Căn Bếp Nhỏ Của BàC.19 / 35
Chương 19

Hộp thiếc giữ những ngày cô quạnh

Khói than củi tàn dần để lại lớp tro ấm mịn, My dùng kẹp sắt nhấc niêu cá bống thệ óng ả màu hổ phách đặt lên mâm cơm gỗ mộc cạnh bát cơm trắng vừa xới khói bay nghi ngút.

Không gian gian bếp nhỏ ven sông của ông Võ Đình Cẩn dường như cô đặc lại trong mùi thơm nồng nàn của tiêu sọ giã giập, mùi nước mắm nhỉ Thuận An đã sắc lại qua ba lần lửa và vị ngọt béo ngầy ngậy của những miếng tóp mỡ lợn gáy đã quắt lại thành những viên nâu bóng. Nước xốt cá kho trong niêu đất Phước Tích vẫn còn sôi lăn tăn những bọt khí li ti quanh mép đất nung xám sẫm, đặc quánh như mạch nha, ôm siết lấy từng thân cá bống thệ bé bằng ngón tay út, mình cong tròn, vảy óng ánh sắc cánh gián đượm màu đường mía thô. Hơi nóng phả lên mang theo thứ hương nồng đượm rất đỗi thân quen của chái bếp miền Trung những ngày trở gió, làm sống mũi cay sè và đánh thức từng giác quan đang co ro vì cái rét sông nước.

My cẩn thận đặt đôi đũa tre vót nhẵn lên gác đũa bằng gốm thô, hai tay so lại vạt áo len, hơi cúi đầu nhìn người cựu nhân viên tuần tra đường sông già nua đang ngồi trầm mặc bên chiếc bàn gỗ thấp.

“Dạ, cháu mời ông xới cơm dùng bữa trưa ạ,” My cất tiếng, giọng cô hơi khẽ nhưng rành rọt, mang trọn sự cung kính sau ba tiếng đồng hồ kiên trì ngồi canh lửa than. “Niêu cá kho ba lửa vừa cạn nước xốt. Cháu có luộc thêm đĩa rau luộc đọt lang hái ngoài bờ rào, với nồi cơm gạo đỏ xới vừa tới khói.”

Ông Cẩn không đáp lời ngay. Căn nhà gỗ nép sát bờ sông Hương mùa này luôn chìm trong một sự u trầm bàng bạc. Gió từ ngoài lòng sông thổi lùa qua những chấn song gỗ thô, mang theo hơi ẩm ngai ngái của rêu cỏ phù sa và cái buốt lạnh đặc thù của xứ kinh kỳ những tháng cuối năm. Đôi mắt đùng đục phủ một lớp mây mờ của tuổi tác và những năm tháng dầm dãi gió nước sông Hương của ông chậm rãi nhìn vào lòng chiếc niêu đất. Ở đó, những con cá bống thệ nằm ngay ngắn, kết lại thành một vòng tròn đồng tâm ôm trọn lấy đáy niêu. Không một con nào bị tróc vảy hay đứt lìa đuôi, bụng cá căng tròn nguyên vẹn, hạt tiêu sọ Tiên Phước rải đều như những hạt cườm xám trên nền xốt mật quánh đặc. Những lát ớt chỉ thiên phơi tái xắt xéo nằm xen giữa thớ thịt cá, điểm xuyết vài sợi đầu hành hoa chẻ nhỏ đã mềm rục vì nhiệt, tỏa ra thứ phong vị mộc mạc mà thâm trầm, kiêu hãnh của một món ăn cung đình đã lẩn khuất vào chốn dân gian.

Thiện ngồi đối diện, khẽ mỉm cười kín đáo. Anh đưa tay đỡ lấy âu cơm đất nung, xới một bát cơm trắng đầy vun, hạt cơm gạo đỏ pha tấm nở đều tơi xốp, tỏa ra làn khói mỏng thơm mùi rơm rạ mới, rồi đưa bằng hai tay sang trước mặt ông Cẩn:

“Mời bác Cẩn. Cá ni là cá sông ngã ba Tuần sáng nay bác cất vó đó. Con bé My hắn ngồi canh tro từ sớm, lắc niêu đến mỏi nhừ cả hai cổ tay, không dám đụng một chiếc đũa vô ruột cá như lời bác dặn mô.”

Ông Cẩn khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ. Bàn tay gầy guộc nổi đầy những đường gân xanh ngoằn ngoèo, thô ráp như vỏ cây sú vẹt của ông run run cầm lấy đôi đũa tre. Đôi đũa hạ xuống lòng niêu đất, khẽ lách qua lớp tóp mỡ béo ngậy, khéo léo gắp lấy một con cá bống thệ nằm ở chính giữa. Động tác của ông chậm rãi, cẩn trọng như một người thợ kim hoàn đang nhấc một món ngọc quý. Con cá nhấc lên khỏi niêu vẫn giữ nguyên hình dáng săn đanh, dẻo quánh mà không hề gãy gập hay nát thịt. Giọt nước xốt sánh đậm đọng lại nơi chóp đuôi lấp lánh như một hạt hổ phách lỏng rồi khẽ rỏ xuống bát cơm trắng, nhuộm một vệt màu nâu cánh gián ấm áp lên những hạt gạo thơm đang bốc khói.

Ông Cẩn đưa con cá vào miệng, nhai thật chậm rãi.

Gian phòng im phăng phắc, chỉ có tiếng gió mùa đông luồn qua khe liếp cửa sổ nhìn ra bến sông, mang theo tiếng nước vỗ bì bõm vào mạn chiếc thuyền tuần tra cũ nát neo ngoài bến Thừa Phủ. My nín thở, hai bàn tay vô thức đan chặt vào nhau trên đầu gối, mười đầu ngón tay trắng bệch vì siết mạnh. Lòng cô thắt lại trong một nỗi hồi hộp kỳ lạ. Cô nhớ lại cảm giác run rẩy, bẽ bàng lúc chín giờ sáng nay khi phải tự tay đổ mẻ cá đầu tiên ra máng cho đàn mèo hoang ven bến; nhớ tiếng đũa tre gõ cọc cạch vào thành niêu kèm theo lời quở trách lạnh lùng, nghiêm khắc của ông Cẩn: *“Kho cá mà nóng ruột, thọc đũa vô đảo cho mau cạn thì chỉ có nát bấy ruột gan con cá, tanh tanh đắng đắng, đổ cho súc vật nó còn chê!”*. Sự kiêu hãnh của một người từng quản lý những chiến dịch tiếp thị hàng tỷ đồng ở Sài Gòn, từng đứng trước hàng trăm nhân sự để thuyết trình về chiến lược và sự hoàn hảo, chưa bao giờ bị thử thách khắt khe và nghiệt ngã đến thế trước một niêu đất mộc mạc và mớ cá sông rẻ tiền của người gác sông già.

Tiếng nhai giòn sần sật của thớ thịt cá se đanh lại qua ba lần lửa than râm ran vang lên khẽ khàng giữa gian phòng vắng. Vị nước mắm nhỉ mặn mòi nơi đầu lưỡi nhường chỗ rất nhanh cho vị cay nồng ấm ran của tiêu sọ đập giập, xộc thẳng lên cánh mũi, làm bừng tỉnh cả lồng ngực đang giá lạnh. Rồi sau cùng, khi thớ thịt cá quánh dẻo tan dần dưới chân răng, một vị ngọt đượm, sâu lắng và bùi béo tự nhiên của cá bống thệ sông sâu mùa nước lạnh lan tỏa khắp vòm họng. Đó là cái ngọt nguyên sơ của thịt cá tươi rói ngậm bùn sông Hương, hòa cùng vị béo ngậy của tóp mỡ giòn tan và vị ngọt dịu thanh tao của mật mía thô đã cô lại thành một lớp men bóng bẩy, tuyệt nhiên không vướng một chút gắt gỏng của đường cát trắng hay vị ngọt lợ của bột ngọt nhân tạo.

Ông Cẩn nhắm mắt lại chừng vài giây. Vầng trán hằn sâu những nếp nhăn của ông giãn ra từng chút một, như thể đang để cho hương vị ấm nóng, đậm đà ấy đánh thức một miền ký ức xa xăm nào đó đã ngủ quên dưới đáy sâu tâm tưởng qua bao năm tháng gió sương. Khi ông mở mắt ra, ánh nhìn nghiêm khắc, lạnh lùng như nước mùa lũ thường ngày đã dịu đi rất nhiều, chỉ còn lại nét đăm chiêu sâu thẳm của một người già vừa tìm lại được một mảnh hồn xưa cũ trôi dạt giữa cõi đời.

Ông gật đầu, một cái gật đầu dứt khoát nhưng trầm lắng.

“Cá săn thịt, không gãy nát, không nồng mùi tanh rêu,” ông Cẩn từ tốn buông từng lời, giọng khàn đặc như tiếng dăm gỗ cọ vào nhau. “Cái ngọt ni là cái ngọt của thịt cá tươi ngậm nước lạnh đầu đông, quyện với mật mía thô và nước mắm nhỉ nguyên chất. Quan trọng nhất là không bị vỡ mật. Con cá ăn vào nghe thơm tho, ấm tỳ vị chớ không đắng nghét nơi cuống họng. Cháu nắm được cái thần của niêu cá kho ba lửa của mệ Lành rồi đó.”

My thở phào một hơi dài, bờ vai căng cứng suốt ba tiếng đồng hồ bỗng chốc chùng xuống. Một làn hơi ấm như vừa len lỏi khắp lồng ngực cô, làm tan biến đi cái lạnh thấu xương của gió sông đang ùa qua bậu cửa gỗ mục. Nước mắt cô chực trào ra nơi khóe mi, nhưng cô kịp chớp mắt để ngăn lại.

“Dạ, cháu cảm ơn ông,” My nghẹn ngào nói, giọng run rẩy vì xúc động. “Lúc đầu cháu hấp tấp quá, cứ tưởng nấu nướng cũng như làm việc ngoài phố, phải đảo qua quấy lại, phải thúc lửa cho nhanh thấm, nhanh sôi. Nhờ ông răn dạy, cháu mới hiểu con cá nhỏ dưới sông cũng có cái tôn nghiêm của nó. Phải kiên nhẫn để lửa tự ngấm, nước tự rút, tro tự ủ thì thịt mới săn đanh, mật mới không vỡ ra được.”

“Ăn cơm đi,” ông Cẩn cầm bát cơm lên, gắp một con cá béo tròn đặt sang bát của My, rồi lại khẽ khàng gắp thêm một con nữa sang bát của Thiện. “Cá bống thệ mùa ni mà ăn với cơm gạo đỏ nóng hổi, chấm thêm chút đọt lang luộc giòn ngọt thì sơn hào hải vị ngoài phố thị cũng chẳng bì được đâu. Cơm nguội cá kho là chuyện của ngày mai, còn trưa ni, phải ăn lúc niêu cá còn sôi lăn tăn, cơm còn bốc khói thì mới thấy hết cái phước của người trần thế.”

Bữa cơm trưa diễn ra trong sự lặng lẽ ấm cúng. Không có những lời chúc tụng ồn ào, không có tiếng dao nĩa leng keng hay tiếng chuông điện thoại báo lịch họp dồn dập như những bữa trưa văn phòng vội vã mà My từng trải qua ở trung tâm Sài Gòn. Ở chốn đô hội ấy, cô từng ngồi trong những nhà hàng máy lạnh sang trọng, nuốt vội những đĩa thức ăn trình bày cầu kỳ nhưng nhạt nhẽo giữa những câu chuyện thương trường toan tính, mắt không rời khỏi màn hình điện thoại nhấp nháy liên hồi. Còn ở đây, giữa căn nhà gỗ sát mép nước bến Thừa Phủ cũ, bữa ăn chỉ có tiếng nhai chậm rãi, tiếng bát đũa chạm nhau thật khẽ và tiếng gió đông xào xạc qua rặng tre ngà ven sông. Từng miếng cơm nóng quyện với vị bùi béo, cay ngọt của cá kho khiến mồ hôi rịn ra lấm tấm trên trán My, mang lại một cảm giác dễ chịu, bình yên và vững chãi đến lạ lùng.

***

Bữa ăn kết thúc khi niêu cá chỉ còn trơ lại lớp đáy đất nung sẫm màu, dính chút vệt tiêu đen và vài hạt ớt đỏ thắm. Nồi cơm gạo đỏ cũng cạn đáy, chỉ còn lại lớp cháy giòn rụm mà Thiện đã khéo léo dùng muôi dừa cạo sạch chia đều cho cả ba người nhai giòn rụm ở cuối bữa.

Thiện chủ động đứng dậy, thu dọn bát đũa rồi bưng mâm xuống sàn nước lát đá cuội phía sau nhà để rửa, nhường lại gian nhà trên yên ắng cho My và ông Cẩn. Tiếng nước xối róc rách từ lu nước mưa và tiếng bát đĩa va chạm khe khẽ dưới sàn nước vọng lên đều đặn, làm không gian càng thêm tĩnh mịch.

My với tay lấy chiếc ấm đất nung ủ trong giành tích bọc vải vụn, rót một tuần trà gừng ấm vào chiếc chén sành tráng men da lươn, hai tay cung kính đưa sang trước mặt ông Cẩn. Khói trà gừng bốc lên nghi ngút, thơm nồng cay dịu, hòa cùng mùi khói bếp còn vương trên mái tóc của cô.

Ông Cẩn đón lấy chén trà bằng cả hai bàn tay xương xẩu. Hơi ấm của men sành dường như truyền vào những khớp ngón tay cằn cỗi của ông, nhưng ông không uống ngay mà đặt chén xuống mặt bàn gỗ mộc đã lên nước bóng lộn vì thời gian. Đôi mắt người cựu nhân viên tuần tra đường sông lại lơ đãng nhìn qua khung cửa sổ, hướng ra khoảng sân gạch rêu phong bên ngoài hiên, nơi mép nước sông Hương đang dập dềnh những con sóng nhỏ màu chì lạnh ngắt vỗ vào bờ đá.

“Cháu có biết vì sao mệ nội cháu lại bày cho cháu kho niêu cá ni đem sang cho lão già cô độc ni không?” ông Cẩn bất thần cất tiếng hỏi, phá tan sự im lặng. Giọng ông trầm đục, rời rạc như tiếng đá ngầm va vào đáy thuyền trong đêm tối.

My khẽ lắc đầu, ánh mắt thoáng chút băn khoăn: “Dạ, cháu chỉ đọc thấy trong cuốn sổ tay của mệ ghi vỏn vẹn một dòng mực tím: ‘Cá bống thệ kho tiêu cho ông Cẩn đường sông – kho ba lửa’. Cháu chỉ nghĩ ngày xưa ông hay đi tuần tra, cất vó được mớ cá sông tươi ngon rồi đem biếu mệ, nên mệ muốn cháu kho cá mang sang tạ ơn ông.”

Ông Cẩn khẽ cười buồn. Nụ cười không có niềm vui, chỉ làm những nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại chằng chịt như mạng nhện: “Ơn nghĩa chi cái mớ cá sông cất vó được... Sông của trời, cá của nước, lão chỉ buông lưới vớt lên thôi chứ có nhọc nhằn chi đâu. Người nợ ơn là lão, chớ mệ Lành cả một đời Bồ Tát, chưa bao giờ nợ lão một cái chi trên cõi đời ni cả.”

Nói đoạn, ông Cẩn chống hai tay lên đầu gối, chầm chậm đứng dậy. Đốt xương khớp nơi gối ông khẽ kêu rắc một tiếng khô khốc. Bước chân ông tập tễnh, hơi khập khiễng sang một bên—di chứng nghiệt ngã của những năm tháng tuổi trẻ ngâm mình dưới dòng nước lũ buốt giá để cứu thuyền, vớt gỗ và tuần tra luồng lạch đường sông suốt từ ngã ba Tuần xuống tận cửa biển Thuận An.

Ông tiến về phía chiếc phản gỗ lim dày dặn kê sát vách gian giữa—nơi My từng để ý thấy một góc tối sâu hun hút dưới gầm phản lúc bước vào nhà sáng nay.

Chiếc phản gỗ lim đen bóng theo năm tháng, một góc đã sứt sẹo vì va đập. Ông Cẩn cúi người xuống, chiếc lưng còng gập lại một cách nhọc nhằn, hơi thở dồn dập vì tức ngực. Bàn tay ông mò mẫm sâu vào góc tối, luồn ra phía sau chiếc chum sành đựng gạo cũ kỹ phủ đầy mạng nhện, rồi chậm rãi kéo ra một chiếc hộp thiếc tròn đã hoen gỉ theo năm tháng.

Chiếc hộp thiếc vốn là hộp đựng bánh quy bơ ngoại quốc từ nhiều thập kỷ trước, có lẽ từ thời người ta còn chuộng những món đồ viện trợ hay hàng hóa gửi từ nước ngoài về. Lớp sơn màu đỏ thắm thuở nào nay đã bong tróc gần hết, để lộ ra những mảng kim loại xám xịt, loang lổ vết ố vàng của gỉ sét và độ ẩm sông nước. Trên nắp hộp, người ta đã hàn thêm một chiếc quai khóa nhỏ bằng đồng xỉn màu.

Ông Cẩn đứng thẳng người dậy, khẽ nén một tiếng ho khan. Ông đưa tay lần vào túi chiếc áo bà ba màu chàm đã bạc thếch, rút ra một sợi dây dù đen thắt nút cẩn thận. Ở đầu sợi dây dù là một chiếc chìa khóa đồng bé xíu, chỉ nhỉnh hơn đầu que diêm. Ông tra chìa vào ổ khóa nhỏ trên nắp hộp thiếc.

Tiếng *lách cách* khô khốc, rờn rợn vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch, nghe như tiếng mở toang một cánh cửa thời gian đã khép chặt từ muôn năm trước.

Ông mở nắp hộp thiếc ra, rồi chậm rãi bưng chiếc hộp quay lại bàn, đặt nhẹ xuống mặt gỗ trước mặt My.

My tò mò nhìn vào bên trong. Trái ngược hoàn toàn với suy nghĩ ban đầu của cô về những tấm huân huy chương đường sông sáng loáng, những giấy khen cũ kỹ của ngành giao thông vận tải, hay những món đồ trang sức gia bảo quý giá của một đời người, trong lòng chiếc hộp thiếc gỉ sét chỉ chứa duy nhất một xấp giấy cũ dày cộp.

Đó là hàng chục, có lẽ lên đến hàng trăm mẩu giấy vụn lớn nhỏ khác nhau. Có mẩu giấy được xé vuông vức từ những tờ lịch bloc mỏng dính in hình phong cảnh quê hương; có mẩu là góc giấy tập học sinh kẻ ô ly bốn hàng đã ố vàng mép; lại có cả những mẩu xé vội từ rìa mép của những bao bì xi măng màu nâu nhạt đã được ai đó dùng bàn tay vuốt lại phẳng phiu từng nếp gấp.

Và trên tất cả những mẩu giấy ấy, đều hiện diện một màu mực tím thân thương—nét chữ nghiêng nghiêng về bên phải, rắn rỏi, dứt khoát nhưng vô cùng nắn nót của bà nội Kiều My, mệ Nguyễn Thị Lành.

Ngón tay My run rẩy. Cô chầm chậm đưa tay đón lấy một mẩu giấy nằm trên cùng của xấp tài liệu kỳ lạ ấy. Đó là một mẩu giấy lịch bloc xé ngày 14 tháng Mười Một năm 2018, ngày rằm tháng Mười âm lịch năm Mậu Tuất. Trên khoảng trắng nhỏ bé phía dưới hàng số đỏ in ngày tháng, hai dòng chữ mực tím hiện lên rõ mồn một:

*“Trời trở gió lạnh lắm, niêu cá ni kho ba lửa nhiều tiêu ấm bụng. Nhớ ăn hết bát cơm nóng nghe ông Cẩn, đừng nhịn mà sinh bệnh.”*

Mắt My khẽ nhòe đi. Cô lật sang mẩu giấy thứ hai nằm ngay phía dưới, một mảnh giấy kẻ ngang xé từ cuốn vở học trò đã ngả sang màu vàng vôi:

*“Cá bống thệ ngã ba Tuần sáng ni béo lắm. Tui kho quéo lại rồi, để được ba bữa. Nhớ hâm nóng trước khi ăn. Cơm nước đàng hoàng thì bà nhà dưới suối vàng mới yên lòng được.”*

Cô lật tiếp mẩu giấy thứ ba, thứ tư, rồi thứ năm... Từng mẩu giấy như những thước phim quay chậm, tái hiện lại những ngày đông rét mướt của nhiều năm về trước:

*“Hôm ni mưa dầm dề, tui biểu thằng Thiện mang sang âu cơm với niêu cá. Ăn cho có sức mà quét lá ngoài sân.”*

*“Đừng ngồi một mình ngắm sông nữa, lạnh lưng. Ăn miếng cá kho nóng cho ấm tỳ vị.”*

*“Cơm ni tui nấu bằng gạo đỏ mới gặt bên làng Kim Long, dẻo và bùi lắm. Ráng ăn cho hết nghe ông.”*

*“Gió bấc thổi mạnh, nhớ cài then cửa liếp phía sau bến. Ăn cá bống kho tiêu rồi uống chén nước chè gừng tui gửi kèm, đừng để cảm lạnh.”*

Hàng chục mẩu giấy, ghi chép đều đặn từng tuần, từng tháng, kéo dài suốt hơn một năm ròng rã từ cuối năm 2018 sang tận đầu năm 2020. Mỗi mẩu giấy là một lời nhắn ngắn ngủi, mộc mạc, không một lời hoa mỹ văn vẻ, không một câu giáo điều đao to búa lớn. Nhưng từng nét mực tím đậm sâu, ghim chặt vào thớ giấy, như chất chứa trong đó tất cả sự kiên nhẫn, bao dung và trắc ẩn của người đàn bà cả đời sống vì người khác.

Bên ngoài hiên, tiếng nước róc rách đã ngưng. Thiện vừa lau khô hai bàn tay vào chiếc khăn vải bước vào nhà. Nhìn thấy chiếc hộp thiếc mở nắp trên mặt bàn và những mẩu giấy tím trong tay My, ánh mắt anh chùng xuống, ngập tràn vẻ thấu hiểu và xót xa. Anh không nói một lời nào, chỉ lặng lẽ bước đến chiếc ghế đẩu cạnh My, ngồi xuống trong tư thế lắng nghe, như muốn để cho không gian trọn vẹn này thuộc về những kỷ vật và người gác sông già.

“Sáu năm trước... bà nhà lão qua đời sau một cơn bạo bệnh bất ngờ,” ông Cẩn bắt đầu kể, hai mắt ông nhìn trừng trừng vào những mẩu giấy mực tím nằm im lìm trong hộp thiếc, giọng ông nghẹn lại, run rẩy. “Cả một đời vợ chồng lão lênh đênh bèo bọt, không có lấy một mụn con nào để nương tựa tuổi già. Mấy mươi năm lão biền biệt trên các triền sông từ Hương Trà, Nam Đông ngược ngàn về tới phá Tam Giang, một tay bà ấy ở nhà vun vén gian nhà tranh vách đất ni, rau cháo nuôi nhau, mòn mỏi đợi lão sau mỗi chuyến tuần tra dông bão. Rồi đùng một cái, bà ấy ngã bệnh rồi bỏ đi trước. Gian nhà gỗ rộng thênh thang bên mép nước bỗng dưng lạnh ngắt, trống hoác như cái hầm mộ.”

Ông Cẩn đưa bàn tay thô ráp, chai sần lên quẹt ngang khóe mắt, nơi những giọt nước mắt đùng đục, xót xa của tuổi già đang ứa ra, lăn dài trên những rãnh da nhăn nheo:

“Những ngày tháng đó... tăm tối lắm cháu ơi. Lão già ni như một kẻ mất hồn, sống không bằng chết. Cơm không buồn nấu, nước không buồn đun, lửa trong bếp tắt ngấm hàng tuần liền. Cứ mỗi buổi chiều tà, khi sương mù từ lòng sông Hương bốc lên trắng xóa bến Thừa Phủ, gió bấc thổi rít qua rặng tre ngà, lão lại lết ra ngồi ở mép ván cầu tàu ngắm dòng nước chảy xiết. Nhìn dòng nước đen ngòm, sâu hoắm và lạnh buốt dưới chân, lão chỉ muốn gieo mình xuống đó trôi xuôi ra biển cho xong một kiếp người vô tích sự. Cô đơn quá. Nỗi cô đơn của một kẻ già nua bị bỏ lại trơ trọi giữa trần gian, không vợ con, không người thân thích... nó gặm nhấm ruột gan lão từng ngày từng giờ, đau đớn, cào xé hơn cả những vết thương rách thịt do đá ngầm cào phải.”

My nghe lồng ngực mình thắt nghẹn lại. Từng lời kể của ông Cẩn như những nhát búa nện vào tâm can cô. Cô nhìn đôi vai gầy guộc, còng rạp của người đàn ông từng một thời dọc ngang sông nước, dạn dày sóng to gió lớn, nay lại run lên bần bật trong manh áo chàm cũ nát trước nỗi đau quạnh quẽ của phận người.

“Rồi một buổi chiều mùa đông lạnh buốt thấu xương năm đó,” ông Cẩn sụt sịt, lồng ngực gầy guộc phập phồng theo từng nhịp thở ngắt quãng, “trời mưa dầm dề không dứt. Khi lão đang đứng chênh vênh nơi mép ván cầu tàu trơn tuột, gió sông thổi phần phật vào mặt, lão đã nhắm mắt định buông xuôi tất cả xuống dòng nước sâu... thì thằng Thiện từ ngoài đường cái chạy thốc sang. Hắn trượt chân ngã mấy lần trên bờ đất trơn trượt, rồi nhào tới ôm chặt lấy thắt lưng lão, thở không ra hơi. Hắn kéo lão giật lùi vào bờ, run rẩy đưa ra một chiếc làn mây cũ. Trong làn là một chiếc niêu đất Phước Tích được bọc kín trong ba lớp khăn vải dày, nóng hổi, nghi ngút khói, kèm theo mẩu giấy đầu tiên của mệ Lành cài trên quai làn: *‘Cá kho ba lửa, ăn cho ấm lòng mà sống tiếp’*.”

Ông Cẩn run run cầm mẩu giấy lịch ngày 14 tháng Mười Một năm 2018 lên. Ông nâng niu ép chặt nó vào lòng bàn tay gầy guộc của mình, trân trọng như đang áp vào một báu vật thiêng liêng nhất trần gian:

“Lão cầm niêu cá vào nhà, run rẩy cởi từng lớp khăn bọc, mở nắp vung ra. Mùi tiêu cay nồng xộc thẳng lên mũi, mùi cá kho thơm lừng, ngầy ngậy của tóp mỡ làm sống mũi lão cay xè, làm lão bừng tỉnh cả người như vừa thoát khỏi một cơn mê muội. Lão ngồi bệt xuống nền đất lạnh, hai tay bưng bát cơm trắng mà thằng Thiện xới sẵn, vừa lua từng miếng cơm nóng với con cá bống thệ bùi béo, vừa khóc rống lên như một đứa trẻ con bị bỏ rơi tìm lại được mẹ. Thịt cá săn đanh, cay xé lưỡi nhưng ngọt lịm nơi cuống họng. Ăn đến đâu, hơi ấm lan tỏa đến đó, xua đi cái buốt giá đang đóng băng trong buồng phổi lão.”

Một giọt nước mắt đục ngầu của ông Cẩn rơi xuống mặt giấy, làm nhòe đi một góc chữ tím của mệ Lành:

“Suốt một năm trời sau đó, không quản mưa dầm gió bấc, cứ cách hai ba ngày, khi thì thằng Thiện đội mưa mang sang, khi thì chính mệ Lành chống gậy trúc chậm rãi bước qua con kiệt, mang theo một niêu cá kho ba lửa, khi thì đĩa rau luộc hái trong vườn, lúc thì âu canh rau tập tàng nóng hổi. Mệ không bao giờ bước vào nhà lâu để khuyên lơn đạo lý, mệ chưa từng nói một lời đao to búa lớn nào bảo lão phải sống thế này thế nọ. Mệ chỉ đưa cơm, dặn dò vài câu ngắn gọn rồi để lại một mẩu giấy nhỏ trên bàn dặn lão nhớ ăn đúng bữa, giữ ấm tỳ vị.”

Giọng ông Cẩn nghẹn lại giữa chừng, ông nấc lên một tiếng run rẩy:

“Chính những niêu cá kho ấm nóng nớ, chính những mẩu giấy mực tím mộc mạc nớ... đã níu giữ cái mạng già ni ở lại với cuộc đời, cháu hiểu không? Mệ Lành cho lão hiểu rằng, dù bà nhà lão đã đi xa, nhưng lão vẫn chưa phải là một món đồ thừa thãi bị thế gian ruồng bỏ. Vẫn có người bên kia con kiệt sớm hôm đỏ lửa nhớ đến lão; vẫn có người biết rõ khẩu vị thích ăn cay xé, thích cá bống kho quéo của một lão già gác sông gàn dở. Nhờ bát cơm, nhờ con cá của mệ mà lão thấy mình còn nợ cuộc đời ni một mạng sống, ráng nuốt từng hạt cơm để mà sống tiếp cho tới tận ngày hôm ni...”

My ngồi chết lặng bên bàn gỗ. Hai mắt cô cay xè, những giọt nước mắt nóng hổi lặng lẽ tràn qua mi, lăn dài trên gò má rồi rỏ xuống vạt áo len tự lúc nào không hay.

Cô nhìn trân trân vào xấp giấy mỏng manh nằm trong lòng chiếc hộp thiếc gỉ sét. Từng mẩu giấy vụn xé vội, từng dòng chữ tím chân phương kia bỗng chốc hiện lên sừng sững như những viên gạch nhỏ bé nhưng kiên cố nhất trần đời, âm thầm và bền bỉ xây nên một cây cầu vượt qua vực thẳm của sự tuyệt vọng, kéo một linh hồn rách nát trở về với ánh sáng trần gian.

Bấy lâu nay, trong thế giới tiếp thị hào nhoáng và khốc liệt mà My từng vẫy vùng suốt bảy năm ở Sài Gòn, người ta luôn tôn sùng những chiến dịch vĩ đại, những khái niệm đao to búa lớn, những thông điệp truyền cảm hứng với ngân sách hàng chục tỷ đồng nhằm lay động hàng triệu con tim trên mạng xã hội. Người ta đo đếm tình cảm con người bằng những lượt tương tác, lượt thích, lượt chia sẻ vô hồn trên màn hình máy tính phẳng lì. Cô từng tin rằng muốn cứu giúp một ai đó, muốn tạo ra sự thay đổi trong xã hội, người ta phải có những dự án quy mô, những bản kế hoạch hành động chi tiết đến từng cột mốc, những bài thuyết trình rực rỡ dưới ánh đèn sân khấu.

Nhưng giờ đây, ngồi trong gian nhà gỗ dột nát bên bờ sông Hương, đối diện với người lính già đường sông và chiếc hộp thiếc bánh quy hoen gỉ, My mới nghẹn ngào vỡ lẽ ra một chân lý giản dị mà sâu sắc vô cùng:

Nấu ăn cho một người, cốt lõi chưa bao giờ là sự phô diễn kỹ nghệ bếp núc tài hoa, càng không phải là một sự ban ơn trịch thượng từ kẻ no đủ dành cho kẻ thiếu thốn.

Nấu ăn cho một con người đang tuyệt vọng, đơn giản chỉ là một sự hiện diện kiên trì và thầm lặng.

Đó là việc nhẫn nại nhóm lên một bếp than hồng trong những ngày mưa lạnh nhất; là việc canh đúng ba lần lửa để con cá nhỏ không bị nát lòng; là việc trao tận tay một âu cơm ấm nóng kèm theo lời dặn dò đừng bỏ bữa. Tất cả những hành động bé nhỏ ấy chỉ nhằm gửi đi một thông điệp nguyên sơ và cứu rỗi duy nhất: *“Tôi biết bạn đang đau khổ đến cùng cực, nhưng bạn không hề đơn độc giữa cõi trần này. Tôi vẫn ở đây, và bạn chưa từng bị lãng quên.”*

Sự chăm sóc thầm lặng, bền bỉ của mệ Lành suốt một năm trời ròng rã không ồn ào, không cần người đời ca tụng, không một dòng trạng thái trên mạng xã hội, nhưng sức mạnh hồi sinh của nó lại bền vững, thiêng liêng hơn bất kỳ chiến dịch truyền thông vĩ đại nào mà My từng tạo dựng.

My khẽ đưa tay, run rẩy mở cuốn sổ tay bìa bọc vải hoa nhí đặt bên cạnh chén trà. Dưới dòng chữ mực tím quen thuộc: *“Cá bống thệ kho tiêu cho ông Cẩn đường sông – kho ba lửa”*, My cầm cây bút mực đen mang theo từ thành phố, cẩn thận nắn nót ghi lại ngày tháng hôm nay. Phía đuôi dòng chữ, cô vẽ một dấu tích tròn trĩnh, dứt khoát.

Món ăn thứ bảy trong sổ di nguyện của bà nội—chính thức được hoàn thành trọn vẹn. Nó không chỉ được nấu chín bằng kỹ thuật canh tro giữ lửa khắt khe của một người đầu bếp xứ Huế, mà được hoàn thành bằng sự thấu cảm tận cùng của một trái tim biết cúi mình lắng nghe nỗi đau câm lặng của đồng loại.

Ông Cẩn nhìn My khép cuốn sổ lại. Đôi mắt mờ đục của ông bỗng ánh lên một tia sáng thanh thản, nhẹ nhõm lạ kỳ, như thể một tảng đá ngàn cân vừa được nhấc khỏi lồng ngực gầy guộc. Ông đưa bàn tay gân guốc đóng nắp chiếc hộp thiếc lại, tra chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu vào ổ, vặn khóa cẩn thận rồi đẩy nhẹ chiếc hộp về phía My:

“Cái hộp ni, lão giữ suốt mấy năm qua như một lá bùa hộ mệnh để tự răn mình không được phép tìm đến cái chết. Nhưng hôm ni, ăn xong niêu cá kho của cháu, lão thấy lòng mình nhẹ nhõm, ấm áp rồi. Mệ Lành dưới suối vàng chắc đang mỉm cười thanh thản vì có một đứa cháu gái đã hiểu được trọn vẹn cái tâm, cái tình của mệ. Cháu cầm chiếc hộp ni về đi, giữ lấy làm kỷ niệm của bà nội cháu.”

“Dạ không, cháu xin ông hãy giữ lấy chiếc hộp này ạ,” My lắc đầu dứt khoát, hai tay cô nhẹ nhàng đẩy chiếc hộp thiếc trở lại trước mặt ông Cẩn. Giọng cô nghẹn ngào nhưng kiên định: “Kỷ vật ni thuộc về ông, thuộc về gian nhà bên bến sông ni. Nó là minh chứng cho thấy tình thương và hơi ấm của mệ Lành vẫn luôn ở lại nơi đây, bên cạnh ông qua những mùa mưa lạnh. Cháu chỉ xin phép ông cho cháu được khắc ghi câu chuyện của ông vào trong tim mình. Để sau ni, khi cháu bắt tay vào gầy dựng lại quán cơm Bếp Của Bà, cháu sẽ luôn tự nhắc nhở bản thân lý do vì sao mình nhóm lửa mỗi ngày.”

Ông Cẩn lặng im nhìn My hồi lâu. Ánh mắt ông dâng lên niềm cảm phục chân thành. Ông khẽ gật đầu, không nói thêm lời nào nữa, rồi chậm rãi bưng chiếc hộp thiếc cất lại vào nơi sâu kín nhất sau chiếc chum sành dưới gầm chiếc phản gỗ lim.

***

Khi My và Thiện bước ra khỏi con ngõ nhỏ lát đá hộc dẫn vào nhà ông Cẩn thì trời đã ngả hẳn về chiều muộn.

Trời chiều xứ Huế bỗng nhiên sầm sập trút xuống một cơn mưa dầm dai dẳng, thứ mưa đặc sản của miền Trung mỗi độ đông về. Những hạt mưa li ti, mỏng manh như tơ nhện nhưng buốt lạnh như kim châm giăng mắc khắp không gian, phủ một lớp màn sương bàng bạc, mờ ảo lên dòng sông Hương đang lững lờ trôi xuôi về phía cồn Hến. Gió bấc từ mặt sông thổi thốc vào bờ, cuốn theo những chiếc lá bàng đỏ ối xoay tít trên mặt đường nhựa ướt sũng rồi dạt vào những chân tường rêu phong.

Thiện dừng chân lại bên gốc cây muối già cạnh bến nước Thừa Phủ cũ. Anh đưa tay bấm nhẹ chốt mở chiếc ô vải màu xanh sẫm mà anh đã cẩn thận mang theo từ sáng sớm. Chiếc ô bật mở với một tiếng *bật* gọn gàng, tán ô bằng vải dù mỏng căng tròn, rung lên những tiếng *lộp độp... lộp độp...* ròn rã khi những giọt mưa dầm táp xuống mặt vải.

“Mưa nặng hạt rồi đó My. Đi sát vô đây không ướt vai,” Thiện nghiêng hẳn cán ô về phía My, giọng anh trầm ấm, dịu dàng, át đi tiếng gió rít qua rặng cây ven đường.

My ngập ngừng trong tíc tắc, rồi khẽ gật đầu, bước nép lại gần anh. Hai người sóng đôi bước đi dọc theo con đường ven bờ sông, hướng về phía ngã ba cầu An Cựu.

Chiếc ô của Thiện vốn là loại ô cá nhân nhỏ hẹp, chỉ vừa vặn che chắn cho một người lớn. Để che chở cho My khỏi những hạt mưa xiên khoai theo chiều gió bấc, Thiện phải nghiêng phần lớn tán ô sang phía cô, để mặc cho nửa bờ vai và cánh tay áo khoác gió bên ngoài của mình hứng trọn làn nước mưa lạnh buốt.

Không gian dưới tán ô chật chội đến mức bờ vai My khẽ chạm vào cánh tay Thiện theo từng nhịp bước chân trên nền đường trơn trượt. Một luồng hơi ấm mơ hồ, vững chãi từ người anh truyền qua lớp vải len mỏng mảnh, thấm sâu vào da thịt cô, xua tan đi cái rét mướt đang bủa vây xung quanh.

Mùi mưa ẩm ướt của đất trời kinh kỳ hòa quyện với mùi trầm hương thoang thoảng từ ngôi chùa cổ nép mình sau hàng rào dâm bụt bên đường, mùi khói than củi và tiêu cay còn vương vấn trên mái tóc My, cùng mùi thơm nhè nhẹ, mộc mạc của lá thông khô toát ra từ chiếc áo khoác của Thiện. Bờ vai chạm khẽ trong từng nhịp bước khiến tim My bất thần hẫng đi một nhịp. Một thoáng xao xuyến lạ lùng, vừa ngỡ ngàng, vừa xót xa, lại vừa bình yên đến thắt lòng dâng lên nơi cuống họng.

Đã bao nhiêu năm rồi cô mới lại có cảm giác được một người đàn ông che chở bình dị và vô điều kiện như thế này? Suốt bảy năm lăn lộn ở Sài Gòn, cô đã quen với việc tự mình che ô giữa những cơn mưa rào ngập ngụa phố xá; tự mình lái xe máy vượt qua những đoạn đường ngập nước đến nửa bánh xe để kịp giờ gặp đối tác; tự mình thức thâu đêm nuốt vội từng viên thuốc giảm đau để hoàn thành những bản kế hoạch tiếp thị đầy áp lực. Cô từng tự hào xây dựng cho mình một bức tường thành kiên cố bằng sự độc lập, sắt đá và lý trí lạnh lùng, luôn tự nhủ rằng bản thân không cần và không được phép nương tựa vào bất kỳ ai trên cõi đời này.

Nhưng lúc này đây, bước đi bên cạnh người thầy giáo dạy nhạc ít lời của xứ Huế, lắng nghe tiếng bước chân đều đặn, vững chãi của anh trên lối sỏi ướt mưa, My bỗng nhận ra rằng sự bình yên đích thực đôi khi chỉ đơn giản là có một người sẵn lòng nghiêng chiếc ô về phía mình trong một chiều mưa dầm lạnh giá, chấp nhận để bờ vai mình ướt đẫm nước mưa chỉ để giữ cho vai áo của cô được khô ráo.

Trong túi chiếc áo khoác dày của My, chiếc điện thoại thông minh bỗng rung lên từng hồi bần bật.

Màn hình sáng rực qua lớp vải dù chống nước, hiển thị thông báo cuộc gọi đến kèm theo hình ảnh đại diện quen thuộc từ Sài Gòn—là số máy của Hoàng Duy, hoặc có thể là Vũ Lan Anh đang gọi để cập nhật thêm những điều khoản phụ lục về hợp đồng chuyển giao thương hiệu Tiên Phong vừa được các bên chính thức thông qua. Những thông báo công việc từ văn phòng, những email công ty đối tác réo rắt liên hồi trong hộp thư đến.

My dừng bước dưới tán ô. Cô đưa bàn tay lạnh cóng vào túi áo, ngón tay chạm vào bề mặt kính cảm ứng đang nhấp nháy liên tục những con số và thông điệp gấp gáp từ một thế giới xa xôi.

Theo phản xạ có điều kiện của một giám đốc chiến lược suốt bảy năm qua, ngón tay cô toan gạt phím nghe để xử lý cuộc gọi khẩn cấp. Nhưng khi ngón tay vừa chạm vào màn hình lạnh ngắt, My bỗng khựng lại. Cô nhìn vệt mưa dầm đang giăng mắc trên mặt sông Hương, nhìn dòng nước lững lờ trôi xuôi không chút vội vã, rồi nhìn xuống bờ vai ướt sũng của Thiện bên cạnh.

Tất cả những danh vọng, những bản kế hoạch triệu đô, những áp lực thành bại của chốn thương trường thị thành bỗng chốc trở nên nhẹ bẫng và xa lạ như một giấc chiêm bao cũ.

My khẽ miết ngón tay lên phím nguồn bên hông thân máy, giữ chặt trong ba giây.

Màn hình điện thoại tối sầm lại. Chiếc máy trở về trạng thái im lìm tuyệt đối trong lòng túi áo.

My ngẩng đầu lên, hít một hơi thật sâu làn không khí trong lành, ẩm ướt của buổi chiều đông. Cô mỉm cười nhẹ nhõm, một nụ cười thanh thản nhất kể từ ngày cô rời Sài Gòn trở về ngôi nhà rường cổ. Cô đã quyết định buông bỏ hoàn toàn những hối hả, toan tính ngoài kia để đắm mình trọn vẹn vào từng phút giây bình yên đang hiện hữu bên căn bếp của người bà quá cố.

Thiện nghiêng đầu nhìn cô, trong đôi mắt sâu thẳm của anh lấp lánh ánh cười ấm áp: “Sao rứa? Không nghe máy à? Có việc chi gấp ở trong nớ không?”

“Dạ thôi anh,” My lắc đầu, khẽ đưa tay kéo lại chiếc khăn len ấm quanh cổ. “Mọi việc bàn giao hợp đồng cháu đã làm xong xuôi hết với anh Duy từ hôm qua rồi. Giờ này là thời gian của Huế, là thời gian của căn bếp của mệ Lành.”

Thiện gật đầu tán thành, bước chân anh chậm rãi hơn một nhịp để My không bị hụt hơi trên con đường trơn trượt vì mưa dầm: “Hôm ni cháu làm tốt lắm. Thực sự rất tốt. Bác Cẩn là người gác sông tính khí gàn dở, ít khi chịu mở lòng với ai, vậy mà chiều ni bác đã khóc, đã chịu kể hết nỗi lòng của mình ra. Nhìn niêu cá kho ba lửa săn đanh, thơm nức của cháu trưa ni, tôi thấy hình bóng, thấy cái tâm của mệ Lành hiển hiện rõ ràng lắm.”

“Cháu cảm ơn anh Thiện,” My chân thành nói, ánh mắt cô chạm vào ánh nhìn dịu dàng của anh dưới tán ô xanh, khiến đôi gò má cô khẽ ửng hồng lên giữa làn gió lạnh. “Nếu sáng nay không có anh chỉ cho cháu cách tôi than đượm, chỉ cách lắc niêu giữ cho cá nguyên con mà không vỡ mật, chắc cháu đã bỏ cuộc ngay từ mẻ cá cháy đầu tiên rồi. Cháu nợ anh nhiều lắm.”

“Có chi mô mà nợ với nần,” Thiện cười hiền, nụ cười làm bừng sáng cả gương mặt phong trần dưới làn mưa mỏng. “Tôi chỉ là người chỉ đường chỉ lối giùm mệ Lành thôi. Cái chính vẫn là ở tấm lòng của cháu. Người nấu ăn mà không có cái tâm kiên nhẫn, không biết thương người ăn thì có chỉ cách mấy cũng chẳng thể nào làm nên một niêu cá ba lửa đúng nghĩa được.”

Hai người rẽ vào con kiệt An Cựu quen thuộc. Mùi khói bếp từ những nếp nhà ngói liệt hai bên ngõ tỏa ra thơm nồng mùi cơm chiều, hòa cùng mùi cá kho, mùi canh chua dưa cải ấm áp. Tiếng trẻ con í ới gọi nhau tắm giặt bên giếng nước, tiếng chổi tre quét lá lẹt xẹt sau hiên nhà. Không khí xóm kiệt thanh bình, chở che như vòng tay người mẹ đón những đứa con lặn lội ngoài mưa gió trở về.

Khi bước qua cánh cổng sắt hoen gỉ dẫn vào sân ngôi nhà rường cổ của gia đình họ Kiều, Thiện khép chiếc ô lại, giũ nhẹ cho những giọt nước mưa rỏ xuống luống chè tàu xanh mướt trước sân. Anh đứng lại dưới mái hiên ngói liệt rêu phong, nhìn My đang cởi chiếc khăn len quàng cổ phủ đầy bụi mưa. Gương mặt anh bỗng trầm lại, ánh mắt thoáng chút âu lo, trĩu nặng ưu tư.

Anh khẽ hắng giọng, ngập ngừng một lát rồi trầm giọng dặn dò:

“My ni... món thứ bảy coi như đã trọn vẹn, yên ổn rồi. Nhưng người tiếp theo trong cuốn sổ di nguyện... cháu phải chuẩn bị tinh thần thiệt kỹ đó nghe.”

My ngước mắt nhìn Thiện, ngạc nhiên trước vẻ nghiêm trọng bất thường trên gương mặt người thầy giáo dạy nhạc: “Sao rứa anh? Người thứ tám trong sổ là ai mà trông anh có vẻ lo lắng rứa?”

Thiện đưa mắt nhìn sâu vào gian nhà rường u tịch phía sau lưng My, nơi bàn thờ của bà Lành vẫn đang nghi ngút làn khói trầm thơm ngát, tỏa ra ánh sáng ấm áp giữa buổi chiều âm u. Anh khẽ thở dài một tiếng thật sâu:

“Trang thứ tám trong sổ di nguyện của mệ Lành... là dành cho bà mụ Diệu bên kiệt đối diện. Bà Diệu năm ni đã ngoài bảy mươi tuổi rồi, từng là một nữ hộ sinh già đỡ đẻ cho cả cái xóm kiệt An Cựu ni suốt mấy mươi năm ròng. Bà ấy... là người nắm giữ rất nhiều bí mật sâu kín nhất của gia đình họ Kiều nhà cháu, đặc biệt là chuyện đời của chú Vinh năm xưa.”

Tim My bỗng thắt lại một nhịp đau nhói.

Trong tâm trí cô lập tức hiện về ánh mắt gay gắt, đầy phòng thủ của chú Vinh trong cuộc họp gia đình đầy căng thẳng hôm trước; nhớ lại hình ảnh chú lặng lẽ ngồi hút thuốc một mình bên hiên nhà vắng; nhớ xấp biên lai viện phí điều trị bệnh hiểm nghèo hơn bốn trăm triệu đồng mà chú đã giấu biệt dưới đáy tủ gỗ; và cả tờ giấy báo đóng học phí học kỳ mới bị vò nát của em Ánh Nguyệt rơi nơi góc bàn. Có những góc khuất tăm tối, đau đớn nào của người chú ruột ít lời mà suốt bao năm qua cô chỉ biết trách móc chứ chưa từng một lần thấu hiểu?

My khẽ gật đầu với Thiện, không hỏi thêm điều gì nữa. Cô bước qua bậu cửa gỗ, đi thẳng vào gian bếp quen thuộc sau nhà.

Bếp chiều lạnh ngắt vì vắng lửa. My với tay lấy bao diêm, quẹt một que lửa thắp lên ngọn đèn dầu hỏa trên chiếc chạn bát bằng tre. Ánh lửa vàng ấm áp bùng lên, xua đi bóng tối chập choạng đang vây bọc gian bếp nhỏ.

My cẩn thận đặt cuốn sổ tay bọc vải hoa nhí lên mặt bàn gỗ mộc đã nhẵn bóng. Đôi bàn tay cô vẫn còn phảng phất mùi khói than củi và mùi tiêu sọ nồng nàn từ niêu cá trưa nay. Cô hít một hơi sâu, ngón tay nhẹ nhàng lật sang trang giấy tiếp theo.

Dưới ánh sáng bập bùng, lay lắt của ngọn đèn dầu, những dòng mực tím nắn nót, rắn rỏi của bà nội Kiều My hiện lên rõ ràng trên nền giấy xơ thô ráp.

Trang sổ thứ tám hé lộ:

*Canh mít non nấu tôm rảo cho bà mụ Diệu - mít phải vừa ngấn hột, tôm phải giã tươi.*

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn