Căn Bếp Nhỏ Của BàC.21 / 35
Chương 21

Lời xin lỗi không vòng vo

Gió chiều từ phía ngã ba sông An Cựu thốc ngược vào lòng con kiệt nhỏ, mang theo hơi nước buốt lạnh của những ngày mưa dầm xứ Huế. Từng đợt gió ràn rạt quất qua những tán chuối ngự xơ xác bên bờ rào, làm lay động những vạt mạng nhện giăng mắc trên những thanh rào kẽm gai hoen gỉ. My đứng lặng trước cánh cổng sắt nhà chú Vinh, hai bàn tay luồn dưới đáy chiếc khăn vải bọc âu sành, các ngón tay gầy guộc siết chặt lấy phần quai gốm men da lươn vẫn còn hôi hổi nóng. Hơi ấm âm ỉ truyền qua làn vải thô ráp phả vào lồng ngực cô, đối nghịch hoàn toàn với cái buốt giá đang ngấm dần qua lớp áo khoác gió mỏng mảnh.

Cánh cổng sắt hai cánh sơn xanh ngày nào nay đã tróc lở từng mảng lớn, phơi ra màu sắt gỉ nâu đỏ như vảy máu khô. Một bên bản lề phía dưới đã bị xụp từ lâu, khiến mép cổng sà hẳn xuống mặt ngõ, cọ sát vào nền xi măng sứt mẻ tạo thành một vệt xước xám ngoét hình cánh cung. Qua những chấn song sắt thưa thớt, My nhìn sâu vào khoảng sân hẹp tráng vữa lồi lõm, nơi những vũng nước mưa tù đọng phản chiếu nền trời xám xịt của buổi chiều muộn. Vài chậu ớt xiêm còi cọc trơ trọi mấy nhánh khẳng khiu nép mình sát chân tường rào loang lổ rêu xanh. Từ gian nhà cấp bốn lợp tôn xi măng phía sau khoảng sân, thứ ánh sáng tù mù phát ra từ một bóng đèn compact mười lăm oát nhuộm vàng vách vôi bong tróc. Qua khung cửa sổ chắp vá bằng mấy thanh gỗ tạp, bóng dáng một người đàn ông in lên bức tường gạch mộc như một vệt mực tàu đậm đặc, bất động và quạnh quẽ đến nao lòng.

My khẽ nín thở, lồng ngực thắt lại. Dưới nách cô, cuốn sổ y bạ bìa các-tông sờn rách của Bệnh viện Trung ương Huế cộm lên, góc bìa cứng đè nhẹ vào mạn sườn. Những trang giấy bổi ngả màu vàng ố mà bà mụ Diệu vừa lật giở cho cô xem bên chõng tre ban nãy dường như vẫn đang lướt qua tâm trí cô từng dòng, từng chữ: nét chữ ký nguệch ngoạc của chú Vinh run rẩy dưới những tờ giấy cam đoan phẫu thuật cấp cứu tim mạch có nguy cơ tử vong cao; những con dấu đỏ tươi đóng vội vã trên xấp biên lai tạm ứng viện phí; những dòng kê toa thuốc trợ tim đặc trị với đơn giá đắt đỏ kéo dài ròng rã suốt năm năm trời. Suốt ngần ấy năm, cô ung dung sống giữa Sài Gòn phồn hoa, bận rộn với những cuộc họp chiến lược thương hiệu, những bản báo cáo chỉ số tăng trưởng và những ly cà phê đắt đỏ, đinh ninh rằng vài triệu đồng ba cô chuyển về mỗi tháng đã là trọn vẹn nghĩa vụ phụng dưỡng của một người con trai cả ở phương xa.

My đưa tay run run chạm vào then cài bằng sắt lạnh ngắt, đẩy nhẹ cánh cổng. Tiếng kim loại rỉ sét cọ sát trên nền xi măng rít lên một âm thanh *két* khô khốc, xé toang bầu không khí tĩnh mịch của con ngõ ẩm ướt.

Bên trong gian phòng, chiếc bóng in trên tường lập tức chuyển động. Chú Vinh giật mình ngước mắt lên khỏi mặt bàn gỗ ép đã bong tróc bốn góc. Trên chiếc bàn con ấy bừa bộn những hóa đơn tiền điện, tiền nước màu hồng nhạt, mấy phiếu thông báo thu tiền rác của tổ dân phố và một chiếc nắp hộp sữa bò cáu bẩn đựng đầy tàn thuốc lá Bastos cong queo, khét lẹt. Chú Vinh ngồi co ro trên chiếc ghế đẩu, người khoác chiếc áo len cổ lọ màu xám tro dão gấu, những sợi len sờn xơ xác như chính cuộc đời người đàn ông ngoài năm mươi tuổi vừa trải qua một cơn đại nạn. Đôi mắt chú trũng sâu, thâm quầng một màu chì mệt mỏi, hai gò má hóp lại dưới lớp râu hoa râm lởm chởm không buồn cạo.

Nhìn thấy My đứng sững bên bậu cửa xi măng, ánh mắt chú lập tức co lại, chuyển sang trạng thái cảnh giác và phòng thủ quen thuộc. Đôi hàng lông mày rậm rạp cau nghiến lại, kéo theo những nếp nhăn sâu hoắm hằn ngang trên vầng trán sạm nắng. Chú vội vàng lấy bàn tay thô ráp, chai sần vơ quàng mấy tờ giấy nợ trên bàn lùa vào góc, giọng nói cất lên khàn đặc, gắt gỏng như tiếng đá cuội cọ vào nhau:

"Cháu lại sang đây làm chi nữa? Nếu lại là chuyện xin khất nợ, hay tính đem mấy cái dự án tiếp thị, mấy cái bản vẽ viển vông ra để van nài chú đừng bán nhà rường, thì chú nói thẳng luôn một lời: vô ích thôi. Hạn chót sáu tuần là sáu tuần, đến ngày hai mươi tháng Chạp không có bốn trăm triệu trả nợ cho người ta thì phải bán đất. Chú không đổi ý mô."

Những lời xua đuổi cộc cằn ấy nếu là của vài ngày trước hẳn đã châm ngòi cho một cuộc tranh cãi nảy lửa giữa hai chú cháu. Nhưng chiều nay, My không hề lùi bước, cũng không hề cảm thấy một thoáng giận dữ hay tổn thương nào dâng lên trong lòng. Cô nhìn sâu vào đôi mắt đỏ ngầu những tia máu của chú, nhìn chiếc áo len rách chỉ nơi đầu vai, và nhìn cả đôi bàn tay đang run rẩy một cách mất kiểm soát của người đàn ông đứng đầu sóng ngọn gió của gia đình suốt ngần ấy năm trời.

Cô lặng lẽ bước qua bậu cửa xi măng đã mòn vẹt. Từng bước chân cô chậm rãi, vững vàng tiến đến bên chiếc bàn con. Đôi bàn tay cô nâng niu đặt chiếc âu sành bọc khăn vải xuống khoảng trống duy nhất trên mặt bàn, nơi lớp ván ép chưa bị nước trà làm cho phồng rộp. Sau đó, bằng một động tác vô cùng cẩn trọng, cô rút cuốn sổ y bạ dày cộp từ trong ngực áo ra, đặt ngay ngắn bên cạnh âu sành. Bìa giấy các-tông ngả màu nâu đất nằm im lìm dưới ánh đèn compact vàng vọt, để lộ ra những nét mực tím đã nhạt nhòa ghi rõ tên bệnh nhân: *Nguyễn Thị Lành – 78 tuổi*.

Cả gian phòng khách bỗng chốc rơi vào một sự im ắng đến ngột ngạt. Tiếng gió bấc lùa qua khe liếp cửa sổ rít lên từng hồi u u, hòa cùng tiếng tích tắc khô khốc, đơn điệu của chiếc đồng hồ treo tường hiệu Kim Đô đã cũ mèm.

My đứng thẳng người, hai bàn tay khép nép sát bên hông. Rồi trước sự ngỡ ngàng của người chú ruột, cô chầm chậm cúi gập người xuống. Một cái cúi đầu vuông góc chín mươi độ, sâu hoắm, trọn vẹn và câm lặng kéo dài trong từng nhịp thở nghẹn ngào. Suốt ba mươi năm cuộc đời, chưa bao giờ My cúi đầu thấp đến thế trước một ai, nhưng giây phút này, cô biết cái cúi đầu này vẫn còn quá nhẹ so với món nợ ân tình và sự thấu suốt mà cô nợ người đàn ông trước mặt.

Khi My chầm chậm ngẩng đầu lên, khóe mắt cô đã đẫm lệ, nhưng ánh nhìn thì kiên định và trong trẻo lạ thường. Cô nhìn thẳng vào ánh mắt đang bàng hoàng của chú Vinh, cất lời bằng chất giọng run rẩy nhưng rành rọt từng chữ một:

"Cháu sang đây trước hết là để cúi đầu xin lỗi chú. Cháu xin lỗi vì suốt thời gian qua đã hồ đồ, ngạo mạn và ích kỷ đến tột cùng. Cháu từ Sài Gòn trở về với cái nhìn của một kẻ ngoài cuộc trịch thượng, chỉ biết dùng mớ lý thuyết sách vở và cảm tính nông cạn của mình để phán xét chú. Cháu đã nghĩ chú thực dụng, nghĩ chú tàn nhẫn muốn bán đi căn nhà rường, bán đi ký ức của bà nội chỉ vì mấy đồng bạc. Cháu... cháu đã hoàn toàn sai rồi, thưa chú. Cháu thực sự có tội với bà, và có tội với chú."

Chú Vinh ngồi chết sững trên chiếc ghế đẩu. Bàn tay thô ráp của chú đang định với lấy bao thuốc lá Bastos bỗng khựng lại lơ lửng giữa không trung. Chú trừng mắt nhìn đứa cháu gái, vẻ ngờ vực, bối rối và hoang mang tột độ hiện rõ trên từng đường nét khắc khổ. Một người đàn ông vốn đã quen với những lời hờn trách từ dòng họ, quen với việc dựng lên một bức tường thành gai góc để chống chọi với búa rìu dư luận và sự thúc ép của nợ nần, dường như bị tước bỏ mọi vũ khí phòng vệ chỉ bằng một cái cúi đầu chân thành và những lời nhận lỗi không một chút quanh co.

"Cháu... cháu nói cái chi lạ lùng rứa?" Giọng chú Vinh lạc đi, đôi mắt chú dời từ gương mặt đẫm nước mắt của My xuống chiếc âu sành và cuốn sổ y bạ Bệnh viện Trung ương Huế đặt ngay ngắn trước mặt.

Như để đáp lại sự ngỡ ngàng ấy, My đưa tay khẽ mở chiếc nắp âu sành. Làn khói nóng hổi lập tức bốc lên bảng lảng, mang theo một mùi hương thân thuộc đến xé lòng xộc thẳng vào khứu giác hai chú cháu, lấp đầy gian phòng khách ẩm thấp, xua tan đi mùi ẩm mốc của rêu và mùi khét lẹt của tàn thuốc lá Bastos.

Đó là một mùi hương đằm thắm và tinh tế, không thể lẫn lộn với bất kỳ món ăn nào khác trên đời: mùi thơm bùi bùi, ngai ngái dịu ngọt của mít non vừa ngấn hột được tước sợi bằng tay, mùi béo ngậy của tôm rảo đầm phá tươi rói được giã dập rồi xào săn cùng củ nén đập dập thơm lừng, mùi thơm nồng ấm cay nhẹ của lá lốt vườn nhà thái chỉ, và vị mặn mòi, sâu thẳm của thứ mắm ruốc ngấu lâu năm đã được gạn lấy nước cốt trong veo. Mùi hương ấy là cả một trời ký ức, là linh hồn của những bữa cơm thanh đạm thời gian khó, là hơi thở của gian bếp mẹ già mà chú Vinh tưởng chừng đã vĩnh viễn mất đi kể từ ngày bà Lành nhắm mắt xuôi tay.

Và ngay cạnh làn khói nghi ngút ấy, cuốn sổ y bạ nằm đó như một chứng nhân câm lặng. Dưới ánh đèn vàng, dòng chữ ghi chú của khoa Tim mạch hiện lên rõ mồn một, nơi chú Vinh đã phải ký tên hàng chục lần dưới những phác đồ điều trị nghẹt thở giữa đêm đông rét mướt.

"Chiều nay, bà mụ Diệu đã đưa cuốn sổ này cho cháu," My nói, giọng nghẹn lại trong nước mắt. "Bà Diệu đã kể lại cho cháu nghe tất cả. Chuyện hơn bốn mươi năm trước, trong đêm lũ dữ ngập đến mái nhà, bà Diệu đã đỡ đẻ cứu sống chú thế nào, và vì sao năm nào đến ngày sinh nhật chú, bà nội cũng dứt khoát phải nấu bằng được món canh mít non này để tạ ơn trời đất, tạ ơn người đã cứu mạng chú. Cháu cũng đã biết... suốt năm năm trời bà nằm liệt nửa người vì tai biến, một tay chú bế ẵm, tắm rửa, thay từng miếng tã lót cho bà. Chú thức trắng hàng trăm đêm ngoài hành lang bệnh viện, chạy vạy vay mượn khắp nơi từng đồng bạc lẻ để đổi lấy bình oxy cho bà thở. Vậy mà hôm nay... đúng ngày sinh nhật của chú, cháu lại chỉ biết nghĩ đến sự ích kỷ của mình, còn ba cháu thì ở quá xa..."

Chú Vinh nhìn trân trân vào âu canh mít non bốc khói. Từng sợi mít ngả màu vàng nhạt đan quyện với những miếng thịt tôm rảo đỏ au và những sợi lá lốt xanh thẫm lay động trong làn nước dùng trong vắt, sóng sánh một lớp màng mỡ nén thơm ngát. Hơi nước bốc lên làm nhòa đi khóe mắt đỏ hoe của người đàn ông đã nếm trải đủ đắng cay cuộc đời.

Bàn tay chai sần đầy những vết sẹo do bổ củi, làm vườn của chú khẽ run lên bần bật. Chú chầm chậm đưa ngón tay chạm vào thành âu sành men da lươn vẫn còn nóng ấm, rồi lại rụt rè lướt nhẹ qua mép bìa cuốn sổ y bạ đã sờn rách bốn góc, nơi thấm đẫm mồ hôi và những giọt nước mắt tuyệt vọng của chính chú suốt năm năm ròng rã.

Một hơi thở hắt ra thật dài từ đáy lồng ngực chú Vinh, nặng trĩu và run rẩy như thể chú vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân đã đè nén buồng phổi mình suốt bao nhiêu năm tháng. Đôi vai chú chùng xuống, tấm lưng vốn luôn gồng cứng để gánh vác mọi bão giông bỗng chốc sụp xuống, để lộ ra vẻ già nua, kiệt quệ và cô độc cùng cực mà thường ngày chú luôn cố tình che đậy sau vẻ ngoài cộc cằn, hung hãn.

"Chị Lành... mẹ... mẹ vẫn nhớ à?" Chú Vinh lẩm bẩm trong cổ họng, thanh âm vỡ vụn ra thành từng mảnh. Chú gọi mẹ là "chị Lành" theo thói quen kính cẩn, e dè của những người con xứ Huế xưa đối với đấng sinh thành, rồi lại đổi thành một tiếng "mẹ" trần trụi, đau đớn đến thắt lòng. "Mẹ mất rồi... mẹ nằm dưới đất lạnh rồi mà vẫn còn bắt bà Diệu giữ cuốn sổ ni để răn dạy chú cháu mình sao..."

Chú Vinh gục đầu xuống hai bàn tay gầy guộc. Những ngón tay đan chặt vào mái tóc hoa râm bù xù. Đôi bờ vai người đàn ông run lên bần bật theo từng nhịp nấc nghẹn ngào cố kìm nén trong lồng ngực. Bao nhiêu uất ức, bao nhiêu tủi hờn và cay đắng dồn nén suốt nửa thập kỷ qua như vỡ bờ, cuồn cuộn trào ra qua từng kẽ tay.

"Cháu có biết chú sợ cái chi nhất trên đời ni không, My?" Chú Vinh ngẩng đầu lên, gương mặt nhòe nhoẹt nước mắt, đôi mắt đỏ ngầu những tia máu hằn sâu sự tuyệt vọng. "Chú không sợ cực! Chú là thằng con thứ, từ nhỏ đã quen lội bùn bắt ốc, quen ăn củ khoai củ sắn trừ bữa, cực khổ mấy chú cũng chịu được. Mẹ sinh chú ra trong bão lụt đói nghèo, nuôi chú khôn lớn, chú chăm mẹ là bổn phận, là cái đạo làm con tối thiểu ở đời, chú chưa bao giờ dám mở miệng kể công với ai một lời! Nhưng cháu có hiểu được... chú sợ cái cảm giác cô độc đến kiệt cùng không?"

Chú vung tay chỉ ra khoảng sân tối mịt ngoài kia, giọng run lên vì uất nghẹn: "Năm năm trời ròng rã! Đêm nào nằm dưới sàn gạch cạnh giường mẹ, chú cũng nơm nớp giật mình thon thót, chỉ sợ một tiếng thở khò khè của mẹ đột ngột tắt lịm đi. Có những đêm đông rét buốt cắt da cắt thịt, nước sông An Cựu dâng ngập đến bắp chân ngoài ngõ, mẹ lên cơn hen suyễn rồi trụy tim, chú cõng mẹ trên lưng chạy bộ huỳnh huỵch cả cây số ra đường lớn để đón xe cấp cứu, chân không kịp xỏ đôi dép lào. Ngồi ngoài hành lang Bệnh viện Trung ương nghe mùi thuốc sát trùng nồng nặc đến buồn nôn, chú đói lả người, hai mắt hoa lên. Người nhà bệnh nhân cùng phòng thấy thương tình cho một ổ bánh mì không, chú cắn một nửa nhai nuốt trộng cho có sức thức trắng đêm trông bình truyền dịch, còn một nửa gói vào tờ giấy báo để dành sáng mai ăn tiếp. Những lúc đó, anh Quang ở mô? Ba cháu ở trong Sài Gòn phồn hoa đô hội, gọi điện về lúc nào cũng chỉ có đúng mấy câu rập khuôn: 'Chú ráng lo cho mẹ, trong ni anh kẹt quá, tháng sau anh gửi tiền về'. Tiền anh gửi về mỗi tháng được ba bốn triệu bạc, có đủ trả tiền một bình oxy y tế cho mẹ thở trong ba ngày không?"

My cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, vị tanh mặn lan trên đầu lưỡi nhưng cô không hề cảm thấy đau. Từng lời, từng chữ của chú Vinh như những mũi kim nung đỏ đâm thẳng vào tâm can cô, xé toang sự tự tôn và cái nhìn hời hợt của cô về gia đình suốt bao năm qua. Cô đứng chôn chân tại chỗ, lặng lẽ cúi đầu hứng chịu toàn bộ cơn giận dữ chính đáng ấy.

"Chú giận anh Quang không phải vì anh nghèo túng," chú Vinh nghẹn ngào nói tiếp, giọng khản đặc đi vì nước mắt. "Chú giận là giận cái thói nghĩ rằng cứ gửi vài đồng bạc về là trọn chữ hiếu! Ba cháu không ở đây để nếm trải cái nỗi kinh hoàng của một người phải một mình đặt bút ký vào tờ giấy cam đoan phẫu thuật rủi ro năm mươi năm mươi, khi tay run rẩy đến mức không cầm nổi cây bút bi của cô y tá. Ba cháu không phải nhìn thấy những vết lở loét hoại tử trên lưng mẹ mỗi lần trời trở gió nồm ẩm ướt, mà một tay chú phải dùng cồn đỏ rửa từng vết thương cho mẹ trong tiếng rên xiết đau đớn. Mẹ nằm đó, đau đớn đến trào nước mắt nhưng mở miệng ra là dặn chú: 'Thằng Vinh ơi, đừng nói cho anh con biết... Nó ở trong nớ bận lo vợ con, công việc áp lực, nói ra chỉ tổ làm nó khổ tâm thêm'. Chú nghe lời mẹ, chú cắn răng nuốt ngược nước mắt vào trong, một mình chú gánh hết! Đến khi mẹ trút hơi thở cuối cùng, chú ôm một đống nợ hơn bốn trăm triệu đồng tiền viện phí, tiền thuốc men vay mượn khắp lượt người ta. Chú vừa mới mở miệng bàn chuyện chia đất, bán căn nhà rường để trả nợ thì cháu... cháu từ trên trời rơi xuống, nhìn chú như một tên tội đồ, nhìn chú như một kẻ tham lam, bất hiếu chỉ chực chờ xẻ thịt mồ mả của tổ tiên!"

*Bốp!*

Bàn tay hộ pháp của chú Vinh đập mạnh xuống mặt bàn gỗ ép. Tiếng động chát chúa vang lên làm chiếc âu sành khẽ nảy lên trên mặt bàn, sánh ra một giọt nước dùng màu vàng óng ả xuống lớp ván ép xám xịt.

Cả gian phòng lại chìm vào khoảng lặng chết chóc. Hơi thở của chú Vinh dồn dập, nặng nhọc như người vừa chạy qua một quãng đường dài vượt dốc. Cơn bộc phát dữ dội dường như đã rút cạn những giọt sinh lực cuối cùng của người đàn ông. Chú ngồi thõng hai tay xuống hai bên đùi, ngực phập phồng, đôi mắt nhìn chằm chằm vào giọt nước canh vừa rớt xuống mặt bàn.

My tiến thêm một bước, nhẹ nhàng đặt hai bàn tay mình lên mép bàn, đối diện với chú. Cô không né tránh ánh mắt của chú, giọng cô trầm lắng, chân thành đến tận cùng:

"Cháu xin lỗi chú... Cháu thành thật xin lỗi chú, chú Vinh. Cháu không có bất kỳ tư cách gì để bào chữa cho sự vô tâm của ba cháu, càng không có tư cách để biện minh cho sự phán xét thiển cận, hồ đồ của chính mình. Những giọt mồ hôi, những giọt nước mắt và máu của chú đổ ra suốt năm năm trời bên giường bệnh của bà nội là sự thật hiển hiện, thiêng liêng hơn bất kỳ thứ đạo đức rỗng tuếch nào trên đầu môi chót lưỡi. Cháu đã sai lầm khi nghĩ rằng mình có thể dùng vài ba lời lẽ văn hoa hay sự gắn bó mơ hồ với căn nhà rường để đứng trên sự hy sinh của chú."

Chú Vinh khẽ giật mình khi nghe những lời nói chân thành đến gan ruột của đứa cháu gái. Chú với lấy chiếc khăn mặt cũ cáu bẩn vắt trên lưng ghế, quệt vội những giọt nước mắt đầm đìa trên khóe mắt sưng húp. Ánh mắt chú lại một lần nữa dừng lại nơi âu canh mít non vẫn đang tỏa khói nghi ngút.

Mùi thơm thanh khiết của củ nén phi mỡ quyện với lá lốt và mít non như một làn gió ấm xoa dịu đi bầu không khí u uất, căng thẳng tột độ vừa qua. Chú Vinh run rẩy cầm lấy chiếc thìa nhôm đã sứt một góc đặt cạnh âu sành. Bàn tay chú ngập ngừng một thoáng, rồi chầm chậm múc một thìa nước dùng đưa lên miệng.

Nước canh chạm vào đầu lưỡi. Vị ngọt thanh tao, dịu nhẹ chiết xuất từ xương vỏ tôm rảo đầm Cầu Hai lan tỏa khắp khoang miệng, hòa quyện tuyệt đối với vị bùi bùi, giòn sần sật của từng sợi mít non vừa ngấn hột. Cái nồng ấm, the the của lá lốt vườn và tiêu sọ Tiên Phước làm bừng sáng vị giác, trong khi vị mặn mòi, đằm thắm của ruốc ngấu lắng trong nâng đỡ tất cả, tạo nên một sự hòa quyện hoàn hảo đến kinh ngạc. Nước canh không hề vướng một chút vị chát ngái nào của mủ mít—minh chứng cho việc từng quả mít đã được gọt tỉ mỉ dưới vòi nước chảy và ngâm kỹ qua nước muối loãng trước khi đem tước sợi. Đó chính xác là khẩu vị tinh tế, nghiêm cẩn của bà Lành, vị ngon mà chú Vinh đã nếm trải suốt hơn bốn mươi năm cuộc đời, từ những ngày gian khó cho đến tận những năm tháng cuối đời của mẹ.

Môi chú Vinh run rẩy dữ dội. Chú chầm chậm nhai từng sợi mít non, rồi nuốt xuống. Khóe mắt chú lại nhòe đi, những giọt nước mắt lăn dài rơi cả vào lòng thìa nhôm:

"Mít non tước sợi bằng tay... tôm rảo giã dập phi củ nén... Đúng vị của mẹ rồi. Cháu... cháu tự tay nấu món ni thật sao?"

"Dạ, chính tay cháu nấu, thưa chú," My khẽ gật đầu, giọng cô đã bình tâm trở lại. "Cháu tự tay gọt mít dưới vòi nước, luộc sơ với muối rồi ngồi tước từng sợi theo thớ đúng như những dòng bà ghi lại trong cuốn sổ tay. Anh Thiện chỉ đứng bên cạnh chỉ dẫn khẩu vị và kiểm tra kỹ thuật, còn lại từng chút nêm nếm, từng củ nén phi mỡ, cháu đều tự làm hết. Chiều nay cháu mang sang cho bà Diệu nếm thử trước, bà Diệu đã khóc... rồi bà giục cháu phải múc ngay một âu nóng hổi mang sang cho chú, vì hôm nay là ngày sinh nhật của chú."

Chú Vinh lặng lẽ gật đầu, chầm chậm đặt chiếc thìa nhôm xuống mặt bàn gỗ ép. Ánh mắt chú nhìn My lúc này đã hoàn toàn trút bỏ lớp vỏ bọc gai góc, hằn học thường ngày. Trong đôi mắt trũng sâu ấy giờ chỉ còn lại sự chua xót, bất lực và nỗi tủi hổ của một người cha đang bị dồn vào chân tường tăm tối. Chú thở dài một tiếng nặng nề, đưa bàn tay run run kéo ngăn kéo chiếc bàn con, rút ra một tờ giấy in viền xanh đã nhàu nát ở các góc vì bị lật giở quá nhiều lần.

Chú đẩy tờ giấy về phía My, giọng nói chùng hẳn xuống, đượm vẻ nghẹn ngào:

"Không phải tự nhiên mà chú ép các người đến bước đường cùng rứa mô, My. Chú không cần tiền để ăn xài hoang phí, cờ bạc rượu chè chi hết. Cháu nhìn đi."

My đón lấy tờ giấy từ tay chú. Đó là tờ giấy báo trúng tuyển và thông báo nhập học học kỳ đầu tiên của Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng, ngành Kỹ thuật Chế biến Món ăn và Làm bánh Nghệ thuật. Trên góc trên bên trái, dòng chữ in đậm tên người nhận hiện lên rõ ràng: *Kiều Oanh*.

Phía dưới là bảng kê chi tiết các khoản tiền: học phí kỳ một, tiền ký túc xá, chi phí mua sắm đồng phục và bộ dụng cụ thực hành nghề bếp chuyên nghiệp, tổng cộng tròn trĩnh: *18.500.000 đồng*. Hạn chót hoàn tất thủ tục nộp học phí để giữ chỉ tiêu nhập học là trước ngày 15 tháng này. Ở góc dưới cùng tờ thông báo, có một dòng chữ viết tay bằng mực đỏ của phòng đào tạo gạch chân cảnh báo dứt khoát: *Sau thời hạn trên, nhà trường sẽ hủy kết quả trúng tuyển để xét tuyển thí sinh kế tiếp.*

"Em Oanh..." My bàng hoàng ngước nhìn chú.

"Con Oanh nó mê làm bánh từ nhỏ, cháu biết mà," giọng chú Vinh nghẹn lại, từng lời thốt ra như đứt từng khúc ruột. "Nó ước ao sau ni mở được một tiệm bánh ngọt nhỏ ở Huế để nuôi thân. Năm ni nó thi đỗ vào trường nghề ẩm thực trên Đà Nẵng, điểm thực hành làm bánh của nó đứng tốp đầu. Ngày nhận được tờ giấy báo trúng tuyển ni, nó mừng đến mức mấy đêm liền không ngủ được, cứ ôm khư khư lấy cuốn sách dạy làm bánh cũ mèm rách bìa mà cười một mình trong xó bếp. Nhưng mà My ơi... nhà chú kiệt quệ thật rồi. Tiền thuốc thang cho bà đợt cuối, tiền lo ma chay hậu sự, rồi những món nợ nóng người ta đòi từng ngày từng giờ... Trong túi chú chừ vét sạch cả tiền lẻ cũng chỉ còn chưa đầy năm triệu bạc. Thiếu hơn mười ba triệu nữa, chú biết đào mô ra trong mấy ngày ngắn ngủi ni?"

Người đàn ông gục mặt xuống bàn, hai bàn tay vò nát mái tóc hoa râm xơ xác: "Hôm họp gia đình bên nhà rường, chú lỡ tay làm rơi tờ giấy báo nộp học phí ni ra đất, chú xấu hổ muốn chết đi được! Chú là một thằng đàn ông vô tích sự, chăm mẹ thì để mẹ ốm đau liệt giường rồi mất trong nợ nần, đến đứa con gái duy nhất có chút ước mơ bước vào đời chú cũng không lo nổi tiền học phí kỳ đầu cho nó. Người ta trả một tỷ tám mua đứt căn nhà rường và mảnh đất hương hỏa, nếu bán đi, chia đôi ra chú có tiền trả dứt nợ nần cho người ta, lại có tiền cho con Oanh đi học đàng hoàng bốn năm trời, để đời nó không phải tăm tối, thất học như đời chú. Chú biết căn nhà là của tổ tiên để lại, chú đâu phải loài cầm thú tàn nhẫn mà muốn dứt bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình? Nhưng cháu bảo chú phải làm răng đây? Nhìn con gái mình phải gác lại ước mơ, đi làm thuê làm mướn rửa chén quét rác cả đời như chú sao?"

Từng lời giãi bày đau đớn như xé gan xé ruột của chú Vinh rơi vào lòng My như một gáo nước lạnh buốt tạt tan đi chút định kiến cuối cùng còn sót lại trong tâm trí cô. Hóa ra, đằng sau sự hung hãn, cộc cằn và cái tối hậu thư sáu tuần nghiệt ngã ấy không phải là lòng tham lam tiền bạc hay sự bội bạc với tổ tiên, mà là sự quẫn bách đến tột cùng của một người cha đang đứng bên bờ vực bất lực. Chú Vinh muốn bán nhà không phải để hưởng thụ hay an nhàn, mà là để cứu lấy tương lai của con gái mình khỏi vũng lầy nợ nần truyền kiếp mà thế hệ trước để lại.

My lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện chú Vinh. Cô rút từ trong túi áo khoác ra cuốn sổ tay bìa da nhỏ nhắn mà cô vẫn luôn mang theo bên mình suốt những ngày qua để ghi chép từng công thức, từng số liệu tính toán chi tiết.

"Chú Vinh, chú hãy nghe cháu nói này," My lật mở cuốn sổ tay, đặt lên bàn và chỉ vào những con số được ghi chép cẩn thận, rõ ràng bằng mực xanh. "Cháu hiểu tất cả rồi. Cháu cam đoan với chú, cháu sẽ không bao giờ để em Oanh phải bỏ dở việc học chỉ vì thiếu mười ba triệu rưỡi tiền học phí."

Chú Vinh ngước lên, đôi mắt mở to đầy hoài nghi và bàng hoàng: "Cháu nói cái chi? Cháu đào mô ra tiền? Chẳng phải tiền tiết kiệm của cháu sau khi nghỉ việc ở Sài Gòn cũng đã cạn rồi sao?"

"Tài khoản tiết kiệm tích lũy của cháu hiện còn gần chín mươi triệu đồng," My chậm rãi giải thích, giọng điềm tĩnh và chắc chắn. "Hôm trước, bác Tấn thợ mộc đã đến khảo sát và báo giá sửa chữa nguy cấp ba cột cái cùng hệ thống rui mè bị mối mọt ăn rỗng của nhà rường là một trăm năm mươi lăm triệu. Cháu vốn định dồn hết chín mươi triệu đó để lo phần tiền cọc cho bác Tấn bắt tay vào việc ngay. Nhưng chiều nay, sau khi nghe bà Diệu kể chuyện và tận mắt nhìn thấy tờ giấy báo học phí của em Oanh, cháu đã tính toán lại toàn bộ phương án tài chính."

My lật sang trang kế tiếp, nơi cô đã vẽ sẵn bảng phân bổ dòng tiền chi tiết cho "Bếp Của Bà": "Trước mắt, sáng ngày mai cháu sẽ chuyển khoản thẳng vào tài khoản của em Oanh mười bốn triệu đồng để em kịp nộp học phí kỳ một và trang trải tiền ăn ở tháng đầu tiên tại Đà Nẵng. Đây là tiền của cháu cho em Oanh mượn, hoặc coi như chị phụ em gái đi học nghề, chú không phải ngại ngùng hay cảm thấy mang nợ chi cả. Chuyện học hành và tương lai của em Oanh là chuyện hệ trọng cả đời, không thể chậm trễ thêm một ngày nào nữa."

Đôi môi chú Vinh run run, mấp máy không nên lời: "My... cháu... sao cháu lại..."

"Chú cứ để cháu nói hết đã," My mỉm cười nhẹ, ánh mắt ấm áp nhưng vô cùng kiên định. "Số tiền gần bảy mươi lăm triệu còn lại trong tài khoản, cháu đã bàn bạc lại với bác Tấn để xin chia nhỏ các giai đoạn sửa chữa nhà rường. Bác Tấn đã đồng ý phương án trước mắt: những chỗ chân cột cái bị rỗng ruột sẽ được kích nâng thủy lực và gia cố tạm thời bằng lõi thép chịu lực trước Tết Nguyên đán với chi phí khoảng sáu mươi triệu đồng để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho căn nhà. Còn phần rui mè và thay thế ngói âm dương bị dột nát, bác Tấn sẽ hoãn lại, làm sau khi mùa mưa bão năm nay qua đi. Còn về khoản nợ viện phí hơn bốn trăm triệu đồng mà chú đã một mình gánh vác suốt năm năm qua cho bà nội, cháu đã đưa toàn bộ vào bảng kế hoạch tài chính vận hành của Bếp Của Bà."

My xoay cuốn sổ tay về phía chú Vinh, dùng ngón tay chỉ vào các cột số liệu được phân chia theo từng quý rất khoa học: "Dự án Bếp Của Bà này cháu không mở ra để làm du lịch hào nhoáng, bề nổi hay kinh doanh chộp giật. Cháu đã kết nối và chốt được nguồn nguyên liệu sạch, chuẩn vị truyền thống của Huế: gừng sẻ vùng đất Kim Long của dì Mến, tôm rảo đầm Cầu Hai lấy giá gốc tận thuyền đánh bắt của chị Tâm ở chợ Bến Ngự, và cô Hương bên trường mầm non sẽ trực tiếp hỗ trợ kiểm định quy trình an toàn vệ sinh thực phẩm. Cháu dự tính căn bếp sẽ chỉ phục vụ giới hạn đúng ba mươi suất mỗi ngày, tập trung vào những món ăn gia đình truyền thống đúng chuẩn vị của bà nội. Theo bảng tính toán thận trọng nhất, sau sáu tháng vận hành ổn định khi dòng tiền bắt đầu dương, cháu sẽ trích cố định bốn mươi phần trăm lợi nhuận ròng hằng tháng chuyển thẳng vào tài khoản của chú để thanh toán dần khoản nợ bốn trăm triệu kia, cho đến khi hoàn trả hết toàn bộ số tiền mà chú đã gánh thay cho gia đình cháu."

Chú Vinh dán chặt mắt vào từng trang sổ tay. Những dòng chữ viết tay ngay ngắn, những phép tính rõ ràng, minh bạch, có cơ sở thực tế chứ không hề có chút khoa trương, hão huyền. Đôi mắt từng trải của một người đàn ông bươn chải nắng mưa nhận ra ngay đây không phải là một bản kế hoạch tiếp thị bóng bẩy, sáo rỗng mà My từng đem ra trong buổi họp gia đình căng thẳng hôm nọ. Đây là một phương án tài chính thực tế, được xây dựng trên sự thấu hiểu sâu sắc, lòng trắc ẩn và tinh thần trách nhiệm tuyệt đối của một đứa con, đứa cháu trong dòng họ.

"Nhưng mà... My à," chú Vinh ngập ngừng, thanh âm đã mềm đi rất nhiều, đượm vẻ áy náy. "Căn nhà rường ni dẫu răng đi nữa cũng là tài sản thừa kế chung của ba cháu và chú. Dù chú có cảm động trước tấm lòng của cháu, dù cháu có đứng ra lo liệu học phí cho con Oanh, thì hai chú cháu mình cũng không thể tự tiện quyết định giữ hay bán căn nhà được. Ba cháu mới là người có quyền đồng sở hữu đứng tên trên giấy tờ pháp lý."

"Cháu hiểu rất rõ điều đó, thưa chú Vinh," My gật đầu dứt khoát. "Cháu không bao giờ có ý định ép chú phải xóa bỏ thỏa thuận hay hứa hẹn bất cứ điều gì vượt quá thẩm quyền của hai chú cháu mình trong buổi tối hôm nay. Căn nhà này thuộc về cả ba cháu và chú. Việc định đoạt tương lai của nó nhất định phải đợi ba cháu thu xếp công việc ở Sài Gòn trở về Huế, ngồi lại cùng chú trong một cuộc họp gia đình chính thức, minh bạch và ba mặt một lời. Cháu chỉ xin chú một điều duy nhất thôi: xin chú hãy giữ nguyên thời hạn sáu tuần như chú đã ra tối hậu thư hôm trước, đúng đến ngày hai mươi tháng Chạp. Trong sáu tuần này, xin chú tạm thời đừng ký bất kỳ giấy tờ nhận tiền đặt cọc bán nhà nào cho bên đầu tư bất động sản Đà Nẵng. Hãy cho cháu thời gian để chứng minh căn bếp này có thể tự nuôi sống nó, và quan trọng hơn hết, chứng minh rằng gia đình mình có thể cùng nhau vượt qua món nợ này mà không cần phải bán đi hương hỏa của tổ tiên."

Gian phòng khách rơi vào một khoảng lặng dài. Chú Vinh im lặng nhìn đứa cháu gái ba mươi tuổi đang ngồi trước mặt mình. Mới mấy ngày trước, chú còn nhìn cô như một kẻ thị thành xa lạ, trịch thượng và vô tâm. Vậy mà giờ đây, cô gái ấy ngồi đây với đôi bàn tay còn vương mùi mủ mít non, đôi mắt trũng sâu vì thức khuya dậy sớm chăm chút từng món ăn, nhưng ánh nhìn thì kiên định, ấm áp và đong đầy sự thấu hiểu.

Người đàn ông thở dài một tiếng thật sâu, nhưng lần này là một tiếng thở dài nhẹ nhõm, như thể gánh nặng ngàn cân đè trĩu trên hai vai chú suốt bao năm tháng qua vừa được một bàn tay trẻ trung, vững vàng đưa ra cùng san sẻ.

"Được rồi," chú Vinh lên tiếng, giọng nói trầm ấm và dứt khoát. "Chú đồng ý với cháu. Chú sẽ giữ nguyên hạn chót ngày hai mươi tháng Chạp, tuyệt đối không tiếp xúc, không nhận một đồng tiền đặt cọc nào của đám môi giới đất Đà Nẵng trước ngày nớ. Mọi chuyện sẽ chờ ba cháu về rồi ba mặt một lời giải quyết dứt điểm. Còn chuyện tiền học phí của con Oanh... chú... chú đội ơn cháu nhiều lắm, My à. Chú sẽ bảo con Oanh viết một tờ giấy nhận nợ đàng hoàng, sau ni nó học xong ra trường đi làm có tiền, chú bắt nó phải trả lại cho chị nó sòng phẳng từng đồng một."

"Kìa chú, chú đừng nói rứa, người một nhà cả mà chú," My mỉm cười, sống mũi lại cay xè vì xúc động. "Chỉ cần em Oanh được đi học đến nơi đến chốn, có một cái nghề vững vàng trong tay là bà nội ở suối vàng đã có thể mỉm cười an lòng rồi chú."

Chú Vinh khẽ gật đầu, đưa tay bưng âu canh mít non lên, múc thêm một thìa nước dùng nóng hổi đưa vào miệng. Gương mặt khắc khổ, đầy những nếp nhăn giông bão của chú dần giãn ra, phảng phất nét bình yên hiếm hoi sau bao năm tháng chìm trong lo toan, khốn khó. Chú ăn một cách ngon lành, chậm rãi nhai từng sợi mít non, như thể đang tìm lại từng mảnh ký ức êm đềm của thời thơ ấu bên cạnh người mẹ già dưới mái nhà rường năm nào.

Sau khi ăn hết hơn nửa âu canh, chú Vinh đặt thìa xuống, đứng dậy bước chầm chậm về phía chiếc tủ chè bằng gỗ gụ kê sát góc tường. Chiếc tủ đã cũ, lớp véc-ni bong tróc từng mảng. Chú mở ngăn kéo nhỏ bên phải bị kẹt kêu lên những tiếng *lách cách*, lục lọi một hồi lâu dưới đáy tủ rồi lôi ra một chùm chìa khóa sắt cũ kỹ được xâu lại bằng một sợi dây đồng uốn cong. Những chiếc chìa khóa có hình thù kỳ lạ, dài ngoằng, thân khóa đã ngả sang màu đen ố và phủ một lớp rỉ sét mỏng của thời gian.

Chú quay trở lại bàn, xòe bàn tay chai sạn ra, đặt chùm chìa khóa sắt vào lòng bàn tay My.

"Cái chi đây hả chú?" My ngạc nhiên hỏi, cảm nhận rõ cái lạnh ngắt của kim loại áp vào da thịt mình.

"Chìa khóa gian kho chứa đồ cũ phía sau chái bếp nhà rường," chú Vinh nói, ánh mắt xa xăm nhìn ra khoảng sân tối mịt ngoài hiên. "Từ ngày mẹ bị tai biến rồi mất, gian kho nớ chú khóa chặt lại, không cho ai bước chân vào vì sợ đồ đạc của mẹ bị mối mọt, chuột bọ tha đi mất. Mấy bữa trước, chú tính dọn dẹp sạch sẽ để chuẩn bị bàn giao nhà cho bên mua đất, nhưng cứ mỗi lần cầm chùm chìa khóa ni lên là tay chú lại run rẩy, chú không nỡ mở cánh cửa nớ ra... Chừ chú giao lại toàn bộ cho cháu. Trong nớ có tất cả những đồ nghề làm bếp cũ của mẹ suốt mấy chục năm qua. Mẹ cháu cất kỹ lắm, lau chùi sạch sẽ bằng tro bếp rồi bọc cẩn thận trong mấy lớp bao tải gai."

My nắm chặt chùm chìa khóa trong lòng bàn tay. Những cạnh kim loại gồ ghề cộm lên da thịt cô như mang theo một sức nặng vô hình của ký ức, của sự trao truyền và niềm tin tưởng vừa được hàn gắn.

"Cháu giữ lấy mà dùng cho căn bếp," giọng chú Vinh trầm xuống, đầy vẻ bùi ngùi xúc động. "Mẹ thương cháu nhất trần đời, chắc mẹ cũng mong những món đồ bếp cũ kỹ nớ lại được đỏ lửa một lần nữa dưới bàn tay của cháu."

"Cháu cảm ơn chú... Cháu sẽ giữ gìn cẩn thận," My nghẹn ngào, cẩn trọng cất chùm chìa khóa vào sâu trong túi áo khoác gió, đặt ngay cạnh cuốn sổ tay kế hoạch.

Hai chú cháu ngồi lại bên nhau thêm một lúc lâu trong gian phòng khách đơn sơ. Tiếng gió lạnh đầu đông rít qua khe cửa dường như không còn buốt giá như ban chiều. Họ cùng nhau ôn lại những chuyện ngày xưa, về tính nết cẩn thận đến mức khó tính của bà Lành khi chọn từng cọng rau thơm, từng hạt muối hạt; về những đợt lũ lịch sử nước sông Hương dâng ngập nửa cột nhà rường mà hai mẹ con phải thức trắng đêm kê phản gỗ lên cao để giữ lấy hũ gạo và chum mắm; và về những ước mơ nhỏ nhoi của em Kiều Oanh với những mẻ bánh ngọt thơm lừng. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm trời xa cách, My cảm nhận được sợi dây máu mủ ruột rà giữa cô và người chú ruột được nối lại một cách trọn vẹn, không phải bằng những lời hứa hẹn hoa mỹ, mà bằng sự thấu hiểu sâu sắc những nỗi đau, sự tha thứ và gánh nặng mà mỗi người đang mang trên vai.

Khi chiếc đồng hồ treo tường Kim Đô điểm tám tiếng khô khốc báo hiệu tám giờ tối, My xin phép chú Vinh ra về để chuẩn bị công việc cho ngày mai. Chú Vinh khoác vội chiếc áo khoác mỏng, cầm chiếc đèn pin nhỏ tiễn cô ra tận cánh cổng sắt, không quên dặn cô bước đi cẩn thận vì đường kiệt trơn trượt sau cơn mưa phùn.

Bước chân My nhẹ tênh khi bước đi giữa con kiệt An Cựu. Mưa dầm xứ Huế đã ngớt hạt tự bao giờ, chỉ còn lại những giọt nước đọng trên tàng cây khế bên bờ rào khẽ rơi tí tách xuống mặt ngõ lát gạch. Gió đêm vẫn lạnh buốt phả vào mặt, nhưng sâu thẳm trong lồng ngực cô, một ngọn lửa ấm áp và bền bỉ đang âm ỉ cháy lan.

Trở về căn nhà rường cổ kính, My không bật bóng đèn điện sáng choang ở gian giữa. Cô chỉ lặng lẽ thắp một cây nến nhỏ đặt lên bàn thờ bà Lành, khẽ cúi đầu tạ ơn vong linh bà vì đã dẫn lối chỉ đường cho cô bước qua một cửa ải tưởng chừng như bế tắc nhất của gia đình.

Rút chùm chìa khóa gỉ sét từ trong túi áo khoác ra, My cầm cây nến bước vòng ra sau chái bếp.

Gian kho cũ nép mình khiêm nhường dưới bóng cây vú sữa cổ thụ cành lá xum xuê. Cánh cửa gỗ lim dày cộp đã bạc phếch màu mưa nắng thời gian, bị khóa chặt bởi một chiếc ổ khóa đồng to bản phủ đầy bụi bặm và mạng nhện giăng mắc. My chọn chiếc chìa khóa dài nhất trong chùm chìa bằng dây đồng, cẩn thận tra vào ổ khóa. Một tiếng *lách cách* khô khốc vang lên giòn giã giữa đêm vắng, chiếc ổ khóa đồng bật mở sau bao nhiêu năm tháng ngủ yên.

My khẽ đẩy cánh cửa gỗ. Hai chiếc bản lề rít lên một tiếng dài nặng nề. Một luồng không khí nồng đượm, quen thuộc lập tức ùa ra ôm trọn lấy cô—mùi của gỗ khô lâu năm, mùi lá chuối ngự phơi nỏ, mùi bột gạo Khang Dân thoang thoảng và mùi bồ hóng ám chặt vào từng thớ gỗ.

My nâng ngọn nến lên cao soi vào khoảng không gian tối om của gian kho. Ánh nến bập bùng xua tan màn đêm u tịch, chiếu rọi lên góc chiếc kệ tre kê sát vách tường đất. Chiếc chìa khóa gỉ sét mở ra cánh cửa kho sau, làm lộ ra những khuôn làm bánh nậm cũ kỹ của bà nội.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn