Bức Tranh Thứ Mười BaC.5 / 32
Chương 5

Khoảng trống camera

Nam cùng luật sư Thu quay lại phòng điều khiển an ninh của Phòng tranh Trương Diệp, quyết tâm truy quét nhật ký điện tử để tìm ra kẻ đã can thiệp vào hệ thống trong đêm bức tranh biến mất.

Căn phòng kỹ thuật nằm lọt thỏm dưới chân cầu thang dẫn xuống tầng bán hầm của khu biệt thự, nơi không khí luôn bị cô lập bởi cánh cửa chống cháy hai lớp bọc thép dày và tiếng vo ve trầm đục không bao giờ tắt của hệ thống quạt hút tản nhiệt. Mùi nhựa thông cháy dở, mùi dầu trẩu và bụi phấn vương lại từ xưởng vẽ phía trên hoàn toàn biến mất ở đây, nhường chỗ cho cái lạnh khô khốc, sắc lẹm của dàn máy lạnh công nghiệp duy trì liên tục ở mức mười tám độ C. Trên vách tường bê tông quét sơn chống ẩm xám xịt, hai tủ rack tiêu chuẩn mười chín inch chứa máy chủ lưu trữ, bộ chuyển mạch PoE và đầu ghi hình camera nhấp nháy những chấm đèn LED xanh lục, vàng hổ phách theo từng nhịp ghi dữ liệu vào ổ cứng. Tiếng kim loại co giãn lách tách dưới luồng gió lạnh buốt tạo nên một bầu không khí ngột ngạt, vô cảm, đối lập hoàn toàn với vẻ trầm mặc, cổ kính của gian nhà chính phía trên.

Bảo Châu bước vào sau cùng, khép hờ cánh cửa cách âm nặng trịch. Chốt khóa cơ học sập vào ngàm phát ra một tiếng *cạch* dứt khoát. Khuôn mặt cô vẫn còn vương nét căng thẳng sau bài báo bôi nhọ Nam vừa xuất hiện trên mạng internet ít phút trước, nhưng đôi mắt ánh lên vẻ sắc lạnh, dứt khoát của một người đã bị đẩy qua giới hạn của sự chịu đựng. Cô kéo hai chiếc ghế xoay bọc da nhân tạo đã sờn mép lại gần bàn điều khiển trung tâm, nơi đặt hai màn hình giám sát ba mươi hai inch chia ô ma trận hiển thị toàn bộ các góc chết trong và ngoài khu biệt thự, từ cổng sắt hoa sen phía trước cho đến lối thoát hiểm mở ra con hẻm rợp bóng cây sau lưng xưởng vẽ.

Luật sư Nguyễn Hoài Thu đặt chiếc cặp da cá sấu màu đen tuyền lên mặt bàn kim loại. Bà không vội vã bật màn hình ngay mà rút từ túi áo khoác một đôi găng tay sợi tĩnh điện mỏng màu trắng, cẩn thận xỏ vào từng ngón tay. Động tác của người phụ nữ làm luật này luôn chuẩn mực đến mức tàn nhẫn; từng hành vi đều tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc chuỗi bảo quản chứng cứ điện tử để bảo đảm mọi dữ liệu trích xuất ra đều giữ nguyên tính toàn vẹn và có giá trị tố tụng tuyệt đối trước tòa án hoặc hội đồng thừa kế.

“Hôm qua, khi chúng ta phát hiện bản sao thế chỗ trong hộp gỗ trắc, biên bản bàn giao chỉ mới ghi nhận hiện tượng gián đoạn tín hiệu hiển thị,” luật sư Thu vừa nói vừa cắm một chiếc USB chuyên dụng có khóa bảo mật phần cứng và thiết bị chống ghi dữ liệu ngược vào cổng kết nối phía trước máy chủ quản trị. “Đó là ghi nhận mang tính cơ học từ đầu ghi hình NVR. Đầu ghi chỉ biết báo mất hình ảnh khi luồng video truyền tải qua cáp đồng trục hoặc cáp mạng bị đứt đoạn. Nhưng bất kỳ hệ thống kiểm soát an ninh đa tầng nào sử dụng kiến trúc mạng nội bộ phân quyền cũng duy trì một tệp nhật ký hệ thống độc lập nằm sâu trong bộ nhớ flash của bảng điều khiển trung tâm. Tệp đó là nhật ký bất biến, ghi lại tất cả các lệnh can thiệp logic: từ ai đăng nhập, quyền hạn nào được kích hoạt, qua giao thức mạng nào, cho đến địa chỉ phần cứng cụ thể của thiết bị gửi lệnh.”

Nam đứng tựa mép bàn, hai cánh tay khoanh trước ngực, ánh mắt chăm chú dõi theo từng thao tác thuần thục của bà Thu trên bàn phím. Màn hình điều khiển nhấp nháy, giao diện dòng lệnh đen ngòm ban đầu nhường chỗ cho bảng quản trị phần mềm điều khiển tòa nhà thông minh với tông màu xanh xám lạnh lùng. Hàng ngàn dòng mã lệnh, địa chỉ IP, cổng giao tiếp và mã hàm hệ điều hành bắt đầu cuộn chạy với tốc độ chóng mặt, phản chiếu lấp loáng qua tròng kính của nữ luật sư.

“Anh Nam, anh nhớ chính xác khung giờ mất tín hiệu chứ?” Luật sư Thu hỏi, mắt không rời khỏi những con số đang nhảy múa trên màn hình.

“Không sai một giây,” Nam đáp, giọng trầm và dứt khoát. “Từ một giờ mười lăm phút đến đúng hai giờ sáng rạng ngày hôm qua. Đúng bốn mươi lăm phút. Đầu ghi camera của gian trưng bày chính và hành lang xưởng vẽ bị mất tín hiệu phần cứng trực tiếp, không có dữ liệu hình ảnh lưu trữ, nhưng nguồn điện tổng của tòa nhà không hề sụt giảm. Đèn chiếu sáng sân vườn và hệ thống làm mát trung tâm vẫn hoạt động liên tục. Điều đó chứng tỏ sự cố không xuất phát từ điện lực bên ngoài hay sập cầu dao tổng.”

“Đúng như dự đoán của tôi.” Ngón tay của luật sư Thu gõ mạnh vào phím Enter để thực thi lệnh lọc dữ liệu theo bộ lọc thời gian thực.

Một dải băng đỏ rực lập tức hiện lên trên màn hình, khoanh vùng chính xác mốc thời gian từ 01:15:02 đến 02:00:14. Bảng nhật ký sự kiện cấp thấp của bộ chuyển mạch trung tâm không hề ghi nhận bất kỳ sự cố chập điện hay đoản mạch nào từ các đầu nối ngoài trời. Thay vào đó, nó phơi bày toàn bộ một chuỗi thao tác có chủ đích được thực hiện từ bên trong hệ thống nội bộ.

Bảo Châu nín thở, ghé sát mắt vào bảng đối chiếu sự kiện. Hơi thở ấm của cô phả nhẹ lên gờ màn hình sắc lạnh.

Dưới cột *Tài khoản quản trị*, dòng chữ không hề hiển thị quyền mặc định của nhân viên kỹ thuật hay mã đăng nhập bảo trì của đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông. Thay vào đó, một chuỗi ký tự định danh rõ ràng đập thẳng vào mắt ba người:

`USER_ID: TM_KHANG_ADMIN` `IP: 192.168.1.105 (Thiết bị đầu cuối: Cổng mạng vật lý phòng làm việc tầng một)` `LỆNH: RELAY_PORT_04_POWER_OFF (Ngắt nguồn trực tiếp mô-đun cấp nguồn PoE cụm camera số 2 và số 3)` `THỜI GIAN KÍCH HOẠT: 01:15:02` `LỆNH KHÔI PHỤC: RELAY_PORT_04_POWER_ON` `THỜI GIAN KHÔI PHỤC: 02:00:14`

“Trương Minh Khang,” Bảo Châu thốt lên, thanh âm run rẩy nhưng chứa đầy phẫn uất. Cô lùi lại một bước, mu bàn tay áp chặt vào lồng ngực đang phập phồng dữ dội. “Chính là cậu Khang! Cậu ấy dùng chính tài khoản cá nhân được cấp để quản lý camera trong thời gian ông ngoại nằm viện!”

Luật sư Thu không biểu lộ cảm xúc ngạc nhiên, chỉ khẽ nhếch khóe môi thành một đường thẳng thừng, nghiêm nghị. Đôi mắt sắc sảo của bà nheo lại sau gọng kính titan, vẻ điềm tĩnh của một luật sư dày dạn kinh nghiệm đối mặt với những tranh chấp gia tộc bẩn thỉu nhất: “Tài khoản quản trị này được thiết lập vào tháng trước khi cụ Trương Diệp nhập viện cấp cứu. Khi đó, ông Khang viện lý do cần giám sát việc ra vào của người giúp việc và thợ chăm sóc cây cảnh để bảo vệ biệt thự, nên đã yêu cầu công ty lắp đặt tích hợp ứng dụng điều khiển rơ-le ngắt nguồn vào máy tính cá nhân của mình.”

Bà Thu nhanh chóng thao tác lệnh in báo cáo kiểm toán điện tử. Chiếc máy in laser đặt góc phòng rít lên ken két, trục lăn cao su kéo từng tờ giấy trắng tinh qua dàn nhiệt, nhả ra bốn trang tài liệu khổ A4 với đầy đủ mã băm SHA-256 xác thực tính toàn vẹn của tệp nhật ký cùng con dấu thời gian điện tử được đồng bộ từ máy chủ chuẩn quốc gia. Bà cầm tập tài liệu còn nóng hổi mùi mực in, dùng bút bi ký nháy vào từng trang, rồi quay sang Nam.

“Đây không còn là sự cố kỹ thuật ngẫu nhiên,” Thu nói, từng từ ngữ đanh lại như thép nguội. “Đây là hành vi can thiệp có chủ đích vào hệ thống kiểm soát tài sản đang chịu quy chế bảo quản nguyên trạng nghiêm ngặt trước ngày kiểm kê di sản. Tài khoản của ông Khang là tài khoản duy nhất được cấp quyền điều khiển các rơ-le ngắt mạch phần cứng từ xa ngoài tài khoản ủy thác của văn phòng luật sư chúng tôi. Về mặt pháp lý, đây là chứng cứ trực tiếp chứng minh ông Khang đã chủ động tạo ra khoảng mù an ninh kéo dài bốn mươi lăm phút tại hiện trường bảo quản bức tranh.”

Chưa đầy mười phút sau, tiếng bước chân nện gót da dồn dập vang lên từ hành lang cầu thang gỗ phía trên, rồi truyền xuống bậc đá tầng bán hầm. Cánh cửa chống cháy bị đẩy bật ra một cách thô bạo, va vào gờ chặn cao su phát ra tiếng động chát chúa.

Trương Minh Khang xộc vào phòng, chiếc áo sơ mi lụa đắt tiền mang nhãn hiệu Ý đã nhăn nhúm ở cổ áo, vạt áo bên hông xộc xệch bung khỏi thắt lưng da. Gương mặt người đàn ông trung niên vốn luôn giữ vẻ bảnh bao, ngạo mạn và chải chuốt giờ đây tái nhợt, những vệt mồ hôi nhờn dính bết lại nơi thái dương, làm lộ rõ những nếp nhăn sâu hoắm quanh khóe miệng. Ông ta vừa nhận được thông báo triệu tập khẩn cấp kèm bản tóm tắt pháp lý từ thư ký của luật sư Thu ngay khi đang cố gắng xoay xở liên lạc với các đối tác tín dụng bên ngoài phòng khách biệt thự.

“Bà Thu! Cô làm cái trò quái quỷ gì vậy?” Khang gầm lên, giọng khản đặc vì thiếu ngủ, hơi thở nặng mùi thuốc lá và sự tức tối bốc hỏa. “Tôi vừa bị ngân hàng thông báo đình chỉ toàn bộ hạn mức tín chấp vì văn phòng luật của cô gửi văn bản cảnh báo rủi ro tranh chấp tài sản thừa kế! Khoản nợ ba mươi tỷ đã quá hạn từ trưa hôm qua, chủ nợ đang ráo riết siết từng mảnh đất của tôi! Các người cấu kết với nhau muốn dồn tôi vào bước đường cùng à?”

Luật sư Thu không hề đứng dậy. Bà ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế xoay, hai tay đan vào nhau đặt trên mặt bàn kim loại lạnh ngắt, ánh mắt điềm tĩnh nhìn thẳng vào gương mặt đang giật giật vì kích động của người thừa kế trưởng gia tộc họ Trương.

“Ông Khang, ngồi xuống,” Thu nói bằng chất giọng trầm, phẳng lặng nhưng mang sức nặng của một vị thẩm phán tại phiên tòa sơ thẩm. “Trước khi ông lo lắng về món nợ cá nhân ba mươi tỷ đã quá hạn của mình tại các tổ chức tín dụng ngoài luồng, tôi khuyên ông nên nhìn vào văn bản này. Nó quyết định việc ông sẽ tiếp tục ngồi ở đây với tư cách một người thừa kế hợp pháp đang trong quá trình thương thảo phân chia tài sản, hay phải đến trình diện tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra để giải trình về hành vi thông đồng tẩu tán tài sản di sản có dấu hiệu vi phạm hình sự.”

Bà Thu trượt tập tài liệu vừa in về phía mép bàn đối diện với Khang. Tập giấy lướt nhẹ trên mặt thép trơn nhẵn, dừng lại ngay trước hai bàn tay đang run rẩy của ông ta.

Khang khựng lại, lồng ngực phập phồng như một con thú bị dồn vào góc lưới. Ánh mắt ông ta quét qua dòng chữ in hoa đậm nét ở trang đầu tiên: *BÁO CÁO TRÍCH XUẤT NHẬT KÝ KIỂM TOÁN HỆ THỐNG AN NINH – PHÒNG TRANH TRƯƠNG DIỆP*. Khi nhìn thấy chuỗi ký tự `USER_ID: TM_KHANG_ADMIN` cùng dấu thời gian rạng sáng hôm qua và lệnh ngắt rơ-le PoE cụm camera số 2 và số 3, đồng tử của Khang co thắt dữ dội. Miếng thịt ở khóe hàm ông ta giật liên hồi, mồ hôi từ trán rỉ ra, chảy dài xuống gò má rồi đọng lại ở cằm.

“Cái này… cái này là ngụy tạo!” Khang lắp bắp, lùi lại nửa bước, va lưng vào khung cửa thép. Ông ta cố gắng lấy lại vẻ hung hăng thường ngày nhưng giọng nói đã lạc hẳn đi, trở nên the thé và rời rạc. “Hệ thống máy chủ này do người ngoài cài đặt! Công nghệ bây giờ tinh vi lắm, ai mà chẳng có thể dùng máy tính từ xa để can thiệp, gán tên tôi vào để vu oan giáng họa? Tôi không biết gì về mấy cái mã lệnh này hết!”

“Đừng tự biến mình thành kẻ ngây thơ trước mặt những người hiểu luật và hiểu kỹ thuật, ông Khang,” Nam lên tiếng. Anh bước lên một bước, thân hình cao lớn của anh che khuất một phần ánh sáng vàng vọt từ ngọn đèn trần, tạo nên một cái bóng đổ sẫm màu trùm lên người Khang. Nam chỉ ngón tay vào dòng địa chỉ MAC và cổng vật lý được ghi nhận chi tiết trong báo cáo. “Lệnh ngắt nguồn rơ-le không hề đi qua mạng internet, không có bất kỳ kết nối VPN hay địa chỉ truy cập nào từ bên ngoài tường lửa của tòa nhà. Tín hiệu được gửi trực tiếp từ cổng cáp mạng số 3 trên tường phòng làm việc cá nhân của ông ở tầng một. Căn phòng đó có khóa vân tay riêng biệt và chỉ có duy nhất ông sử dụng máy tính bàn kết nối dây vào cổng mạng đó trong suốt đêm hôm kia. Người ngồi bấm lệnh lúc một giờ mười lăm phút sáng chính là ông.”

Bảo Châu khoanh tay trước ngực, từng ngón tay bấu chặt vào bắp tay để kiềm chế cơn giận đang trào dâng trong cổ họng. Ánh mắt cô nhìn người cậu ruột rực lửa căm phẫn: “Cậu đã đem bức tranh thứ mười ba đi đâu? Cậu cấu kết với Phạm Đức Lâm đưa bức tranh giả vào để lừa mọi người, để lấy tiền thế chấp đúng không? Ông ngoại vừa mới nhắm mắt, vong linh ông còn chưa thanh thản, mà cậu đã nỡ lòng đem tâm huyết cả đời của ông đi bán rẻ cho phường gian thương buôn tranh lậu?”

Bị dồn vào chân tường bởi những bằng chứng kỹ thuật không thể chối cãi và sức ép nghẹt thở từ ba phía, lớp vỏ bọc lịch thiệp, trịch thượng cuối cùng của Trương Minh Khang hoàn toàn vỡ vụn. Đôi chân ông ta dường như không còn đủ sức chống đỡ trọng lượng cơ thể; ông ta sụp xuống chiếc ghế xoay đối diện, hai bàn tay run rẩy ôm lấy đầu, mái tóc vuốt gel bóng lộn bị vò rối bù xù. Tiếng thở dốc của ông ta vang lên nặng nề, thảm hại giữa không gian lạnh ngắt của căn phòng điều khiển.

“Tôi… tôi không lấy bức tranh!” Khang ngẩng đầu lên, giọng khản đặc, trong hai hốc mắt vằn lên những tia máu đỏ lòm của một kẻ vừa nhận ra mình bị lừa vào một cái bẫy hoàn hảo không lối thoát. “Tôi thề có vong linh của ba tôi ở trên kia! Tôi không hề chạm vào bức tranh thật! Tôi không điên đến mức tự tay hủy hoại tài sản mà mình có phần thừa kế!”

“Trong bốn mươi lăm phút đó, ai đã vào xưởng vẽ? Ai đã mở két sắt? Nếu ông không nói thật, văn bản này cùng toàn bộ nhật ký mạng sẽ được chuyển giao trực tiếp cho cơ quan điều tra kinh tế nội trong chiều nay. Hành vi câu kết với người ngoài xâm phạm và đánh tráo tài sản di sản đang thuộc diện bảo quản đặc biệt có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án từ mười hai đến hai mươi năm tù.”

Hai chữ “tù tội” như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Trương Minh Khang. Ông ta run bắn lên, nuốt nước bọt khan ừng ực, cổ họng giật giật. Biết không thể che giấu thêm bất kỳ điều gì trước văn bản pháp lý đang mở ra trước mắt, ông ta bắt đầu khai nhận trong sự bẽ bàng và nhục nhã:

“Là… là Phạm Đức Lâm sắp xếp. Tất cả đều là do thằng Lâm bày ra!” Khang bám lấy mép bàn, hướng ánh mắt van lơn về phía luật sư Thu rồi lại nhìn sang Bảo Châu. “Đêm hôm đó, khoảng mười một giờ khuya, Lâm gọi điện cho tôi. Hắn bảo các đối tác cho vay tài chính tư nhân bên ngoài từ chối giải ngân khoản ba mươi tỷ nếu chưa được tận mắt nhìn thấy bức tranh thứ mười ba và đánh giá sơ bộ giá trị thực của nó. Lâm nói bên tài chính của hắn cực kỳ kín kẽ, họ là giới đầu tư ngầm, không đời nào tin vào những bức ảnh chụp qua màn hình điện thoại hay lời nói suông của tôi. Họ yêu cầu phải cử một chuyên gia giám định độc lập của riêng họ vào tận nơi xem trực tiếp hiện vật ngay trong đêm để xác nhận sự tồn tại của tác phẩm trước khi các bên ký hợp đồng bảo lãnh vào sáng hôm sau.”

Nam nheo mắt, lắng nghe từng chi tiết, ghi nhận từng biến chuyển cơ mặt của người đàn ông đang suy sụp: “Chuyên gia đó là ai? Lâm giới thiệu người đó thế nào?”

“Tôi không biết tên thật!” Khang vội vã phân trần, hai tay xua xua trong hoảng loạn, sợ rằng sự im lặng sẽ khiến Nam và Thu nghi ngờ mình tiếp tục bao che. “Lâm chỉ giới thiệu qua điện thoại rằng đó là một chuyên gia phục chế và giám định kỹ thuật ngầm có tiếng ở đất Sài Gòn này, làm việc độc lập cho mạng lưới Lam Thành. Lâm dặn tôi phải tắt camera ở cụm xưởng vẽ và hành lang tầng hầm trong vòng một tiếng để người đó vào mà không để lại hình ảnh trên hệ thống an ninh. Lâm bảo nếu để hình ảnh lọt vào camera, bà Thu sẽ phát hiện tôi tự ý dẫn người ngoài vào xem hiện vật trái với cam kết bảo quản trước kiểm kê của gia đình, và như thế thì hợp đồng bảo lãnh tín dụng sẽ đổ bể ngay lập tức.”

“Và ông đã ngoan ngoãn nghe theo như một con rối?” Châu gắt lên, hai mắt ầng ậng nước vì giận dữ. “Cậu biết rõ cam kết bảo quản nghiêm ngặt của văn phòng luật sư trước giờ mở niêm phong chì, biết rõ bức tranh đó quan trọng như thế nào đối với danh dự của gia đình!”

“Tôi bị dồn vào chân tường rồi, Châu à!” Khang rên rỉ, hai tay vò nát vạt áo sơ mi. “Mười hai giờ trưa hôm qua là hạn cuối cùng bên chủ nợ siết tài sản dự án bất động sản ở Thủ Thiêm của tôi! Không có ba mươi tỷ đó để đảo nợ ngân hàng, toàn bộ cổ phần, nhà cửa và tài sản tích cóp cả đời tôi đang tan tành theo mây khói! Tôi bị họ dọa siết nợ, dọa cho giang hồ đến tận nhà! Tôi chỉ nghĩ đơn giản là cho người ta vào xem tranh mười lăm phút rồi đi, đâu có mất mát gì! Đúng một giờ hai mươi phút sáng hôm đó, tôi mở cửa phụ dẫn người đó vào xưởng. Hắn mặc áo khoác sẫm màu có mũ trùm đầu, đội thêm một chiếc mũ lưỡi trai sụp xuống tận sống mũi, mang khẩu trang kín mít và xách theo một chiếc cặp đồ nghề kỹ thuật bằng nhôm màu bạc.”

“Hắn đã làm gì trong xưởng?” Nam hỏi dồn, giọng sắc bén như mũi khoan. “Từng hành động, từng bước di chuyển của hắn, ông nhớ được những gì?”

“Hắn… hắn bảo tôi đứng canh ở cửa hành lang bên ngoài xưởng để phòng có người nhà hoặc bà vú thức giấc,” Khang run rẩy nhớ lại, ánh mắt dại đi. “Tôi đưa chìa khóa cơ của xưởng cho hắn, còn mã két sắt thì… tôi đã mở sẵn từ trước khi dẫn hắn vào. Hắn bước vào trong đó một mình, đóng hờ cửa lại. Hắn ở trong đó khoảng hai mươi phút. Tôi đứng ngoài hành lang mà tim đập thình thịch, chỉ sợ có tiếng động lạ. Khi hắn bước ra, chiếc cặp nhôm vẫn đóng chặt như lúc vào. Hắn nói với tôi bằng một giọng rất khẽ, nghe hơi đục, rằng bề mặt vóc tranh có dấu hiệu mờ xỉn, kỹ thuật sơn lót rất phức tạp và cần thêm thời gian để đối chiếu với tài liệu lưu trữ của giới sưu tập nên chưa thể ra chứng thư định giá ngay trong đêm được. Hắn bảo sẽ về báo cáo lại với Phạm Đức Lâm để tìm phương án giải ngân khác. Sau đó hắn đi ra bằng cửa phụ và mất hút vào con hẻm phía sau!”

Khang giơ ba ngón tay lên trước ngực, giọng van lơn đến thảm hại, nước mắt bắt đầu rỉ ra từ khóe mắt đỏ ngầu:

“Tôi thề độc! Tôi thề bằng tính mạng của con tôi! Lúc hắn đi ra, tôi thấy hắn chỉ xách chiếc cặp đồ nghề y như lúc mới vào, tôi hoàn toàn không nghĩ hắn đã đánh tráo bức tranh! Tôi cứ đinh ninh bức tranh vẫn nằm nguyên vẹn trong hộp gỗ trắc trong két sắt! Cho đến sáng hôm qua, khi cậu Nam dùng đèn soi quang học và bảo bức tranh trong hộp là đồ giả mới làm, tôi mới bàng hoàng nhận ra mình đã bị gài bẫy! Phạm Đức Lâm… chính thằng khốn Phạm Đức Lâm đã dàn dựng tất cả để cướp bức tranh thật và đẩy tôi vào thế chịu tội thay!”

Không khí trong phòng máy chủ chìm vào im lặng. Tiếng quạt tản nhiệt của tủ rack lại vo ve đều đặn, thổi luồng gió lạnh buốt qua gáy ba người.

Nam nhìn chằm chằm vào nét mặt run rẩy, xám xịt của Khang. Bằng kinh nghiệm tiếp xúc với hàng chục vụ tranh chấp và gian lận cổ vật suốt nhiều năm trong nghề giám định, anh nhận ra sự hoảng loạn tột độ này là thật. Trương Minh Khang là một kẻ tham lam, liều lĩnh, thiển cận và cơ hội, nhưng ông ta không đủ trình độ chuyên môn để phân biệt vóc sơn mài thật giả, càng không đủ độ tinh vi để tự tay tổ chức một vụ tráo tranh bằng bản sao kỹ thuật dùng đúng loại bạc lá công nghiệp và vệt dao gọt vóc thép nhíp xe lửa. Khang chỉ là một con tốt thí bị lòng tham và món nợ ba mươi tỷ làm mờ mắt, bị Phạm Đức Lâm thao túng tâm lý để tự tay mở toang cánh cửa phòng tuyến an ninh cho kẻ trộm bước vào.

“Chiếc cặp nhôm của kẻ đó,” Nam chậm rãi lên tiếng, phá vỡ sự im lặng ngột ngạt. “Kích thước của nó thế nào? Hãy miêu tả thật chính xác.”

Khang chớp mắt liên tục, cố lục tìm trong ký ức đang hỗn loạn: “Nó… nó dày khoảng mười lăm phân, dài khoảng năm mươi phân, rộng tầm bốn mươi phân. Loại cặp chống va đập bằng nhôm xước có viền cao su đen ở các góc, có hai khóa lẫy kim loại mà cánh kỹ sư địa chất hoặc kỹ thuật viên phục chế hay dùng để đựng thiết bị quang học.”

Nam khẽ gật đầu với Bảo Châu. Ánh mắt hai người chạm nhau trong một thoáng hiểu ý. Kích thước đó hoàn toàn đủ rộng và sâu để chứa một tấm vóc ba mươi nhân bốn mươi centimet kèm theo các lớp đệm mút chống sốc và xốp định hình. Kẻ đột nhập đã mang bản sao vào ngay trong chiếc cặp đó, tháo bức tranh thật ra khỏi hộp gỗ trắc, nhét bản sao vào thế chỗ, rồi ung dung mang bức tranh thật rời đi ngay trước mũi Trương Minh Khang mà ông ta không hề hay biết.

“Biên bản lời khai này sẽ được lập ngay tại đây, bằng văn bản có chữ ký của tất cả các bên có mặt,” luật sư Thu lạnh lùng tuyên bố, kéo tập giấy trắng ra trước mặt và tháo nắp bút mực. “Ông Khang, ông sẽ phải ký xác nhận toàn bộ hành vi tự ý ngắt camera an ninh và mở cửa đưa người lạ vào khu vực bảo quản hiện vật trước giờ kiểm kê. Văn bản này sẽ được nộp cho Hội đồng thừa kế và tạm thời lưu giữ dưới quyền giám sát của tôi. Nếu ông có bất kỳ hành vi cản trở cuộc điều tra nào tiếp theo, hoặc cố tình liên lạc để báo động cho Phạm Đức Lâm, tôi sẽ lập tức chuyển toàn bộ hồ sơ này sang cơ quan công an mà không cần thông qua cuộc họp gia đình.”

Khang cúi gầm mặt, bờ vai rũ xuống thảm hại như một kẻ đã mất hết sinh khí, gật đầu lia lịa trong nỗi tuyệt vọng cay đắng: “Tôi ký… tôi xin ký. Miễn là các người tìm lại được bức tranh… đừng để tôi phải đi tù…”

Trong khi luật sư Thu bắt đầu ghi chép lời khai chi tiết của Khang từng mốc thời gian một, Nam khẽ ra hiệu cho Bảo Châu. Hai người lặng lẽ rời khỏi phòng máy chủ lạnh lẽo, đẩy cánh cửa chống cháy bước ngược lên cầu thang dẫn về khu xưởng vẽ ở tầng trệt.

“Anh tin lời cậu Khang chứ?” Bảo Châu hỏi khẽ khi bước đi bên cạnh Nam dọc theo hành lang vắng lặng. Tiếng bước chân của họ vang lên trầm đục trên nền gạch bông cổ.

“Khang không nói dối về việc bị lừa,” Nam đáp, ánh mắt quét chậm rãi dọc theo chân tường hành lang lát gạch bông cũ. “Sự sợ hãi khi đối mặt với nguy cơ tù tội của một kẻ như Khang là phản xạ sinh học không thể diễn xuất. Khang quá nôn nóng vì món nợ ba mươi tỷ nên đã trở thành công cụ hoàn hảo cho kẻ khác lợi dụng. Nhưng lời khai của ông ta cho chúng ta hai dữ kiện thực địa vô cùng then chốt: thứ nhất, kẻ trực tiếp tráo tranh không phải là Phạm Đức Lâm—Lâm là kẻ đứng sau chỉ đạo và điều phối thị trường, hắn sẽ không bao giờ mạo hiểm xuất hiện trực tiếp tại hiện trường; kẻ thực hiện là một chuyên gia kỹ thuật có tay nghề cao do Lâm điều động. Thứ hai, người đó đi vào và đi ra qua lối cửa phụ của xưởng vẽ.”

Cửa phụ của xưởng vẽ Trương Diệp là một cánh cửa gỗ căm xe hẹp mở ra con hẻm nhỏ rợp bóng cây trứng cá phía sau biệt thự. Cạnh cánh cửa này có một phòng kho nhỏ, diện tích chưa đầy tám mét vuông, vốn là nơi cố danh họa dùng để cất giữ các thùng dung môi pha sơn, dầu hỏa, nhựa cánh kiến, vải gai thô, bột khoáng và các thiết bị kiểm soát môi trường chuyên dụng.

Nam đẩy cánh cửa gỗ của phòng kho. Bản lề kim loại rỉ sét phát ra một tiếng *ken két* chói tai trong không gian yên tĩnh. Một luồng không khí ẩm đặc quánh, nồng nặc mùi hăng hắc của tinh dầu thông, dầu trẩu và mùi ẩm mốc của mùn cưa mục xộc thẳng vào mũi hai người. Căn phòng không hề có cửa sổ trổ ra ngoài, chỉ được chiếu sáng bằng một bóng đèn dây tóc công suất thấp ánh vàng vọt treo lủng lẳng từ trần nhà mạng nhện bám đầy. Khắp nơi là những kệ sắt lỗ rỉ sét chất đầy những hộp thiếc cáu bẩn đựng sơn Then, sơn Cánh gián, những cuộn vải bao bố đã tước sợi và những can nhựa trắng hai mươi lít đã ngả màu ố vàng theo năm tháng.

“Căn phòng này trước đây chỉ có ông ngoại và tôi vào dọn dẹp,” Châu nói, mắt nhìn quanh đống đồ đạc ngổn ngang với vẻ bùi ngùi. “Ông ngoại tôi không thích người ngoài động vào các thùng nguyên liệu thô. Sau khi ông mất, cửa phụ luôn khóa bằng chốt trong, chìa khóa treo ở bảng chìa ngay sau cửa chính xưởng vẽ. Kẻ đó muốn vào xưởng từ cửa phụ bắt buộc phải đi qua khoảng đệm của gian kho hẹp này.”

Nam không đáp. Anh rút chiếc đèn pin kiểm tra quang học chuyên dụng có thấu kính hội tụ từ túi áo khoác, hạ thấp người xuống sát mặt sàn xi măng láng bóng đã ngả màu xám xịt vì thời gian.

Sàn nhà phủ một lớp bụi mịn mỏng tích tụ qua nhiều ngày không có người quét dọn. Nam rọi luồng sáng trắng công suất cao theo góc xiên mười lăm độ, lướt chậm rãi trên bề mặt sàn từ ngưỡng cửa phụ tiến dần vào bên trong.

Ánh sáng xiên là kỹ thuật căn bản nhưng hiệu quả nhất trong giám định hiện trường: nó lập tức làm nổi bật những dấu vết biến dạng cơ học cực nhỏ mà mắt thường nhìn thẳng dưới ánh đèn trần không thể nào phát hiện được. Dưới góc chiếu xiên, những vệt xước mờ nhạt, những khoảng bụi bị nén chặt và những vệt kéo lê nhẹ trên lớp bụi hiện lên rõ mồn một. Có những dấu vết chứng minh rõ ràng rằng có người đã đặt một vật nặng có đáy hình chữ nhật với bốn chân đệm cao su xuống sàn gần cửa ra vào cách đây không lâu.

Nam lần theo những vệt kéo lê mờ nhạt đó, tiến sâu vào góc trong cùng của phòng kho. Tại đây đặt một chiếc tủ hút ẩm công nghiệp hai cánh kính nhãn hiệu Eureka—loại tủ dung tích lớn chuyên dùng để bảo quản tài liệu giấy cổ, phim ảnh và các mẫu thử sơn mài nhạy cảm với độ ẩm không khí. Chiếc tủ cắm điện nhưng đèn báo nguồn màu đỏ đã tắt ngấm từ lâu, rêu mốc và bụi bẩn bám mờ các mép gioăng cao su bọc quanh cánh cửa kính.

Khi luồng sáng đèn pin của Nam quét xuống gầm chân đế kim loại của chiếc tủ hút ẩm, luồng sáng bỗng dừng lại ở góc tiếp giáp với chân tường.

“Châu, lại đây rọi đèn giúp tôi,” Nam nói nhỏ nhưng giọng rung lên một nhịp căng thẳng vì sự tập trung cao độ.

Bảo Châu lập tức bước tới, quỳ gối xuống sàn xi măng lạnh buốt, cầm chiếc đèn pin giữ vững góc chiếu xiên theo hướng Nam chỉ định. Nam rút từ túi đồ nghề một chiếc nhíp y tế bằng thép không gỉ có đầu kẹp bọc silicon mềm để tránh làm xước mẫu vật vi mô.

Dưới góc chân đế tủ sắt, mắc kẹt giữa khe hở chưa đầy năm milimét nối giữa chân cao su giảm chấn và mặt sàn xi măng, là một mẩu vật thể lạ màu trắng đục.

Bằng thao tác chuẩn xác, nhẹ nhàng và cực kỳ khéo léo của một giám định viên hiện trường, Nam luồn đầu nhíp silicon vào khe hẹp, kẹp nhẹ mép ngoài của vật thể và từ từ rút nó ra ngoài, cẩn thận không để mép vật thể bị rách thêm.

Đó là một mẩu băng keo giấy dài khoảng ba centimet, rộng chừng hai centimet, bị xé vội ở một đầu.

Nam đặt mẩu băng keo lên một tấm mica trong suốt lấy từ túi đựng mẫu vật chứng vô trùng. Anh lấy chiếc kính lúp quang học có độ phóng đại mười lần tích hợp đèn LED rọi vi mô, đưa sát mắt để quan sát cấu trúc vật lý của mẩu vật thể dưới luồng sáng lạnh.

“Không phải băng dính đóng gói bưu kiện thông thường,” Nam thì thầm phân tích, giọng nói trầm tĩnh nhưng từng nhận định đều sắc như dao. “Bề mặt sợi giấy không có vân lưới sợi thủy tinh gia cường, không có lớp màng nhựa BOPP tráng bóng bên ngoài. Đây là loại băng keo giấy Washi không chứa axit (acid-free archival tape), sử dụng chất kết dính acrylic trung tính hoặc keo tinh bột tự nhiên có khả năng đảo ngược hoàn toàn (reversible adhesive). Loại băng keo chuyên dụng này tuyệt đối không được bán ở các cửa hàng văn phòng phẩm dân dụng. Nó chỉ được dùng trong các viện bảo tàng hoặc các xưởng phục chế cao cấp để niêm phong mép tranh, cố định tạm thời các lớp lót giấy dó hoặc mép vóc mà không làm biến tính bề mặt tác phẩm hay để lại cặn keo sau khi bóc gỡ.”

Châu cúi sát xuống nhìn tấm mica, đôi lông mày thanh tú của cô khẽ nhíu lại trong sự tập trung cao độ. Là một người được đào tạo bài bản về bảo tồn di sản, cô hiểu rất rõ giá trị của chi tiết này.

“Đúng là băng keo bảo tồn chuyên dụng,” cô xác nhận, giọng nói đanh lại. “Loại này ở Việt Nam không có cơ sở sản xuất trong nước. Chỉ có vài đơn vị nhập khẩu trực tiếp từ Nhật Bản hoặc Đức để cung cấp cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh hoặc một số rất ít xưởng phục chế tư nhân chuyên nghiệp ở Hà Nội và Sài Gòn. Mép xé này…”

“Mép xé có góc vát sáu mươi độ,” Nam tiếp lời, mắt vẫn nhìn qua thấu kính phóng đại. “Kẻ đó không dùng kéo cắt mà dùng tay xé nhanh theo thói quen của thợ thao tác hiện trường. Hắn đã dùng mẩu băng keo này để làm gì? Khi tráo vóc tranh, hắn cần cố định tạm thời lớp đệm lót bảo vệ bằng giấy xốp bọt khí hoặc vải không dệt lên mặt sơn mài của bức tranh thật để nó không bị cọ xát với thành cặp nhôm trong quá trình di chuyển trên đường. Hắn đã thao tác ngay tại góc kho này, xé băng keo trong bóng tối của phòng kho và vô tình làm rơi một mẩu vụn xuống khe tủ hút ẩm.”

Nhưng sự phát hiện chưa dừng lại ở đó.

Khi Nam rọi đèn pin sâu hơn vào khe hẹp giữa sườn bên phải của tủ hút ẩm và bức tường vôi ố mốc, anh nhìn thấy một vật thể lạ khác nằm kẹt ở khoảng trống tối tăm phía sau. Dường như ai đó đã vô tình làm rơi nó xuống khe hoặc nhét vội vào đó trong quá khứ mà không buồn nhặt lên.

Nam dùng đầu dài của chiếc thước kim loại mỏng khẽ lùa vào khe hẹp, gạt nhẹ vật thể đó ra ngoài.

Đó là một kẹp tài liệu bằng nhựa màu xanh dương đã bám một lớp bụi dày cộp, mép nhựa bị ố vàng vì hơi ẩm của gian kho.

Nam dùng khăn mềm lau sạch lớp bụi bên ngoài bìa kẹp. Bìa ngoài in dòng chữ bằng máy in kim đã mờ nhạt: *HỒ SƠ BẢO DƯỠNG VÀ HIỆU CHUẨN THIẾT BỊ KIỂM SOÁT ĐỘ ẨM – XƯỞNG TRANH TRƯƠNG DIỆP*.

Nam lật từng trang giấy bên trong. Phần lớn các biên bản kiểm tra định kỳ hệ thống hút ẩm đều có niên đại từ năm 2018 trở về trước, mang chữ ký xác nhận của một công ty cơ điện lạnh địa phương phụ trách bảo trì thiết bị gia dụng cho khu biệt thự. Nhưng khi Nam lật đến trang cuối cùng—một tờ phiếu bảo dưỡng bổ sung bằng giấy than màu xanh mỏng tang—anh đột ngột dừng lại.

Tờ biên bản ghi ngày kiểm tra là ngày 12 tháng trước—chỉ đúng một tuần trước khi danh họa Trương Diệp rơi vào cơn đột quỵ và hôn mê sâu tại bệnh viện.

Nội dung ghi chép trên phiếu được viết bằng tay, nét chữ sắc sảo, ngắn gọn nhưng đầy tính chuyên môn: *“Kiểm tra tủ hút ẩm chuyên dụng phòng kho phụ: Thay thế hạt hút ẩm silica gel hoạt tính cao, hiệu chuẩn ẩm kế cơ học về ngưỡng chuẩn 55% RH phục vụ bảo quản vóc mộc dự phòng.”*

Ở góc dưới bên phải tờ biên bản, tại ô *Kỹ thuật viên thực hiện*, không hề có con dấu hay tên tuổi của bất kỳ công ty dịch vụ điện lạnh nào. Thay vào đó là một chữ ký nháy bằng bút mực nước màu đen, được viết bằng một nét bút vô cùng phóng khoáng nhưng dứt khoát: ba chữ cái viết tắt lồng vào nhau, tạo thành một ký hiệu đồ họa sắc bén như một lưỡi dao:

*M.Q.H.*

Bên cạnh chữ ký nháy đó là một dòng ghi chú nhỏ viết tay bằng mực tím, nét chữ nghiêng và nắn nót: *“Đã bàn giao vóc thử nghiệm bạc lá.”*

Nam nhìn chằm chằm vào ba chữ cái viết tắt. Ký ức chuyên môn và các chi tiết cơ học trong đầu anh lập tức kết nối với những mảnh ghép kỹ thuật mà anh và Châu đã tìm thấy trên tấm vóc giả trong hộp gỗ trắc hôm qua: vệt vát mép góc bốn mươi lăm độ dứt khoát với các khía bán nguyệt lặp lại đều đặn để lại từ dao gọt vóc lưỡi cong rèn bằng thép nhíp xe lửa; loại bạc lá công nghiệp khổ 10,9 nhân 10,9 centimet; và mùi dung môi butyl acetate của lớp keo dán lưng còn mới nguyên chưa kịp bay hơi hết.

“Châu,” Nam gọi khẽ, đưa tờ biên bản bảo dưỡng bằng giấy than và tấm mica chứa mẩu băng keo Washi lại gần tầm mắt cô. “Cô xem nét bút này. Kỹ thuật viên ký tên 'M.Q.H.' này từng vào tận phòng kho này hiệu chuẩn thiết bị cho ông ngoại cô ngay trước khi ông đổ bệnh. Cô có nhận ra chữ ký này không?”

Bảo Châu đón lấy tờ giấy than màu xanh. Ngay khi ánh mắt cô chạm vào ba chữ cái *M.Q.H.* uốn lượn với nét móc ngược đặc trưng xuyên thẳng qua chữ *Q*, cả người cô bỗng chốc cứng đờ như bị điện giật.

Sắc mặt Châu biến đổi hoàn toàn. Đôi môi cô tái nhợt đi trong tích tắc, các ngón tay siết chặt lấy mép tờ giấy than mỏng manh khiến lớp giấy kêu lên một tiếng *rắc* khẽ khàng. Ánh mắt cô dao động dữ dội giữa sự bàng hoàng, hoài nghi và một nỗi đau đớn, thất vọng tột cùng đang cuộn trào từ đáy mắt.

Nam nhận ra phản ứng bất thường của người cộng sự. Anh bước lại gần hơn, hạ thấp giọng, đầy cẩn trọng: “Châu? Cô biết người này đúng không?”

Châu không trả lời ngay. Đôi vai cô khẽ run lên. Cô từ từ đặt tờ biên bản xuống mặt tủ hút ẩm, rồi cầm tấm mica chứa mẩu băng keo giấy Washi lên. Cô đưa mẩu băng keo lên gần mũi, khẽ ngửi mùi keo acrylic đặc trưng pha lẫn mùi giấy sợi tự nhiên, rồi dùng đầu ngón tay lướt qua vết cắt răng cưa ở đầu mẩu giấy bị xé vội.

“Cách xé vát chéo một góc sáu mươi độ để tạo tai cầm tháo gỡ nhanh… loại băng keo Washi hiệu Nitto nhập khẩu từ Osaka…” Giọng Châu nghẹn lại, từng từ thốt ra như bị bóp nghẹt nơi lồng ngực. “Chữ ký nháy với nét móc ngược hình mũi mác xuyên qua chữ H…”

Cô ngẩng đầu lên nhìn Nam, trong đôi mắt mở to ngân ngấn nước nhưng ánh nhìn rực lên một nỗi cay đắng và phẫn nộ tột cùng.

“M.Q.H.,” Châu nói, từng âm tiết rơi xuống sàn xi măng lạnh buốt như những mảnh thủy tinh vỡ vụn. “Mai Quốc Huy.”

Nam nheo mắt lại, cái tên vừa lạ lẫm vừa như đánh thức một mối liên hệ ngầm trong giới phục chế mỹ thuật Sài Gòn mà anh từng nghe thoáng qua trong các báo cáo thị trường: “Mai Quốc Huy? Người điều hành xưởng phục chế đồ gỗ và sơn mài tư nhân ở đường Bình Lợi, quận Bình Thạnh?”

“Chính là anh ta,” Châu gật đầu, giọng cô run rẩy nhưng chất chứa sự căm phẫn không thể che giấu. “Huy là bạn học cùng khóa chuyên ngành kỹ thuật phục chế và bảo tồn di sản với tôi tại Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh sáu năm trước. Chúng tôi từng cùng nhau làm đồ án tốt nghiệp, từng cùng nhau thực tập nhiều tháng ròng tại các xưởng sơn mài cổ ở làng nghề Tương Bình Hiệp trên Bình Dương. Chúng tôi từng chia sẻ với nhau từng công thức pha chế hồ hom từ mùn cưa và đất phù sa, từng kỹ thuật mài then bằng than củi mù u, từng nhát dao gọt vóc…”

Cô hít một hơi thật sâu, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo khoác để nén cơn xúc động đang dâng trào trong lồng ngực:

“Huy là một người có tài năng thiên bẩm, một đôi tay vàng trong nghề phục chế. Thậm chí về thao tác đôi tay, về cảm nhận cơ học trên từng thớ gỗ và lớp sơn, anh ta còn nhạy bén và chuẩn xác hơn cả tôi. Con dao gọt vóc lưỡi cong bằng thép nhíp xe lửa mà anh tìm thấy dấu vết trên vóc giả… chính là con dao do một lò rèn thủ công danh tiếng ở Dĩ An rèn riêng cho Huy vào năm chúng tôi bảo vệ đồ án tốt nghiệp. Huy luôn tự hào về con dao đó, anh ta coi nó như một phần thân thể của mình. Huy luôn tự tay mài nó trên đá bùn mịn cho đến khi bén ngót như dao cạo và dùng nó để vát mép tất cả các tấm vóc thử nghiệm của mình!”

Nam nhớ lại những lời nhận xét chuyên môn và những dấu vết cơ học mà anh đã phân tích dưới kính lúp hôm qua: “Và Trương Diệp từng cho phép Huy đến xưởng này?”

“Có một thời gian khoảng ba năm trước,” Châu cay đắng nhớ lại, ánh mắt nhìn vào khoảng không vô định của gian kho tăm tối. “Ông ngoại tôi muốn tìm một người trẻ có kỹ thuật phục chế vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp để hỗ trợ ông phân loại, làm sạch và phục hồi một số vóc mẫu thử nghiệm cổ thời kỳ đầu của ông bị nứt nẻ do biến đổi độ ẩm trong kho. Tôi đã tin tưởng và giới thiệu Huy cho ông. Ông ngoại rất quý sự chăm chỉ, tỉ mỉ và bàn tay khéo léo của Huy. Ông từng cho phép anh ta quan sát quy trình pha chế sơn Then bí truyền trong xưởng, cho phép anh ta tiếp cận các tài liệu ghi chép kỹ thuật và sao chép một số mẫu vóc tập để rèn luyện tay nghề. Nhưng sau đó…”

Châu ngừng lại, hơi thở cô nghẹn lại, ánh mắt tối sầm lại khi đối diện với Nam:

“Sau đó, Huy bắt đầu thay đổi. Anh ta có tham vọng quá lớn nhưng lại thiếu kiên nhẫn với sự khổ ải, nghèo túng và cô độc của nghề bảo tồn thuần túy. Nghề phục chế chân chính đòi hỏi sự kiên nhẫn hàng tháng trời chỉ để làm sạch một centimet vuông bề mặt, thu nhập lại eo hẹp, không đủ để thỏa mãn lối sống xa hoa mà Huy khao khát. Huy muốn được giới thượng lưu công nhận như một nghệ nhân độc lập, muốn kiếm tiền thật nhanh từ thị trường tranh cổ đang lên cơn sốt điên cuồng ở Sài Gòn và Hà Nội. Hai năm trước, tôi phát hiện Huy bắt đầu lén lút nhận những đơn hàng 'phục chế quá mức'—nhưng thực chất là làm giả các lớp lão hóa nhân tạo, tạo các vết nứt chân chim bằng nhiệt, cấy thêm bụi cổ và làm giả các ký hiệu niên đại cho một số phòng tranh thương mại vô đạo đức để họ nâng giá bán tranh cho khách hàng ngoại quốc.”

Giọng Châu đanh lại, từng kỷ niệm đau đớn như một vết thương bị rạch toạc ra:

“Tôi và Huy đã cãi nhau một trận nảy lửa tại chính xưởng của tôi ở Bình Lợi. Tôi nói thẳng với anh ta rằng nếu anh ta tiếp tục dấn sâu vào con đường làm hàng nhái, tiếp tay cho giới buôn tranh bất chính đánh lừa công chúng, anh ta sẽ vĩnh viễn đánh mất tư cách của một người làm bảo tồn, vĩnh viễn phản bội lại những lời thề nghề nghiệp mà chúng tôi đã tuyên thệ ngày tốt nghiệp. Huy gạt phắt đi. Anh ta cười nhạo lý tưởng bảo tồn của tôi là ngây thơ, là hão huyền. Anh ta bảo thời buổi này chỉ có tiền và danh tiếng mới định nghĩa được giá trị của một người thợ. Từ ngày hôm đó, chúng tôi cắt đứt toàn bộ liên lạc, không bao giờ nhìn mặt nhau nữa.”

Nam khoanh tay, những mảnh ghép trong bức tranh điều tra phức tạp bắt đầu khớp lại với nhau một cách hoàn hảo đến rợn người. Từng chi tiết rời rạc từ hôm qua đến nay bỗng chốc trở thành một chuỗi logic chặt chẽ:

“Và kẻ đã đứng sau chống lưng, rót tiền đầu tư máy móc hiện đại và cung cấp các đơn hàng béo bở cho Mai Quốc Huy suốt thời gian qua… không ai khác chính là Phạm Đức Lâm và Mạng lưới môi giới Lam Thành,” Nam trầm giọng kết luận, ánh mắt sắc lạnh lóe lên trong bóng tối. “Lâm là một kẻ buôn bán cáo già, hắn có quan hệ rộng khắp trong giới tài phiệt và các nhà sưu tập mới nổi, nhưng hắn không có chuyên môn kỹ thuật. Lâm cần một bàn tay vàng có kỹ thuật thượng thừa, hiểu sâu về vật liệu truyền thống để chế tác các bản sao tinh vi nhằm thao túng xuất xứ và đánh lừa các hội đồng giám định. Mai Quốc Huy chính là mảnh ghép hoàn hảo mà Lâm tìm kiếm.”

Nam chỉ tay vào tờ biên bản bảo dưỡng: “Huy nắm rõ cấu trúc xưởng vẽ này vì từng làm việc ở đây. Hắn biết rõ vị trí tủ hút ẩm, biết rõ thói quen kỹ thuật và công thức dùng bạc lá của cụ Trương Diệp. Tờ biên bản này chứng minh một tuần trước khi cụ Diệp hôn mê, Huy đã lén lút quay lại đây dưới danh nghĩa bảo trì thiết bị để khảo sát hiện trường, thậm chí có thể hắn đã đo đạc chính xác kích thước của tấm vóc nguyên bản trong két sắt! Và quan trọng nhất: Huy có đủ kỹ năng, đủ độ am hiểu về thủ pháp của Trương Diệp để tạo ra một bản sao đánh lừa được mắt thường của những người nhà như Trương Minh Khang trong vòng vài phút ngắn ngủi!”

Bảo Châu siết chặt hai bàn tay lại thành nắm đấm, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đến mức bật máu nhưng cô dường như không hề cảm thấy đau đớn. Nỗi đau đớn vì bị một người bạn cũ, một người đồng môn từng cùng chia ngọt sẻ bùi phản bội đạo đức nghề nghiệp đang chuyển hóa thành một ngọn lửa quyết tâm rực cháy trong lồng ngực.

“Huy đã bước qua lằn ranh đỏ cuối cùng,” Châu nhìn thẳng vào Nam, giọng cô giờ đây đanh thép, lạnh lùng và không còn một chút do dự hay thương hại nào. “Anh ta không chỉ tiếp tay cho Phạm Đức Lâm tung bài báo bôi nhọ danh dự và chuyên môn của anh, mà còn dám cả gan chạm vào di nguyện cuối cùng của ông ngoại tôi. Bức tranh thứ mười ba không phải là một món hàng thương mại để họ đem ra thế chấp cho những khoản nợ cờ bạc, nó là lời sám hối, là sự tạ lỗi thiêng liêng mà ông ngoại tôi dành cho làng nghề trước khi nhắm mắt! Chúng ta phải tìm ra xưởng của Huy ngay lập tức!”

Nam cẩn thận gấp tờ biên bản có chữ ký *M.Q.H.* lại, cho vào một phong bì nhựa bảo quản chứng cứ chuyên dụng cùng với tấm mica chứa mẩu băng keo Washi Nitto. Anh kéo khóa túi đồ nghề, rồi bước lại gần cánh cửa phụ bằng gỗ căm xe, nhìn qua khe cửa sổ con hẻm nhỏ tĩnh lặng rợp bóng cây trứng cá ngoài kia. Con hẻm thông thẳng ra trục đường lớn, nơi kẻ đột nhập đêm hôm kia đã tẩu thoát cùng tác phẩm nguyên bản.

“Xưởng của Mai Quốc Huy ở đường Bình Lợi, ven sông Sài Gòn,” Nam nói khẽ, đôi mắt ánh lên vẻ sắc bén của một người thợ săn đã nhìn thấy dấu chân con mồi in trên nền đất ẩm. “Nếu bản sao được làm vội vã bằng bạc lá công nghiệp và vệt keo dán lưng còn nồng mùi dung môi butyl acetate chưa kịp khô kiệt, thì tại xưởng chế tác của hắn, những vật chứng nguyên bản của bức tranh thứ mười ba—từ lớp bụi cạo, mẩu gỗ vát thừa, cho đến các bản phác thảo đối chiếu—chắc chắn vẫn còn để lại dấu vết.”

Nam quay lại, khẽ gật đầu với Bảo Châu: “Đi thôi, Châu. Đã đến lúc chúng ta lật tẩy bản sao thế chỗ ngay tại nơi nó được sinh ra.”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn