Chợ Đêm Số HóaC.1 / 35
Chương 1

Trở về quầy An Lành

Chuyến xe khách liên tỉnh thả Trần Gia Hân xuống ngay đầu con đường dẫn vào khu phố cổ giữa một buổi chiều muộn bảng lảng khói nhang và mùi ẩm mốc đặc trưng của rêu phong mùa mưa dầm.

Gió từ phía sông Hoài hun hút thổi thốc qua những vòm cây bằng lăng già trơ trụi lá, mang theo hơi nước ngai ngái trộn lẫn vị mặn chát của phù sa và hương quế thanh nồng từ một góc tiệm thuốc bắc bên kia ngã tư. Bầu trời xứ Quảng sà xuống thấp lè tè, đặc quánh một màu xám chì như lòng chảo gang vừa nhấc khỏi bếp than.

Hân đứng chôn chân trên mép vỉa hè lát gạch thẻ rạn vỡ, hai bàn tay buốt cóng ghì chặt lấy cần kéo kim loại của chiếc vali du lịch đã sờn rách bốn góc. Bánh xe cao su cũ mòn rít lên từng hồi ken két khô khốc trên mặt đá mấp mô khi cô bắt đầu lê bước. Mỗi bước chân của Hân nặng trĩu, không chỉ bởi chiếc ba lô đựng chiếc máy tính tróc sơn đang đè trĩu một bên vai gầy, mà còn bởi một bí mật nhức nhối đang bóp nghẹt lồng ngực: cô đã thực sự trắng tay rời khỏi Hà Nội.

Dự án ứng dụng công nghệ quản lý chuỗi cung ứng nông sản mà cô dồn hết tâm huyết suốt hai năm ròng rã trên cương vị trưởng nhóm kỹ thuật vừa chính thức bị nhà đầu tư ngoại rút vốn cách đây đúng ba ngày. Một chuỗi ngày dài nghẽn mạng, lỗi dữ liệu máy chủ triền miên và sự cạnh tranh tàn khốc của những sàn thương mại điện tử khổng lồ đã đẩy dự án non trẻ vào bước đường cùng. Cả đội ngũ mười hai kỹ sư phần mềm trẻ tuổi tan rã chỉ sau một cuộc họp trực tuyến ngắn ngủi chưa đầy mười lăm phút. Không có tiệc chia tay, không có những cái ôm siết chặt, chỉ có những dòng tin nhắn từ biệt vội vã trong nhóm chat nội bộ trước khi từng người lặng lẽ rời khỏi phòng làm việc.

Hân đã nộp đơn từ chức trong sự kiệt quệ đến tận cùng của thể xác lẫn tinh thần. Sau khi thanh toán nốt hai tháng tiền thuê căn phòng trọ ẩm thấp ở Cầu Giấy và hoàn tất mấy khoản sinh hoạt phí cuối cùng, ứng dụng ngân hàng trên chiếc điện thoại trầy xước của cô chỉ còn lại một khoản tiết kiệm có hạn: vỏn vẹn ba mươi triệu đồng. Đó là toàn bộ số vốn liếng cô dự tính chắt bóp tối đa để có thể duy trì cuộc sống trong vòng một năm tới nếu chưa tìm được lối đi mới. Mất phương hướng, cay đắng và mất sạch niềm tin vào năng lực dẫn dắt của bản thân sau cú ngã đau điếng, cô thu dọn toàn bộ hành lý trong một chiếc vali và một ba lô, trèo lên chuyến xe đò chạy thâu đêm suốt mười hai tiếng đồng hồ để chạy trốn về đây. Về nơi duy nhất trên cõi đời này mà cô biết chắc ngọn đèn quả ớt sẽ không bao giờ tắt trước mười một giờ đêm, dẫu cho ngoài trời có giông bão hay lòng người có đổi thay.

Rẽ qua khúc quanh hẹp của con hẻm nhỏ lát gạch nghiêng, tầm mắt Hân chạm vào tấm biển hiệu bằng gỗ mít đã bạc phếch theo năm tháng: "Tạp hóa An Lành". Tấm biển treo chênh chếch dưới mái ngói âm dương phủ đầy rêu xanh thẫm, những lớp ngói xô lệch hứng trọn từng giọt sương chiều đang nhỏ tong tòng xuống rãnh thoát nước.

Bên trong gian hàng mờ tối, mẹ cô – bà Lành – đang cặm cụi ngồi bên chiếc bàn tính gảy bằng gỗ mun. Dưới ánh sáng vàng vọt, leo lét phát ra từ bóng đèn quả ớt đỏ treo lơ lửng giữa trần nhà, bóng dáng người đàn bà trạc tuổi năm mươi hiện lên gầy guộc, còng xuống trên từng trang sổ nợ bìa da sờn rách. Bàn tay khẳng khiu của bà lật từng nếp giấy cũ một cách thận trọng, chậm rãi như thể sợ làm kinh động đến những con số đã ngủ yên.

Hân dừng lại trước bậu cửa gỗ lim bóng loáng vết mồ hôi tay qua mấy mươi năm người mua kẻ bán vịn vào. Cô đứng chết lặng, hít sâu một hơi thật dài để nén lại tiếng nấc nghẹn ngào chực trào ra nơi cuống họng. Đôi mắt cay xè nhìn mái tóc mẹ đã điểm thêm quá nửa sợi bạc, búi vội bằng chiếc kẹp lưới đen nhánh đã xơ chỉ. Cô cố gượng một nụ cười rạng rỡ nhất, một nụ cười vô lo vô nghĩ như những ngày còn là cô học trò trường huyện, rồi bước qua ngạch cửa cao:

"Mẹ ơi, con về rồi nè!"

Bà Lành giật mình đánh thót một cái, cây bút bi Thiên Long kẹp giữa hai ngón tay gầy guộc run lên, suýt nữa rơi thẳng xuống mặt kính tủ quầy hàng. Bà ngẩng phắt đầu lên, cặp kính lão trễ xuống tận sống mũi làm lộ ra đôi mắt kèm nhèm, hoe đỏ vì mỏi mệt. Đôi mắt ấy nheo lại, ngơ ngác nhìn bóng dáng dong dỏng cao đang đứng chắn mất một khoảng ánh sáng nhờ nhợ hắt vào từ phía cửa ngõ.

"Trời đất quỷ thần ơi! Cái Hân?"

Bà Lành vội vàng buông cây bút, lật đật hai tay vịn vào mép bàn gỗ đứng dậy. Đôi dép tổ ong màu cháo lòng mòn vẹt gót quẹt lẹt xẹt trên nền gạch tàu đỏ thẫm. Bà bước vội ra khỏi quầy, đôi chân có phần hơi khập khiễng vì chứng đau khớp kinh niên mỗi khi gió mùa tràn về.

"Sao bảo tuần sau mới nghỉ lễ gì đó mà nay đã vác xác về rồi? Mà đi đứng kiểu chi không điện trước một tiếng để mẹ đón ngoài bến xe? Coi cái mặt kìa, xanh như tàu lá chuối, hai cái má hóp lại còn có một nắm thế kia! Mày có ăn uống chi dọc đường không hả con?"

Hân buông tay kéo vali, sà ngay vào lòng mẹ. Mùi dầu gió xanh Con Ó trộn lẫn mùi xà phòng thơm và hương ẩm mốc quen thuộc từ vạt áo bà ba của mẹ lập tức ùa vào cánh mũi. Đó là mùi hương của ký ức, của những ngày thơ ấu nép sau lưng mẹ trốn những trận đòn roi, mùi hương của sự che chở tuyệt đối mà suốt bốn năm bươn chải ở đất thủ đô cô chưa từng tìm thấy lại. Hân vùi mặt vào hõm vai gầy của mẹ, cố giấu đi cái chớp mắt bối rối và giọt nước mắt ấm nóng vừa trượt dài xuống gò má.

"Con được nghỉ phép dài hạn dồn từ năm ngoái đến chừ mẹ ơi," Hân cười trừ, tự nhiên đưa bàn tay lạnh ngắt vỗ vỗ lên lưng mẹ để phân tán sự chú ý. "Công ty con dự án lớn vừa xong xuôi, sếp duyệt cho nghỉ bù cả tháng lận. Con thấy ở ngoài trọ ngột ngạt quá, cơm hàng cháo chợ nuốt không vô nên xách ba lô về phụ mẹ coi sạp luôn. Vừa được ăn cơm mẹ nấu, vừa khỏi tốn tiền thuê nhà, sướng nhất trần đời còn chi nữa."

Bà Lành đẩy con gái ra một khoảng bằng cánh tay, săm soi từ đỉnh đầu xuống tới gót chân. Ánh mắt người mẹ vừa ngập tràn nỗi mừng rỡ khôn xiết, vừa không giấu nổi vẻ xót xa xen lẫn thói quen càu nhàu thường nhật:

"Nghỉ phép cái kiểu chi mà người ngợm tong teo như bộ xương khô thế này! Lại thức thâu đêm gõ máy tính rồi ăn mì gói trừ bữa chớ gì? Mẹ đã dặn bao nhiêu lần, có làm ông to bà lớn chi trên thủ đô thì cái bụng cũng phải no trước đã. Con gái con lứa hai mươi tư tuổi đầu mà nhìn như đứa học trò cấp ba thiếu ăn thiếu mặc. Mặt mũi thì tái mét, mắt thì thâm quầng như gấu trúc."

Nói thì cằn nhằn xối xả vậy, nhưng bàn tay ram ráp, đầy những vết chai sần của bà đã thoăn thoắt kéo chiếc ghế đẩu bằng nhựa đỏ ra cho Hân ngồi. Bà quay ngoắt người, với tay mở chiếc lồng bàn nhôm đã móp méo một góc đặt trên chõng tre phía sau quầy.

"Ngồi đó đi, nghỉ chân cho ráo mồ hôi. Còn nửa con gà luộc hồi trưa cúng rằm với bát cháo đậu xanh trên bếp than, để mẹ múc cho mà húp. Đi xe đò cả buổi người toàn mùi khói bụi, đường sá xa xôi xóc nảy ruột gan thế kia thì sức mô mà chịu nổi."

"Dạ, tí con ăn sau cũng được mẹ. Con chưa đói lắm đâu," Hân khẽ lắc đầu, kéo chiếc ghế lại sát quầy thu ngân. "Để con coi sạp cho mẹ nghỉ tay một chút. Mẹ ngồi tính sổ từ chiều tới chừ mỏi lưng rồi đúng không?"

Hân đưa mắt ngó nghiêng quanh quầy hàng, lòng dâng lên một nỗi niềm vừa thân thương vừa xa lạ.

Tạp hóa An Lành của mẹ cô nằm ở mé ngoài cùng của Chợ Đèn Lồng, ngay góc ngã ba dẫn thẳng ra mép sông Hoài. Sạp hàng chỉ vỏn vẹn chừng mười lăm mét vuông nhưng chất kín từ sàn đất lên tận xà nhà đủ mọi thứ nhu yếu phẩm trần đời. Những bao gạo xi dẻo thơm, bao nếp cái hoa vàng được mở miệng tròn vành vạnh, cắm sẵn chiếc lon sữa bò bằng tôn dùng để đong gạt. Những can dầu ăn màu vàng óng, chai nước mắm cá cơm Nam Ô cốt nhĩ xếp thành hàng lối ngay ngắn, bám một lớp bụi mịn mỏng tang.

Trên các xà gỗ ngang, mẹ cô treo lủng lẳng đủ thứ: từ những dây dầu gội đầu Clear, Sunsilk màu xanh đỏ, gói gia vị hạt nêm, cho đến những cuộn dây cước câu cá, lưỡi câu bén ngót, hộp diêm Thống Nhất và cả mấy phong kẹo dừa Bến Tre bọc giấy kiếng bóng loáng. Mọi thứ được sắp đặt theo một trật tự kỳ lạ mang đậm dấu ấn cá nhân của bà Lành. Người ngoài nhìn vào sẽ chỉ thấy một mớ bòng bong hỗn độn, chật chội đến nghẹt thở, nhưng chỉ cần bà Lành nhắm mắt đưa tay ra là có thể lấy chính xác từng gói bột ngọt năm mươi gam hay cuộn chỉ may màu trắng mà không trật một phân ly.

Thế nhưng, điều khiến Hân giật mình thảng thốt không phải là sự chật chội quen thuộc ấy, mà là sự im ắng đến rợn ngợp đang bao trùm lấy toàn bộ khu chợ.

Bây giờ đã hơn sáu giờ tối. Theo toàn bộ ký ức tuổi thơ và thời niên thiếu của Hân, đây là khung giờ vàng son của Chợ Đèn Lồng. Giờ này, tiếng bước chân huỳnh huỵch của các bà nội trợ tan sở ghé vội mua mớ rau muống, lạng thịt ba chỉ chuẩn bị bữa cơm chiều phải rộn rã khắp ngõ; tiếng chuông xe đạp lách cách, tiếng kì kèo mặc cả bớt một thêm hai, tiếng dao thớt va chan chát từ quầy thịt đầu ngõ phải tạo thành một thứ hợp âm đặc sệt sức sống của một chợ dân sinh miền Trung.

Thế nhưng hiện tại, lòng chợ vắng tanh vắng ngắt. Một sự tĩnh lặng ma quái phủ trùm lên không gian. Ánh đèn tuýp trắng từ vài ba quầy hàng còn mở hắt ra những vệt sáng dài cô độc, run rẩy trên nền đá ướt sũng nước mưa. Gió luồn qua các gian hàng trống trơn, thổi bay những mảnh lá chuối khô xào xạc dưới chân tường.

Hân kéo ghế ngồi xuống sát bên cạnh chiếc bàn tính của mẹ. Hai tiếng đồng hồ chập tối trôi qua chậm chạp, nặng nề như một cuộn phim nhựa bị kẹt bánh răng. Không khí trong sạp ngột ngạt đến mức có thể nghe rõ mồn một tiếng thạch sùng tặc lưỡi chắt chắt trên trần ván ép, tiếng quạt đảo gió treo tường kêu rè rè theo từng nhịp lắc qua lắc lại, và tiếng giọt nước rỉ đều đặn từ mái hiên xuống chiếc chậu nhôm góc sân.

Trong suốt hai tiếng đồng hồ dài đằng đẵng ấy, chỉ có vỏn vẹn hai người khách ghé qua quầy An Lành.

Người thứ nhất là chú Bảy chạy xe thồ ở đầu cầu Cẩm Nam. Chú bước vào sạp với bộ áo mưa cánh dơi rách tơi tả còn nhỏ nước ròng ròng xuống nền gạch, khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn đen sạm vì nắng gió sông nước. Chú móc từ túi áo trong ra một tờ tiền hai mươi nghìn đồng nhàu nát, ẩm ướt, vuốt phẳng phiu trên mặt kính để mua một chiếc thẻ cào Viettel mệnh giá hai mươi nghìn, rồi đứng cào ngay tại quầy, lẩm bẩm đọc từng con số nạp vào chiếc điện thoại "cục gạch" sứt mẻ góc.

Người thứ hai là thím Sáu bán bánh bèo gánh. Thím quảy đôi bồ sứt cạp ghé tạt ngang, quần xắn móng lợn tới tận đầu gối, mua hai bao diêm Thống Nhất giá ba nghìn đồng để chuẩn bị về nhóm bếp củi sớm cho mẻ bánh bèo rạng sáng mai.

Bà Lành run run thối lại hai nghìn tiền lẻ cho thím Sáu, cẩn thận nhét từng tờ tiền mệnh giá nhỏ đã mềm nhũn vào chiếc hộp bánh quy bằng thiếc đã gỉ sét bốn góc đặt dưới ngăn kéo. Khi thím Sáu quảy gánh bước ra ngõ, cái bóng xiêu vẹo, gầy guộc của thím đổ dài ngoằng dưới ánh đèn đường vàng vọt rồi tan biến vào màn mưa, nụ cười xởi lởi gượng gạo trên môi bà Lành cũng lập tức tắt lịm.

Bà ngồi thụp xuống chiếc ghế đẩu, hai vai buông thõng. Ánh mắt người đàn bà trĩu nặng nhìn ra khoảng sân chợ trống hoác trước mặt, nơi những cơn gió lạnh bắt đầu cuốn theo mấy chiếc túi ni-lông bay là đà trên mặt đất. Tiếng thở dài của bà ngắn thôi, nhưng Hân nghe rõ mồn một sự bất lực và mệt mỏi đã tích tụ, dồn ứ qua nhiều tháng ngày ế ẩm triền miên.

"Mẹ... dạo ni chợ mình vắng khách rứa hả mẹ?" Hân khẽ cất tiếng hỏi, ngón tay vô thức mân mê mép bàn gỗ đã mòn vẹt lớp sơn bóng.

Bà Lành giật mình như vừa bị bắt quả tang đang giấu giếm điều gì, vội vàng cầm lấy chiếc khăn bông cũ đã ngả màu ố vàng, lau đi lau lại mặt kính tủ hàng vốn dĩ đã sạch bong không một hạt bụi:

"Thì... độ rày vào mùa mưa ẩm, khách du lịch họ ít đi dạo phố. Mấy người trong phố thì trời lạnh họ cũng ngại dắt xe ra đường, quanh quẩn ăn tạm cái chi trong tủ lạnh cho xong bữa."

"Nhưng người ta vẫn phải ăn cơm, vẫn phải xài xà phòng, mắm muối mỗi ngày chớ mẹ? Đâu thể vì trời mưa rét mà cả khu phố không ai đỏ lửa nấu ăn?" Hân gặng hỏi, trực giác nghề nghiệp mách bảo cô rằng sự vắng vẻ này không đơn thuần chỉ là do yếu tố thời tiết.

Bà Lành chưa kịp cất lời trả lời thì từ phía đầu con ngõ nhỏ dẫn vào chợ đã vang lên hàng loạt âm thanh xé toạc không gian tĩnh mịch của đêm tối.

*Bíp! Bíp bíp! Bíp... bíp!*

Tiếng còi xe máy dồn dập, the thé và gắt gỏng vang lên liên hồi, kèm theo tiếng gầm rú của ống xả xe máy độ pô. Hai chiếc xe máy hiệu Wave và Sirius cũ mèm, phía sau yên xe chằng buộc những chiếc thùng nhựa công nghiệp màu cam chói lọi có in dòng chữ phản quang cỡ lớn: "Vạn Mua - Giao Nhanh Hai Giờ", phóng vụt qua con hẻm nhỏ hẹp chỉ vừa hai người đi bộ tránh nhau. Bánh xe cày qua những vũng nước mưa đọng trên mặt gạch, bắn tung tóe những vệt bùn bẩn lên các tấm bạt che mưa của những sạp hàng ven đường.

Anh shipper trùm chiếc áo mưa đồng phục màu cam kín mít, một tay ghì chặt ghi-đông, một tay cầm chiếc điện thoại thông minh gắn trên giá đỡ liên tục nhấp nháy bản đồ chỉ đường. Miệng anh ta lầm bầm định vị số nhà trong con kiệt hẹp rồi rẽ ngoắt một góc chín mươi độ, biến mất hút vào khu dân cư phía sau chợ.

Chưa đầy năm phút sau, lại một chiếc xe khác của Vạn Mua lướt qua theo chiều ngược lại. Trên ba-ga xe chằng kín ba chiếc hộp các-tông vuông vức dán kín băng keo mang logo thương hiệu, tiếng thông báo đơn hàng mới từ ứng dụng điện thoại của tài xế vang lên *ting ting* rộn rã khắp ngõ vắng.

Hân nhìn theo vệt đèn hậu màu đỏ au vừa khuất dạng sau khúc quanh tường rêu, rồi chậm rãi đưa mắt nhìn sang các sạp hàng chung quanh quầy của mẹ mình.

Cảnh tượng tiêu điều đến nao lòng. Phía đối diện, xe bánh mì của Cô Tư – nơi từng nức tiếng khắp khu phố cổ với món xíu mại gia truyền và pate gan thơm béo ngậy – hôm nay tủ kính vẫn còn đầy ắp hơn nửa khay thịt nướng cháy cạnh và cả một rổ bánh mì giòn rụm chưa bán hết. Cô Tư đang uể oải ngồi trên chiếc ghế gỗ thấp, dùng chiếc muôi nhôm gõ nhè nhẹ vào thành chảo gang từng nhịp buồn bã, mắt thẫn thờ nhìn ra khoảng không gian đen ngòm ngoài đường.

Chếch về bên tay trái, sạp vải Ba Mùa của cô Ba – nơi từng rực rỡ sắc màu của hàng trăm cuộn lụa tơ tằm, vải lanh may áo dài và luôn rộn rã tiếng cười nói, thử đồ của các bà, các chị – nay đã bắt đầu kéo sập những tấm bạt nhựa màu xanh xuống sớm. Tiếng dây thừng buộc vào các cọc sắt kêu *ken két* nghe khô khốc và lạnh lẽo. Bình thường sạp vải của cô Ba luôn mở cửa tới tận chín, mười giờ đêm để phục vụ du khách tản bộ ngắm đèn lồng, vậy mà hôm nay mới hơn bảy giờ tối, cô Ba đã lục đục thu dọn những con man-nơ-canh mặc áo dài gấm vào tận góc sâu trong nhà, chuẩn bị cài then đóng cửa.

"Đó, con thấy tận mắt rồi chưa," bà Lành buông chiếc khăn lau xuống mặt bàn, chỉ tay ra phía ngõ chợ, giọng chùng hẳn xuống, cay đắng và chua xót. "Mấy cái xe 'Vạn Mua' nớ đó. Ngày mô cũng như ngày nấy, lượn qua lượn lại trước mắt mẹ cả trăm lượt như mắc cửi. Tụi trẻ bây chừ, từ con bé sinh viên thuê trọ trong kiệt cho tới mấy cô giáo trường cấp hai, chúng nó cứ ngồi lì trong phòng bật máy lạnh, bấm cái điện thoại lách cách là nửa tiếng sau có đứa chở đồ tới tận chân cầu thang. Từ chai dầu gội đầu, gói bột giặt cho tới mớ rau muống, củ hành, quả ớt... cái chi cái sàn nớ nó cũng bán hết. Lại còn khuyến mãi giảm giá mười ngàn, hai mươi ngàn, miễn phí tiền xe chở tới tận giường. Cái Chợ Đèn Lồng ni sắp sửa thành cái chợ ma rồi con ơi."

Hân im lặng, hai bàn tay siết chặt mép áo khoác. Cô biết rất rõ Vạn Mua. Làm sao cô có thể không biết được cơ chứ?

Đó là một trong những kỳ lân thương mại điện tử lớn nhất cả nước vào thời điểm hiện tại. Được hậu thuẫn bởi nguồn vốn đầu tư khổng lồ hàng trăm triệu đô-la từ các quỹ mạo hiểm nước ngoài, Vạn Mua đang thực hiện chiến lược "đốt tiền giành thị phần", ráo riết mở rộng mạng lưới kho bãi vi mô và hệ thống giao hàng tức thì đến tận các đô thị loại hai, loại ba và các thị xã du lịch như Hội An.

Thuật toán tối ưu hóa của họ tính toán chi li đến từng mét đường di chuyển của tài xế, tự động gom đơn hàng và sẵn sàng chịu lỗ hàng chục tỷ đồng mỗi quý chỉ nhằm mục đích duy nhất: thay đổi triệt để thói quen tiêu dùng của người dân, bóp nghẹt các chợ dân sinh truyền thống và các cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ bằng những mã giảm giá ảo diệu trên màn hình cảm ứng.

Dự án phần mềm chuỗi cung ứng vừa sụp đổ tan tành của Hân ở Hà Nội cũng từng nuôi tham vọng cạnh tranh một ngách nhỏ trong thị trường bán lẻ khổng lồ ấy, để rồi cuối cùng bị chính những cỗ máy tư bản bọc lốt công nghệ như Vạn Mua đè bẹp không thương tiếc ngay từ vòng gọi vốn thứ hai. Cô hiểu sự tàn nhẫn của những dòng mã nguồn ấy hơn bất kỳ ai, nhưng khi nhìn thấy hậu quả sống động của nó đang bóp nghẹt chính mẹ mình, bóp nghẹt góc chợ tuổi thơ mình, tim cô vẫn nhói buốt như bị kim châm.

"Cháu chào dì Lành! Ô hô, người đẹp thủ đô nay hạ cố về thăm làng rồi đó hả?"

Một giọng nói trầm ấm, rổn rảng và đầy vẻ cợt nhả vang lên từ phía bậu cửa, cắt đứt dòng suy nghĩ u tối đang bủa vây lấy tâm trí Hân.

Lê Minh Quân bước vào, tay cầm một chiếc túi giấy dầu bốc khói nghi ngút, miệng cười toe toét để lộ chiếc răng khểnh duyên dáng đặc trưng. Anh mặc một chiếc áo sơ mi rêu khoác ngoài chiếc áo thun đen đã sờn cổ, bên hông lủng lẳng chiếc máy ảnh cơ Nikon cũ kỹ có sợi dây đeo thổ cẩm bạc màu. Quân là con trai một của cô Tư bán bánh mì, bạn học chung với Hân từ thời hai đứa còn cởi trần lội nước lụt dọc theo bờ kè sông Hoài, sau này cùng nhau dắt díu lên thị xã học cấp ba rồi thi đỗ đại học.

Khác với Hân chọn ở lại Hà Nội cày cuốc thâu đêm suốt sáng trong các công ty công nghệ với giấc mộng đổi đời, Quân sau khi tốt nghiệp ngành mỹ thuật ở Đà Nẵng thì một mực xách ba lô quay về phố cổ làm nhiếp ảnh gia tự do. Anh suốt ngày lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm chụp ảnh phố xá, kiến trúc cổ, và chiều chiều lại ra đầu chợ phụ mẹ đẩy chiếc xe bánh mì xíu mại.

"Thằng Quân đó hả con? Xe bánh mì của mẹ mày bữa ni bán buôn được không mà chạy tót qua đây sớm rứa?" Bà Lành vừa nhìn thấy Quân là đôi mắt kèm nhèm sáng hẳn lên, giọng điệu chuyển sang ấm áp và thân tình như nhìn thấy con cháu trong nhà.

"Dạ, ế chỏng gọng dì ơi! Bán từ bốn giờ chiều tới chừ mới được có ba chục ổ, ế mất toi một nửa mẻ bánh nướng rồi," Quân cười hề hề, khuôn mặt chẳng có lấy một nét ủ rũ hay rầu rĩ, đưa chiếc túi giấy dầu qua mặt kính quầy hàng. "Mẹ con biểu mang sang biếu dì ổ bánh mì đặc biệt có nhiều pate béo với xíu mại nóng hổi nè. Dì ăn liền cho ấm bụng đi, lát nữa trời mưa to hơn hẵng dọn hàng."

"Tổ cha mày, mẹ mày thì đau lưng còng cả người ra đó, mày thì cứ nhơn nhơn cái mặt ra như không," bà Lành mắng yêu một câu, nhưng bàn tay thì vội vàng đón lấy chiếc bánh mì còn giòn rụm, nóng hổi. "Mẹ con đã ăn hột cơm mô chưa? Lát nữa sang dì bới cho khúc cá thu kho dưa cải nghen, dì kho rục xương từ trưa còn nguyên một ơ đất đầy đấy."

Quân quay ngoắt sang Hân, đôi mắt sáng lấp lánh sau lọn tóc mái hơi dài rũ lòa xòa trước trán. Anh khoanh hai tay trước ngực, nghiêng đầu ngắm nghía cô một hồi lâu từ trên xuống dưới, rồi khẽ chậc lưỡi lắc đầu:

"Chà chà, đại kỹ sư phần mềm lương tính bằng tiền đô của phố cổ về nước... à quên, về làng rồi đó hả? Sao nhìn cái mặt đăm chiêu, khó đăm đăm y như hồi thi rớt môn Toán chuyên năm lớp mười rứa Hân? Cặp kính cận ni lại mới tăng độ đúng không, tròng dày cộm mà hai mắt thì thâm sì như gấu trúc thế kia?"

Hân lườm anh một cái sắc lẹm, bĩu môi, nhưng tận đáy lòng lại cảm thấy nhẹ nhõm và ấm áp lạ lùng trước cái vẻ tưng tửng, cà khịa quen thuộc của thằng bạn nối khố:

"Kệ tui đi ông tướng. Lo mà chụp ảnh kiếm tiền dắt mối lấy vợ đi, ở đó mà đứng xỏ xiên người khác."

"Thôi đi cô nương ơi," Quân kéo một chiếc ghế nhựa con lại gần, ngồi phịch xuống bên cạnh cô, hạ thấp giọng với vẻ quan sát vô cùng tinh tế. "Hồi chiều lúc bốn rưỡi tôi đứng phụ mẹ nướng bánh mì ở đầu ngõ, thấy chiếc xe khách Mai Linh dừng xịch ở đầu cầu thả bà xuống là tôi biết ngay có biến rồi. Người ta thành đạt, đi làm ăn xa về quê ăn tết ăn lễ thì mặt mũi hớn hở, tay xách nách mang thùng to hộp nhỏ quà cáp biếu xóm giềng. Đằng này bà kéo cái vali như thể đang kéo một tạ xi-măng sau lưng, lưng thì còng rạp xuống, mắt dán chặt vào mũi giày, mặt nặng như chì. Bị sếp thủ đô mắng té tát hay thất tình người yêu đại gia rồi? Khai thật ra xem nào, có chi anh em gỡ rối cho."

"Không có! Đã bảo là công ty cho nghỉ phép dài hạn về nghỉ ngơi phụ mẹ mà!" Hân chối bay chối biến, giọng cô hơi cao lên một tông một cách bất thường để che giấu nỗi chột dạ đang cào xé trong lòng.

"Ừa, nghỉ phép mà cái ba lô laptop nặng trĩu như chứa gạch thẻ, ngón tay thì cứ vô thức gõ nhịp nhịp lên đùi như đang gõ phím sửa lỗi chương trình," Quân nhếch mép cười, nhưng ánh mắt anh nhìn sâu vào mắt cô lại tràn đầy sự thấu hiểu và sẻ chia chân thành.

Anh biết tính Hân từ thuở còn cắp sách tới trường: bướng bỉnh, tự tôn ngút trời, việc gì khó khăn đến mấy cũng cắn răng một mình gánh vác, chẳng bao giờ chịu cúi đầu hay thừa nhận mình yếu thế trước mặt bất kỳ ai.

"Mà thôi, về được đến nhà là tốt rồi Hân à. Ở cái đất phố cổ ni tuy không kiếm được tiền núi tiền biển như đất thủ đô của bà, nhưng ít ra đồ ăn ngon, không khí sạch, và quan trọng nhất là không có đứa mô ép bà phải thức trắng đêm chạy deadline đến kiệt sức."

Hân thở hắt ra một hơi dài, ngả trọn lưng vào vách ván gỗ sau lưng, nhìn ổ bánh mì nóng hổi đang tỏa hương thơm ngậy trên tay mẹ rồi lại đưa mắt nhìn ra khoảng sân chợ lờ mờ sương đêm:

"Ở nhà thì bình yên thật đó Quân... nhưng nhìn cảnh chợ chiều hôm nay xót ruột quá ông ơi. Hồi tụi mình còn học cấp hai, cấp ba, Chợ Đèn Lồng đông tới mức người ta chen nhau đi bộ còn muốn rớt cả guốc dép, tiếng cười nói rộn rã khắp đầu trên xóm dưới. Giờ mới hơn bảy giờ tối mà sạp cô Ba đã kéo bạt cài then, xe bánh mì mẹ ông thì ế ẩm cả khay thịt, quầy tạp hóa của mẹ tui ngồi còng lưng suốt hai tiếng đồng hồ chỉ thu về được vỏn vẹn hai chục ngàn tiền bán cái thẻ cào điện thoại."

"Thì thời thế nó đổi thay rồi, biết làm răng được," Quân khẽ nhún vai, với tay rút một cây kẹo mút vị dâu trong chiếc ống nhựa cắm trên bàn tính của bà Lành, đưa lên miệng xoay xoay. "Người ta bây chừ chuộng cái thói quen ngồi máy lạnh bấm ứng dụng hơn là xách chiếc làn nhựa lội bộ ra chợ. Thằng Vạn Mua nó đổ tiền tỷ vào quảng cáo khắp mọi ngóc ngách mạng xã hội, tụi học sinh trường mình chừ tan học cũng toàn rủ nhau đặt trà sữa với đồ ăn vặt qua app chuyển tới tận cổng trường, ai hơi đâu mà lội mưa ra chợ đêm mua từng gói bánh tráng."

Những lời Quân nói như một que diêm bất ngờ châm ngòi cho ngọn lửa bản năng nghề nghiệp bấy lâu nay của Hân. Trực giác của một người làm sản phẩm số, tư duy của một kỹ sư công nghệ bỗng chốc trỗi dậy mạnh mẽ trong huyết quản cô. Hân quay ngoắt sang nhìn mẹ, ánh mắt rực lên một tia hy vọng đầy nhiệt huyết:

"Mẹ ơi, con tính thế này này! Khách hàng họ lười ra chợ thì mình mang cái sạp chợ này đến tận cửa nhà cho họ! Hay là tối nay con lập cho quầy An Lành mình một cái trang bán hàng trên Facebook, hoặc con tạo luôn một gian hàng trên mạng xã hội rồi đưa hết mấy mặt hàng thiết yếu của sạp mình lên trộm đó? Gạo nàng thơm, nước mắm cá cơm Nam Ô, muối hầm, đường phèn, rồi mấy gói gia vị nấu mì Quảng, cao lầu khô của mẹ... toàn là đồ ngon nức tiếng cả phố mà. Con chụp hình sản phẩm cho thật đẹp, niêm yết giá cả rõ ràng, ai quanh khu vực phố cổ ni nhắn tin đặt mua là con lấy xe đạp giao tận cửa nhà cho họ liền. Mình chịu khó lấy công làm lời, giữ mối khách quen trước đã mẹ!"

Bà Lành đang nhai dở miếng bánh mì giòn tan, nghe con gái thao thao bất tuyệt nói một tràng những từ ngữ xa lạ liền dừng hẳn lại. Bà ngước mắt nhìn Hân với vẻ mặt ngơ ngác, rồi chuyển dần sang sự kinh ngạc tột cùng, như thể cô con gái vừa thốt ra một điều gì đó vô cùng quái gở và điên rồ. Bà đặt mẩu bánh mì dở dang xuống tờ giấy báo lót bàn, xua hai bàn tay thô ráp lia lịa trước mặt:

"Thôi thôi thôi! Tao xin mày đấy Hân ơi! Mày dẹp ngay cái trò máy móc ảo ma, vẽ chuyện ruồi bu nớ giùm tao cái!"

"Sao lại là chuyện ruồi bu hả mẹ? Người ta đang làm ầm ầm ngoài kia kìa, xe shipper chạy nườm nượp đầy đường đó thôi!" Hân cố gắng thuyết phục, nhoài hẳn nửa người qua mặt bàn tính, giọng cô dồn dập và đầy sốt sắng. "Thời buổi này buôn bán là phải số hóa mẹ ơi! Phải đưa hàng hóa lên ứng dụng, đưa lên mạng internet thì người ta mới biết mà mua chứ! Cứ ngồi thụ động chờ khách tới như hai mươi năm trước thì làm sao mà sống nổi?"

"Số hóa cái con khỉ mốc!" Bà Lành gạt phắt đi không một chút đắn đo, giọng bà bỗng chốc trở nên gay gắt khác thường. Cái uy quyền và sự tự tôn của một người đàn bà đã ba mươi năm bám trụ nuôi con khôn lớn bằng từng đồng bạc lẻ ở góc chợ này bộc lộ một cách rõ rệt. "Mày học đại học trên thủ đô cho lắm chữ nghĩa vào rồi đâm ra lú lẫn hả Hân? Buôn bán ở cái đất Chợ Đèn Lồng ni xưa nay là cái đạo 'nhìn mặt trao tay'. Người ta bước chân tới đây mua mớ hành hoa, củ tỏi, lạng thịt bò là người ta phải dùng tay sờ, dùng mắt ngó xem cọng hành có còn tươi xanh không, củ tỏi có bị óp lép không, miếng thịt có dẻo dính tay không. Người ta ghé sạp mẹ là để ngồi xuống cái ghế đẩu ni, uống chén nước chè xanh mẹ nấu bằng lá trà tươi hái tận trên rẫy Cẩm Hà về, kể cho nhau nghe chuyện thằng con trai mới thi đỗ bằng lái, chuyện con dâu mới sinh nở mẹ tròn con vuông, rồi người ta mới thong thả mở ví trả tiền. Cái tình, cái nghĩa, cái sự tin tưởng giữa con người với con người nó nằm trọn ở đó! Chứ có ai đời đi mua mấy củ hành lá, quả ớt hiểm qua cái màn hình điện thoại vô tri vô giác bao giờ? Ai biết trên cái mạng ảo nớ chúng mày chụp hình son phấn lừa lọc người ta ra răng? Mua bán cái kiểu nớ là kiểu chộp giật, không có gốc rễ chi hết!"

"Mẹ cổ hủ quá rồi!"

Hân không kìm nén nổi sự bực bội đang dồn nén bấy lâu, giọng cô cũng gắt gỏng theo từng lời nói của mẹ. Nỗi ức chế và cay đắng tột cùng vì dự án khởi nghiệp thất bại cay đắng ở Hà Nội, cộng hưởng với sự bất lực trước thực tại ảm đạm của gia đình khiến cô hoàn toàn đánh mất sự bình tĩnh cần thiết.

"Mẹ cứ khăng khăng ôm giữ cái tư duy nhìn mặt trao tay với chén chè xanh đó thì con nói thật, chỉ vài tháng nữa thôi cái sạp An Lành ni với cả cái chợ ni dẹp tiệm hết! Mẹ ngó ra ngoài ngõ xem, có ai thèm bước chân vào uống chén chè xanh của mẹ nữa không? Người ta đang ngồi ấm trong nhà bấm Vạn Mua kìa! Người ta cần sự tiện lợi, cần nhanh chóng, cần giá rẻ, chứ thời buổi bận rộn này ai rảnh rỗi đâu mà ngày nào cũng lội bộ ra chợ ngồi tán gẫu buôn chuyện với mẹ cả tiếng đồng hồ?"

"Hân! Nói năng với mẹ kiểu chi lạ lùng rứa?" Quân giật mình, vội vàng lấy cùi chỏ đụng mạnh vào cánh tay cô, lắc đầu ra hiệu cảnh báo bằng một ánh mắt nghiêm nghị hiếm thấy.

Bà Lành sững sờ. Gương mặt khắc khổ của bà tái mét đi dưới ánh đèn vàng vọt. Đôi môi thâm trầm run run bần bật, lồng ngực phập phồng sau lớp vải áo bà ba màu nâu sẫm đã bạc màu. Bà không quát tháo ầm ĩ, không mắng mỏ xối xả như mọi lần hai mẹ con bất đồng ý kiến, nhưng ánh mắt bà nhìn Hân bỗng trở nên sâu hoắm, trống rỗng và chứa chan một nỗi tổn thương sâu sắc. Cái nhìn ấy như một mũi kim đâm thẳng vào tim Hân, khiến cô lập tức nghẹn lời, một cảm giác hối hận muộn màng và tội lỗi dâng lên ngập tràn trong lồng ngực.

Bà Lành đứng dậy. Khớp gối của bà phát ra một tiếng rắc khô khốc, bước chân hơi khựng lại vì cơn đau buốt tái phát khi trời trở lạnh. Bà không nói thêm một lời nào, lặng lẽ bước vòng qua chiếc tủ kính trưng bày bánh kẹo, đi thẳng lại góc tối nhất phía sau sạp hàng – nơi kê một chiếc rương gỗ mít cũ kỹ được khóa cẩn thận bằng một ổ khóa đồng cổ lỗ sĩ đã lên ten xanh.

Tiếng chìa khóa kim loại tra vào ổ kêu *cạch* một tiếng dứt khoát. Nắp rương gỗ nặng nề được nhấc lên. Bà Lành cúi người xuống, hai bàn tay run rẩy ôm ra một vật gì đó được bọc cẩn thận trong một mảnh vải hoa đã sờn, rồi chậm rãi bước quay trở lại bàn tính.

Bà lột mảnh vải hoa ra. Đó là một cuốn sổ bìa da màu nâu đen đã sờn rách hết cả bốn góc. Gáy sổ được khâu lại chằng chịt bằng nhiều lớp chỉ dù thô kệch màu trắng đục, trên mặt bìa da còn dính loang lổ vài vệt ố vàng của nước chè xanh và dầu ăn qua mấy mươi năm mưa nắng.

Bà Lành đặt cuốn sổ xuống mặt bàn kính ngay trước mặt Hân với một tiếng *bịch* chắc nịch, trầm đục.

"Mày mở ra mà coi đi," giọng bà Lành chùng hẳn xuống, phẳng lặng và lạnh lẽo như mặt nước sông Hoài lúc nửa đêm, nhưng lại chứa đựng một sức nặng ghê gớm khiến người đối diện không thể nào chối từ. "Mày giỏi vi tính, mày rành ba cái thứ công nghệ máy móc hiện đại trên thủ đô, mày mở cuốn sổ nát ni ra xem cái máy tính xách tay của mày có chứa nổi những thứ bên trong ni không!"

Hân ngập ngừng, lúng túng. Những ngón tay gầy guộc của cô hơi run rẩy khi chạm vào mép bìa da thô ráp, chậm rãi lật mở trang giấy đầu tiên đã ngả sang màu vàng ố của thời gian.

Một mùi giấy cũ ngai ngái, ngai ngái trộn lẫn mùi mực Cửu Long và hương ẩm mốc đặc trưng của ký ức lập tức phảng phất bay lên, quẩn quanh nơi sống mũi.

Bên trong là những trang giấy kẻ ngang chi chít những dòng chữ viết tay bằng mực tím và mực xanh ngoằn ngoèo. Đó là nét chữ mộc mạc, run rẩy của một người phụ nữ lam lũ chỉ học hết lớp bảy trường làng, nhưng từng con số, từng cái tên riêng, từng mốc thời gian lại được ghi chép một cách vô cùng nắn nót, cẩn thận và rành mạch đến từng chi tiết nhỏ nhất.

Bà Lành đưa ngón tay trỏ thô ráp, nứt nẻ vì bao năm ngâm nước rửa hàng chỉ thẳng vào một dòng chữ viết bằng mực tím ngay đầu trang:

"Đây! Mày nhìn cho kỹ! Nhà cô giáo Mai ở kiệt bốn mươi hai đường Phan Châu Trinh. Cứ đầu tháng là bả ghé sạp mẹ lấy một yến gạo nàng thơm loại một, hai chai nước mắm nhĩ Nam Ô với nửa ký nấm hương khô. Bả dạy học hợp đồng ở trường huyện, đồng lương còm cõi tháng mô cũng bị chuyển trễ, lúc nào cũng phải đợi tới ngày mười lăm bả mới có tiền lương để trả. Tao có bao giờ mở miệng đòi bả một tiếng mô không? Mày coi tao ghi vô đây: *'Cô Mai nợ tám trăm hai mươi ngàn, hẹn ngày mười lăm nhận lương trả'*. Tao còn cố ý lựa bao gạo mới nhất, thơm nhất để sẵn cho bả."

Bà lật sang một trang khác, ngón tay lướt qua một vệt mực loang lổ đã mờ theo năm tháng:

"Còn đây nữa! Nhà thằng Lộc chạy xe ba gác chở gạch cát ở ngoài bến. Vợ nó đẻ non đứa thứ hai, hai mẹ con phải nằm ở phòng cấp cứu bệnh viện đa khoa miết ba tháng trời ròng rã. Hồi đầu năm nó chạy qua sạp mẹ, mặt mày tái mét méo xệch, hai mắt đỏ hoe hỏi mượn mẹ một triệu bạc tiền mặt để nộp viện phí mua sữa non cho con, rồi lấy thêm mấy thùng mì tôm chua cay về ăn cầm hơi qua ngày. Tao biết tỏng cái ngữ nó nghèo rớt mồng tơi, cả nhà trông chờ vào mấy chuyến ba gác thì lấy mô ra một đống tiền trả ngay cho tao? Tao ghi vô góc ni: *'Thằng Lộc nợ một triệu hai, khi mô có việc làm thì ghé trả dần mười ngàn, hai mươi ngàn'*. Mày có biết hôm qua nó ghé qua đây trả tao bao nhiêu không? Nó ghé trả năm chục ngàn tiền công vừa chở cát buổi sáng, tao thấy nó dắt theo thằng con lớn còi cọc, tao còn bớt lại cho nó mười ngàn để mua cho thằng nhỏ bịch kẹo mút."

Bà Lành tiếp tục lật thêm vài trang sổ nữa. Từng cái tên, từng mảnh đời cơ cực, lam lũ của cái thị xã nhỏ bé bên dòng sông Hoài này cứ thế lần lượt hiện ra sống động, chân thực dưới ánh đèn quả ớt leo lét:

"Nhà bà cụ Thao bán vé số dạo ở cuối ngõ, già cả neo đơn không nơi nương tựa, mỗi lần ghé sạp mua lon sữa đặc Ông Thọ là tao chỉ ghi nợ nửa giá tiền, nửa giá còn lại tao tự trừ vào sổ coi như làm phước cúng dường đầu tháng; nhà ông Bảy xe thồ nợ tiền thuốc lá, chè khô cả tháng trời, phải đợi tới mùa rằm, mùa lễ hội khách du lịch đông mới gom góp trả một lần; con Diệp bán đồ gia dụng ngoài chợ có mẹ mổ ruột thừa thiếu tiền đặt cọc viện phí, tao cũng rút sạch tiền trong tủ đưa cho nó mượn mà không tính một đồng tiền lãi... Gần một trăm con người sống quanh cái ngõ chợ ni nằm trọn trong cuốn sổ da ni của tao! Tao nhớ vanh vách tính nết, hoàn cảnh của từng đứa một! Đứa mô ăn mặn, đứa mô thích ăn nhạt, nhà đứa mô có ngày giỗ cha vào rằm tháng Bảy, đứa mô tới mùa đóng tiền học phí cho con là mẹ phải tự động cho nợ gối đầu cả tháng..."

Bà Lành dừng lại, ngước đôi mắt kèm nhèm nhưng quắc thước nhìn thẳng vào mặt Hân. Ánh mắt người mẹ lúc này vừa nghiêm khắc, vừa chất chứa một niềm kiêu hãnh âm thầm, mãnh liệt của một con người đã dùng trọn vẹn cả cuộc đời mình để gìn giữ một sợi dây vô hình kết nối tình người của cả một khu phố cổ:

"Cái máy tính xách tay của mày... cái ứng dụng điện thoại hiện đại của mày... nó có biết thương thằng Lộc vợ đẻ non mà cho nó nợ tiền mua sữa không? Nó có biết cô Mai trễ lương ngày mô để mà kiên nhẫn ngồi chờ không? Hay là cứ tới hạn tới ngày là máy móc nó tự động bấm nút đòi tiền, không có tiền trả là nó khóa tài khoản, nó cắt đơn, nó phạt lãi mẹ đẻ lãi con? Cái máy tính của mày có biết bà cụ Thao chỉ uống được loại sữa đặc có đường ngọt đậm chứ không bao giờ chịu uống loại ngọt thanh không?"

Hân ngồi chết lặng trên chiếc ghế đẩu, hai bờ môi mím chặt. Từng dòng chữ viết tay xiêu vẹo, nguệch ngoạc trên những trang giấy ố vàng như đang nhảy múa, xoay vần trước mắt cô.

Từng con số công nợ, từng dòng ghi chú nợ nần tưởng chừng như lộn xộn, vụn vặt và hết sức lạc hậu của bà mẹ quê mùa bỗng chốc hiện lên trong tâm trí cô dưới một lăng kính hoàn toàn khác biệt.

Đó tuyệt đối không chỉ là một cuốn sổ ghi nợ tạp hóa thông thường.

Dưới góc nhìn chuyên môn của một kỹ sư dữ liệu từng làm việc với các hệ thống thông tin phức tạp, Hân bàng hoàng nhận ra đây chính là một kho tàng dữ liệu khổng lồ và vô giá. Đó là dữ liệu chuẩn xác về hành vi tiêu dùng, về nhân khẩu học, về chu kỳ nhu cầu theo mùa vụ, và đặc biệt nhất là hệ thống chỉ số tín nhiệm cá nhân của cả một cộng đồng dân cư địa phương. Không một thuật toán Trí tuệ nhân tạo hay Big Data nào của các kỳ lân thương mại điện tử như Vạn Mua có thể thu thập được một cách sâu sắc, tinh vi và nhân bản đến nhường ấy.

Mỗi một dòng chữ xiêu vẹo của mẹ cô thực chất là một "điểm dữ liệu sống", một điểm dữ liệu được xây dựng và bồi đắp suốt ba mươi năm ròng rã trên nền tảng của sự thấu cảm, lòng trắc ẩn và sự tin tưởng tuyệt đối giữa người với người. Đó là thứ giá trị vô hình mà không một dòng mã nguồn tối ưu nào, không một thuật toán máy tính lạnh lùng nào cô từng viết ra ở thủ đô có thể mô phỏng hay thay thế được.

Bà Lành chậm rãi gấp cuốn sổ nợ lại một cái *bẹp*. Bà dùng vạt áo bà ba vuốt phẳng phiu lại góc bìa da sờn rách, rồi ôm chặt cuốn sổ vào lòng như ôm một báu vật gia truyền không gì đánh đổi được:

"Máy móc công nghệ nó lạnh tanh như cục đá con ơi. Buôn bán ở cái Chợ Đèn Lồng ni mà đánh mất đi cái tình làng nghĩa xóm, mất đi cái sự tin nhau qua từng chén nước chè xanh, thì cái sạp An Lành ni cũng chẳng còn lý do chi để mà sáng đèn mỗi tối nữa."

Quân ngồi bên cạnh, lặng lẽ đưa mắt nhìn hai mẹ con. Anh không nói thêm một lời đùa cợt nào nữa, chỉ khẽ thở dài, đưa bàn tay rám nắng với lấy chiếc chụp đèn quả ớt, cẩn thận vặn nhỏ ngọn bấc đang chập chờn rung rinh vì những cơn gió lạnh lùa qua khe cửa.

Không gian trong sạp hàng lại chìm sâu vào sự tĩnh lặng như tờ. Chỉ còn lại tiếng tích tắc khô khốc, đều đặn của chiếc đồng hồ quả lắc hiệu Seiko cũ kỹ treo trên vách ván, chầm chậm điểm tám giờ ba mươi phút tối.

Đêm phố cổ buông xuống nhanh một cách ngột ngạt. Mưa phùn bắt đầu lất phất giăng kín không gian, rải một lớp bụi nước mờ ảo, lạnh buốt lên những mái ngói âm dương xám xịt.

Ngoài con hẻm, tiếng còi xe máy của những người giao hàng Vạn Mua thưa thớt dần rồi cuối cùng dứt hẳn. Đèn đường vàng vọt rọi xuống mặt đường ướt nham nhở những vệt bóng cô quạnh. Các sạp hàng xung quanh đều đã tắt điện tối om. Cô Tư đã lầm lũi đẩy chiếc xe bánh mì lọc cọc rời khỏi góc chợ từ nửa tiếng trước, bỏ lại sau lưng một khoảng không gian đen ngòm và hoang vắng.

Hai mẹ con bắt đầu dọn hàng. Không ai nói với ai câu nào, nhưng sự căng thẳng lúc nãy đã nhường chỗ cho một nỗi buồn man mác, nặng trĩu. Hân cúi người, phụ mẹ khiêng những bao gạo nặng vào sâu phía trong góc quầy, cẩn thận kê những can dầu ăn vào sát gầm kệ gỗ rồi bước ra kéo những cánh cửa lùa bằng gỗ thông ghép lại với nhau. Tiếng thanh then cài bằng gỗ lim trượt mạnh vào ổ nghe *cùm cụp*, nặng nề và dứt khoát, khép lại một ngày buôn bán thất bát của sạp An Lành.

Bà Lành cúi người xách chiếc xô nhựa đựng nước lau nhà đi dần ra phía sau bếp để rửa tay chân.

Hân đứng lại một mình giữa quầy hàng chật chội, tranh tối tranh sáng. Ánh mắt cô dừng lại trên mặt bàn kính, nơi chiếc bàn tính gảy bằng gỗ mun mòn vẹt của mẹ đang nằm sát cạnh chiếc máy tính xách tay vỏ nhôm xám tróc sơn của cô. Hai đồ vật, hai thế giới, hai thời đại cách biệt đang nằm cạnh nhau trong một khoảng cách chưa đầy một gang tay, nhưng giữa chúng dường như lại là cả một hố sâu ngăn cách của một thế kỷ biến thiên.

Bất chợt, trong không gian tĩnh mịch tuyệt đối của đêm khuya, tiếng chuông chiếc điện thoại bàn phím cơ cũ mèm hiệu Nokia 1280 đặt trên mặt tủ kính của quầy hàng réo vang inh ỏi.

*Reng... reng... reng! Reng... reng... reng!*

Âm thanh sắc nhọn, the thé xé toạc màn đêm thanh vắng. Hân giật mình thót thót, bước vội tới gần chiếc tủ kính. Màn hình đơn sắc màu xanh lá cây của chiếc điện thoại cục gạch đang nhấp nháy liên hồi một số điện thoại quen thuộc, kèm theo dòng tên lưu không dấu: "Chi Tuyet (dau cau Cam Pho)".

Bà Lành từ gian bếp phía sau hấp tấp bước vội lên, hai bàn tay ướt sũng vội vàng chùi qua loa vào vạt tạp dề, nét mặt đầy vẻ lo lắng khi nhấc ống nghe:

"Alo, Tuyết đó hả con? Khuya lơ khuya lắc thế này rồi có chuyện chi gấp rứa?"

Từ đầu dây bên kia, loa ngoài của chiếc máy cũ phát ra giọng nói hổn hển, đứt quãng, nghẹn ngào và ngập tràn vẻ hoảng loạn tột cùng của một người phụ nữ trẻ. Tiếng một đứa trẻ sơ sinh khóc ngặt nghẽo từng hồi vì sốt cao xen lẫn với tiếng mưa rơi lộp độp xối xả trên mái tôn vang vọng qua ống nghe:

"Dì Lành ơi! Dì cứu con với dì ơi! Sáng mai nhà con làm đám giỗ đầu cho ba con, đặt tới mười mấy mâm cỗ họ hàng dưới quê lên mà chừ con soạn đồ gia vị nấu nướng mới tá hỏa phát hiện con em dâu nó đoảng quá, nó quên mua bột thảo quả với hạt sen sấy khô để hầm hai chục con vịt tiềm rồi dì ơi! Chừ con lội mưa đi tìm khắp mấy tiệm tạp hóa quanh nhà người ta đều đóng cửa then cài hết trơn, con nhỏ của con thì đang lên cơn sốt đùng đùng con không thể dắt xe máy ra khỏi nhà lúc đêm hôm thế này được! Dì Lành ngó giùm con trong sạp của dì còn năm gói bột thảo quả với hai lạng hạt sen sấy khô không dì? Dì gom lại rồi có cách chi gửi gấp qua cho con trong đêm nay được không dì ơi? Sáng mai đúng bốn giờ sáng là thợ nấu dưới quê họ tới nhóm bếp nổi lửa rồi, thiếu mấy vị nớ là hỏng nguyên cả nồi nước dùng đám giỗ đầu của ba con mất dì ơi!..."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn