thái rau thoăn thoắt, tiếng dao chạm lách cách đều đặn vào mặt thớt gỗ me, và sắc màu tươi rói của các loại rau cỏ bản địa được xếp đặt gọn gàng trong những rổ tre đan mộc mạc.
Nơi góc kỹ thuật của gian bếp, Trần Minh Khang đang cặm cụi ngồi xổm bên cạnh bình gas công nghiệp và chiếc mỏ lết sáng loáng. Cậu thanh niên mặc chiếc áo phông xám đã lấm lem đôi vệt dầu mỡ máy móc, đôi mắt chăm chú quan sát từng chi tiết nhỏ nhất của hệ thống đường ống dẫn khí mới thi công. Cậu nhúng chiếc cọ mềm vào bát nước xà phòng đặc quánh, tỉ mỉ quét bọt trắng xóa lên từng khớp nối đồng, van giảm áp và co nối chữ T, nheo mắt rà soát xem có bất kỳ bong bóng khí li ti nào sủi lên hay không. Sau biến cố tai nạn lao động bốn năm trước và chuỗi ngày dài chìm ngập trong mặc cảm của một kẻ tàn phế ăn bám gia đình, sự khéo léo, cẩn trọng và lòng tự tôn nghề nghiệp của người thợ cơ khí lành nghề trong cậu dường như đã hồi sinh trọn vẹn, mạnh mẽ và kiên định hơn bao giờ hết.
“Van an toàn tự ngắt hoạt động chuẩn xác một trăm phần trăm rồi chị Hai,” Khang ngẩng đầu lên, lấy mu bàn tay quệt vệt mồ hôi đang rịn ra trên sống mũi, nở một nụ cười rạng rỡ và nhẹ nhõm. “Em đã tháo ra, cân chỉnh và đi lại toàn bộ hệ thống đánh lửa điện tử cho cả bốn họng bếp khè công suất lớn. Áp lực ngọn lửa giờ xanh biếc, chụm đều tăm tắp, không bị tạt gió mà còn tiết kiệm được ít nhất hai mươi lăm phần trăm lượng gas tiêu thụ so với dàn bếp cũ kỹ của mẹ ngày xưa. Còn cuốn sổ quỹ thu chi tuần đầu tiên em cũng đã lập bảng tính chi tiết trên máy tính xách tay rồi. Từng khoản tiền mua mắm, muối, gia vị khô, tiền điện nước sinh hoạt cho đến từng đồng tiền hỗ trợ tự nguyện của bà con bỏ vào hòm gỗ sẻ chia trước cửa, em đều lưu hóa đơn chứng từ khớp từng hào.”
Nhiên bước chậm rãi lại gần, đặt bàn tay ấm áp lên bờ vai rắn rỏi của em trai. Ánh mắt cô ánh lên niềm tin cậy sâu sắc:
“Làm tốt lắm Khang. Việc vận hành một căn bếp cộng đồng phục vụ số đông đòi hỏi an toàn kỹ thuật và sự minh bạch tài chính tuyệt đối. Có em phụ trách mảng cơ khí, kiểm tra bếp lò và làm thủ quỹ quản lý dòng tiền, chị mới có thể toàn tâm toàn ý đứng bên nồi nước dùng được.”
Ở chiếc bàn tròn bằng gỗ mít kê sát mép hiên, dì Lê Thanh Thu đang thoăn thoắt lau từng chiếc bát gốm tráng men màu mộc rồi xếp thành từng chồng ngay ngắn, thẳng tắp. Bộ hồ sơ pháp lý công nhận hoạt động của bếp ăn thiện nguyện phi lợi nhuận có dấu mộc đỏ tươi của Ủy ban nhân dân phường được dì cẩn thận lồng trong bìa nhựa trong suốt, đặt trang trọng cạnh cuốn sổ ghi chép tiếp nhận đóng góp của lối xóm. Không còn nét mặt căng thẳng, gay gắt với những cái nhíu mày hằn sâu nỗi sợ hãi của người đàn bà từng ngày ngày phải run rẩy đón những cuộc điện thoại đòi nợ tàn độc, gương mặt dì Thu lúc này đã giãn ra hoàn toàn, toát lên vẻ đôn hậu, lanh lợi và tươi tắn.
“Này Nhiên ơi, ban nãy bác tổ trưởng dân phố vừa tạt qua đây đấy,” dì Thu vừa miết chiếc khăn vải khô mềm quanh miệng chiếc đĩa sâu lòng vừa nói, giọng sang sảng đầy hào hứng. “Bác ấy bảo trong mấy ngách hẻm sâu phía trong có hơn chục cụ già neo đơn, chân yếu tay mềm không con cái đỡ đần, lại thêm mấy anh chị đẩy xe gom rác dân lập, trưa trờ trưa trật toàn phải ngồi tạm dưới gốc cây gặm ổ bánh mì khô khốc hoặc ăn cơm nắm chấm muối mè cho qua bữa. Dì ghi chép địa chỉ, lập danh sách cụ thể hết cả rồi. Trưa nay, cứ tầm mười một giờ kém mười lăm là dì sẽ đích thân ra tận đầu ngõ đón bà con vào. Giấy tờ cam kết bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm dì cũng đã nộp bản sao có chứng thực lên trạm y tế phường từ hôm qua, người ta xuống kiểm tra nguồn nước và khu vực rửa dọn rồi, khen nức nở là sạch sẽ, chuẩn mực. Cháu cứ yên tâm đứng bếp, mọi chuyện đối ngoại, tiếp đón xóm giềng cứ để dì lo liệu chu toàn.”
“Cháu đội ơn dì nhiều lắm,” Nhiên mỉm cười, đôi mắt cong lên lấp lánh niềm vui. “Nhờ có dì quán xuyến việc tiếp đón và thủ tục ngoài ngõ, Bếp Hạ mới thực sự trở thành một mái nhà có nề nếp, có tình người.”
Nhiên quay trở lại phía quầy bếp, ngước nhìn tấm bảng đen đóng khung gỗ thông mộc mạc treo trên vách tường gạch thẻ. Cô cầm viên phấn trắng, nắn nót viết từng nét chữ tròn trịa, dứt khoát: *Thực đơn tuần này: Canh chua cá đồng – Rau củ kho quẹt cá cơm Vạn Gió – Cơm gạo rẫy.*
Mô hình bếp mở mà Nhiên gầy dựng không đi theo con đường của một quán xá kinh doanh thương mại với thực đơn in sẵn cứng nhắc quanh năm suốt tháng. Cô điều hành căn bếp theo nhịp điệu luân chuyển tự nhiên của mùa màng và thổ nhưỡng từ những vùng đất mà đôi chân cô từng đi qua. Đất trời ban tặng sản vật gì tươi ngon nhất vào thời điểm ấy, Bếp Hạ sẽ tiếp nhận và nấu món đó để san sẻ với những người lao động nghèo khó bằng mức giá tùy tâm. Ai có đồng ra đồng vào dư dả thì tự giác bỏ mươi mười lăm ngàn vào hòm gỗ sẻ chia; ai túi tiền eo hẹp, bữa đói bữa no thì chỉ cần gửi lại một nụ cười ấm áp, hoặc nán lại sau bữa ăn phụ nhặt giúp mớ rau, rửa vài chiếc xoong nồi. Nơi đây không có chỗ cho sự ban ơn kẻ cả, chỉ có sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau giữa những con người cùng nương tựa vào hạt gạo, ngọn rau của xứ sở.
Đúng tám giờ sáng, một hồi còi xe trầm đục, ngắt quãng vang lên quen thuộc từ ngoài đầu ngõ lớn. Chiếc xe tải mười tấn phủ bạt màu xanh rêu phong sương của nghiệp đoàn xe tải bác Ba từ từ trườn tới rồi dừng hẳn trước lối vào hẻm số 42. Bác Ba thò cánh tay hộ pháp rám nắng qua cửa kính cabin, vẫy tay rối rít:
“Nhiên ơi! Khang ơi! Chuyến hàng liên vùng từ các trạm gửi về tập kết cho Bếp Hạ tới nơi rồi đây này!”
Khang thoăn thoắt đặt chiếc mỏ lết xuống tấm giẻ lau, cùng Nhiên rảo bước nhanh ra đầu hẻm. Mạng lưới liên kết cung ứng nông sản bản địa mà Nhiên đã dày công gây dựng, kết nối trong suốt hành trình gian nan tìm về cội nguồn ẩm thực giờ đây đã chính thức đi vào vận hành nhịp nhàng như những mạch máu tuần hoàn chở dưỡng chất đi nuôi cơ thể.
Bác Ba cùng hai cậu phụ xe khỏe mạnh nhanh chóng tháo dây chằng bạt, cẩn thận dỡ xuống từng kiện hàng được bao bọc chu đáo. Đầu tiên là ba can nhựa ba mươi lít màu trắng ngà đựng đầy thứ nước mắm nhĩ cá cơm truyền thống do chính tay bà Tư Mặn ủ chượp từ làng cát Vạn Gió nắng cháy. Trên nắp can nhựa, người đàn bà cả đời gắn bó với muối mặn và gió biển vẫn không quên dán cẩn thận một mảnh giấy học trò đã ngả vàng, viết vài dòng mực tím mộc mạc: *“Gửi con Nhiên. Đây là mắm cốt cá cơm than vụ nam, đã ròng qua hai mùa nắng lửa mưa giông, giọt mắm sánh đặc như mật ong, thơm nồng đượm đà. Con lấy mắm này mà nêm canh chua, kho quẹt cho bà con lao động ăn cho chắc dạ, ấm lòng.”*
Tiếp theo sau là bốn chiếc sọt tre đan mắt cáo đầy ắp những củ cải trắng mập mạp, su su vỏ xanh mướt, bắp cải cuộn tròn chắc nịch và những bó đọt su non tơ mơn mởn được bọc kỹ trong những lớp lá chuối rừng tươi xanh từ trạm trung chuyển Dốc Sương chuyển xuống. Đó là toàn bộ số rau củ loại hai thu hoạch từ nông trại hữu cơ và quán Ba Ngọn Đèn của Lâm Ngọc Diệp—những quả su su có chút vết trầy xước nhẹ ngoài vỏ do cọ quẹt cành gai, những bắp cải hơi méo mó không tròn đều để lọt vào kệ hàng siêu thị cao cấp nhưng độ tươi non, vị giòn ngọt nguyên lành của sương núi Đơn Dương thì vẹn nguyên không hề tì vết. Kèm theo sọt rau là một hũ sành da lươn đựng ớt hiểm rừng ngâm giấm măng chua cay nồng do chính tay Diệp muối gửi tặng mừng ngày bếp đỏ lửa.
Cuối cùng là hai chiếc cần xé nan tre chở nặng những thức quà trù phú của phương Nam sông nước, được chuyển lên từ chiếc ghe bầu của má Bùi Mỹ Duyên tại chợ nổi Bảy Nhánh và Vườn Cổ Mộc của lão nông Phạm Sáu Lành: những chùm me dốt vỏ rám nắng ngả sang sắc nâu đồng óng ánh thịt quả dẻo quẹo; những quả thanh trà rừng ủ muối mằn mặn mang vị chua thanh tao dịu nhẹ; vài bọc mứt me nước nấu cô đặc với mật mía và gừng gió cay ấm; và đặc biệt là hai chiếc bao tải cói lớn bọc kín đá lạnh vụn, bên trong chứa đầy những mẻ cá lăng béo tròn và cá linh đầu mùa tươi rói vảy bạc lấp lánh, do chính các bạn hàng thương hồ miệt sông Tiền gửi xe khách chạy suốt từ rạng sáng sớm.
Mùi mặn mòi, nồng nàn của biển khơi miền Trung, mùi ngai ngái nồng đượm của đất đỏ bazan cao nguyên phảng phất qua từng bẹ bắp cải còn vương sương lạnh, hòa quyện tuyệt vời với hương thơm chua thanh, ngòn ngọt của trái rừng miệt vườn Nam Bộ. Tất cả tạo nên một bản hòa âm khứu giác sống động, chân thật đến nao lòng ngay giữa lòng một con hẻm nhỏ của đô thị Minh Cảng. Khang hăm hở vác từng bao cá ướp lạnh, dì Thu lăng xăng phụ bưng từng sọt rau củ xếp vào kho trữ thoáng khí, tiếng cười nói rộn rã làm bừng sáng cả một góc phố lao động nghèo.
Đến chín giờ sáng, khoảng sân trước Bếp Hạ đã được quét tước sạch sẽ tinh tươm. Những chiếc bàn gỗ mộc dài không phủ khăn trải bàn được kê thành hai dãy ngay ngắn dưới bóng râm mát rượi của tán cây trứng cá. Phía trên bức tường gạch thẻ cũ đối diện với khu vực nấu nướng, một tấm màn chiếu bằng vải thô màu trắng ngà vừa được Khang dùng dây dù căng phẳng phiu bốn góc.
Từ ngoài cổng bước vào, Hoàng Phúc xuất hiện với chiếc ba lô đựng máy ảnh quen thuộc khoác lệch trên một bên vai. Trông anh lúc này rắn rỏi, phong trần và điềm đạm hơn rất nhiều so với những ngày đầu bỡ ngỡ bước chân lên bến cá Cồn Rêu đầy toan tính. Anh không còn mang dáng vẻ bồn chồn, hấp tấp của một tay làm truyền thông thương mại luôn bị ám ảnh bởi những thước phim hào nhoáng câu khách giật gân, cũng chẳng còn kè kè chiếc máy quay điện ảnh cồng kềnh trị giá tiền tỷ. Hành trang của anh giờ đây chỉ là chiếc máy tính xách tay cá nhân đã dán lại vài góc cạnh và một chiếc máy chiếu mini nhỏ gọn đặt vừa vặn trong lòng bàn tay.
“Cháu chào dì Thu, chào Khang,” Phúc cất tiếng chào, giọng nói trầm ấm và chân thành. Đoạn, anh quay sang nhìn Nhiên, ánh mắt anh sáng lên một vẻ dịu dàng, trìu mến: “Tập phim tài liệu độc lập đã hoàn thiện những khâu chỉnh màu và hòa âm cuối cùng rồi em. Anh mang bản dựng hoàn chỉnh đến đây để chiếu cho mọi người cùng xem trước giờ mở bếp đón khách.”
Đó là một bộ phim tài liệu ngắn dài đúng hai mươi lăm phút với tựa đề giản dị: *“Vị Đất, Vị Người”*. Không hề có những màn dàn dựng ánh sáng cầu kỳ, không có những câu hỏi phỏng vấn gợi mở drama hay âm nhạc dồn dập nhằm thao túng cảm xúc người xem, ống kính của Phúc đã lùi lại phía sau, lặng lẽ và kiên nhẫn ghi lại nhịp sống lao động nhọc nhằn mà kiêu hãnh của những con người bình dị: đôi bàn tay chằng chịt vết nứt nẻ vì muối biển của bà Tư Mặn khi nâng niu từng giọt mắm nhĩ rỉ ra từ đáy thùng gỗ bời lời; ánh mắt kiên định, trầm mặc của già làng H'Linh Niê bên ngọn lửa bập bùng trong gian nhà dài buôn Kơ Nia khi kể về hạt lúa rẫy mẹ truyền con nối; nụ cười rạng rỡ, hào sảng của má Bùi Mỹ Duyên khi tự tay quơ mái chèo giữa muôn trùng sóng nước chợ nổi Bảy Nhánh; và dáng hình cặm cụi, nhẫn nại của ông Sáu Lành giữa vườn cây chua cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Điều đặc biệt nhất là toàn bộ những hình ảnh, âm thanh và câu chuyện đời sống ấy đều được ghi lại dựa trên các văn bản đồng thuận văn hóa rõ ràng, với sự phê chuẩn và quyền đồng sở hữu bản quyền của chính những người nông dân, diêm dân bản địa.
Khi những thước phim cuối cùng khép lại trên nền tấm vải trắng thô trong tiếng vỗ tay râm ran, xúc động của mấy người hàng xóm sang xem sớm, Phúc nhẹ nhàng gập màn hình máy tính lại. Anh bước tới bên quầy bếp gỗ tràm, nơi Nhiên đang đứng cặm cụi nhặt từng cọng ngò gai xanh biếc và ngọn rau ngổ thơm lừng.
“Đoàn làm phim độc lập trực thuộc ban văn hóa của đài truyền hình thành phố vừa duyệt đề án ký sự di sản cộng đồng của anh rồi,” Phúc khẽ nói, ánh mắt nhìn sâu vào từng cử chỉ dịu dàng của đôi bàn tay cô. “Anh đã chính thức nhận lời làm đạo diễn hình ảnh tự do cho dự án đó tại Minh Cảng. Thu nhập chắc chắn sẽ chẳng thể sánh được với những bản hợp đồng quảng cáo độc quyền béo bở của các tập đoàn giải trí lớn, nhưng anh được quyền tự do kể những câu chuyện chân thực mà tâm hồn mình thực sự tin tưởng. Và điều quan trọng hơn cả…” Phúc ngập ngừng một thoáng, giọng anh chùng xuống đầy tha thiết, “anh có thể ở lại thành phố này, được đồng hành cùng em trên cùng một vùng đất, mà không ai trong hai chúng ta phải từ bỏ hay thỏa hiệp những lý tưởng sống độc lập của riêng mình.”
Đôi tay đang nhặt rau của Nhiên khẽ khựng lại. Trái tim cô rung lên một nhịp êm ả, dịu dàng như mặt nước hồ thu đón ngọn gió mát lành. Cô ngẩng lên, nhìn thẳng vào đôi mắt sâu thẳm của người đàn ông đã từng cùng cô dầm mình dưới cơn mưa bão để che chắn từng lu mắm ở làng cát Vạn Gió, người đã dám dũng cảm bán sạch tài sản tích cóp để chuộc lại lỗi lầm và kiên trì sánh bước bên cô qua những khúc quanh ngặt nghèo nhất.
“Chúng ta ra bậu cửa sau nói chuyện một chút đi anh,” Nhiên khẽ thì thầm.
Hai người cùng bước ra khoảng hiên sau của gian bếp—nơi mở ra một khoảng trời nhỏ hẹp nhưng ngập tràn sắc xanh của những giàn dây leo mướt mắt và những chậu sành trồng ớt xiêm, húng quế mọc chen chúc trên nền gạch tàu ẩm ướt. Gió trưa thổi lùa qua khe hẹp giữa hai bờ tường cũ, lay động những phiến lá xanh non, xua tan đi cái ngột ngạt, oi bức quen thuộc của phố xá mùa khô.
Nhiên ngồi xuống bậc thềm đá mài mát rượi. Phúc bước tới, ngồi xuống bên cạnh cô, giữ một khoảng cách chừng nửa bước chân vừa vặn, đầy sự ý nhị và trân trọng.
“Những ngày tháng bươn chải vừa qua đã dạy cho em hiểu được một điều cốt tử: phàm những gì quá vội vã, cố chấp ép uổng hay quá cuồng nhiệt đều sẽ dễ dàng dẫn đến rạn nứt và đổ vỡ,” Nhiên ngước nhìn khoảng trời biếc xanh lọt qua vòm lá, cất giọng chậm rãi, tĩnh tại. “Em từng lầm tưởng rằng yêu một người là phải dâng hiến trọn vẹn bản thân, phải tự hòa tan mình vào cuộc đời người khác, giống hệt như cái cách em từng tôn sùng Khải Nam và mù quáng gò ép mình chạy theo những khuôn thước vị kỷ của anh ta. Nhưng giờ đây em đã nhận ra, mối thâm tình bền chặt nhất trên cõi đời này là khi hai con người có thể đứng vững chãi, độc lập trên đôi chân của chính mình, tôn trọng ranh giới và bầu trời tự do của nhau, rồi từ đó mới thấu hiểu và cùng nhau hướng về một con đường chung.”
Phúc mỉm cười, một nụ cười nhẹ nhõm, bao dung và sâu lắng:
“Anh hiểu điều đó, Nhiên. Bản thân anh cũng từng là một kẻ ích kỷ và tham lam, chỉ mải miết chạy theo danh vọng cá nhân mà sẵn sàng giẫm đạp lên cảm xúc và lòng tin của người khác. Giờ đây anh không hề có ý định vội vã. Anh muốn chúng ta bắt đầu lại từ những điều nhỏ bé, chậm rãi và vững chãi nhất. Anh sẽ tiếp tục công việc ghi hình của anh, em chăm chút cho căn bếp nhỏ của em. Mỗi ngày, chỉ cần được ghé qua nơi này phụ em nhặt mớ rau, bưng một khay cơm nóng và lắng nghe những câu chuyện dung dị đời thường của bà con lối xóm, với anh, bấy nhiêu đó đã là một niềm hạnh phúc trọn vẹn rồi.”
Nhiên khẽ nghiêng đầu nhìn anh, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười rạng ngời, thanh thản. Chẳng cần đến những lời thề non hẹn biển hoa mỹ, chỉ một cái gật đầu nhẹ nhàng và ánh mắt thấu cảm trao nhau bên bậu cửa sau quán trưa nay đã là một khởi đầu đẹp đẽ, vững vàng nhất cho một tình cảm chân thành—nơi sự thấu hiểu, lòng bao dung và sự tôn trọng lẫn nhau được đặt lên trên hết thảy những đam mê nông nổi thời tuổi trẻ.
Mười một giờ trưa, tiếng chuông đồng nhỏ treo bên cánh cổng Bếp Hạ khẽ ngân vang từng tiếng thanh thoát, rộn rã. Giờ mở bếp chính thức bắt đầu.
Trong ngày khai trương đượm đà tình nghĩa này, Nhiên dứt khoát không nấu bất kỳ món ăn cao lương mỹ vị cầu kỳ nào từng giúp cô giành được huy chương vàng ẩm thực hay để làm hài lòng khẩu vị xa hoa của giới sành ăn thành thị. Không có bóng dáng của những tảng thịt bò ngoại nhập đắt đỏ, không có gan ngỗng béo ngậy hay những kỹ thuật nấu chín chậm chân không tinh vi của các nhà hàng năm sao. Món ăn duy nhất tỏa khói nghi ngút trên chiếc nồi nhôm khổng lồ đặt trang trọng giữa gian bếp mở là món canh chua cá đồng nấu với các loại trái chua bản địa.
Nhiên đứng thẳng bên bếp lò rực than hồng ấm áp. Đôi bàn tay thoăn thoắt của cô thuần thục cầm chiếc muôi cán dài múc từng vá nước dùng trong veo nhưng óng ánh một sắc vàng hổ phách tự nhiên. Vị chua đượm đà, êm ái của những trái me dốt từ miệt Bảy Nhánh hòa quyện nhịp nhàng với nốt chua thanh tao, sâu lắng của những quả thanh trà rừng ủ muối lấy từ Vườn Cổ Mộc; chút mặn mòi nồng hậu, đậm đà của giọt mắm nhĩ Vạn Gió nâng đỡ trọn vẹn vị béo ngậy, ngọt lịm tự nhiên của từng thớ thịt cá lăng, cá linh tươi rói; điểm xuyết thêm chút cay nồng ấm áp của ớt hiểm nướng và hương thơm dịu mát của ngò gai, rau ngổ cùng những chùm bông điên điển vàng rực vừa được thả nhanh vào nồi nước sôi bùng.
Khoảng sân nhỏ lát gạch tàu dưới gốc cây trứng cá nhanh chóng chật kín người ngồi. Những bác tài xế xe ôm công nghệ trong màu áo xanh áo vàng ướt đẫm mồ hôi sau những cuốc xe trưa nắng gắt, những chị gánh hàng rong đặt đôi quang gánh trĩu nặng bên hiên, những cô chú lao công quét rác đường phố và những cụ già bán vé số dạo lưng còng chống gậy chậm rãi bước vào… Tất cả đều được dì Thu đon đả chạy ra tận cổng chào đón, ân cần kéo ghế mời ngồi như người thân ruột thịt đi làm ăn xa mới trở về nhà. Khang nhanh nhẹn bưng từng khay cơm gạo rẫy nghi ngút khói thơm dẻo, trong khi Phúc thoăn thoắt rót từng ly trà đá hoa cúc mát lạnh chuyền tay cho từng vị khách.
“Bác Ba ơi, bác ăn bát canh này lúc còn nóng hổi cho ấm bụng nhé,” Nhiên đích thân bưng một tô canh chua đầy ắp thịt cá thơm lừng, rắc thêm chút ngò gai xanh ngắt đặt nhẹ nhàng trước mặt người cựu chiến binh già bán vé số dạo trong hẻm.
Bác Ba run run cầm chiếc thìa nhôm, khẽ thổi nhẹ rồi húp một ngụm nước canh nóng. Đôi mắt kèm nhèm, đục mờ vì sương gió cuộc đời của người lính già bỗng sáng bừng lên, rồi ngân ngấn những giọt nước mắt xúc động:
“Trời đất ơi… sao mà nó ngon đến thế này hả cô gái… Ngọt từ tủy thịt cá đồng, chua thanh dịu dàng mát cả cuống họng, mà cái hậu mặn mà của mắm thì thấm thía tận chân răng. Húp một muỗng canh này vào, tôi thấy cả người bừng bừng khỏe khoắn, nhớ y như cái hương vị nồi canh chua ngày xưa má tôi hay nấu nơi góc bếp quê nhà mỗi bận tôi đi hành quân về…”
Tiếng xì xụp húp canh nóng hổi, tiếng cười nói rộn rã, tiếng bát đũa chạm nhau lách cách và những lời trầm trồ khen ngợi mộc mạc vang vọng khắp không gian nhỏ bé. Những con người lao động lam lũ quanh năm quen với những bữa cơm bụi đầu đường xó chợ tạm bợ, nay được ngồi quây quần bên nhau trên những chiếc bàn gỗ sạch sẽ, cùng nhau chia sẻ một bữa ăn đượm đà hương vị đất trời và chan chứa tình người ấm áp. Gian bếp lúc này không còn là nơi để phô diễn những kỹ thuật nấu nướng rỗng tuếch hay phân định đẳng cấp sang hèn; nó đã thực sự trở thành một mái ấm cộng đồng dung dị, nơi những mảnh đời cơ cực nương tựa vào nhau, tìm thấy sự an ủi, lòng tự trọng và sinh lực để tiếp tục kiên cường mưu sinh giữa dòng đời hối hả.
Đến giữa trưa, khi dòng người ghé ăn đã dần vơi bớt, Nhiên bước chậm rãi lại chiếc kệ gỗ nhỏ được đặt trang trọng ở góc tường bên cạnh bếp lò.
Nằm yên bình ở đó là cuốn sổ tay ẩm thực của mẹ cô—bà Trần Ngọc Hạ. Cuốn sổ từng một thời sờn rách mép gáy, từng bị khuyết thiếu những trang giấy cuối cùng sau bao biến cố thăng trầm, nay đã được cô nâng niu phục chế, dán ghép lại lành lặn từng trang, đặt mở ra ở trang giấy trắng tinh khôi cuối cùng. Trên trang giấy ấy, mẹ Hạ ngày xưa đã không hề ghi lại bất kỳ một tỷ lệ định lượng muối, đường, mắm hay một công thức bí truyền bất di bất dịch nào. Mẹ chỉ để lại một khoảng trắng thênh thang không tì vết—một khoảng trống thiêng liêng dành cho những người tiếp nối ngọn lửa bếp tự mình viết tiếp câu chuyện của cuộc đời bằng chính những trải nghiệm máu thịt, sự từng trải và tấm lòng trắc ẩn của bản thân.
Ngay bên cạnh cuốn sổ tay ấy, một chiếc bát gốm tráng men mộc mạc đựng đầy những hạt giống lúa rẫy tròn mẩy và những hạt cây gia vị bản địa do những đứa trẻ buôn Kơ Nia và xóm chài Vạn Gió gửi tặng, đang khẽ cựa mình, đâm chồi nảy lộc thành những mầm xanh non tơ mơn mởn dưới tia nắng ban trưa rọi xiên qua khung cửa sổ nhỏ.
Khang từ ngoài sân bước nhanh vào bếp, chiếc áo thun ướt đẫm mồ hôi nhưng ánh mắt cậu sáng ngời niềm vui sướng:
“Chị Hai ơi, nồi cơm lớn đầu tiên hết sạch nhẵn rồi! Bà con ai nấy đều khen cơm gạo rẫy dẻo thơm ngào ngạt, canh chua cá đồng thì ngon đậm đà chưa từng thấy. Có mấy bác lái xe ôm với mấy cô bán rau cứ nằng nặc đòi bỏ thêm tiền vào hòm gỗ sẻ chia, dì Thu phải vừa cười vừa xua tay can mãi đấy!”
Nhìn em trai mình nay đã thực sự trưởng thành, đĩnh đạc và tìm lại được lẽ sống vững chãi; nhìn người dì thân thương đang ríu rít cười nói chuyện trò cùng chòm xóm ngoài hiên nắng; nhìn Phúc đang cẩn mẫn lau từng chiếc bàn gỗ sau bữa ăn, Nhiên thấy lòng mình lắng dịu lại trong một niềm bình an nội tâm sâu thẳm, dịu ngọt và bao la đến vô ngần. Mọi nỗi dằn vặt, đắng cay về những sai lầm trong quá khứ, mọi nỗi oán hận dành cho kẻ bội bạc hay những tham vọng hão huyền nhằm chứng tỏ bản thân với người đời giờ đây đã hoàn toàn tan biến theo làn khói bếp bảng lảng bay lên vòm trời xanh thẳm.
Chuyến đi vạn dặm đầy bão giông để tìm kiếm công thức thất truyền của mẹ rốt cuộc đã hoàn tất trọn vẹn—không phải bằng một tấm bằng sáng chế độc quyền, một thương hiệu triệu đô hay một danh xưng đầu bếp lẫy lừng giữa chốn phồn hoa, mà bằng chính một lối sống biết cúi mình, biết sẻ chia và tha thứ cho đời, cho người.
Nhiên khẽ mỉm cười gắp một miếng cá cho em trai, nhận ra 'Vị Nhà' chưa bao giờ là một cái tên trên biển hiệu, mà là hành động yêu thương nương tựa vào nhau mỗi ngày.