Căn Bếp Nhỏ Của BàC.33 / 35
Chương 33

Hoàn thành không phải là kết thúc

Tiếng chuông chùa ngân vang trầm ấm giữa buổi ban trưa, rải từng nhịp thanh tịnh xuống khoảng sân gạch rợp bóng bồ đề. Gió từ mặt sông Hương thổi thốc qua rặng tre ngà, cuốn theo mùi đất ẩm, mùi lá khô mục và hương thơm thanh khiết của mẻ chè hạt sen vừa nguội bớt trong âu sứ hoa lam. Không gian tĩnh lặng như được nén lại trong một giọt sương mai, chỉ còn tiếng xào xạc của chổi tre quét lá nơi góc sân vắng và tiếng nổ lách tách đều đặn, nhẫn nại của củi cháy trong lò trấu phía sau chái bếp.

Bên chiếc bàn trà mộc làm bằng phiến gỗ mít già bào thô đặt dưới chái hiên sau, sư cô Tuệ An khẽ nâng chiếc ấm sành nung củi pha mẻ trà tâm sen khô. Thứ tâm sen xanh thẫm, thon nhỏ như chiếc mầm non mà My đã tỉ mỉ dùng tăm tre thông ra từ từng hạt sen tươi suốt từ sáng sớm, phơi hong trên chiếc nia rách mép ngoài thềm nắng, nay gặp nước sôi già liền bung tỏa một làn khói mỏng. Khói trà bảng lảng lượn qua vầng trán nhăn nại của người tu hành, mang theo vị đắng thanh tao, dịu nhẹ và thấm thía. Sư cô nghiêng ấm, dòng nước màu vàng xanh róc rách chảy vào ba chiếc chén sành da lươn thô mộc. Sư cô đẩy một chén về phía My, một chén về phía Thiện, rồi mới chậm rãi nâng phần của mình lên bằng cả hai bàn tay gầy guộc, những khớp ngón tay sần sùi dấu vết của mấy mươi năm bưng bê nồi niêu, cuốc đất trồng rau.

“Uống chút trà ấm đi hai con,” sư cô Tuệ An mỉm cười, giọng trầm ấm như lời ru cất lên từ lòng đất cố đô sau những ngày dầm dề mưa lạnh. “Vị tâm sen đắng đó, lúc mới nhấp vào đầu lưỡi thì nhăn mặt, nhưng uống cạn rồi, ngồi thở chậm lại một nhịp mới thấy cái hậu ngọt đọng lại dưới cuống họng rất sâu. Người đời hễ ăn sen thì chỉ chuộng cái bùi, cái béo xốp ngoài mặt mà vội vã bẻ đôi vứt bỏ tim sen, chê nó đắng nghét. Rốt cuộc họ chỉ nếm được phần da thịt béo bở hời hợt, chứ không thấu hết cái tinh túy nhọc nhằn của một mầm sống ngâm mình dưới đáy bùn lầy suốt mùa đông giá rét để chắt chiu từng giọt hương cho mùa hạ.”

My khẽ cúi đầu nhận chén trà, hai lòng bàn tay áp chặt vào thành sành nham nhám ấm sực. Hơi nóng len lỏi qua từng kẽ tay, xua đi cảm giác tê cóng sau nhiều giờ liền ngâm nước rửa sen, đãi bột. Cô nâng chén lên ngang mũi, hít một hơi sâu mùi hương cỏ nội ngai ngái trước khi nhấp một ngụm nhỏ. Quả đúng như lời sư cô nói, vị nhằng nhặng đắng lập tức lướt qua đầu lưỡi, chát nhẹ nơi vòm họng khiến các gai vị giác co rút lại. Nhưng chỉ sau một hơi thở sâu buông thõng bờ vai, một dòng ngọt mát thanh khiết lạ lùng bỗng từ từ trỗi dậy nơi gốc lưỡi, lan tỏa dần xuống lồng ngực, xoa dịu toàn bộ cơn căng thẳng tích tụ dọc đốt sống cổ suốt những ngày thức khuya dậy sớm vừa qua.

Ánh mắt hiền từ của sư cô Tuệ An lướt qua chiếc âu sứ hoa lam đặt giữa bàn—mẻ chè sen nấu bằng đường phèn thanh trong mà My vừa mang tới đã vơi đi một nửa sau khi chia cho các chú điệu—rồi dừng lại ở góc vách gỗ lim đối diện. Nơi ấy, bên cạnh chiếc vại sành ủ tương cổ truyền đóng lớp men vàng nâu màu da bò, chiếc tạp dề vải thô màu nâu sồng thêu cành sen tím bằng những sợi chỉ đã bạc phếch vẫn lặng lẽ treo trên thanh móc tre.

“Mỗi lần nhìn chiếc áo tạp dề ni, sư lại như thấy mệ Lành vẫn còn đang lúi húi bên cối đá ngoài hiên sau,” sư cô khẽ thở dài, trong khóe mắt nhăn nheo ánh lên nỗi hoài niệm êm đềm không gợn đục. “Hơn hai mươi năm qua, tháng mô cũng vậy, cứ đúng sáng sớm ngày hăm tám âm lịch, dù mưa dầm gió bấc buốt buốt xương tủy hay trưa hè nắng đổ lửa rang nứt mặt đường, mệ cũng lọc cọc đạp chiếc xe sườn ngang cũ mèm chở sang chùa một bao gạo lúa mùa và mấy mớ rau tươi. Có khi là mớ rau má bến sông còn đọng bùn non, có khi là mấy nẹp chuối sứ chín bói vỏ lấm tấm đồi mồi, hay rổ mít non mệ tự tay trèo trẩy trong vườn nhà rường.”

My khẽ chớp mắt, lồng ngực bỗng thắt lại thành một khối nghẹn ứ: “Nội con… tháng nào cũng chở gạo sang chùa thật sao sư cô?”

“Phải đó con. Mệ chở đến từ tờ mờ sáng, lúc sương mù trên mặt sông Hương còn chưa kịp tan, tiếng còi tàu hỏa bên ga Huế còn rúc lên từng hồi thảng thốt xé màn đêm. Mệ tự tay vác bao gạo lúa mùa đặt ngay ngắn vào góc chái bếp ni, cầm chổi quét sạch từng lớp tro trấu dưới nền đất nện rồi mới chịu ngồi xuống bậc cửa uống nửa chén nước chè tươi.” Sư cô Tuệ An mỉm cười, ánh mắt nhìn xa xăm ra khoảng sân ngập nắng trưa, nơi những đốm sáng lọt qua tán lá bồ đề đang nhảy múa trên nền gạch tàu. “Nhiều lần các chú điệu mang cuốn sổ công đức bìa bọc gấm đỏ ra xin mệ ghi lại cái tên, hay ban trị sự ngỏ ý muốn khắc tên mệ lên tấm bia đá tri ân những người góp công trùng tu gian bếp thiện nguyện, mệ đều xua tay gạt phắt đi. Mệ bảo: ‘Ghi tên chi cô ơi. Hạt gạo đi qua miệng người đói, làm ấm lòng người cơ nhỡ giữa đêm đông thì nó đã hoàn thành trọn vẹn một kiếp gạo rồi. Mắc mớ chi mà phải vướng lại một cái tên trên trang giấy trắng mực đen cho thêm nặng nề, dính mắc.’ Lòng tốt của mệ Lành xưa nay chưa bao giờ cần một tấm bảng danh vị hay một lời xưng tụng.”

Sư cô dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào gương mặt My—gương mặt vẫn còn vương những quầng thâm mệt mỏi sau chặng đường dài vượt qua mười hai món ăn, nhưng trong sâu thẳm đôi mắt đã bớt đi vẻ hoang mang, hoảng hốt của ngày đầu từ phố thị trở về, thay vào đó là sự trong trẻo, trầm tĩnh của người đã chạm tay vào đất, vào lửa. Giọng nói của sư cô bỗng hạ thấp xuống, mang theo một nỗi xót xa kín đáo, sâu lắng của người đi trước:

“Nhưng con có biết điều chi làm sư nhớ nhất không? Trong lần cuối cùng sang chùa trước khi ngã bệnh liệt giường, mệ ngồi đúng ở chiếc ghế con đang ngồi ni. Mệ uống hết chén trà tâm sen, nắm lấy bàn tay sư thật chặt mà dặn dò rất kỹ. Mệ bảo mệ biết rõ con đường nấu ăn để phụng sự, để nuôi dưỡng người khác là một con đường vô cùng gian nan, nặng nhọc. Người đời đứng ngoài nhìn vào gian bếp chỉ thấy mùi thơm ngào ngạt của thức ăn, thấy nụ cười mãn nguyện của người được ăn no, nhưng không ai thấu hết khói cay xộc vào làm đỏ hoe mắt, mồ hôi muối ướt đầm lưng áo giữa mùa nực nội và những nhát dao vô tình cứa sâu vào da thịt những lúc đã mỏi rời gối rã chân.”

Từng lời của sư cô như một làn gió ấm luồn qua từng thớ cơ bắp đang mỏi nhừ của My, rót thẳng vào những vết thương lòng sâu kín nhất:

“Mệ bảo với sư: ‘Con My nhà tui từ nhỏ đã quen sống trên phố xá đông đúc, tính nó lanh lẹ, thông minh nhưng quen nhìn đời qua những con số thẳng băng, những bản kế hoạch trên màn hình và những nút bấm máy móc vô hồn. Nay tui nằm xuống, để lại cuốn sổ ni, ép nó phải tự tay nhóm than củi, phải học lại từ đầu sự nhẫn nại của tro trấu, sự chờ đợi của bột lên men. Tui chỉ sợ nó nản lòng. Nếu lỡ có lúc mô nó kiệt sức, nó buông dao, dập lửa giữa chừng mà bỏ đi, thì nhờ cô và bà con lối xóm quanh kiệt An Cựu chớ có ai buông lời trách cứ. Hãy kiên nhẫn chờ nó. Đợi cho lòng nó nguội bớt, đợi cho tro tàn lắng xuống, tự khắc hơi ấm của bếp lửa và cội nguồn sẽ kéo nó quay trở lại.’”

Một giọt nước mắt nóng hổi bỗng lăn dài trên gò má My, rớt xuống mu bàn tay đang run rẩy đặt trên mặt bàn gỗ mít. Cô cắn chặt môi dưới để ngăn không cho tiếng nấc nghẹn ngào bật ra ngoài lồng ngực. Suốt bao nhiêu tháng ngày qua, cô đã sống trong cảm giác ngột ngạt của một kẻ chịu án phạt, luôn dằn vặt rằng bà nội để lại di nguyện mười hai món ăn là một bài khảo hạch nghiêm khắc nhằm trừng phạt thói thờ ơ, vô tâm của một đứa cháu ham mê danh vọng nơi đô hội. Nhưng đến tận giờ phút này, ngồi dưới chái hiên chùa Tuệ An, nhấp chén trà đắng hậu ngọt, cô mới vỡ lẽ: bà chưa từng dồn cô vào chân tường. Bà hiểu rõ từng nhược điểm, lường trước từng khoảnh khắc cô muốn buông xuôi, và đã chu đáo chuẩn bị sẵn cho cô một khoảng lùi an toàn được bao bọc bởi lòng kiên nhẫn và bao dung của cả một xóm kiệt ven sông.

Thiện ngồi bên cạnh khẽ cử động. Bàn tay rám nắng, đầy những vết chai sạn vì gảy đàn và bổ củi của anh đặt nhẹ lên mép bàn, ngay cạnh chén trà của My. Một cử chỉ chừng mực, không vượt quá ranh giới nhưng chan chứa sự thấu hiểu thầm lặng—ánh mắt của người bạn đồng hành đã cùng cô đi qua từng mẻ bún hỏng chua lòm, từng chảo bánh dính cháy đen và những đêm dài ngồi co ro bên hiên nhà canh chừng ngọn lửa than liu riu không được tắt.

Sư cô Tuệ An nhẹ nhàng đặt chiếc chén sành xuống bàn. Tiếng gốm mộc chạm vào phiến gỗ khô khẽ vang lên một tiếng cộc gọn gàng, dứt khoát, kéo bầu không khí xúc động trở lại với thực tại. Vẻ bùi ngùi trên gương mặt từ bi của sư cô thu lại, thay vào đó là nét nghiêm cẩn, sắc sảo của một người đã cai quản gian bếp thiện nguyện nuôi hàng trăm bệnh nhân nghèo suốt mấy mươi năm bão gió.

“Nhưng khóc cho đã rồi thì phải lau nước mắt đi con,” sư cô nghiêm giọng nói, ngữ điệu đổi sang sự khúc chiết thực tế. “Con đã nấu xong món thứ mười hai. Bát chè sen hôm nay rất thanh, tâm sen sạch, đường phèn tan đều, hạt sen bở xốp mà không nát. Ân tình với mệ Lành, con đã trả trọn vẹn, không còn nợ nần chi về mặt bổn phận nữa. Nhưng con đường con sắp bước tiếp với căn nhà rường cổ và cái tên ‘Bếp Của Bà’ không còn là chuyện của một cuốn sổ di nguyện để lại nữa rồi. Đó là một thực tế sống còn, tàn nhẫn và sòng phẳng. Nào, Thiện, con mang tập giấy phác thảo bữa trước lại đây cho sư coi.”

Thiện nhanh nhẹn mở chiếc túi vải bố đeo bên hông, rút ra tập hồ sơ mỏng cùng cuốn sổ tay bìa cứng có cài cây bút bi quen thuộc. Đó là những bản vẽ mặt bằng, sơ đồ luồng di chuyển và các bảng ghi chú kỹ thuật mà My đã cẩn thận vẽ lại sau những buổi làm việc căng thẳng với đội thợ ngói của nghệ nhân Nguyễn Khắc Tuấn.

Sư cô Tuệ An với tay lấy chiếc kính lão gọng đồi mồi trên kệ sách nhỏ sau lưng, đeo vào rồi lật giở từng trang giấy. Ngón tay trỏ gầy guộc của sư cô gõ nhịp dứt khoát lên bản vẽ mặt bằng gian chái bếp:

“Chỗ ni, con đặt bồn rửa cạnh bệ than củi là hoàn toàn không ổn. Gian bếp củi xứ Huế mình hễ bước vào mùa nồm ẩm tháng Giêng tháng Hai là tường đá toát mồ hôi, hơi nước từ sàn rửa chén bát hắt sang sẽ làm than bị ẩm gốc. Than ẩm thì khó bén lửa, khi cháy lại sinh ra khói độc xộc thẳng vào mũi người đứng bếp. Nhưng đó chỉ là chuyện cái lò than. Quan trọng hơn, quy chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm không bao giờ cho phép khu sơ chế đồ tươi sống nằm chung luồng di chuyển với khu vực chia suất ăn chín. Con Hương ở trường mầm non Hoa Nắng chắc đã nhắc con về nguyên tắc kiểm thực ba bước rồi phải không?”

“Dạ thưa sư cô, cô Hương có dặn con rất kỹ,” My vội vàng đáp, mở nhanh cuốn sổ tay, sẵn sàng ghi chép từng lời răn dạy. “Khu vực tiếp nhận nguyên liệu thô phải tách biệt hoàn toàn với bàn ra món. Quy trình kiểm tra thực phẩm đầu vào phải lập biên bản lưu trữ nguồn gốc, kiểm tra nhiệt độ trong quá trình nấu chín thấu tâm, và bắt buộc phải lưu mẫu thức ăn đủ hai mươi tư giờ trong tủ mát chuyên dụng với nhãn dán ghi rõ giờ giấc, người phụ trách.”

“Nhớ lấy điều đó làm ranh giới sinh tử,” sư cô gật đầu dứt khoát, ánh mắt nghiêm khắc sau tròng kính lão. “Đừng có nghĩ một căn bếp nhỏ trong kiệt sâu thì có thể làm ăn xuề xòa, tặc lưỡi cho qua. Lòng tốt không bảo chứng cho vi trùng. Chỉ cần một con ruồi lọt vào niêu cá kho, hay một miếng thịt heo luộc không đạt độ sôi chín thấu tâm bột gây đau bụng cho thực khách, con không chỉ làm hại sức khỏe một con người mà còn làm hoen ố toàn bộ thanh danh, tâm huyết cả đời của mệ Lành. Rồi còn chuyện bảo quản nguyên liệu nữa. Mùa đông xứ Huế mưa thối đất thối cát, độ ẩm không khí ngoài trời thường xuyên vượt chín mươi phần trăm. Bột gạo Khang Dân để làm bánh bèo, bánh nậm chỉ cần để hở miệng bao ba bữa là mốc xanh, bốc mùi chua nồng, hấp lên bánh sẽ bở rệp và hôi rình. Mộc nhĩ, nấm hương, đậu xanh hạt tiêu bắt buộc phải đóng kín trong các hũ thủy tinh có gioăng cao su, kê sàn cách mặt đất ít nhất hai tấc để tránh hơi ẩm bốc lên từ nền đất. Đường phèn Quảng Ngãi hay đường cát vàng phải ủ trong lu sành lớn có lót một lớp vôi sống bọc vải dưới đáy để hút ẩm, nếu không đường sẽ chảy nước thành mật, mất hết vị ngọt thanh tao.”

Sư cô lật tiếp sang trang ghi chép về chuỗi cung ứng nguyên liệu, ánh mắt dừng lại ở các bản thỏa thuận hợp tác viết tay giữa My với sạp gừng dì Mến ở chợ Đông Ba, vườn rau hai sào ở bãi bồi Hương Long của ông bà Sáu Bình, và cơ sở làm bánh của Thảo Vy.

“Nguồn hàng con chọn rất tốt. Những con người đó đều là chỗ quen biết thâm giao, làm ăn có lương tâm và gắn bó máu thịt với mệ Lành từ thuở hàn vi. Nhưng con đã tính đến sức người chưa?” Sư cô Tuệ An ngước lên, tháo kính lão cầm trên tay, ánh mắt sắc như lưỡi dao bài Hiền Lương chiếu thẳng vào My. “Con định thức dậy từ bốn giờ sáng ra chợ Đông Ba đón thuyền cá, tự tay gánh than, nhóm bếp, tự tay ngâm gạo, xay bột, xào nhân, nấu nướng phục vụ, rồi lại dọn rửa nồi niêu, chùi bẫy mỡ, ghi chép sổ sách kế toán đến tận mười một giờ đêm sao? Con tính lấy mấy cái mạng để trả nợ cho cái bếp ni?”

Câu hỏi đột ngột như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào ngọn lửa nhiệt huyết đang bốc cao trong lòng My. Cô hơi khựng lại, ngón tay cầm bút siết chặt, giọng ngập ngừng: “Dạ… con có Thảo Vy phụ trách mảng bánh lá truyền thống, và anh Thiện… anh Thiện cũng nhận đỡ đần con khâu chuẩn bị than củi, gánh nước giếng và bưng bê…”

“Thiện còn có lớp dạy đàn ở thư viện tỉnh và đám trẻ con nghèo trong xóm cần nó kèm cặp mỗi buổi chiều,” sư cô ngắt lời, giọng trầm nhưng đanh thép như đá tảng. “Nó giúp con bằng cái tình làng nghĩa xóm, bằng sự quý mến cá nhân, con không thể biến sự tử tế của người ta thành một nghĩa vụ đương nhiên để rồi bòn rút sức lực của bạn mình. Và bản thân con nữa, My à. Một người đầu bếp bước chân vào gian bếp với thân thể rã rời, hơi thở dồn dập vì thiếu ngủ kinh niên, trong lòng đầy nỗi âu lo phấp phỏng về chuyện lỗ lãi, thì bàn tay nêm muối tra tiêu không bao giờ chuẩn xác được. Thức ăn nấu ra từ một tâm thế kiệt quệ, cáu bẳn sẽ mang toàn mùi cay đắng và độc khí. Con muốn nấu ăn để chữa lành, để nuôi dưỡng người khác, thì trước hết con phải giữ cho thân tâm mình được lành lặn, no đủ và vững vàng cái đã.”

Sư cô Tuệ An khép mạnh tập hồ sơ lại, đặt phẳng phiu lên phiến gỗ mít. Không gian chái hiên lại rơi vào một khoảng lặng trang nghiêm đến nghẹt thở. Tiếng gió mùa luồn qua khe ngói liệt xào xạc như một lời nhắc nhở lạnh lùng về những biến động khôn lường của đời sống.

“Sư biết,” sư cô chậm rãi tiếp lời, ánh mắt dịu bớt vẻ gay gắt nhưng sự kiên định không hề suy suyển, “trong đầu con đang nung nấu một ý nghĩ rất đẹp: dùng căn bếp này để làm từ thiện, để nấu những bữa cơm miễn phí cho trẻ em cơ nhỡ, cho những mảnh đời bấp bênh quanh xóm vạn đò sông An Cựu. Con thương xóm kiệt, con thương những người nghèo khó giống như mệ Lành năm xưa từng cưu mang. Nhưng con phải ghi lòng tạc dạ một điều này: Lòng trắc ẩn mà không có ranh giới và kỷ luật thì chỉ là sự tự hủy hoại bản thân mà thôi.”

My giật thót người, ngước nhìn thẳng vào mắt vị sư cô già. Đó là điều cô hằng trăn trở suốt những đêm mất ngủ nhìn lên trần nhà rường, nơi bóng tối bao trùm lấy những thanh rui mè cổ kính.

“Bếp chùa Tuệ An nuôi được người cơ nhỡ quanh năm suốt tháng là nhờ có thập phương bá tánh trợ duyên, có ba sào ruộng chùa tự cấy hái tỉa đỗ, và có một hệ thống phân bổ công quả rõ ràng giữa các sư chúng,” sư cô phân tích khúc chiết, bóc trần từng ngóc ngách của thực tế trần trụi. “Còn căn bếp của con nằm trong một ngôi nhà rường cổ đang phải gánh khoản nợ viện phí bốn trăm triệu đồng của chú Vinh bên bệnh viện trung ương, đang phải trích từng đồng bạc cắc để mua dầu phụng quét chống mối mọt cho từng cây cột cái, thay từng viên ngói âm dương nứt vỡ. Con không thể biến căn bếp nhỏ bé ấy thành một trạm cứu trợ xã hội vô điều kiện. Nếu con cứ cố gắng làm vừa lòng tất cả mọi người, ai đến xin ăn con cũng xới đầy bát, ai kì kèo ép giá con cũng mủi lòng chiều theo, thấy ai khổ cũng xót xa ôm đồm gánh vác, thì chỉ sau ba tháng, con sẽ cạn kiệt cả tiền bạc lẫn sức lực. Lúc đó, bếp phải tắt lửa, nhà rường lại rơi vào nguy cơ bị người ta phát mãi xiết nợ, và con sẽ rời bỏ xứ Huế này trong sự cay đắng, tổn thương gấp mười lần ngày con mới trở về.”

Từng lời cảnh báo sắc lẹm của sư cô chạm trúng vào nỗi sợ hãi thầm kín nhất mà My luôn giấu kín dưới đáy lòng. Cô sợ mang tiếng là kẻ thực dụng. Cô sợ bà con kiệt An Cựu sẽ thì thầm sau lưng rằng con bé My ở Sài Gòn về, mang danh nghĩa của mệ Lành ra để mở quán kiếm tiền, làm giàu trên ký ức của người đã khuất. Nhưng nếu không kiếm ra tiền, làm sao cô có thể trả khoản nợ viện phí khổng lồ cho chú Vinh? Làm sao cô có thể giữ lại từng thanh gỗ lim, từng phiến ngói liệt mà mệ Lành đã dành cả cuộc đời gìn giữ?

“Vậy… con phải làm sao để vừa giữ được cái tâm chăm sóc của mệ Lành, vừa không làm sụp đổ căn bếp, thưa sư cô?” My cất tiếng hỏi, giọng run rẩy nhưng ánh mắt tràn đầy sự khẩn khoản, khiêm nhường.

Sư cô Tuệ An mỉm cười, ánh mắt trở nên ấm áp lạ kỳ. Sư cô khẽ gật đầu, như thể đã chờ đợi câu hỏi này từ rất lâu:

“Kỷ luật tài chính chính là hình thức bảo vệ cao nhất cho lòng trắc ẩn. Muốn cho đi bền bỉ, con phải có một cái gốc tự chủ vững vàng. Căn bếp phải nuôi sống được chính nó cái đã. Nó phải tạo ra lợi nhuận đàng hoàng để trả lương sòng phẳng cho Thảo Vy, trả tiền nguyên liệu đúng giá thị trường cho dì Mến và ông bà Sáu Bình, phải có khoản tích lũy để trả dần nợ cho chú Vinh và lập quỹ dự phòng cho những mùa mưa bão ngập lụt. Khi con đứng vững trên đôi chân của mình, không mắc nợ ai, không phải cúi đầu trước sự túng thiếu, thì bát cơm con trao đi cho người nghèo mới thực sự thanh tịnh, đàng hoàng và trọn vẹn phẩm giá.”

My hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô căng tràn luồng không khí thanh sạch của vườn chùa. Những kinh nghiệm điều phối dự án phức tạp, những kỹ năng quản trị dòng tiền mà cô tích lũy suốt nhiều năm bươn chải ở các tập đoàn truyền thông tại Sài Gòn, kết hợp với những bài học thấm thía về sự “vừa vặn” mà bà Sáu Bình dạy bên luống rau bãi bồi Hương Long, bỗng chốc khớp nối lại với nhau như những mộng gỗ lim ăn khớp hoàn hảo vào lòng cột cái.

Cô lật sang một trang giấy trắng tinh trong cuốn sổ tay, đặt ngòi bút bi xuống dứt khoát:

“Dạ thưa sư cô, con đã định hình được con đường vận hành cho Bếp Của Bà.”

Thiện nghiêng người tới, ánh mắt lấp lánh niềm khích lệ. Sư cô Tuệ An khẽ nâng chén trà, chăm chú dõi theo từng nét mặt của cô gái trẻ.

“Về phần tự chủ kinh phí,” My nói, giọng rõ ràng, dứt khoát và điềm tĩnh, không còn vẻ lúng túng ban nãy, “Bếp Của Bà sẽ vận hành theo mô hình phục vụ giới hạn, tuyệt đối không chạy theo số lượng khách hay doanh thu xô bồ đại trà. Mỗi ngày, bếp chỉ nhận phục vụ tối đa từ hai mươi đến ba mươi suất ăn trưa và tối, bắt buộc thực khách phải đặt chỗ trước ít nhất hai mươi tư giờ. Việc này cho phép con kiểm soát chính xác đến từng lạng thịt, từng mớ rau mua trong ngày từ bãi bồi Hương Long, triệt tiêu hoàn toàn tình trạng nguyên liệu dư thừa lãng phí hay phải dùng lại đồ ăn thừa ôi thiu qua đêm.”

“Thực đơn con tính thế nào?” Sư cô gật đầu hỏi tiếp.

“Dạ, không có thực đơn cố định in sẵn mười hai món để khách chọn tự do như các nhà hàng ngoài phố,” My trả lời, ngón tay gõ nhịp theo từng ý tưởng mạch lạc. “Thực đơn sẽ xoay vòng theo chu kỳ tự nhiên của thời tiết và mùa màng xứ Huế, đúng như lời bác Sáu Bình đã dạy con: Đất trời cho thức gì thì ăn thức nấy. Mỗi ngày chỉ có duy nhất một mâm cơm gia đình truyền thống gồm ba món chính và một món canh hoặc món tráng miệng. Mùa mưa lụt bãi bồi ngập nước thì mâm cơm có cá bống thệ kho tiêu cay nồng trong niêu đất, canh mít non nấu tôm rảo, vả trộn thịt luộc chấm mắm ruốc; mùa sen nở ngát hồ Tịnh Tâm thì nấu cơm hấp lá sen, chè sen đường phèn thanh nhiệt. Chúng con sẽ định giá một suất ăn ở mức công bằng, tương xứng với phẩm chất nguyên liệu hữu cơ sạch và công sức chế biến thủ công tỉ mỉ. Nguồn thu này, sau khi trừ chi phí vận hành, điện nước và trả lương thỏa đáng cho Thảo Vy, sẽ được phân bổ minh bạch theo tỷ lệ: bốn mươi phần trăm trả nợ viện phí cho chú Vinh, ba mươi phần trăm đưa vào quỹ bảo tồn căn nhà rường, và ba mươi phần trăm còn lại giữ làm vốn xoay vòng và quỹ rủi ro thiên tai.”

“Rất minh bạch và thực tế,” sư cô Tuệ An tán thành, khóe miệng khẽ nhếch lên một nụ cười hài lòng. “Còn phần cộng đồng, con tính kết nối thế nào để không bị cuốn vào cảnh từ thiện tự phát, vô tội vạ?”

My mỉm cười, nhìn sang Thiện rồi nhìn thẳng vào mắt sư cô:

“Con xin phép được thiết lập một ranh giới cố định và bất di bất dịch: Mỗi tháng, Bếp Của Bà sẽ chỉ tổ chức đúng hai buổi nấu ăn cộng đồng, ấn định vào ngày rằm và ngày mùng một âm lịch. Vào hai ngày này, quán sẽ treo biển đóng cửa hoàn toàn, không đón tiếp bất kỳ thực khách thương mại nào dù họ có trả giá cao đến đâu. Chúng con sẽ phối hợp trực tiếp với cô Hương trường mầm non Hoa Nắng và gian bếp thiện nguyện của chùa Tuệ An. Chúng con sẽ trích một phần kinh phí từ quỹ bảo tồn kết hợp cùng nguồn rau củ hỗ trợ từ vườn bác Sáu Bình để nấu từ năm mươi đến bảy mươi suất ăn dinh dưỡng, ấm áp cho các cháu nhỏ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại trường và những bệnh nhân cơ nhỡ ở bệnh viện. Buổi chiều những ngày đó, khoảng sân trước hiên nhà rường sẽ là nơi anh Thiện mở lớp dạy đàn guitar và hát dân ca miễn phí cho đám trẻ con quanh kiệt An Cựu.”

Thiện mỉm cười, lên tiếng tiếp lời, giọng anh vang lên trầm ấm và đầy tin cậy:

“Con đã bàn kỹ với My từng chi tiết rồi thưa sư cô. Khung giờ thiện nguyện sẽ gói gọn từ tám giờ sáng đến ba giờ chiều, tuyệt đối không kéo dài lê thê làm xáo trộn sinh hoạt xóm giềng. Bếp chùa hỗ trợ kiểm tra thực đơn chay mặn cho phù hợp với từng đối tượng bệnh nhân, trường Hoa Nắng phụ trách lập danh sách các cháu thực sự cần giúp đỡ để tránh việc ban phát cào bằng sai người, còn con lo khâu điều phối các bạn đoàn viên, thanh niên trong xóm đến phụ việc bưng bê và dọn dẹp vệ sinh. Làm việc có giờ giấc, có kế hoạch phân công cụ thể thì không ai bị vắt kiệt sức, mà niềm vui được san sẻ đều đặn, lâu dài và bền bỉ.”

Sư cô Tuệ An ngồi im lặng lắng nghe từ đầu đến cuối. Đôi mắt sư cô ánh lên niềm hoan hỷ sâu xa, một nụ cười ấm áp nở rộ trên gương mặt đã hằn sâu những nếp nhăn sương gió. Sư cô vươn hai bàn tay gầy gò qua mặt bàn, nhẹ nhàng đặt lên mu bàn tay My, siết nhẹ:

“Lành thay! Con đã thấu suốt được chữ ‘Vừa vặn’ của đất Huế rồi đó con. Đem trí tuệ, sự sắc sảo và kỷ luật tổ chức khoa học để bảo bọc cho cái tâm từ bi, đó mới chính là tinh thần cao nhất của người làm chủ gian bếp. Nấu ăn không phải chỉ là chuyện nêm nếm gia vị trong chảo, mà là nêm nếm sự chừng mực vào cuộc đời. Mệ Lành dưới suối vàng chắc chắn đang mỉm cười bằng lòng với đứa cháu gái của mình.”

Ba người cùng ngồi lại bên chiếc bàn gỗ mít thêm nửa giờ đồng hồ nữa để rà soát lại từng chi tiết kỹ thuật nhỏ nhất: danh mục dụng cụ nấu bếp cần thay mới bằng inox 304 để bảo đảm an toàn vệ sinh, lịch nạo vét và vệ sinh bẫy mỡ định kỳ hai tuần một lần bằng nước sôi pha giấm để tránh gây tắc nghẽn hệ thống cống rãnh chung của kiệt An Cựu, và phương án diễn tập phòng cháy chữa cháy cho gian nhà gỗ theo đúng yêu cầu nghiêm ngặt mà chú Vinh từng cảnh báo khi còn nằm trên giường bệnh. Từng hạng mục công việc hiện ra rành mạch, sáng tỏ trên từng trang giấy trắng, không còn là những ảo tưởng lãng mạn viển vông hay những khẩu hiệu tiếp thị sáo rỗng trên mạng xã hội, mà là một công trình lao động nghiêm cẩn, được đúc kết từ mồ hôi, nước mắt và tình thương yêu sâu nặng.

Khi mặt trời lên đến đỉnh đầu, đứng bóng giữa khoảng sân chùa, tiếng chuông ngọ lại thong thả ngân vang từng hồi trầm ấm. Tiếng chuông lan tỏa qua những tàng cây cổ thụ, đánh thức không gian thanh vắng ven bờ sông Hương.

My cùng Thiện đứng dậy, chỉnh đốn lại vạt áo rồi chắp tay thành kính cúi đầu đảnh lễ sư cô Tuệ An. Chiếc âu sứ hoa lam rỗng đã được cô cẩn thận rửa sạch tinh tươm dưới vòi nước giếng chùa, lau khô bằng khăn vải xô rồi cất vào chiếc giỏ mây quen thuộc.

“Đi về đi hai con,” sư cô Tuệ An chậm rãi tiễn hai người ra tận bậc thềm đá rêu phong dưới bóng cây bồ đề xào xạc lá. “Gian bếp ở kiệt An Cựu đang đợi khói lửa của con đó, My à.”

Bước qua khỏi cánh cổng tam quan rêu phong cổ kính của ngôi chùa, My dừng chân lại một nhịp bên bờ sông Hương. Gió đông thổi lồng lộng qua mặt nước xanh biếc màu ngọc bích, làm bay bay những lọn tóc mai lòa xòa trước trán. Dưới bến nước thoai thoải, vài con thuyền cào hến của dân vạn đò đang chậm rãi buông sào, tiếng mái chèo khua nước bì bõm hòa cùng tiếng còi tàu hỏa từ xa vọng lại qua nhịp cầu Bạch Hổ bằng sắt trắng.

Một cảm giác nhẹ nhõm vô biên bỗng chốc lan tỏa khắp lồng ngực My, thanh thản, êm đềm và rộng lớn như dòng nước sông Hương đang bền bỉ trôi xuôi về biển Thuận An.

Suốt ba tháng ròng rã vừa qua, cô bước vào hành trình này với tâm thế trĩu nặng của một kẻ mang trọng tội. Cô đã từng nhìn cuốn sổ di nguyện mười hai món ăn của bà nội như một bản án nghiệt ngã, một bài kiểm tra khắc nghiệt của số phận buộc cô phải cắn răng vượt qua để chuộc lại lỗi lầm vì đã bấm nút từ chối cuộc gọi cuối cùng của nội giữa buổi họp giao ban căng thẳng ở công ty. Cô đã từng nấu ăn trong nỗi phập phồng lo sợ, cố gắng chứng minh cho bố và chú Vinh thấy mình không phải là một đứa con gái ích kỷ, vô dụng chỉ biết chạy theo hào nhoáng phố phường. Cô đã từng đếm từng món: một, hai, ba… cho đến mười hai như người tù đếm từng vạch trên vách đá, mong mỏi chạm đến vạch đích cuối cùng để rũ bỏ gánh nặng đang đè cong đôi vai gầy.

Nhưng ngay tại giây phút này, khi đứng giữa đất trời cố đô lồng lộng gió sông, cô chợt hiểu ra một sự thật giản dị và sâu sắc: Hoàn thành mười hai món ăn chưa bao giờ là một vạch đích khép lại món nợ quá khứ.

Đó không phải là sự kết thúc, mà là sự khởi đầu cho một cuộc đời mới.

Mười hai món ăn ấy thực chất là mười hai cánh cửa mở ra để cô bước sâu vào đời sống của những con người lao động bình dị, để cô học lại cách cúi mình kính cẩn trước ngọn lửa than, học cách lắng nghe nhịp thở của tự nhiên, học cách thiết lập những ranh giới tỉnh táo để bảo vệ chính mình và học cách tha thứ cho những vụng về, lầm lỡ của gia đình lẫn bản thân. Nấu ăn không phải là một nghĩa vụ trả nợ nhọc nhằn, mà là một phương thức sống tỉnh thức, một sự thực hành yêu thương kiên nhẫn và bền bỉ trong từng khoảnh khắc hiện tại.

“Nghĩ chi mà đứng ngẩn tò te ra rứa My?” Giọng Thiện vang lên bên cạnh, ấm áp và thân thuộc. Anh đang dắt chiếc xe đạp cọc cạch đi chậm lại, trong giỏ xe phía trước đựng chiếc âu sứ hoa lam và mấy đọt rau thơm tươi rói mà sư cô vừa hái tặng ngoài vườn thuốc nam.

My quay sang nhìn Thiện, bắt gặp nụ cười hiền lành cùng ánh mắt trong veo của anh in bóng mặt sông Hương. Cô mỉm cười, lắc đầu nhẹ:

“Dạ không, em chỉ thấy lòng mình nhẹ nhõm quá. Giống như vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân đè nặng trong ngực suốt mấy tháng trời vậy.”

Thiện nhìn cô, ánh mắt thoáng chút trầm ngâm, vẻ từng trải của một người đã chứng kiến nhiều thăng trầm nơi phố thị khẽ hiện lên trên khóe mắt:

“Nhẹ lòng được là điều quý nhất rồi. Nhưng mà… My này, tối qua em nói đầu tuần sau phải bay vào Sài Gòn một chuyến đúng không? Em đã kiểm tra lại email của chị Lan Anh gửi tối qua chưa?”

Nhắc đến chuyến đi Sài Gòn, My khẽ chớp mắt, nét mặt trở nên nghiêm túc và tập trung hơn. Đêm qua, khi ngồi bên chiếc bàn con dưới ngọn đèn vàng vọt, hộp thư điện tử của cô vừa nhận được thông báo chính thức có đính kèm văn bản pháp lý từ Giám đốc tiếp thị Vũ Lan Anh: Ban giám đốc Sao Nam triệu tập một cuộc họp trực tiếp vào sáng thứ Ba tuần tới tại trụ sở chính ở Sài Gòn để chính thức ký kết thỏa thuận bàn giao dứt điểm quyền điều hành cho Hoàng Duy, đồng thời tiến hành xem xét phê duyệt hợp đồng tư vấn chiến lược thương hiệu bán thời gian dành cho My.

“Em đọc rất kỹ từng điều khoản rồi,” My đáp, bước chầm chậm sóng đôi cùng Thiện trên con đường rợp bóng những hàng cây long não cổ thụ ven bờ sông. “Chị Lan Anh muốn em có mặt trực tiếp để giải quyết dứt điểm các điều khoản pháp lý và thanh lý hợp đồng lao động cũ.”

“Nhớ kiểm tra thật kỹ các điều khoản về giới hạn giờ làm việc từ xa và quyền từ chối can thiệp các sự vụ khẩn cấp trước khi đặt bút ký nghe,” Thiện nghiêng đầu nhìn cô, giọng nhắc nhở chân tình nhưng chứa đựng sự cẩn trọng sâu sắc. “Đừng để người ta dùng những lời lẽ ngon ngọt hay áp lực công việc để cuốn mình trở lại cái guồng quay hai mươi tư trên bảy như hồi trước. Em đã vất vả biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt mới dựng lại được căn bếp ni, đừng để nó bị bỏ dở nửa chừng chỉ vì một bản hợp đồng mập mờ, thiếu ranh giới.”

“Em biết rồi,” My ngước nhìn Thiện, trong lòng dâng lên một niềm cảm kích ấm áp khôn tả. “Lần này vào Sài Gòn, em không phải vào để chạy trốn thực tại hay để níu kéo một chức danh hão huyền nơi văn phòng máy lạnh. Em vào để khép lại một chương cũ của cuộc đời mình, đàng hoàng, sòng phẳng và dứt khoát, rồi em sẽ quay về lại đây.”

“Ừ, anh và mọi người ở kiệt An Cựu đợi em về,” Thiện nói, giọng nói trầm ấm và bình thản như một lời hẹn ước bình yên gửi vào gió sông.

Hai người cùng đạp xe qua cầu Ga, rẽ vào con đường Phan Chu Trinh chạy dọc theo bờ sông An Cựu. Xóm kiệt thân quen hiện ra trước mắt trong ánh tà dương nhập nhoạng: mùi xôi bắp sớm đã tàn của gánh hàng bà Năm Sương bên góc ngã ba, tiếng lách cách đều đặn của lưỡi kéo cắt vải từ tiệm may của bác Phúc bên khung cửa sổ mở hé, và làn khói lam chiều bắt đầu lãng đãng bay lên từ những mái ngói rêu phong cổ kính. Căn nhà rường của bà Lành đứng đó, tĩnh lặng và vững chãi dưới bóng cây khế ngọt vừa bén những chùm rễ non trắng muốt, mái ngói âm dương mới được những người thợ tài hoa đảo lại thẳng tắp một màu nâu đỏ trầm mặc trước gió mùa.

My bước qua cánh cổng gỗ xạm màu thời gian, đẩy nhẹ cánh cửa chái bếp vừa được phục dựng sạch sẽ, thơm mùi vôi mới và gỗ mít. Trên chiếc bàn sơ chế bằng gỗ mít đã được bào nhẵn bóng, ánh nắng chiều tà chiếu xiên qua khung cửa sổ nhỏ, rọi sáng một góc bàn bình yên đến kỳ lạ.

Tấm vé máy bay một chiều vào Sài Gòn nằm im lìm trên mặt bàn bếp, bên cạnh cuốn sổ tay vừa được ghi thêm những dòng nguyên tắc vận hành bằng nét mực đen dứt khoát và ngay ngắn.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn