Bức Tranh Thứ Mười BaC.8 / 32
Chương 8

Chỉ dẫn về thương cảng

Đáp chuyến bay sớm ra miền Trung rồi đi đường bộ về phố cổ Hội An trong cơn mưa rào bất chợt, Nam và Bảo Châu mang theo toàn bộ bản rập kỹ thuật số ba bức tranh đầu tiên của Trương Diệp để tiến hành đối chiếu thực địa.

Mặt đường nhựa quốc lộ loang loáng bốc lên làn hơi nồng ngái của đất cát bị nung nóng suốt những ngày oi ả trước khi vỡ òa dưới một trận giông nhiệt đới xối xả. Khi chiếc taxi cũ kỹ thả hai người xuống đầu một con ngõ lát gạch nghiêng dẫn thẳng ra bờ sông Hoài, mưa cũng vừa kịp tạnh hẳn. Những đám mây xám chì rách mép trôi dạt về phía biển Cửa Đại, để lại vòm trời một màu lam nhạt ẩm ướt như vừa được quét qua bởi một vạt chổi lông tơ nhúng đẫm nước. Những hạt nước cuối cùng rớt tí tách từ mép ngói âm dương phủ đầy rêu xanh sẫm, rỏ xuống mặt đường đá hẹp từng giọt đục ngầu bùn non.

Không khí phố cổ sau mưa không hẳn mát lạnh mà quánh lại trong một thứ ẩm độ đặc sệt, ngai ngái mùi phù sa sông Thu Bồn hòa lẫn hương trầm thoang thoảng phát ra từ các bàn thờ thiên trước hiên nhà cổ. Vài vạt tường vôi vàng truyền thống ngậm đẫm nước mưa sẫm lại thành màu đất hoàng thổ, làm nổi bật những mảng rêu phong đen thẫm loang lổ như những bức tranh thủy mặc vô danh được vẽ bằng thời gian.

Họ tìm được một căn phòng làm việc nhỏ nằm trên tầng hai của một căn nhà rường cổ ba gian hai chái được cải tạo thành xưởng sáng tác mỹ thuật cho thuê, chỉ cách mép nước sông Hoài vài chục bước chân. Không gian ở đây yên tĩnh đến mức có thể nghe rõ tiếng mái chèo khua nước bì bõm của những người chèo đò chở khách ngang sông, tiếng lách cách của những chiếc gáo dừa va vào mạn thuyền gõ nhịp, và tiếng gió ràn rạt lùa qua tán cây bàng cổ thụ bên bến nước.

Khung cửa sổ bằng gỗ lim để mở toang đón làn gió ẩm từ mặt nước thổi vào, soi rọi ánh sáng ban ngày khuếch tán đều đặn qua lớp sương mù mỏng manh vừa tan biến – thứ ánh sáng trung tính lý tưởng bậc nhất cho công việc phân tích sắc độ bề mặt mà không làm biến dạng cảm quan quang học, không có ánh nắng gắt trực xạ gây chói lóa hay bóng đổ cục bộ làm sai lệch độ chuyển màu tinh vi của chất liệu sơn ta.

Châu đặt chiếc vali chống sốc chuyên dụng bằng hợp kim nhôm lên chiếc bàn gỗ mít dài ở giữa phòng. Mặt bàn đã mòn vẹt ở các mép, bóng loáng dấu vết của những lớp dầu đánh bóng qua nhiều thế hệ thợ mộc. Đôi bàn tay cô thoăn thoắt bấm mở bốn khóa gài bằng thép, cẩn thận nhấc chiếc máy tính xách tay trạm đồ họa có màn hình cân màu chuẩn công nghiệp cùng bộ giá đỡ chống rung ra ngoài. Các khớp nối kim loại của giá đỡ vang lên những tiếng "tách" dứt khoát khi Châu khóa định vị góc nhìn.

Nam cắm chiếc ổ cứng di động bọc cao su chịu va đập chứa các tệp ảnh chụp đa phổ độ phân giải cực cao vào cổng kết nối tốc độ cao. Đó là những bản quét kỹ thuật số từng phần mười milimet mà anh và Châu đã nỗ lực số hóa từ bộ mười hai bức tranh gốc trong phòng triển lãm tại Sài Gòn trước khi luật sư Nguyễn Hoài Thu chính thức thực hiện lệnh niêm phong toàn diện theo thủ tục tố tụng dân sự.

— Báo cáo xác lập phạm vi kỹ thuật của chúng ta đã được gửi bảo đảm đến tay cô Võ Khánh Linh và luật sư Hoài Thu trưa nay rồi — Nam vừa mở máy vừa lên tiếng, giọng nói trầm tĩnh giữ cho không khí không bị cuốn theo sự căng thẳng cố hữu — Bằng việc phân định ranh giới rõ ràng giữa các phép đo vật lý không can thiệp và những phỏng đoán về quyền tác giả, chúng ta đã tước đi lý do để Phạm Đức Lâm tiếp tục dùng truyền thông bôi nhọ quy trình. Nhưng Lâm và mạng lưới Lam Thành sẽ không dừng lại. Hắn thừa hiểu nếu không hợp thức hóa được xuất xứ thương mại của từng bức riêng lẻ, hắn sẽ không thể xé lẻ bộ tranh để cứu vãn các khoản nợ của Khang.

Châu kéo chiếc ghế gỗ lại gần bàn, kéo sát màn hình về phía mình. Tiếng quạt tản nhiệt của cỗ máy đồ họa phát ra một tiếng rù êm ái, rồi màn hình chuẩn màu bừng sáng với dải màu rộng phủ trọn phổ Adobe RGB. Màn hình tự động chia làm ba khung hình độc lập có độ phân giải 8K, hiển thị tuần tự ba bức tranh đầu tiên trong bộ mười hai bức kiệt tác của Trương Diệp.

Theo danh mục lưu trữ chính thức mà phòng tranh gia đình công bố suốt ba thập niên qua, ba bức tranh này được đánh số thứ tự từ 1 đến 3. Bức thứ nhất mang tên *Khởi sinh*, vẽ cảnh bến thuyền buổi sớm với những cánh buồm nâu sẫm nhấp nhô trên sóng bạc, mặt nước được tả bằng những lớp then đen sâu thẳm lót bạc quỳ mờ ảo; bức thứ hai mang tên *Phố rêu*, tập trung vào những mái nhà cổ lô xô, những mảng tường vôi vàng nứt nẻ và ngõ hẹp thâm nghiêm dưới bóng nắng rát bỏng; bức thứ ba mang tên *Thương cảng*, khắc họa cảnh buôn bán tấp nập với những kiện hàng, thúng mủng và những bóng người đổ dài dưới ánh hoàng hôn rực rỡ bên mạn thuyền lớn.

Cả ba bức đều được thực hiện trên vóc gỗ phủ sơn then truyền thống, kết hợp cẩn vỏ trứng vịt, dát bạc quỳ, thếp vàng quỳ và phủ nhiều lớp sơn cánh gián mài nước tinh xảo – một quy trình đòi hỏi hàng ngàn giờ lao động thủ công cực nhọc, trong đó mỗi lớp màu đọng lại dưới bề mặt bóng như gương là kết quả của sự hòa quyện giữa chất nhựa sống của cây sơn vùng trung du với các hạt khoáng chất tự nhiên.

— Suốt ba mươi năm qua, tất cả các nhà phê bình và các vựng tập đấu giá đều đọc ba bức tranh này như một trường ca tuyến tính miêu tả nhịp sống cảng thị từ bình minh đến hoàng hôn — Châu chỉ tay vào màn hình, hàng chân mày khẽ chau lại, nét mặt lộ rõ vẻ băn khoăn đã tích tụ từ nhiều ngày nghiên cứu hồ sơ — Cậu Khang thậm chí còn dùng lập luận đó để thuyết phục các nhà sưu tập rằng mỗi bức tranh là một lát cắt thời gian độc lập, có thể tách rời ra treo ở những tư gia khác nhau mà không làm mất đi tính toàn vẹn mỹ học. Họ biến bộ tam liên họa này thành ba tác phẩm thương mại độc lập, gán cho mỗi bức một ý niệm triết lý riêng để dễ bề định giá và bán lẻ trên sàn thứ cấp.

Nam không đáp ngay. Anh đứng lùi lại phía sau lưng Châu một bước, hai tay khoanh trước ngực, hai mắt nheo lại để tầm nhìn bao quát toàn bộ ba bố cục đặt cạnh nhau trong cùng một trường thị giác. Từ nhiều năm làm công tác giám định và phục chế cổ vật, Nam đã rèn luyện được một thói quen phản xạ: không bao giờ nhìn vào đối tượng được vẽ trước tiên, không bị phân tâm bởi câu chuyện hay biểu tượng bề nổi mà người họa sĩ phô bày, mà luôn nhìn vào cấu trúc hình học của ánh sáng, hướng đổ của các bóng tối nội tại và sự phân bổ năng lượng phản xạ của các lớp vật liệu chìm dưới bề mặt mài.

— Phóng to vùng chuyển tiếp giữa bầu trời và mặt nước của cả ba bức lên bốn trăm phần trăm cho tôi — Nam yêu cầu, giọng anh hơi chùng xuống, mang theo âm hưởng đanh thép của một nhà phân tích quang học.

Châu rê chuột, nhấn tổ hợp phím tắt đồng bộ hóa tỉ lệ hiển thị. Ba hình ảnh phóng lớn lập tức bung ra trên màn hình, hiện rõ từng thớ sợi vi mô của kỹ thuật sơn mài đỉnh cao. Dưới độ phóng đại này, những mảng màu tưởng chừng đồng nhất ở khoảng cách nhìn bằng mắt thường bắt đầu vỡ ra thành hàng ngàn mảnh vỏ trứng vịt nhỏ li ti. Mỗi mảnh được đập vụn thủ công, dán dính vào lớp sơn sống ẩm bằng một sự kiên nhẫn phi thường, rồi dùng đá mài thô, đá mài mịn nhẵn thấu qua lớp son cánh gián để lộ ra những đường rạn mạng nhện màu then đen huyền ảo. Các hạt bạc quỳ bên dưới lớp cánh gián phát ra một thứ ánh sáng lân tinh lung linh như đáy nước mùa thu.

Quan sát các mảng khảm vỏ trứng và ánh sắc son vàng, Nam nhận thấy sự bất đối xứng kỳ lạ: các mảng sáng tối và đường chân trời ở ba bức tranh dường như đảo nghịch nhau nếu xếp theo thứ tự số thứ tự 1-2-3 thông thường của danh mục trưng bày.

— Hãy nhìn vào đường chân trời của bức số một — Nam lấy một chiếc bút trỏ laser trên bàn, bấm nút, hướng luồng sáng đỏ rực rỡ vào mép ngang ước lệ của bức *Khởi sinh* — Đường chân trời nằm ở một phần ba phía dưới khung tranh, tạo ra một không gian bầu trời khoáng đạt chiếm trọn hai phần ba diện tích phía trên. Ánh sáng vàng quỳ chiếu xiên từ góc trên bên phải xuống, đổ bóng của những cánh buồm chéo sang bên trái. Hướng chiếu nắng này hoàn toàn tương thích với góc tám giờ ba mươi sáng mà chúng ta đã giải mã từ vết khắc mũi tên trên khung gỗ ở Sài Gòn.

Anh dịch chuyển chùm sáng laser sang bức số hai, bức *Phố rêu*:

— Nhưng hãy nhìn sang bức thứ hai xem. Đường chân trời bị triệt tiêu hoàn toàn bởi khối kiến trúc tường vôi, điều đó không có gì lạ đối với một bức tranh vẽ ngõ phố. Nhưng hãy nhìn mảng sáng chính: mảng khảm vỏ trứng dày đặc nhất thể hiện ánh nắng gắt trên mái ngói lại tập trung ở góc dưới bên trái, và bóng đổ của các mái hiên, các gờ chỉ nề ngoã lại nghiêng chếch về phía bên phải. Nguồn sáng đã đổi trục gần một trăm tám mươi độ. Ánh sáng này không phải là ánh nắng giữa trưa tiếp nối của buổi sáng, mà là một nguồn quang năng tạt ngang từ phương tây nam.

— Còn bức số ba? — Châu nín thở, ánh mắt cô dán chặt theo đầu bút laser của Nam khi luồng sáng đỏ lướt qua bức *Thương cảng*.

— Bức số ba, đường chân trời lại bất ngờ nhảy vọt lên sát mép trên cùng của khung tranh, chỉ chừa lại một dải son đỏ mỏng manh biểu thị ráng chiều — Nam trầm ngâm phân tích, giọng nói đanh lại từng chữ, từng luận điểm logic được bóc tách rõ ràng — Nếu xếp theo thứ tự 1, 2, 3 tuyến tính như người ta vẫn treo suốt ba thập kỷ, người xem sẽ thấy một nhịp điệu thị giác vô cùng lộn xộn: ánh sáng ban mai từ bên phải tạt qua, bỗng nhiên bị giật ngược sang bên trái ở bức thứ hai, rồi lại tụt sụp xuống lòng sông ở bức thứ ba với một góc nhìn từ trên cao chúi xuống. Trương Diệp là một bậc thầy về bố cục sơn mài cổ điển, ông hấp thụ nền tảng tạo hình nghiêm cẩn của Trường Mỹ thuật Đông Dương kết hợp với cấu trúc không gian ước lệ phương Đông. Ông tuyệt đối không bao giờ mắc một lỗi phối cảnh sơ đẳng và bất đối xứng thô bạo như thế này trong một bộ tranh tam liên họa dự định ghép liền dải.

Châu chớp mắt, các ngón tay cô siết chặt lại trên mép bàn gỗ mít, gân tay hằn lên dưới làn da trắng mịn:

— Ý anh là... thứ tự trưng bày từ trước đến nay là một thứ tự ngụy tạo?

— Không hẳn là ngụy tạo vô căn cứ, mà có thể là một thứ tự được sắp đặt có chủ ý để giấu đi một trục liên kết ngầm — Nam giải thích, mắt anh vẫn không rời khỏi màn hình, nơi các đường phân giải đa phổ đang phơi bày cấu trúc ẩn giấu — Một khi người ta đảo lộn vị trí các tấm vóc, đường dẫn mắt của người xem sẽ bị bẻ gãy, và những mật mã hình học nằm ở các đường biên tiếp giáp sẽ không bao giờ có cơ hội ăn khớp với nhau. Hãy nhìn kỹ lớp vỏ trứng cẩn ở nền bức *Phố rêu*. Cô có nhận thấy độ dày của các mảnh vỏ trứng ở ba bức tranh có sự chênh lệch rất lớn không?

Châu kéo thanh công cụ đo đạc kỹ thuật số trên phần mềm chuyên dụng, kích hoạt thước đo vi mô đã được chuẩn hóa theo độ phân giải cảm biến. Dưới thang đo hiển vi hiển thị trên góc màn hình, độ dày của các mảnh vỏ trứng trên bức số một dao động từ 0,35 đến 0,40 milimet, mép vỡ tự nhiên có xu hướng vát xiên, để lộ lớp màng canxi bên trong xốp và bắt màu son rất đượm.

Sang bức số hai, lớp vỏ trứng mỏng hơn rõ rệt, chỉ khoảng 0,25 milimet, các mảnh được tán mịn như bột tuyết, tạo nên độ chuyển sắc mờ ảo của bức tường vôi rêu phong dưới nắng gắt. Nhưng đến bức số ba, lớp vỏ trứng lại trở nên dày sượng bất thường ở các mảng mô tả bờ đá thương cảng, có những mảnh dày tới gần 0,50 milimet, đường nứt to và thô, các góc cạnh vỡ vụn dứt khoát như bị ghè bằng búa nhỏ.

— Đây không phải là cùng một mẻ vỏ trứng — Châu thốt lên với trực giác nhạy bén của một kỹ sư phục chế đã dành nhiều năm tiếp xúc với vật liệu truyền thống — Vỏ trứng vịt nuôi công nghiệp ngày nay có độ dày rất đồng đều do thức ăn gia súc có tỷ lệ khoáng chất cố định, bề mặt phẳng lì và giòn vụn. Nhưng vỏ trứng vịt thả đồng tự nhiên ven sông lại phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn thức ăn theo mùa. Mùa xuân, phù sa bồi đắp nhiều ốc, tép mương, vỏ trứng đẻ đợt đầu luôn dày và xốp hơn, lớp canxi có cấu trúc vi mô dạng tổ ong ngậm được nhiều lớp sơn cánh gián khi mài chìm. Đến cuối mùa hè, khi vịt chạy đồng ăn lúa mót trên các cánh đồng khô hạn, vỏ trứng mỏng hơn nhiều và lớp màng vôi dai hơn. Người làm vóc sơn mài thời bao cấp phải thu gom từng mẻ nhỏ từ các lò ấp, phân loại cực kỳ khắt khe theo từng độ dày mỏng để tạo ra hiệu ứng nổi khối và tương phản chiều sâu khi mài nước.

— Và tờ hóa đơn năm 1984 mà cô tìm thấy dưới tầng hầm chính là chìa khóa — Nam gật đầu, trong mắt anh lóe lên tia nhìn sắc sảo — Tờ hóa đơn ghi rõ: xuất 50 hộc vỏ trứng vịt thả đồng Thu Bồn cho 'xưởng A.-D.' để chuẩn bị vóc cho ba bức đầu tiên. Đó là một chứng từ thu mua vật liệu thô. Để biến 50 hộc vỏ trứng sống đó thành những mảng cẩn hoàn mỹ trên ba tấm vóc lớn khổ trên hai mét, người ta không thể làm ở một căn phòng khách sang trọng tại Sài Gòn hay Hà Nội. Họ phải có một xưởng sơ chế đặt ngay tại nguồn: nơi có bến sông để rửa trôi phù sa và tạp chất hữu cơ, có lò ủ vôi tôi để ngâm bóc màng trong suốt nhiều tuần lễ, và có những giàn sấy khô tự nhiên tránh gió cát miền Trung mang theo bụi bẩn làm hỏng mặt sơn ướt.

Nam với tay lấy tập tài liệu mỏng đóng bìa cứng màu xám mà anh luôn mang theo bên mình trong chiếc cặp táp chống thấm. Bên trong là bản sao scan màu tỉ lệ 1:1 của tờ hóa đơn đề ngày 14 tháng 4 năm 1984, được bảo quản cẩn thận trong túi nhựa mylar chống tĩnh điện.

Địa chỉ ghi trên dòng tiêu đề in bằng con chữ chì thô sơ của thời bao cấp hiện lên rõ mồn một, mực in màu tím than đã ngả sang sắc nâu gỉ sắt: *“Cơ sở thu mua & sơ chế lâm thổ sản ven sông Hoài, Đội 3 bến đò Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng”*.

— Cẩm Phô — Châu đọc thầm địa danh, ngón tay cô lướt trên bản đồ địa chính cũ của thị xã Hội An trải trên bàn — Đó là khu vực nằm chếch về phía thượng lưu sông Hoài, cách Chùa Cầu khoảng hơn một cây số. Khu vực đó trước đây vốn tập trung nhiều nhà kho cũ chứa nông sản, lâm thổ sản và bến bốc dỡ thuyền nan từ thượng nguồn Thu Bồn đổ về. Sau khi đường bộ phát triển và các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp thời bao cấp giải thể, vùng đó dần bị bỏ hoang hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng.

— Chúng ta đi thôi — Nam dứt khoát gấp máy tính lại, cẩn thận khóa nẹp các cổng giao tiếp và cho vào túi chống sốc — Chúng ta cần phải xem cơ sở sơ chế đó còn lại những gì sau bốn mươi năm. Nếu xưởng A.-D. từng gom vỏ trứng và làm vóc ở đó, mảnh đất ấy chắc chắn còn lưu giữ những dấu vết vật chất không thể chối cãi. Vật liệu không bao giờ nói dối, ngay cả khi giấy tờ lưu trữ bị con người cố tình tiêu hủy hay sửa chữa.

Hai người rời khỏi căn phòng làm việc trên tầng hai, bước xuống cầu thang gỗ hẹp vang lên tiếng cọt kẹt quen thuộc của những ngôi nhà cổ xứ Quảng. Ra khỏi ngõ nhỏ, họ rảo bước men theo con đường gạch dọc bờ sông Hoài. Sau cơn mưa giông nhiệt đới, dòng sông cuộn chảy êm đềm hơn nhưng màu nước vẫn đỏ quạch một màu phù sa đặc quánh, cuộn theo những đám bèo lục bình trôi dạt ra phía cửa biển.

Dọc triền sông, những hàng cây lộc vừng và sung cổ thụ rủ cành lá ướt sũng xuống sát mặt nước, từng giọt mưa đọng lại trên tán lá thỉnh thoảng lại rơi lộp độp xuống dòng nước đục ngầu. Rời xa khu vực trung tâm phố cổ với những dãy hàng quán cà phê lung linh, những cửa hàng lưu niệm rực rỡ lồng đèn lụa và những đoàn khách du lịch tản bộ chụp ảnh, khung cảnh dần chùng xuống trong một vẻ hoang sơ, tịch mịch của một đô thị cảng xưa cũ từng một thời vang bóng.

Đường đi hẹp dần, từ mặt đường lát đá hoa cương chẻ của khu phố cổ chuyển sang đường đất nện lẫn cát phù sa và vô số mảnh vỏ sò, vỏ hến vụn vỡ lạo xạo dưới đế giày. Hai bên đường xuất hiện những bức tường gạch vồ rêu phong cao ngất ngưởng của các dãy nhà kho cổ, nơi từng là chốn giao thương sầm uất của các bang hội người Hoa, người Nhật và các thương nhân Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước.

Mùi ẩm mốc của gỗ mục ngâm nước lũ lâu ngày, mùi rêu ẩm bám chặt vào vôi vữa nứt nẻ và mùi ngai ngái nồng nàn của nước sông mùa mưa lũ tạo nên một bầu không khí hoài niệm trầm mặc, đặc quánh chất lịch sử.

Theo địa chỉ ghi trên tờ hóa đơn cũ từ thập niên 80, hai người tìm đến một dãy nhà kho cổ ven sông Hoài từng thuộc sở hữu của một gia đình chuyên cung ứng sơn sống, then mộc và vỏ trứng vịt thả đồng cho các xưởng thủ công mỹ nghệ khắp vùng duyên hải.

Đó là một cụm kiến trúc gồm ba gian nhà kho lớn xây bằng gạch chỉ đỏ nung thủ công, loại gạch dày và đanh của các lò gốm cổ ven sông Thu Bồn, mái lợp ngói âm dương võng xuống như lưng một con trâu già nằm nghỉ bên triền nước. Dãy kho nằm lùi sâu vào một khoảng sân rộng rải đầy sỏi vụn và cỏ dại, bao quanh bởi một hàng rào dâm bụt cằn cỗi đan xen với những cọc rào bằng gỗ kiền kiền đã đen sì vì ngâm qua hàng chục mùa nước lũ dâng ngập bờ.

Gian nhà kho chính nằm ở vị trí trung tâm, có cửa ra vào rộng lớn bằng hai cánh gỗ lim dày cộp, then cài bằng chốt sắt rỉ sét to bằng cổ tay trẻ con, các bản lề bằng sắt rèn thủ công đã bị oxy hóa đóng vảy dày cộp.

Nam dừng chân trước cổng vào khoảng sân, ánh mắt anh quét nhanh qua địa hình xung quanh với sự thận trọng bản năng. Vị trí này có một bến tam cấp bằng đá xanh dẫn thẳng xuống mép nước sông Hoài, nơi các thuyền chở hàng đáy bằng có thể dễ dàng cập mạn bốc dỡ nguyên liệu thô trực tiếp từ sông mà không phải trung chuyển qua đường bộ chật hẹp của phố cổ. Trên mặt đất ẩm ướt mọc đầy cỏ dại và rêu nhớt, nhưng Nam tinh ý nhận thấy một vài vệt bùn mới bị xới lên, dấu vết của những vết giày có đế rãnh sâu in lờ mờ cạnh bến đá xanh.

— Có người đã đến đây trước chúng ta không lâu — Nam nói nhỏ, anh ngồi thụp xuống một gối, chỉ tay xuống vệt bùn còn chưa kịp ráo nước hoàn toàn. Lớp bùn non bị nén lún xuống sâu gần một phân, mép vết giẫm còn đọng những giọt nước mưa chưa kịp ngấm hết vào lòng đất cát.

Châu nhìn theo hướng tay anh, nét mặt cô đanh lại, đôi mắt mở to đầy âu lo:

— Lâm... hay là Người Giữ Bóng?

— Chưa thể khẳng định được — Nam đáp, giọng cảnh giác, mắt anh quét dọc theo bờ rào dâm bụt hướng ra phía con đường mòn — Nhưng bước chân này rất dứt khoát, sải chân dài và trọng lượng dồn mạnh về phía mũi chân. Người này di chuyển rất nhanh, mang giày da đế cao su định hình của loại giày công sở đắt tiền. Người này dứt khoát không phải khách du lịch đi dạo hay người dân địa phương đi thả lưới ven sông.

Họ đứng dậy, cẩn thận bước qua khoảng sân sỏi tiến thẳng về phía cửa gian nhà kho chính, cố gắng không giẫm đè lên các dấu vết lạ trên mặt đất. Trên cây cột cái bằng gỗ kiền kiền ở góc hiên nhà kho, một tấm biển hiệu bằng gỗ mục treo nghiêng ngả bằng hai sợi dây kẽm đã rỉ vụn từng đoạn. Gỗ của tấm biển bị thời gian, nắng nung và mưa lũ xứ nhiệt đới bào mòn đến mức bề mặt lồi lõm những đường vân gỗ xơ xác, lớp sơn then đen nguyên bản đã bong tróc từng mảng lớn như vảy cá khô.

Châu bước lên bậc thềm đá xanh rêu phủ trơn trượt. Cô cẩn thận đặt túi xách lên một gờ đá khô ráo, rút từ túi dụng cụ ra chiếc kính phóng đại chuyên dụng cầm tay có thước khắc quang học và một chiếc đèn rọi quang phổ hẹp bước sóng 365 nanomet. Cô bấm công tắc đèn, chiếu chùm sáng tím mờ ảo có tính chất huỳnh quang vào góc dưới bên phải của tấm biển hiệu gỗ mục.

Dưới ánh sáng cực tím, những phân tử hữu cơ còn sót lại của lớp mực in và chất keo dán từ bốn thập kỷ trước bắt đầu phát quang lờ mờ một màu lục nhạt. Dấu vết của một con dấu triện hình tròn đường kính khoảng năm centimet hiện rõ ra trên nền gỗ cháy sém, nổi bật giữa những thớ gỗ mục rỗng. Dù các nét chữ Hán thời thuộc Pháp và chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu giải phóng đã bị mờ nhạt do sự phân hủy của chất xenluloza, nhưng bố cục của dòng chữ tròn bao quanh và hình tượng một nhánh hoa tam giác cách điệu ở tâm con dấu vẫn có thể nhận diện được qua phản xạ quang học.

Châu lấy bản sao tờ hóa đơn năm 1984 từ tập tài liệu của Nam ra, đặt áp sát mép bề mặt gỗ mục. Tay cô hơi run lên vì một cảm giác chấn động tinh thần khi điều chỉnh tiêu cự kính phóng đại để đối chiếu từng chi tiết hình học của hai hình ảnh:

— Dấu triện đỏ đóng chìm trên tờ hóa đơn... vòng tròn ngoài có dòng chữ *“Hợp tác xã Tiểu thủ công nghiệp & Chế biến lâm sản Thu Bồn”*. Hoa văn ở giữa là ba bông lúa uốn cong quanh một chiếc bình gốm. Nam, anh nhìn đi! Nhìn kỹ vào góc bốn giờ này!

Nam nghiêng người lại gần, hơi thở của anh phả nhẹ lên mặt kính lúp. Dưới ánh sáng xiên của kính lúp và đèn cực tím, từng vết rạn chân chim trên con dấu giấy hoàn toàn khớp với những rãnh khắc còn sót lại trên thớ gỗ mục của tấm biển hiệu. Thậm chí, một vết mẻ vi mô hình bán nguyệt ở đường viền ngoài phía góc bốn giờ của con dấu triện đồng trên giấy cũng tìm thấy vết lồi tương ứng trên thớ gỗ kiền kiền – bằng chứng xác thực rằng cùng một con dấu pháp lý bằng kim loại đã được dùng để đóng lên cả tấm biển gỗ này lẫn tờ hóa đơn thu mua vỏ trứng cách đây tròn bốn mươi năm.

Châu đối chiếu dấu triện mờ trên hóa đơn với biển hiệu bằng gỗ mục của nhà kho, xác nhận đây chính là nơi Trương Diệp từng lưu trú dài ngày để chuẩn bị nguồn vật tư cho các tác phẩm khởi nghiệp.

— Chính là nơi này — Châu thì thầm, giọng nghẹn ngào vì xúc động, hai mắt cô ngấn nước — Không còn nghi ngờ gì nữa. Cơ sở này không chỉ cung cấp nguyên liệu thô đơn thuần cho Hội An, mà chính là nơi ông ngoại cháu đã chọn để đặt chân khi rời khỏi Hà Nội vào mùa xuân năm 1984. Đây chính là nơi ông bắt đầu những bước đi đầu tiên của bộ tranh mười hai bức, nơi những hạt cát phù sa và vỏ trứng đầu tiên được đưa vào tấm vóc.

— Và không phải ông đi một mình — Nam bổ sung, giọng anh trầm xuống đầy chiêm nghiệm. Ngón tay anh chạm nhẹ vào bức tường gạch vồ bên cạnh mép cửa, nơi có những rãnh khoét sâu vào vữa vôi — Nhìn vào các vết đục mộng gỗ trên khung cửa và vách gạch này xem. Đây là dấu vết của những chiếc giá phơi vóc sơn mài khổ lớn. Kỹ thuật gá vóc vào giàn phơi nghiêng góc bốn mươi lăm độ trong phòng kín có rèm che ẩm để tránh bụi cát ven sông là kỹ thuật độc quyền của làng Tương Bình Hiệp thuộc tỉnh Sông Bé cũ.

Anh chỉ vào một chốt nêm bằng tre già đã hóa thạch nằm kẹt trong hốc đá:

— Nghệ nhân sơn mài miền Bắc thời đó thường ủ vóc trong hầm đất ẩm đào sâu dưới lòng nhà hoặc che phủ bằng rơm ướt để duy trì độ ẩm tuyệt đối cho sơn ta khô tự nhiên. Nhưng ở vùng đất ven sông miền Trung đầy gió cát này, ủ hầm đất rất dễ bị nhiễm phèn và nấm mốc, còn phủ rơm thì bụi rơm sẽ bám chặt vào lớp sơn sống làm hỏng toàn bộ công sức mài. Chỉ có người thợ xuất thân từ Nam Bộ như bà Nguyễn An mới mang theo thói quen dùng giàn phơi nâng mép bằng chốt tre, điều chỉnh độ nghiêng theo hướng gió để tạo ra lớp màng oxy hóa hoàn hảo mà không một hạt bụi nào có thể bám vào bề mặt phẳng.

Cánh cửa gỗ lim nặng nề khẽ cọt kẹt phát ra tiếng rên rỉ khô khốc xé toạc không gian tĩnh lặng khi Nam thử dùng lực lòng bàn tay đẩy nhẹ vào bên trong. Cửa không hề bị khóa bằng ổ khóa cơ khí, chỉ được khép hờ bằng một đoạn dây xích sắt hoen rỉ lỏng lẻo móc tạm vào một cây đinh mười phân đóng nghiêng trên bậu cửa gỗ.

Bên trong nhà kho, không gian rộng thênh thang, sâu hun hút và tối mờ mờ. Mùi không khí bị giam hãm suốt nhiều năm lập tức ùa ra, đặc quánh và ngột ngạt. Ánh sáng ban ngày chỉ lọt qua được những khe hở nứt nẻ của các hàng ngói âm dương trên cao, tạo thành những luồng sáng hình nan quạt rực rỡ rọi xuyên qua lớp bụi lơ lửng, cắm thẳng xuống nền sàn lát gạch tàu phủ đầy bụi xám và vỏ trấu mục.

Mùi dầu trẩu, mùi hăng nồng ngai ngái của nhựa sơn sống đã khô hóa đá hàng chục năm qua hòa quyện với mùi ẩm mốc của phù sa bùn sông tạo nên một thứ không khí đậm đặc của lịch sử thủ công nghiệp một thời gian khó nhưng đầy kiêu hãnh.

Dọc theo bức tường hồi bên trái, hàng chục chiếc chum sành lớn da lươn tráng men nâu bóng vẫn còn xếp ngay ngắn thành hai hàng dài, miệng chum bịt kín bằng nhiều lớp vải nhựa vinyl mục nát buộc chặt bằng lạt tre già. Thời gian đã khiến những sợi lạt tre mủn ra, để lộ những mép vải bọc xơ xác. Trên mặt một số chum sành, người ta vẫn có thể đọc được những dòng chữ viết vội bằng sơn son đỏ pha dầu bóng đã ngả màu sẫm: *“Sơn then loại 1”*, *“Sơn gián nhì - Thu Bồn”*, *“Sơn hom phù sa”*, kèm theo những ký hiệu ghi ngày tháng của các năm 1983, 1984 và 1985.

— Những chiếc chum này dùng để lắng sơn — Châu thốt lên, bước chân cô rón rén như sợ làm kinh động đến sự tĩnh lặng thiêng liêng của quá khứ. Cô bước lại gần một chiếc chum sành vỡ một góc miệng, đeo đôi găng tay cotton bảo hộ rồi dùng đầu ngón tay quẹt nhẹ vào mảng bám màu đen kịt đóng cứng như đá tảng bên trong lòng chum — Nhựa cây sơn ta sau khi trích từ thân cây sơn Phú Thọ hay Quảng Nam mang về phải được đánh khuấy hàng trăm giờ bằng chèo gỗ mít để tách nước, rồi ủ trong chum sành này hàng tháng trời cho lắng cặn. Lớp sơn then đọng đáy ở đây có độ quánh cực cao, không lẫn một hạt tạp chất nào, chính là chất kết dính hoàn hảo nhất để cẩn vỏ trứng và dát bạc quỳ.

— Châu, lại đây xem cái này — Nam đứng ở gian trong cùng của nhà kho, nơi kê một chiếc bàn làm việc cũ kỹ bằng gỗ xoan đào đã bị mối mọt ăn nham nhở một góc chân, mặt bàn nghiêng chếch về phía bức vách đất.

Trên mặt bàn, bên cạnh một chiếc cân đĩa bằng đồng hoen rỉ mảng xanh, vài quả cân chì méo mó và một vài chiếc hộc gỗ đựng mẫu khoáng sản son đỏ, hoàng thổ đã khô cứng, là những chồng sổ sách khổ lớn đóng bằng chỉ gai thô sơ, bìa bọc giấy xi măng màu nâu sẫm. Đó là những cuốn sổ ghi chép xuất nhập vật tư từ thời kỳ quản lý kinh tế tập trung bao cấp. Giấy dó của các trang sổ đã ngả sang màu vàng sậm như da người già, giòn rụm và quăn queo ở bốn góc mép vì độ ẩm bốc lên từ mặt sông nước suốt mấy mươi mùa lũ quét.

Đúng lúc Nam định đưa bàn tay có đeo găng bảo hộ chạm vào mép cuốn sổ trên cùng, một tiếng tằng hắng khô khốc và sắc nhọn vang lên từ phía góc tối của gian kho phụ phía sau bức vách ngăn, kèm theo tiếng bước chân lê lẹt xẹt nặng nề trên nền gạch tàu:

— Ai đó? Ai cho các người tự tiện vào kho này?

Nam và Châu giật mình quay lại. Một người đàn ông luống tuổi bước ra từ sau bức vách ngăn bằng cót ép đan nong mốt đã rách nát nhiều chỗ. Ông trạc ngoài sáu mươi tuổi, vóc người quắt queo, gầy guộc nhưng gân guốc, nước da ngăm đen cháy nắng vì cả đời dầm dãi với gió cát và sóng nước miền Trung. Ông mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu cháo lòng sờn rách ở cổ áo và chiếc quần vải ka-ki bạc phếch, chân xỏ đôi dép nhựa Tiền Phong mòn vẹt gót. Đôi mắt ông đục mờ vì tuổi tác nhưng ánh nhìn lại sắc sảo, cảnh giác cao độ khi nhìn thấy hai người lạ mặt với trang phục hiện đại đang đứng giữa gian phòng chứa tài liệu lưu trữ cũ kỹ.

Nam lập tức thu tay lại khỏi mặt bàn, lùi một bước chừng mực ra phía sau để thể hiện sự tôn trọng không gian riêng tư của người quản lý, đồng thời giơ hai bàn tay trống ra phía trước ngang ngực:

— Chào bác. Xin lỗi vì đã đường đột vào đây khi chưa kịp thưa chuyện. Chúng cháu là chuyên viên nghiên cứu và phục chế mỹ thuật từ Sài Gòn ra. Cháu tên là Nam, còn đây là Bảo Châu, cháu ngoại của cố họa sĩ Trương Diệp.

Người đàn ông già sững sững lại một thoáng khi nghe đến cái tên *Trương Diệp*. Đồng tử trong đôi mắt đục của ông khẽ co thắt lại, ánh mắt dời chậm chạp từ Nam sang gương mặt của Bảo Châu. Ánh mắt ông dừng lại hồi lâu trên vầng trán thanh tú, đôi mắt sáng kiên định và chiếc sống mũi cao cương nghị của cô gái trẻ – những nét nhân trắc học dường như mang một bóng dáng quen thuộc nào đó trong ký ức xa xôi của ông.

— Trương Diệp à? — Giọng người đàn ông chùng xuống một chút, bớt đi vẻ gắt gỏng ban đầu nhưng sự phòng thủ cẩn trọng vẫn không hề tan biến — Họa sĩ Diệp mất rồi mà? Báo chí, đài đóm trên thành phố người ta đưa tin tang lễ rầm rộ cả tuần nay rồi. Cháu ngoại ông ấy đến cái nhà kho hoang phế ven sông ngập ngụa bùn đất này làm gì? Ở đây chẳng có tranh quý hay đồ cổ gì để bán đâu.

— Thưa bác — Châu bước lên một bước, giọng cô nhã nhặn, lễ phép nhưng đầy khẩn thiết, từng âm tiết vang lên trong vắt giữa không gian nhà kho tĩnh mịch — Gia đình cháu đang hoàn tất hồ sơ khoa học để bảo tồn di sản nghệ thuật của ông ngoại. Hiện tại bộ tranh mười hai bức của ông đang gặp phải một số tranh chấp pháp lý phức tạp về tính toàn vẹn và xuất xứ chế tác. Chúng cháu tìm được tờ hóa đơn xuất kho vỏ trứng năm 1984 do cơ sở này cấp cho ông cháu và xưởng của ông. Cháu muốn xin phép bác cho đối chiếu lại các chứng từ xuất nhập vật tư của năm đó để chứng minh nguồn gốc nguyên liệu của ba bức tranh đầu tiên. Đây là vấn đề danh dự của gia đình cháu.

Người đàn ông già thở dài một hơi nặng nhọc, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp áo mỏng. Ông tiến lại gần chiếc bàn gỗ xoan đào, rút từ túi áo ngực ra một bao thuốc lá Cẩm Lệ cũ nát, ngón tay run rẩy rút một điếu rồi quẹt que diêm châm lửa. Ngọn lửa vàng bốc lên soi rõ những nếp nhăn sâu hoắm như vết chém trên gương mặt khắc khổ của ông. Ông rít một hơi dài, nhả ra làn khói xanh mờ ảo bay lên, cuộn tròn quanh luồng sáng nan quạt rọi từ mái ngói xuống:

— Tôi là Huỳnh Bảy, đời thứ ba trông nom cái kho lâm thổ sản này cho hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, giờ hợp tác xã giải tán từ lâu thì tôi nhận trông coi tạm cho ủy ban phường để người ta khỏi vào cạy gạch, dỡ ngói bán ve chai — Ông Bảy nói chậm rãi, giọng đặc sệt thổ ngữ Quảng Nam với những từ ngữ mộc mạc — Chuyện ông Diệp lưu trú ở đây hồi năm 84 thì tôi biết rất rõ. Hồi đó tôi mới đôi mươi, thanh niên khỏe mạnh, theo cha tôi chèo thuyền nan đi gom vỏ trứng vịt từ các lò ấp bên Duy Xuyên, Điện Bàn chở ngược dòng sông về đây giao cho xưởng của ông ấy.

Ông Bảy gõ tàn thuốc vào một chiếc gạt tàn bằng vỏ ốc điệp lớn đặt trên mặt bàn, mắt nhìn vào khoảng không vô định như đang lần tìm lại những mảnh ký ức đã phủ bụi thời gian:

— Hồi đó cực lắm, làm gì có xe cộ như bây giờ. Ông Diệp không ở khách sạn ngoài phố đâu, ông ấy kê cái giường tre ngủ ngay tại gian chái bên kia. Ông ấy đi cùng một bà thợ người trong Nam, nghe đâu tên là An, bà An thợ sơn mài. Người phụ nữ ấy ít nói lắm, cả ngày chỉ lầm lũi bên cái lò vôi với giàn phơi vóc, nhưng tay nghề làm vóc thì cả cái vùng sông Thu Bồn này ai cũng phải nể sợ. Bà ấy nhìn qua vỏ trứng là biết con vịt đó ăn ốc đồng hay ăn cám gạo ngoài đồng trũng. Bà ấy cầm cái chày gỗ gõ nhẹ một tiếng, đập mảnh nào là mảnh đó vỡ vụn đều tăm tắp, mép vát xiên vừa khít thớ vóc gỗ lim. Không có bà An đó chế biến vóc và xử lý vỏ trứng thì ông Diệp không tài nào vẽ nổi những bức tranh lớn như thế giữa cái thời tiết ẩm ương, gió cát khắc nghiệt này đâu.

Trái tim Nam đập mạnh một nhịp trong lồng ngực. Từng lời xác nhận mộc mạc, không hề gọt giũa của người thủ kho già đã chứng thực một cách hoàn hảo cho sự hiện diện của Nguyễn An tại mảnh đất này bốn mươi năm trước. Đó không phải là một cộng sự vô danh hay một người phụ việc đơn thuần như những gì gia đình họ Trương và các vựng tập đấu giá cố tình mô tả, mà là người nắm giữ linh hồn kỹ thuật, người trực tiếp kiến tạo nên nền tảng vật chất cho toàn bộ bộ tranh.

— Vậy bác có thể cho chúng cháu xem cuốn sổ công xuất nhập kho của năm 1984 được không ạ? — Châu tha thiết hỏi, hai bàn tay cô đan chặt vào nhau trước ngực, ánh mắt rực sáng niềm hy vọng — Chỉ cần một dòng bút tích ghi nhận số lượng vỏ trứng và tên xưởng A.-D. được đối chiếu chéo trong sổ cái lưu trữ tại kho, chúng cháu có thể vô hiệu hóa toàn bộ các luận điểm xé lẻ bộ tranh của bên kia. Nó vô cùng quan trọng đối với di sản của ông cháu lúc này.

Ông Huỳnh Bảy lắc đầu, nét mặt già nua lộ rõ vẻ bực dọc, bất lực và bế tắc đến cùng cực:

— Các người đến muộn rồi.

— Sao cơ ạ? — Nam giật thót mình, một linh cảm xấu bất an ập đến bóp nghẹt lồng ngực.

Người quản lý nhà kho gõ mạnh tàn thuốc vào chiếc gạt tàn bằng vỏ ốc điệp phát ra tiếng cắc khô khốc, ánh mắt nhìn xoáy vào khoảng trống rỗng giữa những chồng sổ giấy dó ngả vàng trên mặt bàn gỗ xoan đào, rồi cất giọng khàn đặc:

— Hai ngày trước, có một người phụ nữ sang trọng từ Hà Nội bay vào, xưng là đại diện của quỹ sưu tập mỹ thuật gì đó. Bà ta đưa ra giấy giới thiệu của sở văn hóa cũ, trả cho tôi một món tiền lớn để lục tìm toàn bộ sổ sách giai đoạn 1983 đến 1986. Và sáng nay, trước khi các người đến đúng hai tiếng đồng hồ, có một người đàn ông đi xe biển số Đà Nẵng mang theo công văn có con dấu của một văn phòng thừa phát lại đến đây. Người quản lý nhà kho cho biết tập sổ xuất nhập vật tư giai đoạn Trương Diệp lưu trú vừa bị người khác yêu cầu niêm phong để sao chụp.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn