Bức Tranh Thứ Mười BaC.24 / 32
Chương 24

Dấu vận chuyển bị đọc ngược

Đêm khuya tại xưởng giám định của Nam, ngọn đèn bàn chụp kim loại hắt luồng sáng vàng dịu xuống tấm bản đồ hành chính miền Nam đã ố vàng mép và những tờ phiếu gửi kho vận trải kín mặt bàn gỗ sao dày dặn.

Sau cuộc đối chất căng thẳng đến nghẹt thở tại văn phòng luật sư Nguyễn Hoài Thu kéo dài tới nửa đêm, không gian quen thuộc ở tầng ba của con hẻm đường Trương Định dường như càng thêm tĩnh mịch. Mùi cồn tuyệt đối dùng để tẩy nhờn bề mặt tiêu bản, mùi sáp vi tinh thể dùng trong bảo tồn gỗ cổ cùng hương cà phê pha phin đã nguội tanh đặc quánh trong gian phòng đóng kín cửa. Tiếng quạt thông gió gắn trên vách tường thỉnh thoảng lại phát ra những tiếng rít nhỏ, khô khốc và đều đặn như nhịp thở của một người thợ già đang canh chừng lò ủ. Trên bàn làm việc bằng gỗ gõ đã lên nước bóng lộn, từng mảnh ghép thu thập suốt chặng hành trình từ miền Trung vào tới cao nguyên được bày biện theo một trật tự kỷ luật nghiêm cẩn: bản trích sao sổ hàng năm 1984 của kho Cẩm Phô ở Hội An với những nét chữ mực tím đã ngả sang màu xám tro; tập ảnh chụp bản kê phân công công việc kỹ thuật ngâm vóc nước ngọt sông Truồi tại cơ sở lưu trữ số 14 Lê Lợi ở Huế; sơ đồ đo vẽ mười ba ô cửa sổ vòm tại căn biệt thự cổ Đà Lạt; cùng mảnh giấy carbon màu vàng nhạt gấp tư mà Nam vừa dùng kẹp y tế gắp ra từ đáy thùng rác dưới chân ghế bành của Phạm Đức Lâm trước khi rời khỏi văn phòng luật sư.

Trương Bảo Châu ngồi đối diện anh, hai mắt trũng sâu vì thiếu ngủ nhưng đôi đồng tử màu nâu sẫm vẫn sáng quắc một vẻ kiên định đến bướng bỉnh. Cô mặc chiếc áo sơ mi lanh cộc tay màu chàm đã nhàu nhĩ sau một ngày dài di chuyển và tranh luận, mái tóc buộc túm phía sau để lộ vầng trán thanh tú đẫm một lớp mồ hôi mỏng. Cô vừa dùng chiếc kính lúp cầm tay có vòng phóng đại ba mươi lần soi đi soi lại mẩu giấy vận chuyển bưu chính liên tỉnh mang ký hiệu *DS-CS-8402/POST*, vừa khẽ đưa hai ngón tay lên day chặt thái dương để xua đi cơn đau đầu buốt nhói đang giật từng hồi.

— Lâm đã tính toán từng đường đi nước bước để ép gia đình tôi ký vào bản thỏa thuận ủy quyền định đoạt di sản, — Châu lên tiếng, phá vỡ sự im lặng kéo dài suốt gần nửa tiếng đồng hồ trong xưởng. Giọng cô khàn đặc, vương chút vị chát của khói thuốc lá thụ động trong phòng họp lúc nãy, nhưng từng âm tiết phát ra vẫn rành rọt, đanh gọn. — Hắn cho người rút kiện hàng ở kho Gia Định, dùng giấy tờ giả mạo chữ ký của cậu Khang để hợp thức hóa việc di dời tài sản đang có tranh chấp, rồi ngay lập tức dựng lên phiên đấu giá kín ở Riverside Grand nhằm tạo sự đã rồi. Nhưng nếu chiếc hộp gỗ trắc hắn mang đến đối kiểm trước mặt luật sư Thu chỉ chứa tấm vóc ván ép công nghiệp làm giả mạo ngoài Bắc với lớp sơn then mới quét chưa đầy nửa năm, vậy thì kiện hàng thật sự đã đi đâu ngay từ thời điểm Mai Quốc Huy đem ra khỏi căn biệt thự đường Điện Biên Phủ?

Nam không đáp ngay. Anh với tay cầm chiếc compa đo tỷ lệ bằng đồng thau và cây thước thép lá mỏng mười hai inch, cẩn thận đặt cạnh tờ phiếu gửi hàng lưu kho ngoại quan của Công ty Dịch vụ Lưu kho & Ngoại quan Gia Định – bản gốc thứ hai có dấu đỏ đóng giáp lai mà Huy đã giao nộp trước khi được luật sư Thu bố trí đưa vào diện bảo vệ nhân chứng đặc biệt. Tờ giấy pơ-lu-a mỏng dính, viền mép đã tưa nhẹ do ma sát cơ học trong ví da, nhưng trên góc trên cùng bên phải, dãy ký tự đánh bằng máy in kim mực tím đã hơi mờ nhạt vẫn đọc rõ từng nét dập: `D.S.–N.G.N.–8402`.

— Hãy nhìn lại toàn bộ chuỗi mắt xích từ đầu, — Nam nói, chất giọng trầm và chậm rãi như thói quen mỗi khi anh cầm dao cạo vi phẫu bóc tách một địa tầng sơn mài phức tạp dưới kính hiển vi. — Ở Hội An, chúng ta lần ra nguồn gốc vỏ trứng vịt thả đồng sông Thu Bồn và phát hiện ký hiệu xưởng 'A.-D.' ghi trong cuốn sổ xuất nhập vật tư vụ thu đông năm 1984. Chữ 'A' là Nguyễn An, chữ 'D' là Trương Diệp. Đó là bước khởi đầu của vật liệu, nơi lớp hom đất phù sa và những mảnh vỏ trứng đầu tiên được thử nghiệm trên nền vóc mộc bằng gỗ mít vườn. Đó là sự hợp tác thầm lặng giữa một họa sĩ tài hoa và một người phụ nữ nắm giữ toàn bộ bí quyết xử lý chất liệu cổ truyền.

Châu gật đầu, ngón tay trỏ của cô lướt chầm chậm qua mép tập tài liệu bìa da bò chứa các tấm ảnh chụp hiện vật:

— Đến Huế, tại kho lưu trữ số 14 Lê Lợi, chúng ta tìm thấy bản kê kỹ thuật ngâm vóc nước ngọt sông Truồi. Ở đó, danh phận của bà Nguyễn An bị bàn tay ai đó dùng dao cạo cơ học cạo sạch lớp mực in gốc, sửa đổi một cách tàn nhẫn từ 'đồng kiến tạo' thành 'phục chế'. Kẻ làm việc đó muốn xóa sạch dấu vết của bà trong lịch sử hình thành nên bộ tranh. Nhưng quan trọng hơn, bức thư sám hối sáu trang viết bằng giấy pơ-lu-a mỏng như cánh ve của ông ngoại tôi gửi bà An được kẹp sâu trong gáy tập hồ sơ lưu trữ đã chỉ thẳng lên Đà Lạt.

— Đúng vậy, — Nam tiếp lời, ánh mắt anh dừng lại ở bản vẽ dập than chì ghi lại cấu trúc không gian của Biệt thự Mười Ba Ô Cửa. — Tại Đà Lạt, mười hai ô cửa kính màu không phải là mật mã định vị một két sắt hay một kho vàng cất giấu như đám con cháu đời sau hoang tưởng. Chúng là một biểu đồ quang học tuần tự và chuẩn xác tuyệt đối về mười hai công đoạn chế tác sơn mài: từ việc lựa chọn cốt vải gai thô, đánh lớp hom đất phù sa trộn sơn sống, dát từng lá bạc quỳ Kiêu Kỵ mỏng như khói, phủ các lớp son then huyền bí cho đến khi mài nước bằng than củi xoan dưới lòng suối mát. Và ô cửa vòm thứ mười ba – ô cửa duy nhất để trống hoàn toàn, không lắp kính màu, hướng thẳng về phía nam – rọi ánh sáng trắng nguyên sơ xuống chiếc bục gỗ mài tranh. Đó là nơi người thợ đứng lao động trong bóng tối để đưa ánh sáng từ đáy vóc hiện lên mặt tranh. Khẩu quyết cốt lõi mà ông Trương Diệp và bà Nguyễn An thống nhất là 'đọc từ nền ra mặt'. Giờ đây, khi trở về Sài Gòn, chúng ta chạm vào biên nhận kho vận này. Mọi đầu mối vật chất không hề đứt đoạn, chúng chỉ chuyển đổi hình thức biểu đạt từ nghệ thuật sang chứng từ lưu thông.

Nam dùng đầu ngón tay trỏ gõ nhẹ lên cụm ký tự `D.S.–N.G.N.`:

— Trong suốt thời gian qua, cả Mai Quốc Huy lẫn Phạm Đức Lâm đều đọc cụm ký hiệu này theo quán tính thiển cận của giới buôn bán thương mại thuần túy. Huy là một thợ mộc trẻ giỏi nghề nhưng thiếu độ lùi lịch sử, cậu ta tưởng rằng đó là mã ký gửi cá nhân do người phụ nữ giấu mặt chỉ định để nhận diện người nhận hàng. Còn Phạm Đức Lâm, khi cho tay chân móc ngoặc với nhân viên biến chất để lập giấy ủy quyền khống nhằm rút hàng, lại khăng khăng cho rằng 'D.S.' là viết tắt tiếng Pháp của 'Dépôt Sud' hoặc mã phân khu 'Đặc Sản - Gia Định' trong hệ thống mạng lưới kho cảng ven sông Sài Gòn những năm đầu mở cửa. Hắn tin rằng bức tranh thứ mười ba đang được chuẩn bị để đưa vào một công-ten-nơ lạnh kiểm soát ẩm chuyển lậu ra nước ngoài qua ngả cảng Cát Lái hoặc phi trường Tân Sơn Nhất để tới một nhà đấu giá quốc tế ở Singapore. Nhưng Lâm đã nhầm lẫn tai hại. Hắn đọc ngược toàn bộ hệ quy chiếu của người làm nghề sơn mài truyền thống. Hắn nhìn di sản bằng con mắt của kẻ tính toán phần trăm hoa hồng và chi phí vận chuyển đường biển.

Châu nhướng mày, khẽ nghiêng người về phía trước, ánh đèn bàn phản chiếu trong đáy mắt cô một vệt sáng sắc sảo:

— Ý anh là 'D.S.' không phải một mã kho vận hành chính do nhà nước quy định thời kỳ đó?

Nam đứng dậy, đôi dép đế cao su của anh bước khẽ trên sàn gạch bông cũ kỹ, đi thẳng đến dãy tủ hồ sơ bằng sắt sơn xám kê sát góc tường xưởng. Chiếc tủ sắt này chứa đựng gần hai mươi năm tư liệu khảo cứu của anh về các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và hợp tác xã mỹ nghệ miền Nam thời kỳ hậu chiến. Anh kéo ngăn kéo thứ ba kêu một tiếng *két* khô khốc, lật tìm trong tập kẹp hồ sơ màu vàng sậm đã ngả màu thời gian. Đó là những bản sao chụp công báo đăng ký kinh doanh, danh bạ điện thoại nội bộ và các biên bản thẩm định tài sản chế biến lâm sản, tiểu thủ công nghiệp tại khu vực miền Đông Nam Bộ mà Nam đã cất công thu thập từ các đợt giám định xuất xứ đồ gỗ mỹ nghệ cổ nhiều năm trước.

Anh rút ra một tập hồ sơ in bằng phương pháp roneo trên nền giấy rơm xốp nhẹ, thoang thoảng mùi giấy cũ ẩm mốc hòa với mùi mực in dầu hỏa. Ngón tay anh lướt qua những con số đăng ký biểu mẫu của Ty Công nghiệp tỉnh Sông Bé (cũ), lập vào cuối năm 1983:

— Nhìn vào đây, Châu. Đọc thật kỹ dòng này.

Châu rời khỏi ghế, đứng nép bên cạnh Nam, mái tóc cô phảng phất hương bồ kết thoảng qua mũi anh. Dưới mục đăng ký cơ sở gia công cấu kiện mộc chuyên dụng phục vụ hội họa và mỹ nghệ xuất khẩu theo chỉ tiêu Nhà nước giao, dòng chữ in kim màu tím nhạt ghi rõ: *Cơ sở chế tác mộc mỹ nghệ & vóc sơn mài Diệp Sơn*, trụ sở đăng ký tại ấp Bình Đức, xã Tương Bình Hiệp, thị xã Thủ Dầu Một. Người đại diện pháp lý kiêm phụ trách liên kết kỹ thuật: họa sĩ Trương Diệp; chủ nhiệm xưởng mộc phụ trách cốt gỗ mít và khung đỡ chống cong vênh: nghệ nhân Bùi Tấn Phúc.

— Diệp Sơn... — Đôi môi Châu khẽ run lên khi thốt ra hai từ đó. Đôi mắt cô mở to, bàng hoàng như vừa chạm vào một cánh cửa bí mật bị chôn vùi dưới lớp rêu phong. — Không phải là 'Dépôt Sud', không phải là một kho hàng ngoại quan nào tại bán đảo Thanh Đa hay Gia Định, mà là tên pháp nhân của xưởng mộc truyền thống do chính ông ngoại tôi đứng tên liên kết cùng thợ mộc Bình Dương!

— Chính xác đến từng chi tiết, — Nam gằn giọng, mắt ánh lên vẻ sắc bén của một giám định viên vừa bẻ gãy thành công một giả thuyết ngụy tạo. — 'D.S.' là Diệp Sơn. Trương Diệp là người cực kỳ cẩn trọng, cả đời ông sống trong nỗi ám ảnh về sự mai một và phản trắc của vật liệu. Ông chưa bao giờ để tác phẩm tâm huyết nhất của đời mình rời khỏi tầm kiểm soát của những người thực sự hiểu về cấu trúc sinh học và cơ lý của nó. Ông không tin các kho lưu trữ thương mại hiện đại mọc lên như nấm sau thời kỳ đổi mới, nơi người ta chỉ xem tranh sơn mài như một kiện hàng hóa cần kiểm soát nhiệt độ bằng máy lạnh công nghiệp thô bạo. Máy lạnh công nghiệp làm khô không khí quá nhanh, sẽ rút hết độ ẩm tự nhiên của cốt gỗ, làm nứt toác lớp sơn then nghìn năm tuổi. 'D.S.' chính là mạng lưới cơ sở Diệp Sơn – nơi từng đẵn những cây mít già trong vườn chùa, xẻ ra từng súc gỗ dày ba phân, ngâm bùn rạch suốt hai năm ròng, rồi bó vải gai thô hạt to để tạo nên tấm vóc mộc đầu tiên cho mười hai bức đại tác phẩm.

— Vậy còn cụm ba chữ cái 'N.G.N.'? — Châu nín thở hỏi, bàn tay cô vô thức nắm chặt lấy góc bàn làm việc, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. — Suốt buổi đối chất, Lâm luôn mồm khẳng định rằng đó là tên viết tắt của một nhân vật trung gian vận chuyển xuyên quốc gia có tên quốc tế, hoặc một nhà tài trợ ủy thác nào đó ở Singapore đã bỏ tiền đặt cọc cho ông Diệp từ năm 1984...

Nam mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi sau chuỗi ngày dài mệt mỏi đằng đẵng từ Nam ra Bắc rồi ngược lên cao nguyên. Anh với lấy cuốn sổ tay ghi chép hiện trường bìa vải đen, lật lại trang giấy can đầu tiên vẽ lại phác thảo bức tranh thứ mười ba mà anh đã phóng đại từ bức ảnh chụp vội qua khe két sắt trước ngày tang lễ – bức ảnh chụp dưới ánh sáng xiên mười lăm độ mà Châu từng phải liều lĩnh giấu kín trong thẻ nhớ máy ảnh cá nhân trước sự lục soát của đám vệ sĩ:

— Hãy nhớ lại lời nhắn ban đầu mà ông Trương Diệp đã dùng mũi dùi khắc ngầm dưới đáy vóc gỗ, dòng chữ Hán xen lẫn quốc ngữ viết bằng chì than mà chúng ta đã giải mã lớp quang phổ phản xạ: *'Mười hai mặt, một nền; trả tên cho người giữ nền'*.

Nam cầm chiếc bút lông kim ngòi đậm, ấn mạnh đầu ngòi xuống tờ giấy trắng tinh đặt ngay giữa bàn, viết to ba chữ cái in hoa tách rời nhau:

**N**gười – **G**iữ – **N**ền.

Gian xưởng rộng lớn dường như ngừng đọng trong giây lát. Tiếng kim đồng hồ treo tường hiệu Odo điểm ba tiếng khô khốc, âm thanh vang vọng vào những bức tường vôi gồ ghề. Gió đêm lùa qua khe cửa sổ làm ngọn lửa nhỏ trong chiếc đèn cồn bảo quản rung rinh, hắt bóng hai người thành một khối sẫm màu trên vách.

— 'N.G.N.' không phải là tên người gửi, càng không phải mã đại lý logistics hay một danh xưng thương mại quốc tế nào, — Nam phân tích, từng lời nói ra đanh chắc như búa gõ lên mặt đe. — Đó chính là tên thật của bức tranh thứ mười ba. Trương Diệp đã ấn định danh xưng bất biến đó cho tác phẩm từ hơn bốn mươi năm trước, ngay từ khoảnh khắc ông và bà Nguyễn An quét lớp sơn lót đầu tiên lên cốt vải. Trong mọi văn bản lưu chuyển nội bộ giữa ông và xưởng mộc Tương Bình Hiệp, ông tuyệt đối không gọi nó là 'Bức thứ mười ba' như cách giới truyền thông giật gân và các thành viên hội đồng thừa kế tranh giành nhau gọi để định giá. Đối với ông, tác phẩm đó không phải là một phần phụ lục đính kèm theo mười hai bức tranh bốn mùa, mà nó là một thực thể độc lập, thiêng liêng và duy nhất: *Người Giữ Nền*. Cụm mã `D.S.–N.G.N.–8402` in trên phiếu lưu kho thực chất có nghĩa là: Kiện hàng thuộc cơ sở *Diệp Sơn*, chứa tác phẩm *Người Giữ Nền*, được hoàn thành phần vóc mộc cơ bản vào tháng 2 năm 1984!

Châu ngồi lặng đi trên ghế, hai bờ vai cô khẽ rung lên theo từng nhịp thở ngắt quãng. Một cảm xúc nghẹn ngào pha lẫn nỗi xót xa dâng lên ứ nghẹn nơi cuống họng:

— Ông ngoại đã giấu tên tác phẩm ngay trong chính mã vận đơn mà không ai ngờ tới... Ông biết trước rằng những kẻ chỉ nhìn vào giá trị trao đổi tiền tệ sẽ chỉ thấy một dãy ký tự hành chính vô hồn, nhưng bất cứ ai thực sự đọc lời nhắn sám hối của ông, thực sự hiểu cấu trúc địa tầng của mười hai bức tranh, sẽ nhận ra ngay đó là gì. Ông dùng chính hệ thống lưu kho khô cứng để bảo vệ danh dự cho người bạn nghề của mình.

— Đúng thế, — Nam tiếp tục, giọng anh ấm lại nhưng ánh mắt vẫn duy trì sự sắc sảo tột cùng. — Và bây giờ, điều quan trọng nhất có tính chất quyết định sự thành bại của vụ việc là giải mã hành trình vật lý thực tế của kiện hàng này trong vòng ba mươi sáu giờ qua. Tại sao Lâm lại nhận được tấm vóc ván ép công nghiệp giả mạo ở kho Gia Định, trong khi bức tranh thật lại biến mất không để lại dấu vết?

Nam kéo màn hình chiếc máy tính để bàn chuyên dụng đồ họa lại gần mép bàn, bấm chuột mở thư mục chứa các đoạn video an ninh trích xuất từ camera số 4 và camera số 5 của Công ty Lưu kho & Ngoại quan Gia Định – những đoạn phim dữ liệu mà anh đã dùng tư cách giám định viên tư pháp độc lập để yêu cầu quản lý kho Trần Văn Thoại sao lưu hợp pháp dưới sự chứng kiến của biên bản công chứng chiều hôm qua.

Anh bấm thanh trượt thời gian, dừng lại ở khung hình hiển thị đúng 14 giờ 15 phút ngày hôm qua – khoảnh khắc một chiếc xe tải thùng kín mang biển số thành phố thuộc mạng lưới vận tải tư nhân Lam Thành từ từ lùi đuôi xe vào cửa bốc dỡ hàng số 3.

— Hãy nhìn kỹ vào góc chiếu sáng và bóng đổ của mái hiên trên nền bê tông xi măng, — Nam cầm chiếc bút chì chỉ vào mép dưới khung hình. — Lúc mười bốn giờ mười lăm phút chiều hôm qua, ánh nắng tại bán đảo Thanh Đa chiếu xiên một góc khoảng bốn mươi lăm độ từ hướng tây nam sang đông bắc. Bóng của mép thùng xe đổ dài về phía góc kho số 3. Bây giờ, hãy nhìn vào kiện hàng pallet được hai nhân viên kho đẩy bằng xe nâng tay thủy lực từ gian lưu trữ nội địa ra bệ nâng phía sau xe tải.

Trên màn hình độ phân giải cao được Nam tinh chỉnh độ tương phản, hai nhân viên kho mặc đồng phục xanh lam đang cẩn thận đẩy một khối hàng hình hộp chữ nhật lớn, bọc kín bằng nhiều lớp giấy kraft màu nâu xi măng, bốn cạnh được ốp nẹp gỗ thông chắc chắn để chống va đập. Phía trên mặt kiện hàng có dán một tờ tem luân chuyển màu trắng in vạch đỏ chéo góc – loại tem đặc thù dùng cho hàng hóa chuyển tiếp bưu chính ủy thác đường bộ liên tỉnh thời kỳ trước còn sót lại trong các quy trình vận hành cũ.

— Đây hoàn toàn không phải là chiếc hộp gỗ trắc bọc khăn nhung đỏ mà Hoàng Sơn xách lên cabin xe bán tải của Lâm, — Châu nhanh chóng nhận ra sự khác biệt về kích thước và quy cách đóng gói. — Chiếc hộp gỗ trắc đựng bản giả ván ép chỉ dày khoảng mười phân, dài một mét hai, được Sơn nhận riêng tại quầy thủ tục VIP có máy lạnh. Còn khối pallet gỗ này... nó dày hơn hai mươi phân, nẹp gỗ ba lớp, và nó được chuyển thẳng vào thùng xe tải lớn của một đơn vị chuyển phát bưu chính liên tỉnh!

— Chính xác! — Nam phóng to khung hình ở mức tối đa 400%, các điểm ảnh bắt đầu vỡ nhẹ nhưng các dòng chữ in nhiệt trên tờ tem dán ngoài lớp giấy kraft vẫn hiện lên tương đối rõ ràng. — Dưới mã vạch bưu chính, dòng chữ in nhiệt ghi rất rõ: *Chuyển tiếp nội bộ — Điểm đến: Bưu cục Trung tâm Thị xã Thủ Dầu Một, chuyển giao Xưởng Cây Sơn*. Khi Mai Quốc Huy đưa bức tranh thật đến kho Gia Định vào rạng sáng ngày 18 tháng 10 theo di nguyện của Trương Diệp, cậu ta đã làm thủ tục lưu kho tạm thời theo đúng chỉ dẫn của người phụ nữ giấu mặt – người mà bây giờ chúng ta đã biết chính là bà Lê Tường Vân, con gái của bà Nguyễn An. Nhưng bà Vân, với bản năng bảo vệ di sản được hun đúc qua hàng chục năm sống trong ẩn dật, đã không bao giờ tin tưởng hoàn toàn vào một kho hàng thương mại nằm ngay giữa lòng Sài Gòn. Bà đã kích hoạt từ trước một lệnh chuyển tiếp ủy thác đường bộ định kỳ. Kiện hàng mang mã 'D.S.' chưa từng nằm yên trong kho lạnh Gia Định để chờ đợi sự phán xét của tòa án hay lòng tham của Lâm và Khang. Chiếc hộp gỗ trắc mà Lâm cho tay chân dùng giấy ủy quyền giả mạo để rút ra thực chất chỉ là một chiếc hộp nghi binh, hoặc là sản phẩm của sự nhầm lẫn tai hại giữa hai luồng hàng: luồng hàng mẫu vóc thí nghiệm do Lam Thành gửi vào thăm dò ba tháng trước và luồng hàng di sản thực sự!

Châu thở dồn dập, lồng ngực cô phập phồng theo từng câu phân tích của Nam. Cô cầm lấy tờ vận đơn carbon màu vàng mà Nam vừa nhặt được từ thùng rác:

— Và tờ vận đơn *DS-CS-8402/POST* này chính là cuống phiếu chuyển giao mà tên Lâm đã vò nát rồi vứt đi trong cơn tức tối khi hắn mở chiếc hộp gỗ trắc ra tại văn phòng luật sư Thu! Hắn phát hiện ra mình bị hớ một vố đau điếng, hắn biết kiện hàng thật đã bị điều chuyển lên Thủ Dầu Một theo một tuyến bưu chính ủy thác ngầm, nhưng với đầu óc của một kẻ buôn tranh thời thượng, hắn không thể hiểu nổi 'Cây Sơn' là gì. Hắn tưởng đó chỉ là một địa danh hành chính cũ, hoặc tệ hơn, là một cơ sở thu mua phế liệu gỗ và vóc thải không có giá trị thương mại!

— Hắn là một tay lái buôn trọc phú, — Nam nói, giọng anh lạnh tanh, phảng phất sự khinh bỉ của một người làm khoa học bảo tồn đối với những kẻ đầu cơ nghệ thuật. — Hắn chỉ săn lùng những bề mặt bóng bẩy đã được phủ bóng PU công nghiệp, có chữ ký dát vàng lấp lánh và có hồ sơ truyền thông rầm rộ để đẩy lên sàn đấu giá triệu đô nhằm rửa tiền và thổi giá cổ phiếu. Hắn không bao giờ bỏ công tìm hiểu xem một tấm vóc sơn mài truyền thống phải trải qua bao nhiêu tháng ngày nằm dưới đáy bùn lạnh, bao nhiêu tuần lễ nằm trong buồng ủ tối tăm có độ ẩm chín mươi phần trăm, và bao nhiêu nghìn lần mài nước bằng than củi xoan mới có thể chịu đựng được sự khắc nghiệt của khí hậu nhiệt đới suốt nửa thế kỷ. Vì vậy, trong mắt hắn, tờ vận đơn chuyển về một xưởng mộc ở Bình Dương chỉ là một mẩu rác rưởi vô giá trị. Nhưng đối với chúng ta, tờ giấy carbon này là bằng chứng thép khẳng định: bức tranh *Người Giữ Nền* chưa bao giờ rời khỏi lãnh thổ Việt Nam, không hề bị tẩu tán ra nước ngoài. Nó đã quay trở về đúng cái nôi nơi nó được cưa từng thớ gỗ đầu tiên: làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp!

— Nhưng làng Tương Bình Hiệp rộng lớn như vậy, — Châu lo lắng nhìn tấm bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương đang trải rộng trên bàn, ngón tay cô chỉ vào những con đường liên xã chằng chịt như mạng nhện. — Ở đó có hàng trăm hộ gia đình làm nghề sơn mài, hàng chục cơ sở chế tác lớn nhỏ nằm rải rác dọc theo hai bờ rạch Bà Lụa và khu vực Lái Thiêu. Làm sao chúng ta biết chính xác bức tranh đang được cất giữ ở ngôi nhà nào? 'Nhà xưởng Cây Sơn' là một danh xưng mang tính ước lệ, có thể là tên của một tổ hợp tác thủ công thời bao cấp đã giải thể từ ba mươi năm trước, hoặc là một khu đất vườn đã bị san phẳng để xây nhà máy gia công gốm sứ.

Nam nhìn thẳng vào mắt Châu, ánh mắt anh ánh lên sự tin tưởng tuyệt đối, không một chút dao động:

— Chìa khóa không nằm ở các phòng đăng ký kinh doanh hay cơ quan quản lý đất đai hiện tại, Châu à. Chìa khóa nằm ngay trong những dấu nghề bí truyền mà ông Trương Diệp đã cẩn thận găm lại trên mười hai bức tranh gốc đang bị niêm phong. Ba bức tranh cuối cùng trong bộ sưu tập tứ thời... em đã trích xuất toàn bộ tệp ảnh chụp độ phân giải siêu cao phần kết cấu khung đỡ mặt sau chưa?

Bảo Châu lập tức hiểu ra ý tứ sâu xa trong lời nói của Nam. Không cần anh phải nhắc lại lần thứ hai, cô nhanh chóng kéo chiếc máy tính xách tay chuyên dụng của mình lại, cắm ổ cứng di động chứa hàng nghìn tấm ảnh chụp tư liệu quang học độ phân giải 60 megapixel mà cô đã bí mật thực hiện trong đợt phối hợp cùng đoàn kiểm kê di sản văn hóa trước khi phòng tranh tại biệt thự Điện Biên Phủ bị niêm phong bởi lệnh của tòa án.

— Ba bức tranh cuối cùng, — những ngón tay thon dài của Châu lướt thoăn thoắt trên bàn phím máy tính. — Bức số 10: *Mùa cấy*, bức số 11: *Chiều buông rặng tre*, và bức số 12: *Hội làng ven sông*. Đây là ba bức tranh được sáng tác vào giai đoạn đỉnh cao và cũng là giai đoạn khép lại chu kỳ sáng tạo mười hai năm của ông tôi, hoàn tất vào khoảng giữa thập niên 1980, ngay trước khi sức khỏe của ông bắt đầu sa sút nghiêm trọng.

Trên màn hình phụ của trạm làm việc, hình ảnh mặt sau của ba bức tranh hiện lên với độ chi tiết đến từng thớ gỗ. Khung đỡ của cả ba bức đều được chế tác bằng gỗ mun sừng nguyên khối – loại gỗ quý có tỷ trọng cực cao, đen nhánh và hầu như trơ lỳ trước mối mọt và biến đổi nhiệt độ. Dưới ánh sáng xiên mười lăm độ được tái lập trên phần mềm đồ họa chuyên dụng, lớp bụi thời gian bám trên bề mặt gỗ và những vết xước cơ học hiện lên sắc nét đến từng dăm gỗ li ti.

Châu rê chuột, phóng to góc trên bên phải của mép sau khung gỗ bức số 10. Ở đó, ngay bên cạnh dấu khắc số La Mã `X` đánh dấu thứ tự treo tranh, có hai chấm sơn son đỏ thắm nằm thẳng hàng theo phương ngang, khoảng cách giữa hai chấm đo được chính xác là mười hai milimét.

Tiếp tục chuyển sang bức số 11: ba chấm sơn son đỏ thắm tương tự, nhưng khoảng cách giữa các chấm đã thu hẹp lại chỉ còn sáu milimét, tạo thành một góc tam giác nhọn có đỉnh hướng chéo lên mép trên của khung tranh.

Đến bức số 12 – bức tranh khép lại toàn bộ vòng elip trưng bày của bộ đại tác phẩm tứ thời: không còn là những chấm sơn son đơn lẻ nữa. Ở mép sau của thanh giằng ngang khung gỗ bức số 12, người thợ đóng khung đã dùng một mũi đục chữ V cỡ nhỏ gọt sâu vào thớ gỗ mun ba vết khía bán nguyệt sắc ngọt. Dưới rãnh đục sâu khoảng hai milimét, một vệt son chu sa tự nhiên nghiền mịn pha với sơn sống đã được miết chặt vào rãnh gỗ, bên cạnh là một mũi tên chỉ hướng mảnh như sợi tóc khắc chìm bằng dao trổ.

— Nhìn thật kỹ góc nghiêng của mũi tên này, — Nam cúi sát mặt vào màn hình, tay anh cầm chiếc thước đo góc quang học bằng thủy tinh hữu cơ áp thẳng lên mặt kính hiển thị. — Mũi tên ở bức số một tại Hội An lệch ba mươi lăm độ sang hướng đông bắc, tương ứng với góc chiếu của ánh nắng mặt trời lúc tám giờ ba mươi sáng vào tiết Xuân phân. Còn ở ba bức tranh cuối cùng này... góc lệch của các chấm son phương vị và vết đục chữ V là bao nhiêu?

Châu cẩn thận xoay trục đo trên phần mềm đồ họa, khớp đường thẳng cơ sở với cạnh đứng bên phải của khung tranh:

— Bốn mươi lăm độ... — Giọng cô run rẩy vì kinh ngạc. — Chính xác là bốn mươi lăm độ lệch về hướng đông bắc! Không sai lệch một phút góc nào!

Nam lập tức quay lại bàn làm việc, dùng hai tay kéo cây thước thép dài sáu mươi phân đặt đè lên tấm bản đồ hành chính miền Nam. Anh đặt điểm gốc không milimét của thước thép tại vị trí tọa độ của căn biệt thự kiêm xưởng vẽ của Trương Diệp trên đường Điện Biên Phủ ở trung tâm Sài Gòn. Sau đó, bằng một thao tác chuẩn xác của một nhà đo đạc trắc địa, anh xoay cạnh thước theo đúng góc phương vị bốn mươi lăm độ đông bắc, dùng bút chì đỏ kẻ một đường thẳng tắp xuyên qua các ranh giới hành chính.

Đường chỉ đỏ vạch qua dòng sông Sài Gòn cuộn sóng, cắt ngang mố cầu Bình Triệu cũ, men theo trục lộ Quốc lộ 13 lịch sử, chạy thẳng qua những vườn cây ăn trái sum sê của miệt vườn Lái Thiêu, rồi cắm thẳng vào một dải đất bồi màu mỡ ven con rạch uốn lượn đổ ra sông Sài Gòn: xã Tương Bình Hiệp, trung tâm của làng nghề sơn mài cổ truyền Bình Dương.

— Tọa độ trùng khớp tuyệt đối, — Nam thì thầm, ánh mắt anh dường như không giấu nổi niềm xúc động nghề nghiệp sâu sắc. — Ba bức tranh cuối cùng không chỉ đơn thuần là sự kết thúc của một chu kỳ ánh sáng nghệ thuật. Toàn bộ hệ thống chấm son và vết đục chữ V ở mép sau khung gỗ của chúng là một chiếc la bàn định hướng quay đầu về cội nguồn. Hướng đông bắc bốn mươi lăm độ... đó là trục nhìn thẳng từ phòng tranh Sài Gòn về làng nghề Tương Bình Hiệp. Trương Diệp không để lại bản đồ kho báu bằng giấy da như trong các tiểu thuyết phiêu lưu, ông đã dùng chính những chiếc khung gỗ mun giữ tranh suốt nửa thế kỷ để làm kim chỉ nam.

Châu nhìn chăm chú vào điểm giao nhau của đường chỉ đỏ trên bản đồ, ngón tay trỏ của cô đặt khẽ lên biểu tượng uốn lượn của rạch Bà Lụa:

— Và vết đục chữ V này... — Giọng cô trầm xuống, đầy suy tư. — Ba vết khía bán nguyệt sắc ngọt với góc vát dứt khoát không hề có một vết xơ gỗ... Em nhận ra dấu vết này! Nó hoàn toàn trùng khớp với kỹ thuật gọt vóc bằng dao rèn từ thép nhíp xe lửa mà chúng ta từng phân tích trên các mẫu thử nghiệm ở xưởng mộc của Mai Quốc Huy. Nhưng ở đây, đường đục già dặn hơn, chuẩn xác và điêu luyện hơn gấp bội phần. Đây không phải tay nghề của một người thợ mộc bình thường. Đây là dấu nghề cá nhân của một bậc thầy thợ cả.

— Cụ Bùi Tấn Phúc, — Nam nói, giọng anh tràn đầy sự kính cẩn đối với một nghệ nhân vô danh của nền mỹ nghệ truyền thống. — Người thợ cả huyền thoại của xưởng Diệp Sơn. Người từng cùng bà Nguyễn An lựa chọn từng súc gỗ mít già, tự tay nấu sơn sống, pha trộn chất độn và dùng vải gai dệt tay vá lỗi nan tre vặn tim dài một phân rưỡi ở góc dưới bên trái của tấm vóc bức *Người Giữ Nền* vào mùa xuân năm 1984. Cụ Phúc chính là người giữ chìa khóa định vị địa điểm cất giữ thực sự của tác phẩm. Bức tranh không thể nằm ở đâu khác ngoài chính gian buồng ủ cổ xưa của cụ bên rạch Bà Lụa.

Châu thở phào một hơi dài, trút bớt gánh nặng tâm lý đè nặng suốt nhiều ngày qua, nhưng nét mặt cô ngay sau đó lại trở nên nghiêm nghị và căng thẳng:

— Nếu kiện hàng bưu chính *DS-CS-8402/POST* đã được chuyển tiếp lên bưu cục Thủ Dầu Một từ chiều hôm qua, điều đó có nghĩa là hiện tại nó đã nằm trong phạm vi bảo vệ của những người thợ làng nghề. Nhưng chúng ta không thể chủ quan. Phạm Đức Lâm sau khi bẽ mặt tại văn phòng luật sư Thu chắc chắn sẽ không chịu ngồi yên khoanh tay thúc thủ. Hắn có thể bị đình chỉ tổ chức phiên đấu giá kín ở Riverside Grand, hắn có thể đang đối mặt với nguy cơ bị cơ quan điều tra triệu tập vì hành vi làm giả con dấu và chữ ký ủy quyền của cậu Khang, nhưng với một kẻ coi thông tin và di sản là công cụ trục lợi tài chính, hắn sẽ không từ bỏ cơ hội cuối cùng để chiếm đoạt bức tranh thật. Hắn cần bức tranh đó để gỡ gạc khoản nợ cá cược và đầu tư chứng khoán lên tới ba mươi tỷ đồng mà cậu Khang đã thế chấp bằng toàn bộ quyền thừa kế.

Nam liếc nhìn chiếc đồng hồ cơ khí quân đội đeo trên cổ tay trái. Kim ngắn và kim dài chỉ đúng ba giờ mười lăm phút sáng.

Bầu trời đêm bên ngoài khung cửa kính của xưởng giám định bắt đầu chuyển dần từ màu đen đặc quánh sang sắc xanh xám lạnh buốt của rạng đông. Gió sớm từ phía sông Sài Gòn thổi luồn qua các con hẻm nhỏ mang theo hơi nước ẩm ướt và mùi lá cây ngai ngái sau cơn mưa rào bất chợt lúc nửa đêm. Thành phố đang ở vào thời điểm sâu lắng nhất của chu kỳ sinh học, khoảnh khắc giữa giấc ngủ say và sự thức giấc.

— Chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chừ nữa, — Nam thu dọn nhanh chóng các dụng cụ thẩm định chuyên dụng trên bàn làm việc: chiếc kính lúp tiêu sắc ba thấu kính, đèn huỳnh quang cực tím cầm tay có bước sóng kép 254 nm và 365 nm, máy đo độ dày lớp phủ quang học không phá hủy mẫu, cùng tập hồ sơ pháp lý dày cộp có chữ ký xác nhận của luật sư Nguyễn Hoài Thu và biên bản bàn giao của kho Gia Định. Tất cả được sắp xếp gọn gàng vào từng ngăn xốp giảm chấn của chiếc cặp da bảo ôn chống sốc chuyên dụng. — Lâm có trong tay tiền bạc, có mạng lưới tài xế xe tải tư nhân và đám tay chân xã hội đen thông thạo các ngóc ngách vận tải vùng ven, nhưng hắn thiếu điều cốt lõi nhất: hắn hoàn toàn mù tịt về ngôn ngữ và tâm thức của người thợ sơn mài truyền thống. Hắn không biết rằng ở Tương Bình Hiệp, người ta không nói chuyện bằng những cọc tiền mặt bọc nilon hay những bản hợp đồng ủy quyền in màu scan giả tạo. Người làng nghề chỉ mở cánh cửa buồng ủ cho những ai biết trân trọng giọt mồ hôi của người làm vóc và hiểu được giá trị của lớp nền bên dưới lớp sơn bóng bẩy.

Châu đứng dậy, khoác chiếc áo khoác gió sẫm màu chống nước, kiểm tra lại chùm chìa khóa xe và chiếc điện thoại vệ tinh dự phòng:

— Chiếc xe bán tải hai cầu của em đã được đổ đầy bình dầu và đậu ngay dưới chân cầu thang xưởng. Từ đây chạy lên trung tâm Tương Bình Hiệp theo hướng Quốc lộ 13 mất khoảng một tiếng rưỡi nếu chúng ta khởi hành ngay bây giờ, trước khi các đoàn xe tải chở đất đá và container bắt đầu đổ dồn về các khu công nghiệp ở Bình Dương.

Nam gật đầu dứt khoát, cài chặt chốt khóa bằng đồng của chiếc cặp da:

— Đi thôi. Chúng ta phải có mặt tại Nhà xưởng Cây Sơn trước khi ánh nắng đầu tiên của buổi sáng rọi xuống rạch Bà Lụa. Đã đến lúc đưa bức tranh thật trở về với ánh sáng công lý, và trả lại tên tuổi cho những con người đã âm thầm giữ nền suốt nửa thế kỷ qua.

Hai người bước nhanh xuống cầu thang sắt xoắn ốc của xưởng giám định. Tiếng đế giày gõ đều đặn trên những bậc sắt vang lên khô khốc trong sự vắng lặng của con hẻm sâu trên đường Trương Định. Khi cánh cổng sắt dày nặng khép lại sau lưng họ bằng một tiếng *cạch* dứt khoát, thành phố vẫn còn đang chìm trong giấc ngủ chập chờn trước bình minh. Những ngọn đèn cao áp màu vàng vọt hai bên đường hắt bóng hai người đổ dài ngoằng trên mặt đường nhựa còn ướt đẫm sương đêm.

Chiếc xe bán tải cũ kỹ của Châu nổ máy, tiếng động cơ diesel gầm lên ròn rã phá tan sự tĩnh mịch của con phố nhỏ rợp bóng cây cổ thụ. Chiếc xe lướt êm qua những đại lộ vắng vẻ thưa thớt bóng người quét rác, vượt qua cầu Bình Triệu lộng gió sông rồi nhập vào dòng chảy của Quốc lộ 13 thẳng tắp hướng về phía bắc.

Càng đi xa khỏi trung tâm đô thị náo nhiệt với những khối nhà cao tầng bê tông cốt thép đặc quánh, cảnh tượng hai bên đường càng biến chuyển rõ rệt dưới ánh sáng mờ ảo của buổi rạng đông. Những biển hiệu quảng cáo rực rỡ ánh đèn led dần nhường chỗ cho những rặng cây xanh mướt, những rặng tre ngà đẫm sương, những vườn cây ăn trái trĩu quả của vùng Lái Thiêu nổi tiếng, và rồi là những con đường nhánh rải đá dăm quanh co men theo dòng nước đỏ nặng phù sa của rạch Bà Lụa.

Màn sương sớm bảng lảng như khói phủ kín mặt đất, trôi là là trên những mái ngói rêu phong khi chiếc xe bán tải rẽ vào con đường đất nhỏ rợp bóng cây gáo và cây mít dẫn vào trung tâm xã Tương Bình Hiệp. Không khí ở đây mang một mùi hương vô cùng đặc trưng, đậm đặc và sâu thẳm, không thể trộn lẫn với bất kỳ vùng đất nào khác trên dải đất phương Nam: mùi ngai ngái, nồng nặc và hăng hắc của nhựa cây sơn sống đang được ủ kỹ trong những chiếc lu sành lớn đặt dưới bóng râm, hòa quyện với mùi mùn cưa gỗ mít tươi mới xẻ từ các xưởng mộc ven rạch và mùi than củi xoan ngâm nước dùng để mài vóc.

Khi xe của họ dừng lại trước cổng làng Tương Bình Hiệp, mùi sơn sống nồng nàn và tiếng mài vóc rào rạo vang lên giữa không gian tĩnh mịch.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn