Căn Bếp Nhỏ Của BàC.1 / 35
Chương 1

Trở về trong mưa lạnh

Cơn mưa dầm xứ Huế rả rích táp vào những phiến ngói âm dương của căn nhà rường trong kiệt An Cựu, nơi mùi nhang trầm của tang lễ vừa tàn vẫn còn quẩn quanh trong gian nhà lạnh ngắt. Gió bấc đầu mùa luồn qua từng khe liếp, mang theo hơi ẩm nồng nặc của rêu phong, của bùn đất ngoài vườn chuối và cái lạnh thấu xương thịt đặc trưng của vùng đất sông Hương mỗi dạo cuối năm. Mưa không lớn, không xối xả như những trận bão nhiệt đới tháng Mười, mà cứ dầm dề, ri rỉ, buông từng hạt nặng trĩu xuống sân gạch, gõ đều đặn lên tàu lá chuối ngự xơ xác ngoài hiên, như một tiếng thở than triền miên không có hồi kết.

Kiều My quỳ bất động trên chiếc chiếu cói đã sờn rách mép trước bàn thờ bà Lành. Hai đầu gối cô đã mất hết cảm giác sau nhiều giờ tì chặt xuống nền đất lót gạch tàu ẩm lạnh. Lớp vải xô trắng thô ráp quấn quanh trán thắt chặt lấy hai bên thái dương, kéo theo một cơn đau nhức buốt nhói, âm ỉ không dứt suốt ba ngày đêm qua kể từ khi cô nhận được tin dữ. Khói nhang màu lam nhạt cuộn tròn từng đợt lững lờ trong không khí đặc quánh hơi ẩm, bảng lảng bao phủ lấy bức di ảnh đen trắng lồng trong khung gỗ mun đã sứt một góc nhỏ. Trong ảnh, bà nội cô hiện lên với gương mặt phúc hậu nhưng nghiêm cẩn, đôi mắt phượng hẹp dài hơi xếch và khóe môi mím lại trong một nụ cười kín đáo đến mức khó đoán định buồn vui — nét cười điển hình của những người đàn bà cố đô đã đi qua trọn một thế kỷ trầm luân, cất giấu mọi hỷ nộ ái ố vào sâu thẳm đáy lòng.

Trước di ảnh, mâm cúng cơm ba ngày vừa được dọn xuống lúc xế trưa, chỉ còn lại nải chuối ngự vừa chớm đốm trứng cuốc xếp cạnh đĩa bánh in bọc giấy bóng ngũ sắc đã bắt đầu chảy đường vì ẩm. Chiếc lư đồng tam sự hoen gỉ ố xanh theo năm tháng cắm đầy những chân nhang đỏ quạnh, tàn nhang rụng trắng xóa quanh miệng lư, lẫn vào ba chén nước cúng trong veo phẳng lặng như gương. Mọi thứ trong gian thờ đều tề chỉnh, nghiêm trang, im lìm đến rợn người, như thể cái chết của một con người tám mươi tư tuổi đời chỉ là một sự thu dọn giản dị, thanh thản sau một chuyến đi quá dài.

Nhưng bên trong lồng ngực My, mọi thứ không hề phẳng lặng.

Trong túi chiếc áo khoác len dày sũng hơi lạnh, chiếc điện thoại thông minh rung lên bần bật từng chập dài liên tiếp. Độ rung dồn dập, gắt gao truyền qua lớp len xù xì, dội thẳng vào mạn sườn cô như một lời hối thúc tàn nhẫn và vô tình. My không cần rút máy ra khỏi túi cũng mường tượng được chính xác những gì đang diễn ra trên màn hình OLED sắc lạnh kia: hàng chục dòng thông báo đỏ lòm từ ứng dụng trao đổi công việc nội bộ của Công ty Truyền thông Sao Nam. Hoàng Duy, cậu phó nhóm phụ trách dự án tại văn phòng Sài Gòn, ắt hẳn đang cuống cuồng gửi hàng loạt tin nhắn kèm theo những dấu chấm hỏi dồn dập, đính kèm tệp kế hoạch truyền thông cho chiến dịch ra mắt chuỗi bán lẻ tiêu dùng dịp cuối năm. Một dự án trị giá hơn bốn tỷ đồng mà cả nhóm của cô đã thức trắng ròng rã suốt hai tháng qua để gầy dựng.

Và xen lẫn giữa sự hoảng loạn của cấp dưới, chắc chắn sẽ là những dòng tin nhắn ngắn gọn, sắc lạnh như lưỡi dao cạo từ Vũ Lan Anh — vị giám đốc điều hành luôn đo đếm giá trị con người bằng những con số KPI khô khốc: *“My kiểm tra gấp phần phân bổ ngân sách KOLs trước năm giờ chiều. Đối tác không chấp nhận bất kỳ sự trì hoãn nào, dù với bất kỳ lý do cá nhân nào. Nếu chiều nay không chốt xong hợp đồng nguyên tắc, toàn bộ công sức của team coi như đổ sông đổ biển.”*

My siết chặt các đầu ngón tay vào vạt áo xô gai ráp, ghì mạnh đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, móng tay hằn sâu vào lòng bàn tay đau điếng. Sự ồn ào sốt ruột, sự tham vọng nghiệt ngã của một đô thị phồn hoa cách xa hàng nghìn cây số đang dội ngược vào sự tĩnh mịch thê lương của căn nhà rường cổ kính này, xé toạc lớp vỏ bọc bình thản và cứng cỏi mà cô đã cố gượng gạt đeo lên suốt mấy ngày lo hậu sự cho nội.

Thế nhưng, điều thực sự khiến ngực My thắt lại từng cơn, nghẹn ứ đến mức không thở nổi, không phải là những bản kế hoạch chưa duyệt hay nguy cơ đổ vỡ của một hợp đồng truyền thông béo bở. Đó là một đốm sáng nhấp nháy khác nằm sâu trong lịch sử nhật ký cuộc gọi của chiếc máy ấy. Một cái dằm độc cắm sâu vào tâm can cô mà không một thứ thuốc giảm đau nào có thể xoa dịu.

Bốn ngày trước. Đúng mười bốn giờ hai mươi phút ngày thứ Năm.

Khi ấy, My đang đứng giữa phòng họp vách kính trên tầng hai mươi tư của tòa cao ốc trung tâm Quận 1. Chiếc máy điều hòa trung tâm phả từng luồng khí lạnh buốt vào lưng áo lụa của cô. My cầm trên tay chiếc bút chỉ laser, say sưa và tự tin điều khiển từng slide trình chiếu về “chiến lược tái định vị thương hiệu thế hệ mới”, cố gắng thuyết phục hội đồng quản trị khó tính của đối tác bằng những thuật ngữ tiếp thị thời thượng, những biểu đồ tăng trưởng ngoạn mục vẽ bằng màu xanh lá mạ.

Giữa lúc cô đang nói về “tính kết nối cảm xúc giữa nhãn hàng và người tiêu dùng”, chiếc điện thoại đặt trên mặt bàn kính rung lên bần bật ba hồi dài. Màn hình sáng rực, hiện lên hai chữ thân thuộc: “Bà Nội”.

Lúc ấy, My chỉ liếc mắt nhìn thoáng qua một giây. Một giây ngắn ngủi ngủ vùi trong sự kiêu hãnh của một người trẻ đang trên đà thăng tiến. Cô khẽ cau mày vì cuộc gọi đến cắt ngang dòng mạch thuyết trình. Ngón tay cái của cô, theo một phản xạ máy móc và vô cảm đã được rèn giũa qua nhiều năm làm việc công sở, quét dứt khoát ngang qua phím từ chối màu đỏ trên màn hình cảm ứng. Chưa dừng lại ở đó, sợ chiếc điện thoại tiếp tục làm phiền buổi họp quan trọng, cô thuận tay gạt luôn cần rung sang chế độ im lặng tuyệt đối, rồi úp mặt máy xuống cuốn sổ tay bìa da.

Cô tự nhủ với chính mình một cách nhẹ nhõm: *Xong buổi thuyết trình này mình sẽ gọi lại ngay. Chắc bà lại gọi điện hỏi mấy giờ máy bay hạ cánh để đón, hay hỏi chuyện có về ăn giỗ cụ nội vào tháng sau như mọi năm thôi. Người già ở quê lúc nào chẳng rảnh rỗi, chuyện cỏn con cũng sốt sắng gọi.*

Nhưng buổi thuyết trình ấy không kết thúc như dự tính. Đối tác chất vấn gay gắt về chi phí chuyển đổi số, các phòng ban tranh cãi nảy lửa về từng điều khoản trong bản hợp đồng dịch vụ. Cuộc họp kéo dài lê thê thêm hơn hai tiếng đồng hồ căng thẳng. Đến khi My bước chân ra khỏi phòng họp kính, hai thái dương giật giật vì kiệt sức, cô kẹp chiếc cặp tài liệu nặng trĩu bên hông để rảo bước sang quán cà phê phía đối diện tòa nhà, định bụng cắn vội mẩu bánh mì khô khốc lót dạ trước khi mở điện thoại ra gọi lại cho bà.

Thế nhưng, cuộc gọi tiếp theo từ Huế đổ về máy cô không còn mang tên “Bà Nội” nữa.

Đó là một dãy số lạ, và khi cô vừa áp máy vào tai, đầu dây bên kia vang lên giọng nói nghẹn đặc, run rẩy và đứt quãng của bố cô. Tiếng ồn ào của còi xe cấp cứu, tiếng bước chân huỳnh huỵch và tiếng gào khóc mơ hồ hòa vào nhau: *“My ơi... con ơi... bà đi rồi con nớ! Đột quỵ trưa ni... Chú Vinh chở vô viện Đa khoa Trung ương mà bác sĩ bảo mạch ngừng từ trên đường rồi, không cứu kịp nữa...”*

My đánh rơi chiếc bánh mì xuống vỉa hè đầy bụi bặm của Sài Gòn. Cả thế giới xung quanh cô như sụp đổ tan tành trong một giây ngắn ngủi. Khi cô hớt hải gom vài bộ quần áo sẫm màu, bắt chuyến bay muộn nhất trong đêm về sân bay Phú Bài, rồi ngồi trên chiếc taxi chạy thục mạng qua những con đường ngập nước lầy lội để lao vào con kiệt An Cựu tăm tối, thì người ta đã làm xong lễ khâm liệm. Tấm khăn sô trắng lạnh lẽo đã phủ kín lên gương mặt bất động của bà Lành.

Mọi lời trần tình sau đó đều trở thành một tấn bi kịch muộn màng và kệch cỡm.

Trước mặt bố Quang, mẹ Hà và chú Vinh, My đã nói dối. Cô bảo rằng chiều hôm ấy điện thoại của cô bị sập nguồn vì viên pin chai phù giữa buổi làm việc căng thẳng với khách hàng nước ngoài, rằng hệ thống mạng bị nghẽn nên cô không hề nhận được bất kỳ tín hiệu nào từ quê nhà. Lời nói dối trơn tru, rành rọt, thuyết phục đến hoàn hảo trượt ra khỏi môi của một chuyên viên truyền thông kỳ cựu như cô dễ dàng đến mức đáng sợ. Không một ai trong gia đình nghi ngờ cô. Họ chỉ nhìn cô với ánh mắt xót xa, ái ngại cho một đứa cháu gái vì miếng cơm manh áo nơi đất khách mà không kịp nhìn mặt bà lần cuối.

Thế nhưng, cái giá phải trả cho sự trơ trẽn ấy là một vết cứa độc địa cắm sâu vào tâm can My, mỗi giờ mỗi phút đều rỉ máu. Cuộc gọi nhỡ dài mười bảy giây không bao giờ có hồi đáp ấy — mười bảy giây rung lên trong vô vọng trước khi bị một ngón tay lạnh lùng dập tắt — giờ đây biến thành một bản án vô hình, nghiệt ngã, treo lơ lửng giữa My và bức di ảnh trên bệ thờ.

Bà Lành đã muốn nói gì với cô trong mười bảy giây định mệnh đó? Một lời dặn dò cuối cùng trước khi hơi thở tàn lụi? Một tiếng thở dốc tuyệt vọng để cầu cứu đứa cháu gái mà bà thương yêu nhất trần đời? Hay đơn giản chỉ là bà cảm thấy ngực mình nhói đau, bà sợ hãi bóng tối của cái chết đang ập đến, và bà chỉ muốn nghe thấy một tiếng “Dạ, nội ơi con nghe đây” để thanh thản nhắm mắt?

Không ai có thể trả lời cho My được nữa. Sự im lặng vĩnh hằng của người chết đã biến mười bảy giây ấy thành một hố sâu thăm thẳm của sự dằn vặt, nuốt chửng mọi sự tự tin, mọi thành đạt giả tạo mà cô đã cố công gầy dựng bấy lâu.

Có tiếng chân bước nặng nhọc, bì bõm nước trên nền gạch tàu ẩm ướt phía sau lưng cắt đứt dòng suy tưởng đớn đau của My.

Chú Vinh, người con trai út của bà Lành, bước vào gian chính mang theo luồng gió lạnh buốt từ ngoài sân. Chú mặc một chiếc áo sơ mi bạc màu đã sờn rách ở cổ tay, vạt áo cài lệch một chiếc cúc nhựa màu trắng đục. Mái tóc hoa râm bù xù của chú còn vương những hạt mưa phùn li ti, khuôn mặt xám xịt vì nhiều đêm thức trắng canh quan tài mẹ. Dưới bọng mắt thâm quầng là những nếp nhăn sâu hoắm như những vết chém của sự cơ cực. Trên tay chú Vinh là một tập hồ sơ bằng bìa cứng màu xanh đã sờn rách bốn góc, mép bìa quăn queo, kẹp chặt bên trong hàng chục tờ hóa đơn thuốc men màu vàng úa, những phiếu thu viện phí nhăn nhúm và vài cuốn sổ tay gáy lò xo mỏng dính bìa cáu bẩn.

Theo sau chú là bố Quang và mẹ Hà. Bố My đi chầm chậm từng bước, hai bàn tay gầy guộc chắp chặt sau lưng, tấm lưng hơi còng xuống dưới sức nặng của chiếc áo tang bằng vải xô thô ráp. Ánh mắt ông đùng đục, lờ đờ nhìn dán xuống khoảng sân rêu phong qua bậu cửa gỗ mun. Tang lễ vừa vãn khách lúc trưa nay, sau khi phần mộ của bà Lành được chôn cất xong xuôi trên nghĩa trang đồi phía sau Kim Long. Căn nhà rường lập tức rơi vào trạng thái hoang tàn, rệu rã đặc trưng sau những biến cố lớn của một gia đình truyền thống: những vòng hoa cúc trắng héo rũ, gãy cuống xếp xô lệch ngoài chái đông; mùi bã trà thiu quyện với mùi dầu hỏa thắp đèn le lắt; và cái lạnh thấu xương của tiết trời chớm đông xứ Huế ngấm qua từng thớ gỗ kiền kiền, biến không gian thành một nấm mồ ẩm mốc.

Chú Vinh không bước lại quỳ lạy trước bàn thờ mẹ thêm một lần nào nữa. Chú sải bước dứt khoát tới bên chiếc bàn trà bằng gỗ mun đã lên nước đen bóng đặt ở gian giữa, kéo mạnh chiếc ghế đẩu rồi đặt phịch tập hồ sơ xuống mặt bàn gỗ.

*Cộp!*

Âm thanh khô khốc, nặng nề vang lên xé toạc bầu không khí tang tóc, làm rung chuyển nhẹ chiếc đĩa sứ hoa lam đựng đầy tàn nhang rụng trên bàn thờ.

“Anh Quang với cháu My ngồi lại đây một lát,” giọng chú Vinh cất lên, khàn đặc như có sạn, dứt khoát nhưng không giấu nổi vẻ mệt mỏi, cay đắng đã tích tụ đến giới hạn chịu đựng suốt nhiều năm ròng. “Đằng nào chuyện cũng phải dứt điểm trong bữa ni. Mẹ đi rồi, người sống vẫn phải tính đường cho người sống. Không thể cứ dây dưa mãi được.”

Bố Quang khẽ thở dài một tiếng thật sâu, bờ vai gầy khẽ run rẩy. Ông kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít thấp hơn ngồi xuống mép bàn đối diện em trai. Ông không dám nhìn thẳng vào mắt chú Vinh, chỉ đưa bàn tay thô ráp, đầy những vết chai sần của một đời tha hương với lấy chiếc ấm trà bằng sành đã nguội ngắt từ sáng. Bố rót một dòng nước chè xanh màu nâu sẫm, đặc quánh vào chiếc chén sứt miệng, rồi cứ thế để mặc chén trà bốc lên làn khói mỏng manh lạnh lẽo.

Mẹ Hà khẽ kéo nhẹ tay áo My, đưa mắt ra hiệu bảo cô đứng dậy khỏi chiếc chiếu cói để cùng ra bàn nói chuyện. My lẳng lặng bước tới. Hai đầu gối tê dại vì quỳ lâu khiến cô hơi lảo đảo, một cơn choáng váng ập đến làm mắt cô tối sầm lại trong tích tắc, nhưng cô vẫn nghiến chặt răng giữ thăng bằng. Cô ngồi xuống bên cạnh bố mẹ, ánh mắt sắc lạnh, phòng thủ khóa chặt vào tập giấy tờ nham nhở đặt trước mặt người chú ruột.

Chú Vinh tháo sợi dây chun ố vàng buộc quanh tập hồ sơ, lật giở từng trang giấy. Tiếng giấy sột soạt khô khốc, sắc lẹm vang lên giữa không gian tịch mịch.

“Tui ghi chép lại hết ở đây, không sót một đồng, một cắc,” chú Vinh bắt đầu nói, ngón tay trỏ có vết sẹo dài màu nâu chỉ thẳng vào những dòng số liệu nguệch ngoạc viết bằng mực bi xanh đã nhòe nước ở trang đầu tiên. “Năm năm qua, từ cái hồi mẹ bắt đầu lẫn lộn rồi đột quỵ lần đầu, liệt hẳn nửa người bên trái, tiền thuốc men mỗi tháng bèo nhất cũng hai triệu rưỡi. Tiền mua tã lót người già, tiền sữa bồi dưỡng, tiền thuê người tới đỡ phụ những đợt tui phải theo công trình đi xa ngoài Quảng Trị... rồi tiền xe cấp cứu chở đi Bệnh viện Trung ương mấy lần chuyển biến nặng trong đêm... tui gom đủ hóa đơn cả đây. Chưa kể tiền sửa chữa cái nhà ni.”

Chú Vinh ngước mặt lên, đưa ánh mắt hằn học nhìn thẳng lên trần nhà, nơi những thanh xà gồ bằng gỗ kiền kiền đã đen sì vì khói bếp và thời gian, chi chít những lỗ mọt đùn mùn cưa xuống.

“Cái căn nhà rường ba gian hai chái ni, ngoài miệng đời thì người ta khen cổ kính, khen phong lưu danh gia vọng tộc, khen con cháu biết giữ gìn nề nếp gia phong. Nhưng có ở trong chăn mới biết chăn có rận! Trận bão năm ngoái thổi bay toi nửa giàn ngói liệt bên chái tây, nước xối như thác đổ xuống ngay đầu giường mẹ nằm liệt. Nửa đêm nửa hôm, một mình tui phải đội mưa leo lên trần, rồi phải đi vay nóng mười lăm triệu bạc ngoài chợ kêu thợ về chắp vá tạm bợ cho mẹ có chỗ nằm khô ráo. Chừ anh Quang nhìn coi, mối ăn rỗng ruột cây cột cái góc đông rồi tề. Đêm nằm ngủ dưới ni mà nghe tiếng mọt nghiến ken két như người ta rải cát rải sạn trên đầu. Mấy bữa trước thợ mộc họ vô coi, họ lắc đầu bảo muốn đại tu căn nhà ni, thay rui mè xà gồ mục nát phải tốn ít nhất ba bốn trăm triệu bạc. Nhà mình lấy mô ra món tiền nớ? Tui hỏi anh Quang, nhà mình lấy mô ra?”

Bố Quang vẫn ngồi im lìm như một pho tượng đá, hai ngón tay gầy gò cứ xoay tròn chiếc chén sứt miệng trên mặt bàn mun. Mặt nước chè sóng sánh phản chiếu gương mặt nhăn nheo, khắc khổ và cam chịu của một người đàn ông cả đời chỉ biết tìm cách né tránh những va chạm trực diện, một kẻ trốn chạy nghèo khó vào Nam từ thuở thanh xuân nhưng rốt cuộc cũng chẳng làm nên trò trống gì ngoài hai bàn tay trắng.

“Ý chú là răng?”

My không nhịn được nữa. Cô cất tiếng hỏi, cắt ngang tràng giãi bày đầy bức bối của chú Vinh. Thanh âm của cô đanh lại, sắc lẹm và khô cứng, mang theo trọn vẹn cái thói quen chất vấn gãy gọn, không khoan nhượng nơi các phòng họp công sở hiện đại. “Chú đem cái đống hóa đơn này ra ngay lúc bàn thờ của nội còn chưa kịp nguội nhang là có mục đích chi? Chú muốn đòi tiền bố mẹ cháu à?”

Chú Vinh khựng lại một nhịp, ánh mắt chú lập tức bốc lên ngọn lửa giận dữ trước thái độ không hề có chút kiêng nể của đứa cháu gái. Chú hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng dưới lớp áo bạc màu, hai bàn tay thô ráp đan chặt vào nhau dằn mạnh lên tập hóa đơn:

“Ý tui rất rõ ràng! Căn nhà rường ni là của ông bà nội để lại, quyền thừa kế theo luật pháp lẫn đạo lý thuộc về tui với ba cháu. Chừ mẹ mất rồi, tui đề nghị bán! Bán đứt cả đất lẫn xác nhà cho mấy người làm dịch vụ du lịch hoặc homestay trên phố. Mấy bữa trước có người bên công ty bất động sản du lịch họ đã vô dòm ngó, họ bảo miếng đất kiệt An Cựu ni tuy lối vô hơi hẹp nhưng nở hậu, lại có cây cối cổ thụ, thế đất đẹp, khách họ trả giá cao lắm. Tiền bán được, trước hết trích ra một khoản trả dứt điểm các khoản nợ nần thuốc men, viện phí, sửa chữa mấy năm qua tui phải vay mượn gánh gồng cho mẹ. Phần còn lại bao nhiêu, chia đôi sòng phẳng cho hai anh em. Tui có chút vốn liếng để lo cho con bé Út đi học nghề đàng hoàng, anh Quang chị Hà trong trỏng cũng có một món tiền mà dưỡng già, phòng khi đau ốm. Chứ để cái nhà ni lại làm chi? Mùa mưa bão năm tới nó mà sập xuống đè chết người thì ai chịu trách nhiệm? Ai ở lại đây mà trông coi hương khói quanh năm suốt tháng?”

Từng lời, từng chữ của chú Vinh như những nhát búa tạ nện thẳng vào bầu không khí u uất, ngột ngạt của gian nhà rường.

Cảm giác bức bối dồn nén bấy lâu trong lòng My bùng nổ dữ dội. Cô cảm thấy máu nóng xông thẳng lên đỉnh đầu, hai tai lùng bùng.

“Bán nhà?” My đứng bật dậy khỏi ghế, hai bàn tay chống mạnh xuống mặt bàn gỗ mun, nhìn trừng trừng vào mắt người chú ruột. “Nội mới nằm xuống chưa đầy ba ngày! Nắm đất trên mộ nội ngoài nghĩa trang còn ướt sũng nước mưa, hơi ấm của nội trong cái chăn bông còn chưa tan hết, mà chú đã ngồi đây lôi giấy tờ ra tính chuyện xẻ thịt mảnh đất này, tính chuyện chia chác tài sản của người chết? Chú có còn nghĩ đến tình nghĩa gia đình nữa không?”

Giọng My run rẩy nhưng âm lượng vang rền khắp gian nhà chính:

“Đây là nơi nội đã sống cả một đời! Tám mươi tư năm, từ lúc nội về làm dâu cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay! Đây là nơi chứa đựng toàn bộ ký ức của cả cái gia đình này, là nguồn cội của bố cháu, của chú, của tụi cháu! Chú bảo nhà dột, chú bảo mọt ăn, sao bao nhiêu năm qua chú không gọi điện bảo cháu một tiếng? Cháu đi làm ở Sài Gòn, cháu kiếm được tiền, cháu không bao giờ tiếc một đồng một cắc nào gửi về để sửa sang nhà cửa cho nội! Tại sao chú không bàn bạc tìm cách giữ lại, mà cứ phải chọn cái cách thực dụng, tàn nhẫn nhất là bán đứt cho người ngoài? Chú muốn người ta biến căn nhà thờ tổ tiên thành cái quán xá ồn ào, biến phòng ngủ của nội thành chỗ cho khách du lịch thuê mướn ngủ qua đêm à? Chú muốn xóa sạch mọi dấu vết của nội như thể nội chưa từng tồn tại trên cõi đời này sao?”

“Cháu nói ai thực dụng? Cháu bảo ai tàn nhẫn?”

Chú Vinh cũng đập mạnh bàn đứng phắt dậy. Mặt chú đỏ gay như gấc chín, những đường gân xanh nơi thái dương và cổ giật giật từng hồi theo cơn thịnh nộ. Chiếc ghế đẩu phía sau chú bị hất văng, ngã chổng chơ xuống nền gạch tàu kêu lên một tiếng *xoảng* chát chúa.

“Kiều My! Cháu đừng có đứng đó mà dùng cái giọng đạo đức giả, cái giọng bề trên dạy đời tui!” Chú Vinh gầm lên, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt cô cháu gái. “Cháu ở tráng lệ trong Sài Gòn, ngồi phòng máy lạnh phà vù vù, áo quần bảnh bao lụa là, lương tháng mấy chục triệu bạc, một năm cháu tạt về cái nhà ni được mấy lần? Hả? Mỗi lần về cháu ở được mấy tiếng đồng hồ rồi lại xách vali chạy thục mạng ra sân bay cho kịp giờ làm? Lúc mẹ ỉa đái dầm dề trên giường bệnh, toàn thân lở loét vì nằm một chỗ, ai là người lau rửa, ai là người thay từng miếng tã hôi hám cho mẹ? Cháu hay tui? Lúc nửa đêm mưa to gió lớn, sấm sét ầm ầm, ngói rớt uỳnh uỳnh trên mái, ai là người đội nón tơi leo lên nóc nhà che bạt, hứng từng thau nước mưa cho mẹ nằm? Là tui với thím cháu!”

Chú Vinh thở dốc, giọng nói nghẹn lại vì uất ức và cay đắng:

“Cháu bảo cháu gửi tiền về? Mấy đồng bạc cháu gửi qua tài khoản ngân hàng mỗi dịp Tết đến xuân về có đổi lại được năm năm trời vợ chồng tui bỏ công bỏ việc, thức trắng hàng trăm đêm bên giường bệnh không? Cháu không sống ở đây một ngày nào trong suốt mười năm qua, cháu không ngửi cái mùi ẩm mốc, cái mùi thuốc men rữa nát của cái nhà ni một ngày nào, cháu lấy cái tư cách chi mà đứng đây chỉ tay năm ngón, kết tội tui là thực dụng? Tui mà thực dụng, tui đã bỏ mặc mẹ cho anh chị từ mười năm trước, tui đã bán cái nhà ni từ cái ngày mẹ bắt đầu liệt nửa người rồi, chứ không đợi đến tận hôm nay đâu!”

Những lời quát tháo như bão tố của chú Vinh dội mạnh vào những cột gỗ lim đen nhánh, đập vào bức vách gỗ rồi dội ngược lại tâm can My. Cả gian phòng rung rinh trong sự cuồng nộ.

Trên bàn thờ, ngọn đèn dầu lay lắt chao đảo trước luồng gió tạt qua khe cửa, hắt cái bóng của bức di ảnh in ngoằn ngoèo lên bức vách hậu, tựa như một tiếng thở dài câm lặng của người vừa khuất.

My chết sững tại chỗ. Lồng ngực cô thắt nghẽn, hai chân như chôn chặt xuống nền gạch buốt giá. Từng câu, từng chữ của chú Vinh sắc lẹm như những lưỡi dao phẫu thuật, mổ xẻ chính xác và tàn nhẫn vào vết thương nhức nhối nhất, hèn hạ nhất trong tâm hồn cô.

Sự vắng mặt.

Sự vô tâm ích kỷ được bọc lót tinh vi bằng những khoản tiền gửi định kỳ qua ứng dụng điện thoại. Sự bận rộn hào nhoáng của một kẻ luôn tự huyễn hoặc rằng mình đang gánh vác những sứ mệnh lớn lao, những bản kế hoạch tiếp thị hàng tỷ đồng ngoài xã hội, để rồi xem nhẹ một căn nhà rường ẩm mốc và một người bà già nua đang chết mòn trong cô độc nơi quê nhà.

Và trên hết, cảm giác tội lỗi về cuộc gọi nhỡ mười bảy giây ban chiều lại bùng lên như một ngọn lửa độc thiêu đốt cuống họng cô. Cô muốn hét lên, muốn biện bạch, muốn nói rằng cô yêu bà nội biết bao nhiêu. Nhưng lưỡi cô cứng đờ. Không một âm thanh nào có thể thoát ra khỏi bờ môi đang run rẩy bần bật. Cô không có tư cách. Trước sự hy sinh thầm lặng, trần trụi và nhọc nhằn của người chú ruột, mọi lý lẽ hoa mỹ về “ký ức”, về “nếp nhà truyền thống” mà cô vừa thốt ra bỗng chốc trở nên trơ trẽn, kệch cỡm và giả dối đến cùng cực.

“Vinh... thôi em... anh xin em...”

Lúc này, bố Quang mới run rẩy lên tiếng. Giọng ông chìm lỉm, nhỏ thó giữa tiếng mưa rơi rả rích ngoài hiên. Hai bàn tay ông run run ôm lấy chén nước trà đã nguội ngắt, lưng còng rạp xuống như muốn thu mình lại cho nhỏ bé đi trước cơn giận của em trai. “Chuyện đâu còn có đó mà em... Mẹ mới nằm xuống, đừng làm ầm ĩ trước bàn thờ mẹ như rứa... mang tội... người ngoài trong kiệt họ nghe thấy, họ cười cho...”

“Anh cứ sợ người ngoài cười!” Chú Vinh quay phắt sang anh trai, vẻ khinh bạc và đau đớn trào dâng trong ánh mắt đỏ ngầu. “Bao nhiêu năm ni anh đi biệt xứ vô trần trong trọi, chuyện chi ở cái nhà ni anh cũng sợ va chạm, cũng trốn tránh, đùn đẩy hết lên vai thằng em ni! Chừ mẹ mất rồi, anh tính để cái nhà rường ni thành cái am hoang phế giữa kiệt An Cựu ni hay răng? Hay anh tính bảo cháu My bỏ việc làm lương cao chức trọng trong Sài Gòn về đây mà quét mạng nhện, mà hứng nước mưa giữ nhà?”

Bố Quang không đáp lại được một lời nào. Ông chỉ biết cúi gục đầu xuống thấp hơn nữa, hai bờ vai gầy so lại dưới lớp vải sô gai ráp. Sự bất lực, nhu nhược của người đàn ông cả đời thất bại hiển hiện rõ mồn một qua từng sợi tóc bạc trắng xơ xác trên đỉnh đầu. Ông không dám bênh vực con gái, cũng chẳng có đủ tư cách và tiền bạc để phản bác lại em trai. Đó là sự câm lặng hèn mòn của một kẻ đã chọn cách đào tẩu khỏi trách nhiệm gia đình suốt hàng chục năm trời, để rồi ngày trở về, chỉ còn lại sự bẽ bàng và muộn màng trước đống đổ nát của thực tại.

Mẹ Hà vội vàng đứng bật dậy. Một tay bà nắm chặt lấy bắp tay My, kéo giật cô ngồi thụp xuống chiếc ghế đẩu, một tay bà vội vã đưa sang vỗ nhẹ lên mu bàn tay thô ráp của chú Vinh để xoa dịu bầu không khí đang căng như dây đàn.

“Chú Vinh, chú bình tĩnh lại đã. Chị hiểu, anh chị hiểu hết chứ.” Mẹ Hà cất giọng nhỏ nhẹ, trầm ấm mang theo ngữ điệu mềm mỏng nhưng dứt khoát của một người đàn bà từng trải qua bao sóng gió gia đình. “Anh chị không bao giờ dám phủ nhận công lao của chú thím bao năm qua một tay chăm bẵm, lo toan cho mẹ chu toàn, trọn vẹn đến ngày mẹ nhắm mắt. Không có chú thím ở lại gánh vác quê nhà thì anh chị ở trong Nam cũng không thể nào yên lòng mà bươn chải làm ăn được. Ân nghĩa nớ của chú thím, anh chị luôn ghi tạc trong lòng.”

Nói đoạn, mẹ Hà quay sang nhìn thẳng vào mặt My. Ánh mắt mẹ nghiêm khắc, lạnh lùng và dứt khoát — một ánh mắt mà từ thuở nhỏ đến giờ My hiếm khi nhìn thấy ở người mẹ vốn dĩ hiền lành, an phận:

“Còn My! Con ngồi yên đó! Ai cho phép con nói chuyện với chú ruột mình bằng cái giọng nạt nộ, trịch thượng và vô lễ như rứa hả?” Mẹ Hà gằn từng tiếng, âm lượng không lớn nhưng sức nặng đè trĩu xuống vai My. “Con nghĩ con là ai? Con tưởng con học đại học cho cao, kiếm được mấy đồng tiền ở đất Sài Gòn, đem mấy cái tư duy quản lý chỉ tay năm ngón, mấy cái lý lẽ hợp đồng công sở về đây là có thể ngồi lên đầu lên cổ người lớn để phán xét à? Người trong nhà ruột thịt với nhau, máu chảy ruột mềm, hơn thua từng câu từng chữ để làm chi?”

Mẹ Hà thở dài, ánh mắt chuyển sang vẻ chua xót:

“Chú con nói có phần đúng của chú! Căn nhà ni hư hại mục nát là sự thật, gánh nặng nợ nần thuốc men bao năm qua là sự thật. Con không thức đêm lau phân dọn tã cho bà một ngày nào, con không đội mưa đi vay tiền mua thuốc cho bà một lần nào, con không có quyền kết tội ai ở cái nhà ni là thực dụng! Nghe chưa?”

My cắn chặt môi dưới, cắn mạnh đến mức vị tanh nồng của máu rỉ ra nơi đầu lưỡi, mằn mặn và cay đắng. Cô cúi gằm mặt xuống, hai bàn tay giấu dưới gầm bàn run rẩy kịch liệt, các móng tay bấm sâu vào da thịt để ngăn cho những giọt nước mắt nhục nhã và bất lực không trào ra trước mặt mọi người.

Đúng lúc ấy, chiếc điện thoại trong túi áo len lại rung lên một hồi ngắn — một email khẩn cấp vừa đổ về hộp thư đến.

Thế giới của My dường như đang vỡ vụn ra thành từng mảnh nhỏ không thể hàn gắn. Một bên là sự nghiệp, là vị thế xã hội, là những bản hợp đồng tiền tỷ mà nếu cô buông tay lúc này, cô sẽ mất trắng tất cả những gì mình đã đánh đổi mười năm tuổi trẻ để gây dựng; một bên là sự tàn lụi đau đớn của gia đình, là căn nhà ấu thơ đang đứng trước nguy cơ bị xé nhỏ, băm nát và bán tống bán tháo cho người ngoài vì sự nghèo đói và kiệt quệ. Mà bi kịch lớn nhất là cô — một kẻ tự nhận mình là người thành đạt — lại hoàn toàn bất lực, tê liệt, không thể cứu vãn nổi bất kỳ điều gì.

Cuộc đối thoại kết thúc trong một khoảng lặng ngột ngạt đến nghẹt thở. Không có một thỏa thuận nào được đưa ra. Không một ai tìm thấy một lối thoát khả dĩ.

Chú Vinh nghiến răng ken két, bàn tay run run gom lại tập hồ sơ viện phí dày cộp, lấy sợi dây chun ố vàng buộc chặt lại như cũ. Chú không thèm nhìn ai thêm một cái nào, cầm tập giấy bước nhanh ra cửa, xỏ chân vào đôi dép tổ ong đã mòn vẹt rồi lao thẳng ra màn mưa dầm tăm tối ngoài kiệt An Cựu.

Bố Quang ngồi lặng đi bên bàn trà thêm vài phút, rồi ông lẳng lặng đứng dậy, rút một điếu thuốc lá từ bao thuốc nhàu nhĩ trong túi áo tang. Ông đi ra mé hiên nhà, tựa lưng vào cây cột gỗ kiền kiền đã rỗng ruột vì mối mọt, bật que diêm châm thuốc. Đốm lửa đỏ lập lòe cô độc giữa màn đêm buông xuống, soi rõ gương mặt thất thần và làn khói thuốc mỏng manh nhanh chóng bị gió mưa xứ Huế cuốn phăng đi.

Bữa cơm chiều hôm ấy diễn ra trong sự im lặng tuyệt đối đến rợn ngườicủa ba con người.

Mẹ Hà xuống bếp lục lọi, luộc vội một đĩa thịt ba chỉ mỏng tang mỡ nhiều hơn nạc, dọn kèm một bát dưa cải muối chua đã ngả màu vàng sẫm và một âu cơm nguội hấp lại từ bữa trưa. Mâm cơm đặt trên chiếc chiếu cói giữa gian nhà chính, ngay dưới chân bàn thờ bà Lành.

Không ai buồn cất tiếng nói. Bố Quang chỉ và vài miếng cơm trắng không rồi buông đũa, tiếp tục ra hiên ngồi nhìn mưa. Mẹ Hà gắp cho My một miếng thịt mỡ, nhưng My chỉ nhìn chằm chằm vào bát cơm của mình. Tiếng đũa tre chạm vào miệng bát sứ sứt sẹo vang lên lách cách, rời rạc và gượng gạo giữa không gian tĩnh mịch. Từng hạt cơm nguội ngắt, khô khốc trôi qua cổ họng My như những hạt sạn ráp, nghẹn ứ nơi ngực. Phía trên đầu cô, tiếng mưa dầm vẫn lộp độp, lộp độp gõ đều đặn lên những phiến ngói âm dương, buốt giá và buồn bã đến nao lòng.

Sau bữa cơm chiều ảm đạm, sự mệt mỏi thể xác sau chuỗi ngày thức trắng lo tang lễ cuối cùng cũng đánh gục bố Quang và mẹ Hà. Hai ông bà lẳng lặng lui về căn phòng ngủ nhỏ hẹp ở chái đông — căn phòng chỉ kê vừa một chiếc giường gỗ cũ kỹ và một chiếc tủ đầu giường ọp ẹp — để tìm kiếm một giấc ngủ chập chờn.

Gian nhà chính chìm hẳn vào bóng tối mịt mùng. Chỉ còn lại đốm nhang đỏ quạnh trên bàn thờ hắt ra một quầng sáng lờ mờ, yếu ớt, đủ để soi rõ những đường nét nhạt nhòa của bức di ảnh người đã khuất.

My nằm trên chiếc chõng tre kê sát vách gỗ ở chái tây, trùm kín chiếc chăn chiên thô ráp lên tận cằm nhưng cái lạnh vẫn từ dưới sàn gạch tàu bốc lên, ngấm qua từng thớ chiếu cói, thấm buốt vào da thịt cô. My nhắm nghiền mắt lại, nhưng tâm trí cô không tài nào chợp mắt nổi. Tiếng mưa ngoài vườn chuối cứ dội từng hồi đều đặn, buốt giá. Tiếng mọt nghiến gỗ trong thân cây cột cái ở góc đông thỉnh thoảng lại vang lên *ken két, ken két* trong đêm thanh vắng, như một chiếc cưa nhỏ vô hình đang kiên nhẫn cưa đứt từng mạch sống của căn nhà rường cổ kính này.

Đến nửa đêm, cơn đau đầu lại bùng lên dữ dội. Cổ họng My khô khốc, đắng ngắt. Cô cảm thấy một cơn khát cháy bỏng, một sự ngột ngạt kỳ lạ đang bóp nghẹt lồng ngực mình, thôi thúc cô phải rời khỏi chiếc chõng tre lạnh lẽo này.

My khẽ khàng ngồi dậy, không dám gây ra tiếng động vì sợ đánh thức bố mẹ ở chái đối diện. Cô khoác thêm chiếc áo len dày, bước chân trần xuống nền gạch tàu buốt giá như băng. Men theo bóng tối lờ nhờ, cô chầm chậm bước qua gian chính, cúi đầu trước bàn thờ bà một thoáng, rồi lách mình qua cánh cửa nách dẫn xuống dãy hành lang hẹp dẫn xuống gian bếp nhỏ ở chái sau.

Đã nhiều năm lắm rồi, My không bước chân xuống gian bếp này.

Căn bếp chái sau nằm thấp hơn gian nhà chính ba bậc tam cấp xây bằng đá xanh đã mòn vẹt mép. Đây là phần kiến trúc phụ của căn nhà rường, lợp bằng ngói liệt rêu phong và che chắn sơ sài bằng những tấm ván gỗ tạp ghép lại, nơi mà từ thuở nhỏ cô đã gắn bó với biết bao ký ức ấm êm bên cạnh bà nội.

My đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa gỗ khép hờ.

*Ken két...*

Tiếng bản lề rỉ sét rên rỉ một âm thanh chói gắt giữa đêm khuya tịch mịch. My bước xuống bậc tam cấp, và ngay lập tức, một khoảng không tối om, lạnh lẽo và đặc quánh mùi vị của thời gian ùa tới bọc lấy cô.

Không khí nơi đây mang một mùi hương hoàn toàn khác biệt với mùi trầm hương trịnh trọng và tôn nghiêm nơi gian thờ phía trên: đó là mùi bồ hóng bám dày hàng tấc qua hàng chục năm đun nấu, mùi tro trấu ẩm ướt trong góc bếp, mùi ớt bột cay nồng còn vương vất đâu đó trong những chiếc hũ sành, quyện chặt với mùi ngai ngái của bùn đất, của rêu xanh rỉ ra từ chân tường sau trận mưa dầm kéo dài suốt cả tuần lễ.

My đứng sững lại giữa bóng tối mịt mùng. Cô đứng im vài phút để đôi mắt dần thích nghi với thứ ánh sáng mờ ảo, nhờ nhợ hắt vào từ khe liếp mục nát — ánh sáng vàng vọt le lói của ngọn đèn đường ngoài kiệt An Cựu xuyên qua màn mưa phùn.

Và khi những đường nét của gian bếp dần hiện rõ trước mắt, một cảm giác thắt nghẹn tàn nhẫn bóp chặt lấy trái tim cô.

Lần đầu tiên sau mười năm xa nhà, My mới thực sự mục sở thị sự tàn phá khủng khiếp và trần trụi của thời gian lên nơi chốn này.

Phía trên đầu cô, một thanh xà gồ bằng gỗ xoan đỡ góc mái bếp đã nứt toác một vệt dài ngoằn ngoèo như một vết chém sâu hoắm. Từ trần nhà, từng giọt nước mưa rỉ qua những khe nứt của giàn ngói liệt vỡ vụn, tí tách rơi thẳng xuống một chiếc thau nhôm méo mó đặt chỏng chơ dưới nền đất nện:

*Tỏng... tỏng... tỏng...*

Âm thanh ấy đơn điệu, lạnh lùng, lặp đi lặp lại không ngừng nghỉ, nghe như nhịp đập của một chiếc đồng hồ vô hình đang đếm ngược từng ngày tàn của một gia đình danh giá thuở nào.

Dưới thứ ánh sáng vàng vọt nhờ nhợ ấy, chiếc chạn bát cũ kỹ bằng gỗ thao lao đứng nép mình ở góc bếp hiện ra như một chứng nhân câm lặng của cả một đời người.

Chiếc chạn bát này... chính là chiếc chạn mà trong ký ức tuổi thơ tươi đẹp của My từng là một kho báu thần kỳ, một góc trời đầy ắp yêu thương và sự chở che của bà nội. Ngày ấy, mỗi bận bà Lành đi chợ Đông Ba hay chợ Bến Ngự về, chiếc nón bài thơ của bà bao giờ cũng ăm ắp quà quê, và chiếc chạn bát này luôn là nơi bà cất giấu những món quà ấy cho cô cháu gái nhỏ. Ở tầng trên cùng, sau cánh cửa lưới, luôn có chiếc đĩa sứ hoa lam đựng những phong kẹo mè xửng dẻo quánh thơm lừng mùi đậu phụng rang, những chiếc bánh tráng mè nướng giòn rụm bọc trong bao ni lông kín, hay một bát chè đậu ngự ngọt lịm nấu với đường phèn mà bà đã cẩn thận múc riêng ra trước khi đem chia cho xóm giềng.

Nhưng giờ đây, chiếc chạn bát thần kỳ của tuổi thơ cô đã trở nên tàn tạ, ọp ẹp đến thảm thương. Bốn chiếc chân gỗ thao lao của nó được kê trên bốn chiếc bát sứt mép chứa nước để chống kiến, nhưng nước trong bát đã cạn khô tự bao giờ, chỉ còn lại lớp cặn bẩn và bụi bặm cáu lại. Lớp lưới sắt bọc quanh các cánh chạn đã rỉ sét hoàn toàn, thủng lỗ chỗ từng mảng lớn, để lộ ra những chiếc bát sành men lam cũ kỹ, cáu bẩn xếp xô lệch bên trong. Mùi dầu phụng ôi khét, mùi khói củi mục và mùi ẩm mốc của năm tháng quyện chặt vào từng thớ gỗ xám xịt, tạo nên một mùi hương của sự lãng quên và tàn lụi.

My bước lại gần chiếc chạn từng bước chậm rãi, dè dặt như sợ làm kinh động đến linh hồn của quá khứ. Cô đưa những đầu ngón tay run rẩy, buốt lạnh chạm nhẹ vào gáy chiếc chạn gỗ. Bề mặt gỗ ram ráp, xù xì và lạnh ngắt như băng tuyết.

Cô nhìn sang bệ bếp xây bằng gạch thẻ đã nứt nẻ nham nhở. Chiếc kiềng sắt ba chân phủ một lớp tro xám lạnh tanh, trơ trọi giữa lòng bếp lò không còn một chút hơi ấm. Cạnh bệ bếp là một chiếc đèn dầu bằng thủy tinh cũ kỹ, bầu dầu bên trong chỉ còn lại một ngấn cặn màu đen đùng đục, bấc đèn đã cháy cụt ngủn, nằm chỏng chơ bên cạnh vài ống gia vị bằng sành bám đầy muội than cáu bẩn.

Một cảm giác hoang hoải, trống rỗng và cô đơn đến tột cùng xâm chiếm trọn vẹn tâm can My.

Đây chính là thế giới của bà nội cô. Một giang sơn nhỏ bé, chật hẹp chỉ vỏn vẹn chừng mười lăm mét vuông, nơi người đàn bà góa bụa ấy đã dành hơn nửa thế kỷ cuộc đời mình để quanh quẩn, nhóm từng thanh củi ướt đẫm nước mưa, thổi từng đốm lửa bập bùng trong những chiều đông giá rét để nuôi nấng bố cô, nuôi nấng chú Vinh khôn lớn. Đây là nơi bà đã kiên nhẫn canh từng ngọn lửa liu riu để nấu nên những nồi bún bò thơm lừng góc kiệt, sên từng mẻ mứt gừng cay xè xua tan cái rét nàng Bân cho cả gia đình quây quần mỗi dịp Tết đến.

Vậy mà... suốt mười năm qua, cô đã ở đâu?

Cô đã mải mê vùng vẫy ngoài biển lớn, miệt mài theo đuổi những bản kế hoạch tiếp thị hào nhoáng, những bữa tiệc tối sang trọng dưới ánh đèn chùm lộng lẫy ở Sài Gòn, để rồi mặc nhiên quên mất rằng nơi góc bếp này đang mục ruỗng, lụi tàn từng ngày theo tuổi già của bà. Cô đã để mặc bà một mình đối diện với những cơn đau khớp triền miên khi trở trời, một mình chịu đựng những đêm mưa bão dột nát, và chết dần chết mòn trong sự cô độc tàn nhẫn bên cạnh chiếc bếp lò nguội lạnh này.

Nước mắt My trào ra, nóng hổi và mặn chát lăn dài trên đôi gò má buốt lạnh. Cô đưa tay bưng lấy mặt, cố nén lại những tiếng nấc nghẹn ngào đang chực vỡ òa ra khỏi lồng ngực.

Không khí xung quanh quá đỗi lạnh lẽo. Bóng tối dày đặc như muốn nuốt chửng lấy cô. My cảm thấy mình không thể chịu đựng nổi sự lạnh lẽo đến rợn người của gian bếp này thêm một giây phút nào nữa. Cô muốn có một đốm lửa. Cô thèm khát nhìn thấy một ánh lửa bập bùng, dù chỉ là một ánh lửa nhỏ nhoi từ chiếc đèn dầu cũ kỹ, để xua tan đi cái rét mướt và sự ma quái của sự tàn lụi đang bao vây lấy mình.

My gạt nước mắt, quờ quạng đưa bàn tay run rẩy lên bệ bếp bằng gạch thẻ, lần mò tìm kiếm chiếc hộp diêm. Cô nhớ như in thói quen suốt mấy chục năm của bà Lành: bà luôn có một kẽ gạch hở nằm sát ngay chân cây đèn dầu, nơi bà luôn cẩn thận nhét chiếc hộp diêm Thống Nhất bọc trong một mảnh bao ni lông nhỏ để chống ẩm.

Bàn tay cô chạm phải lớp bụi tro mịn màng và lạnh toát trên mặt bệ. Cô chạm vào mép chiếc đèn dầu thủy tinh cáu bẩn, sờ nắn dọc theo kẽ gạch nứt nẻ. Nhưng khe gạch ấy trống không. Chiếc hộp diêm không có ở đó.

Sự bồn chồn, sốt ruột và tuyệt vọng khiến My mất kiên nhẫn. Cô bước lùi lại một bước, định cúi người xuống để tìm kiếm ở ngăn gỗ dưới đáy của chiếc chạn bát ọp ẹp — nơi bà thường cất giữ những vật dụng linh tinh chưa dùng tới.

Thế nhưng, trong bóng tối lờ nhờ của gian bếp, gót chân trần của cô bất ngờ giẫm mạnh phải một vật gì đó cộm lên, kênh kẹp ngay dưới chân trụ bên phải của đáy kệ chạn bát gỗ.

*Khực!*

Một âm thanh khô khốc, gãy gọn vang lên từ khớp gỗ mục nát dưới chân chạn, báo hiệu sự xô lệch nguy hiểm của cấu trúc đã mục ruỗng. Chiếc chạn bát già nua rung chuyển dữ dội, nghiêng hẳn sang một bên. Những chiếc bát sành, đĩa sứ cũ kỹ bên trong va đập vào nhau kêu lên những tiếng *lách cách, loảng xoảng* chói tai giữa đêm thanh vắng.

My giật mình hoảng hốt, vội vàng co chân lại để tránh bị đổ đè lên người. Cú giật thót khiến cô mất đà, suýt ngã nhào xuống nền đất nện ẩm ướt. Theo phản xạ tự nhiên, My chồm người tới, hai tay bám chặt lấy mép khung gỗ của chiếc chạn bát để giữ thăng bằng. Chiếc chạn kẽo kẹt rên rỉ dưới sức nặng của cô, rung rinh thêm vài nhịp rồi mới chịu đứng yên, tựa hẳn một bên hông vào vách đất nứt nẻ.

My thở dốc, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Cô đứng yên bất động trong vài giây để lắng nghe xem tiếng động vừa rồi có làm kinh động đến bố mẹ ở gian trên hay không. May thay, ngoài tiếng mưa rơi rả rích trên mái ngói và tiếng gió rít qua khe liếp, căn nhà rường vẫn chìm sâu trong giấc ngủ nặng nề.

Khi nhịp tim đã dần bình ổn trở lại, My cúi thấp người xuống, ngồi xổm trên nền đất lạnh ngắt để kiểm tra xem vật gì vừa làm mình vấp phải dưới gầm kệ.

Đúng lúc ấy, một luồng gió bấc từ ngoài sân thốc mạnh qua khe liếp mục nát, mang theo hơi mưa ẩm ướt thổi bạt vào gian bếp, làm lay động những mảng mạng nhện bám dày đặc dưới đáy chạn.

Dưới khoảng trống tối tăm, ẩm mốc bám đầy bụi tro và mạng nhện giữa đáy chạn bát gỗ và nền gạch, một góc phong bì bằng giấy xi măng dày cộp, buộc chặt chéo góc bằng một sợi chỉ đỏ đã ngả màu ố úa, vì cú va chạm làm nứt toác thanh gỗ đáy vừa rồi, bất ngờ tuột ra khỏi khe nứt của thớ gỗ mục, rơi cộp xuống mu bàn chân trần của cô.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn