Dấu Vết Của Việc Giữ Lại
Cánh cửa trượt nặng nề dẫn vào trục thông khí phụ rít lên ken két khi Bùi Duy tì cả trọng lượng cơ thể lên cần bẩy của chiếc kích thủy lực, gằn từng nhịp cưỡng bức để mở rộng khe hở vừa đủ cho hai thân người mang theo giá đỡ bình dưỡng khí cồng kềnh lách qua.
Tiếng kim loại ma sát chói gắt, sắc nhọn như dao cạo miết trên kính, dội lại liên hồi trong lòng ống thép hình hộp hẹp téo, rồi trượt dài thành những đợt sóng âm u uất biến mất vào bóng tối đặc quánh của phân khu kỹ thuật ngầm—nơi đã bị cô lập và cắt toàn bộ nguồn điện sơ cấp từ trước cả khi Lâm An cất tiếng khóc chào đời. Không khí tù đọng bên trong cuộn ra ngoài theo từng đợt áp suất chênh lệch, mang theo mùi tanh nồng đặc trưng của rỉ sắt lâu năm, thứ mùi ngai ngái thối rữa của kim loại tạp chất bị giam hãm trong môi trường chân không nửa vời suốt gần hai thập kỷ, hòa lẫn với sự lắng đọng của dầu bôi trơn công nghiệp gốc hợp chất flo đã thoái hóa, đóng thành từng mảng vảy sáp khô khốc và giòn vụn bám dọc theo đường gờ đáy cống.
Lâm An hạ thấp bả vai trái, cẩn thận lách thân người qua mép thép lởm chởm những răng cưa sắc lọn vừa được hai ngàm của chiếc kích giữ lại trong một thế cân bằng chông chênh. Phía sau anh, Bùi Duy nhanh chóng xoay nhẹ van xả của kích cơ học để khóa chết hành trình piston chống trượt, rồi thò tay rút chiếc đồng hồ bấm giờ mạ niken đã sờn bóng từ túi áo ngực ra bấm chốt. Tiếng cật lực của lò xo cơ khí cùng nhịp tích tắc đanh gọn, khô khốc lập tức vang lên rõ mồn một bên trong khoang mũ trùm bảo hộ kín khí, tựa như một bản án thời gian tàn nhẫn đang treo lơ lửng ngay trên thái dương của cả hai.
Năm giờ bốn mươi phút của chu kỳ đếm ngược chuyển pha toàn trạm đã trôi qua gần một giờ kể từ sau khi phiên họp hội đồng biến thành một mớ hỗn loạn không lối thoát. Tuy nhiên, cánh cửa sổ kỹ thuật dẫn sâu vào Khoang Gốc—tuyến ống ngầm duy nhất mà kỹ sư trưởng Đinh Hòa đã run rẩy vạch lại bằng mực tàu trên mảnh giấy dầu vàng ố—chỉ tồn tại trong một khung thời gian ngặt nghèo và khắc nghiệt hơn rất nhiều: đúng ba mươi lăm phút ngắn ngủi trước khi đợt đảo mạch của chu kỳ điện đêm tiếp theo làm dịch chuyển toàn bộ các mối nối không gian cục bộ và khóa cứng mạng lưới van áp suất liên hoàn của toàn bộ phân khu cũ.
“Hải đồ của ông Hòa đây,” Lâm An thì thầm qua màng micro nội bộ của máy bộ đàm tầm ngắn bọc cao su chống nhiễu, tay giơ tấm bản đồ vẽ tay đã được ép chặt trong bao nilon công nghiệp dưới luồng sáng vàng lạnh từ chiếc đèn pin gắn trên đỉnh mũ bảo hộ. “Chúng ta phải đi hết ba trăm mét đường ống kỹ thuật ngầm này, vượt qua hai ngã ba mù không có hệ thống đánh số hiện đại. Điểm mốc duy nhất để định vị là các vết cháy phóng điện hồ quang hình cành cây in hằn trên vách thép. Chừng nào các nhánh cháy còn chĩa mũi nhọn về phía trước, chúng ta còn nằm trong tọa độ thực của Khoang Gốc.”
Bùi Duy khẽ gật đầu, đưa luồng sáng tập trung của đèn rọi dọc theo sống lưng gồ ghề của đường ống. Vách kim loại dày dặn ở phân khu này không còn giữ được những đường gờ phẳng phiu thẳng tắp của bản thiết kế ban đầu; nó vặn xoắn từng đợt, phồng rộp và uốn lượn như thể từng bị một bàn tay khổng lồ vô hình vặn nẹp trong một cơn sốt nhiệt cực đại vượt quá ngưỡng nóng chảy của thép kết cấu. Trên bề mặt thép xám xịt phủ đầy bụi oxit, những vết nứt cháy sém hình nhánh cây tỏa ra chằng chịt, đen đúa, sắc cạnh và sâu hoắm, tựa như những vệt sét đánh của một cơn giông bão từ tính kinh hoàng bị đóng băng vĩnh viễn vào thể rắn. Đó chính là những vết sẹo tàn khốc còn sót lại của sự cố sụp đổ từ trường mười bảy năm về trước—thời điểm mà ranh giới ổn định giữa trạm Vành Khuyên và vùng không gian dị thường bị xé toạc ra lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại trên quỹ đạo này.
Hai người cẩn trọng đặt từng bước chân trĩu nặng lên sàn lưới kim loại đang rung rinh nhè nhẹ theo từng nhịp thở dồn dập. Theo đúng quy tắc an toàn nghiêm ngặt bậc nhất của Đội Neo, Bùi Duy luôn luôn đi trước Lâm An nửa bước, tay phải ghì chặt chiếc máy dò cảm ứng từ trường liên tục quét qua từng thanh dầm chịu lực rỉ sét, trong khi tay trái giữ chặt hộp cuộn cáp. Sợi dây cáp đồng tiếp xúc dày 1,2 milimet nối từ cọc tiếp địa bằng đồng nguyên chất cắm sâu ở hành lang phía sau lưng họ cuộn tròn trong tang quay rồi từ từ nhả ra theo từng bước chân tiến tới. Sợi kim loại sáng ánh đỏ ấy trườn đi như một sợi dây rốn duy nhất, một cứu cánh vật lý mong manh ngăn không cho họ vô tình bước hụt vào những nếp gấp không gian hay những hốc mù vô tận không có điểm dừng lại.
“Rẽ trái ở ngã ba tiếp theo,” Lâm An chăm chú đối chiếu từng nét ký hiệu bằng bút chì mờ nhạt của Đinh Hòa, mắt không rời những mũi tên chỉ hướng vẽ vội trên giấy dầu. “Nhánh cháy phân ba ngả, chọn nhánh có hai vệt nẹp đồng cháy cụt đầu. Tuyệt đối không nhìn vào nhánh bên phải, nơi có vách thép biến tính màu cầu vồng.”
Họ khom lưng luồn lách qua một vách ngăn chịu lực bị xé toạc một góc, nơi những bó cáp viễn thông đa lõi dày bằng cổ tay người lớn bị đứt lìa nham nhở, để lộ hàng trăm sợi ruột đồng tơ bên trong xơ xác, bung xòe ra như những búi cỏ khô cháy nắng. Càng tiến sâu vào ruột của công trình cũ kỹ, nhiệt độ xung quanh càng tụt giảm một cách đột ngột và tàn nhẫn. Luồng hơi nước mỏng manh ngưng tụ trên mặt kính bảo hộ của Lâm An bắt đầu kết tinh thành một lớp sương giá li ti mờ đục, làm nhòe đi tầm nhìn ngoại vi và buộc anh phải bấm nút kích hoạt chế độ sưởi điện trở cục bộ viền quanh vành mũ. Tiếng dòng điện một chiều chạy qua dây mai-so phát ra tiếng vo vo nhỏ như tiếng muỗi kêu bên màng nhĩ, mang theo chút hơi ấm khô khốc phả vào gò má tê dại của anh.
Đúng mười hai phút sau khi rời khỏi trục thông khí phụ, một cánh cửa vòm chịu áp lực khổng lồ sừng sững hiện ra chắn ngang toàn bộ lối đi của lòng ống.
Tấm biển thép dập nổi bắt vít kiên cố phía trên khung vòm đã bong tróc gần hết lớp sơn phản quang màu vàng chanh, chỉ còn sót lại vài ký tự dập chìm bị muội than phủ mờ nhưng vẫn đủ để nhận diện: *PHÒNG THÍ NGHIỆM TRƯỜNG GIA TỐC TRUNG TÂM – PHÂN KHU GỐC*. Cánh cửa hợp kim nặng hàng tấn này không đóng chặt hoàn toàn; một khe nứt vặn xoẹo rộng chừng nửa mét toác ra ở bản lề phía trên bên phải, mép kim loại dày đến năm phân bị xé rách toạc ra như một tờ bìa các-tông dưới sức ép khủng khiếp của một vụ nổ nội tại dữ dội từ bên trong lòng phòng thí nghiệm. Xung quanh khe hở ấy, toàn bộ lớp vữa silicat chịu nhiệt từng được đội cứu hộ trám kín mười bảy năm trước nhằm cô lập thảm họa đã vỡ vụn thành bột trắng xóa, rải lả tả đầy dưới chân họ tựa như những vệt tuyết lạnh rơi rụng trên một nấm mồ hoang phế.
Bùi Duy giơ bàn tay đeo găng bảo hộ dày cộp lên ra hiệu dừng bước. Anh cẩn thận rút chiếc que đo nồng độ bức xạ thứ cấp và từ thông dư thừa ra khỏi bao da bên hông, đưa đầu cảm biến quét chầm chậm qua khe nứt kim loại. Kim chỉ thị cơ học trên mặt đồng hồ nhảy giật lùi hai vạch ngắt quãng, run rẩy một thoáng rồi đứng yên ở ngưỡng an toàn tối thiểu.
“Trường ổn định cục bộ vẫn giữ được mức cân bằng giả định theo tính toán của ông Hòa,” Duy nói, giọng anh trầm xuống và biến dạng qua lớp màng lọc âm hai tầng của mũ bảo hộ. “Nhưng chúng ta đang chính thức bước vào vùng chết của phân khu này. Không còn bất kỳ trạm bơm tuần hoàn nào của trạm chính với tới đây đâu. Mọi sự sống ở đây đã kết thúc từ ngày cánh cửa này bị xé rách.”
Hai người nghiêng mình ép sát lồng ngực, luồn qua khe nứt sắc lẹm của cánh cửa vòm, chính thức đặt chân vào không gian trung tâm của Khoang Gốc—trái tim cơ học đã bị chôn vùi trong bóng tối tuyệt đối và sự lãng quên đầy toan tính suốt mười bảy năm ròng rã.
Ánh đèn pin cực mạnh từ đỉnh mũ bảo hộ của hai người quét ngang qua khoảng không gian rộng lớn đến choáng ngợp, làm bùng lên hàng triệu hạt bụi mịn lơ lửng trong không gian không trọng lực cục bộ, bất động và lạnh lẽo tựa như những vì sao chết bị đóng băng giữa hư vô. Hiện trường của thảm họa năm xưa hiện ra trước mắt họ một cách trần trụi, hoang tàn và ngột ngạt đến rợn người.
Tại chính giữa căn phòng hình bát giác, cỗ máy tạo trường gia tốc không gian—từng được ca ngợi là đỉnh cao của dự án nghiên cứu biến thiên từ trường thuở sơ khai của trạm Vành Khuyên—nằm đổ gục nghiêng ngả như bộ xương khô của một con quái thú kim loại khổng lồ bị vắt kiệt sự sống. Vòng xuyến gia tốc chính bằng hợp kim titan siêu dẫn với đường kính hơn mười mét đã bị một lực biến dạng không gian xoắn vặn thành một hình số tám dị dạng, méo mó một cách phi tự nhiên. Các ống dẫn khí heli lỏng áp suất cao phát nổ toác hoác, để lại những vệt ố vàng khè loang lổ và những mảng bám hóa chất khô đét, kết tinh thành từng dải vảy muối xám kéo dài từ sàn nhà lên tận vách tường trần.
Vách thép xung quanh buồng thí nghiệm bị bao phủ bởi một màu đen đặc quánh của những dấu vết phóng hồ quang điện cực cao. Có những vị trí hiểm yếu trên tường, nhiệt lượng tỏa ra trong khoảnh khắc bùng nổ định mệnh mười bảy năm trước lớn đến mức làm lớp thép tấm dày hàng phân chảy nhão ra thành từng dòng nham thạch kim loại, rồi lập tức đông cứng lại dưới cái lạnh chân không thành những cục u sần sùi, quái đản như những khối u ác tính mọc ra từ thân xác trạm. Những chiếc bàn làm việc bằng kim loại bị sóng xung kích thổi bay dạt vào các góc phòng, tài liệu giấy tờ bị nung cháy thành những lớp than đen vụn vỡ rải rác khắp nơi, hòa lẫn với hàng ngàn mảnh kính thạch anh vỡ vụn từ những buồng quan sát trên cao rơi xuống, lấp lánh lạnh lẽo dưới ánh đèn soi rọi.
*Tít... Tít... Tít...*
Tiếng chuông cảnh báo áp suất và dưỡng khí từ thiết bị phân tích môi trường gắn bên quai đeo ngực của Lâm An đột ngột rú lên, từng tiếng bíp khô khốc, đứt quãng nhưng dồn dập gõ thẳng vào thần kinh anh.
Lâm An giơ cánh tay trái lên trước mặt, liếc nhanh qua màn hình hiển thị kỹ thuật số màu hổ phách trên cổ tay. Con số điện tử nhấp nháy báo nồng độ oxy hòa tan trong không khí phòng thí nghiệm chỉ còn vỏn vẹn 4,2%—một mức độ nghèo nàn chết người có thể khiến một cơ thể trưởng thành khỏe mạnh ngạt thở, co giật và rơi vào hôn mê sâu chỉ sau hai lần hít thở nếu không có sự bảo vệ của bình dưỡng khí. Áp suất khí quyển cục bộ tại đây chỉ đạt 38 kilopascal, thấp hơn một phần ba so với tiêu chuẩn sinh tồn tối thiểu ở các khu dân cư đang hoạt động phía trên tầng sinh hoạt.
“Bình dưỡng khí nén của chúng ta chỉ có thể duy trì được tối đa hai mươi phút nữa ở chế độ áp lực dương này,” Bùi Duy cất tiếng nhắc nhở, bàn tay bọc găng dày siết chặt lấy chiếc van thở dự phòng gắn trước ngực. “Mỗi nhịp thở ở đây đều phải trả bằng từng milibar dưỡng khí cuối cùng. Chúng ta không được phép chậm trễ dù chỉ một giây để ngắm nhìn đống hoang tàn này.”
“Bàn điều khiển chính nằm ở đằng kia,” Lâm An chỉ tay về phía bức tường phía tây của phòng thí nghiệm, nơi một khối cấu trúc kim loại đồ sộ áp vách vẫn còn giữ được hình dáng nguyên vẹn một cách kỳ diệu nhờ nằm nép mình hoàn toàn sau một tấm bình phong bọc chì dày đặc ngăn tia phóng xạ.
Hai người bước nhanh qua đống phế tích ngổn ngang của những cuộn cảm ứng từ bị cháy rụi và những thanh giằng thép hộp đã gãy gập thành hình chữ V. Dưới lớp đế cao su chuyên dụng của giày bảo hộ, tiếng rôm rốp của những mẩu linh kiện gốm cách điện vỡ vụn vang lên giòn tan trong tĩnh lặng, phá vỡ sự im lìm ngột ngạt tựa như dưới đáy một ngôi mộ tập thể đã bao trùm nơi này suốt gần hai thập kỷ qua.
Bàn điều khiển trung tâm là một hệ thống thiết bị khổng lồ mang đậm dấu ấn cơ khí thô ráp của thời kỳ đầu xây dựng trạm Vành Khuyên, với hàng trăm công tắc gạt cơ học bằng đồng, các hàng rơ-le kim loại lộ thiên và vô số đồng hồ đo kim cổ điển với mặt kính đã nứt nẻ. Tất cả các đèn báo hiệu trạng thái đều đã tắt ngấm từ lâu, bị bao phủ bởi một lớp bụi mạt sắt mịn màng như tro tàn núi lửa. Tuy nhiên, điều khiến ánh mắt của Lâm An lập tức bị hút chặt vào chính là cụm ổ cứng lưu trữ độc lập nằm ẩn sâu ở khoang đáy của bảng điều khiển trung tâm.
Khác xa với các hệ thống máy tính hiện đại trên trạm vốn liên tục đồng bộ và tải toàn bộ dữ liệu về máy chủ của Ban Quản Trị thông qua mạng cáp quang nội bộ, cụm ổ cứng thời kỳ sơ khai này được thiết kế theo nguyên lý hộp đen hoàn toàn biệt lập để phục vụ thử nghiệm nguy hiểm. Nó là một khối kim loại hình hộp chữ nhật vuông vức bọc hợp kim vonfram dày cộp, gắn chặt vào khung chịu lực của máy bằng tám con bu-lông lục giác cỡ lớn và được niêm phong vật lý bằng một sợi dây kẹp chì mang con dấu dập nổi của Cục Năng Lượng Cũ. Kể từ giây phút buồng gia tốc phát nổ xé toạc không gian và cánh cửa Khoang Gốc bị đóng sập lại mười bảy năm trước, khối lưu trữ này chưa từng một lần được kết nối với bất kỳ đường truyền tín hiệu nào của thế giới bên ngoài. Nó nằm đó, câm lặng và nguyên vẹn, cất giữ sự thật tuyệt đối của giờ phút định mệnh.
“Đúng là nó rồi,” Lâm An thở phào nhẹ nhõm, một làn sương mỏng phả ra trên mặt kính mũ khi anh buông một hơi dài, dù nhịp tim trong lồng ngực anh vẫn đang đập thình thịch những hồi liên hồi. “Cụm lưu trữ hộp đen cục bộ. Toàn bộ dữ liệu thô từ các cảm biến gia tốc và biến thiên từ thông trước thời điểm sụp đổ từ trường đều nằm trong khối này.”
“Để tôi tháo chốt giữ,” Bùi Duy tiến tới bên cạnh, rút bộ cờ-lê tròng ngàm đôi bằng thép tôi cứng từ đai đồ nghề đeo bên hông.
Những con bu-lông hợp kim rỉ sét cứng đờ sau mười bảy năm nằm bất động rít lên ken két dưới lực vặn chuẩn xác và dứt khoát của người đội trưởng Đội Neo dày dạn kinh nghiệm. Bụi kim loại và những mảng rỉ sắt nâu đỏ rụng lả tả xuống sàn thép theo từng vòng ren nhả ra. Lâm An lập tức quỳ một chân xuống sàn nhà ngổn ngang, nhanh tay móc chiếc vòng dây chống tĩnh điện bằng đồng vào cổ tay mình, đầu kia kẹp chặt vào một điểm kim loại trần của khung gầm. Anh cẩn thận dùng chiếc tuốc-nơ-vít hai cạnh nạy từng giắc cắm cáp truyền dữ liệu bọc lưới đồng chống nhiễu dày đặc ra khỏi khe cắm của bo mạch chủ đã bị oxy hóa xám xịt.
Khi con bu-lông cuối cùng rời khỏi ren thép với một tiếng *tách* khô khốc, Lâm An dùng cả hai tay nhấc khối ổ cứng nặng trịch ra khỏi khung máy. Vỏ ngoài bằng hợp kim vonfram của nó bám đầy muội than đen và bụi bặm của thời gian, nhưng cấu trúc bảo vệ nhiều lớp bên trong vẫn hoàn toàn nguyên vẹn, không hề có bất kỳ dấu hiệu cong vênh hay biến dạng nhiệt nào. Không có dấu vết cạy phá, không có sự can thiệp tẩy xóa của bất kỳ bàn tay con người nào sau ngày xảy ra biến cố. Mọi dòng dữ liệu từng bị chôn giấu ở nơi đáy sâu này đều được bảo tồn trong trạng thái nguyên sơ nhất của nó.
“Khoan đã, An,” Bùi Duy bỗng nhiên khựng lại, tay anh chỉ ngược lên góc trên bên phải của bàn điều khiển trung tâm. “Nhìn kìa... cái màn hình bảo trì phụ kia... đèn tụ điện dự phòng của nó vẫn còn sáng leo lét.”
Lâm An giật mình ngẩng đầu lên. Ở một góc khuất sâu sau tấm chắn chì ngăn bức xạ, một chiếc màn hình CRT đơn sắc cỡ nhỏ đang nhấp nháy một chấm sáng màu xanh lục lờ mờ, yếu ớt như mắt của một loài côn trùng ăn đêm. Đó là mạch giám sát an toàn tối thiểu, vận hành bằng một khối pin đồng vị phóng xạ nhiệt điện độc lập có tuổi thọ danh định lên tới ba mươi năm. Cụm mạch này được thiết kế chuyên biệt để ghi nhận các thông số sống còn của hệ thống trong các kịch bản khẩn cấp nhất, ngay cả khi toàn bộ nguồn điện xoay chiều chính của trạm bị cắt đứt hoàn toàn.
Không chút chần chừ, Lâm An rút sợi dây cáp chuyển đổi nguồn phụ từ bộ pin lithium đeo bên hông ra, cắm đầu giắc chuyên dụng vào cổng kích hoạt khẩn cấp nằm ngay dưới gờ màn hình.
Sau một tiếng rè rè trầm đục kéo dài đặc trưng của cuộn dây khử từ và bóng hình điện tử cổ xưa, màn hình CRT bừng sáng lên. Từng dòng quét lân quang màu xanh lá cây lần lượt chạy qua mặt kính lồi dày cộp, làm hiện lên giao diện dòng lệnh thô sơ của hệ điều hành kỹ thuật cũ từ mười bảy năm về trước.
Lâm An lập tức lướt nhanh những ngón tay bọc trong găng cao su cách điện trên bàn phím cơ bằng đồng thau nặng nề, gõ từng dòng lệnh truy cập trực tiếp vào phân vùng nhật ký cảnh báo an toàn hệ thống mang mã hiệu *SYS_CRIT_LOG*.
Những dòng dữ liệu lịch sử tuần tự bung ra trên màn hình lân quang, phản chiếu trên mặt nạ kính của Lâm An và khiến hai đồng tử của anh co rút lại trong một cơn bàng hoàng tột độ.
Đó hoàn toàn không phải là một chuỗi sai số ngẫu nhiên không thể lường trước của máy móc. Đó càng không phải là một sự cố thiên tai bất khả kháng xuất phát từ những dị thường không gian bên ngoài như những gì bản báo cáo chính thức của Ban Quản Trị đã công bố suốt mười bảy năm qua.
Từng dòng nhật ký hệ thống hiện lên rõ ràng, mạch lạc, mang theo dấu thời gian chính xác đến từng phần nghìn giây trước thời khắc định mệnh năm ấy:
`[T-72:00:00] CẢNH BÁO CẤP 1: TỪ THÔNG BUỒNG GIA TỐC VƯỢT NGƯỠNG AN TOÀN 22%. NGUY CƠ BIẾN THIÊN CẤU TRÚC KHÔNG GIAN CỤC BỘ. ĐỀ NGHỊ HẠ CÔNG SUẤT VỀ MỨC DUY TRÌ.` `-> TRẢ LỜI TỪ BAN ĐIỀU HÀNH TRẠM: BÁC BỎ. DUY TRÌ CÔNG SUẤT THỬ NGHIỆM ĐỂ ĐẠT CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LƯỢNG KỲ 3.`
`[T-48:15:22] CẢNH BÁO CẤP 2: CÁC ĐIỂM NEO KHÔNG GIAN BẮT ĐẦU XUẤT HIỆN HIỆN TƯỢNG TRỄ PHA. GIA NHIỆT CỰC ĐẠI TẠI CUỘN CẢM ĐIỂM NEO SỐ HAI. TỈ LỆ QUÁ TẢI NHIỆT ĐẠT 145%. YÊU CẦU NGẮT KHẨN CẤP ĐỂ BẢO VỆ CẤU TRÚC VÁCH NGĂN PHÂN KHU B.` `-> TRẢ LỜI TỪ VĂN PHÒNG CHỦ TỊCH QUẢN TRỊ: BÁC BỎ. MỌI LỆNH DỪNG THỬ NGHIỆM PHẢI ĐƯỢC PHÊ DUYỆT BẰNG VĂN BẢN TRỰC TIẾP CỦA CHỦ TỊCH. TIẾP TỤC BƠM DÒNG TẢI.`
`[T-24:00:00] BÁO CÁO KỸ THUẬT CUỐI CÙNG (KỸ SƯ TRƯỞNG ĐINH HÒA KÝ): ĐIỂM NEO SỐ HAI ĐÃ BỊ BIẾN TÍNH NHIỆT VĨNH VIỄN. LÕI CẢM ỨNG ĐỒNG OXIT BẮT ĐẦU NÓNG CHẢY. NẾU TIẾP TỤC ÉP XUNG QUA CHU KỲ ĐIỆN ĐÊM TIẾP THEO, TRƯỜNG LIÊN KẾT SẼ VỠ VỤN, TẠO RA VÙNG ĐỨT GÃY KHÔNG THỂ HÀN GẮN. CHÚNG TA ĐANG TỰ ĐẨY MÌNH VÀO TAI HOẠ.` `-> LỆNH GHI ĐÈ HỆ THỐNG: MÃ LỆNH QUẢN TRỊ VIÊN A-01 (NGUYỄN QUẾ XÁC THỰC). KHÓA CƠ CHẾ TỰ NGẮT CỦA ĐIỂM NEO SỐ HAI. THỰC HIỆN ÉP XUNG 130% CÔNG SUẤT ĐỊNH MỨC.`
Bùi Duy đứng chôn chân bên cạnh mép bàn điều khiển, đôi mắt anh dán chặt vào từng ký tự màu xanh lục đang sáng rực lên trên màn hình lồi. Bàn tay anh run rẩy dữ dội, chiếc cờ-lê định lực bằng thép nặng trịch trong tay anh vô tình va khẽ vào mép bàn kim loại, phát ra một tiếng *keng* lạnh lẽo, buốt giá đến tận xương tủy.
“Họ đã biết trước...” Bùi Duy lẩm bẩm, giọng anh nghẹn đặc lại sau lớp màng lọc khí, hơi thở trở nên đứt quãng và nặng nề. “Ba ngày... tròn ba ngày trước khi buồng gia tốc phát nổ xé toạc phân khu này, ông Hòa và toàn bộ đội ngũ kỹ thuật viên tiền bối đã cảnh báo chính xác từng milimét thảm họa. Điểm Neo số Hai... nó đã từng bị nung chảy hoàn toàn lõi cảm ứng từ chính ngày hôm đó!”
“Và họ đã cố tình chọn cách phớt lờ tất cả,” Lâm An nghiến chặt hai hàm răng vào nhau đến mức cơ hàm đau nhức. Những ngón tay của anh ấn mạnh phím lệnh sao lưu, chuyển toàn bộ tệp cấu hình mạng lưới sơ khai và cuốn nhật ký cảnh báo an toàn đẫm máu này vào chiếc thẻ nhớ di động bọc vỏ nhôm mà anh đã cắm sẵn vào cổng phụ. “Họ ép xung máy móc đến bờ vực sụp đổ chỉ để làm đẹp các con số sản lượng trong bản báo cáo tài chính gửi về Trái Đất trước đợt cấp vốn định kỳ của Liên minh. Rồi khi tai họa không thể đảo ngược ập xuống, họ thản nhiên quay lưng lại, bấm nút khóa chết toàn bộ các van áp suất liên khu, tuyên bố toàn bộ những người còn mắc kẹt bên trong đã chết để xóa sạch mọi dấu vết của sự tắc trách đê hèn.”
Bỗng nhiên, chiếc máy đo điện áp phụ trợ gắn bên sườn áo bảo hộ của Bùi Duy phát ra một tiếng rít the thé, chói tai như tiếng kim khí chọc vào tai. Đèn LED đỏ trên mặt thiết bị bắt đầu chớp nháy điên cuồng với tần số ngày một dày đặc.
“An, nhìn vào đây nhanh lên!” Duy hốt hoảng giật phay chiếc đồng hồ đo ra khỏi đai đeo, đưa thẳng mặt kính hiển thị đồ thị sóng điện từ ra trước tầm mắt Lâm An.
Trên màn hình tinh thể lỏng nhỏ hẹp, một xung dòng điện rò rỉ bất thường—dao động dưới dạng sóng hình sin lệch pha hoàn toàn với biên độ nhảy vọt lên tới hơn 400 vôn—đang chạy ngược từ một nhánh ngầm của mạng phân phối điện trạm chính. Dòng điện ký sinh ấy luồn lách qua các đường dây cáp tưởng chừng đã chết mục của Khoang Gốc, và điểm đến cuối cùng của nó đang hướng thẳng tắp về phía trung tâm điều khiển của Điểm Neo số Hai.
“Đây tuyệt đối không phải là dòng điện rò rỉ ngẫu nhiên của lưới chính,” sắc mặt Bùi Duy biến đổi hoàn toàn, trở nên trắng bệch sau lớp kính bảo hộ. “Có một thiết bị can thiệp kỹ thuật số tự động đang liên tục nạp điện cho các tụ điện kích hoạt từ xa... Nó được cài cắm ăn sâu vào chính mạch cấp điện dự phòng của Điểm Neo số Hai!”
Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng Lâm An. Tấm bản vẽ kỹ thuật chi tiết bị gạch chéo bằng mực đỏ mà anh từng tìm thấy trong xưởng bí mật của Phạm Khang lập tức hiện về rõ mồn một trong tâm trí: *Điểm Neo số Hai: Ngắt kích hoạt - trễ 180 giây*. Tên kỹ thuật viên phản bội ấy không chỉ đơn thuần lợi dụng địa hình mù của Vùng Chồng để thực hiện những chuyến buôn lậu vật tư phi pháp hay giấu xác người phi tang; hắn đã nắm thấu điểm yếu chí mạng nhất trong toàn bộ cấu hình mạng lưới cũ của Khoang Gốc—chính cái vết sẹo biến tính nhiệt từ mười bảy năm trước mà hệ thống neo không bao giờ có thể tự hàn gắn được—để thiết lập nên một quả bom hẹn giờ bằng điện từ trường có sức hủy diệt toàn bộ trạm Vành Khuyên.
*TÍTTTTT! TÍTTTTT! TÍTTTTT!*
Còi báo động áp suất trên cả hai bình dưỡng khí của Lâm An và Bùi Duy đồng loạt chuyển sang ngưỡng báo động đỏ khẩn cấp. Kim đồng hồ cơ học đo áp suất khí nén gắn trước ngực Lâm An đã tụt thẳng xuống vạch mười lăm bar cuối cùng—lượng khí thở dự phòng tối thiểu chỉ đủ để duy trì chức năng sống trong vòng chưa đầy năm phút chạy bộ hết tốc lực.
Cùng lúc đó, một âm thanh rung chuyển trầm đục, nặng nề từ sâu thẳm trong kết cấu chịu lực của trạm Vành Khuyên bắt đầu dội tới, ban đầu chỉ là những đợt rung rinh mơ hồ dưới đế giày, nhưng nhanh chóng phát triển thành những đợt sóng chấn động làm toàn bộ sàn thép dưới chân họ nảy lên bần bật. Tiếng rít xé gió rợn người của không khí bị hút chân không bắt đầu dội lại từ phía trục thông khí phụ: chu kỳ chuyển pha điện đêm toàn trạm đang bước vào những nhịp đếm cuối cùng của chiếc đồng hồ tử thần. Luồng không khí lạnh như băng giá từ các buồng xả áp ngoài không gian bắt đầu ùa vào lòng ống dẫn, mang theo những tinh thể băng tuyết li ti quất rát sàn sạt vào mặt kính bảo hộ của hai người.
“Rút lui mau! Ngay lập tức!” Bùi Duy hét lớn qua bộ đàm nội bộ, bàn tay hộ pháp của anh túm chặt lấy quai áo bảo hộ sau lưng Lâm An giật mạnh về phía sau. “Chu kỳ điện đêm đang ập tới rồi! Nếu các khớp nối không gian đảo chiều lúc này, cánh cửa van sẽ khóa chết và chúng ta sẽ bị chôn sống vĩnh viễn ở đây cùng với đống sắt vụn này!”
Lâm An nhanh như cắt giật phăng chiếc thẻ nhớ nhôm ra khỏi cổng kết nối phụ của màn hình CRT, rồi dùng cả hai tay ôm chặt lấy khối ổ cứng vonfram nặng trịch vào trước lồng ngực. Anh quay ngoắt người, dồn toàn bộ sức mạnh vào đôi chân, điên cuồng lao thẳng về phía khe nứt của cánh cửa vòm.
Bụi mù oxit sắt và những mảnh vụn silicat cuộn lên mù mịt theo từng bước chạy tháo thân dồn dập của họ. Phía sau lưng hai người, tia sáng lân quang xanh lục duy nhất của chiếc màn hình CRT nhấp nháy giật cục một lần cuối cùng rồi phụt tắt hoàn toàn khi điện áp phụ trợ sụp đổ dưới sự đảo mạch của hệ thống. Bóng tối đặc quánh, lạnh lẽo của mười bảy năm hoang phế một lần nữa trùm xuống, nuốt chửng toàn bộ căn phòng thí nghiệm trung tâm vào hư vô.
Hai người lao mình qua khe nứt kim loại của cánh cửa vòm, đế giày bảo hộ đạp tung những mảng vữa silicat vụn nát dưới chân. Sợi dây cáp đồng tiếp xúc dưới chân Bùi Duy lúc này đã căng phắt ra như một sợi dây đàn, đóng vai trò như một chiếc la bàn vật lý duy nhất dẫn đường cho họ lao ngược trở lại lòng ống thông khí chật hẹp trong màn đêm mịt mùng. Nhiệt độ xung quanh tụt dốc không phanh theo từng giây trôi qua; luồng gió lạnh buốt thấu xương gào thét điên cuồng dọc theo các vách thép hộp, báo hiệu các van khóa áp suất đảo chiều của chu kỳ điện đêm đang rầm rập đóng sập từng khoang một dọc theo toàn bộ phân khu kỹ thuật ngầm.
“Nhanh chân lên! Kích thủy lực sắp trượt ngàm rồi!” Bùi Duy vừa thở dốc vừa gầm lên trong máy liên lạc, tiếng thở của anh qua van điều áp nghẹn lại thành từng cơn dốc ngắt quãng, khô khốc và đau đớn.
Ở điểm cuối của trục thông khí phụ, khe hở hẹp mà họ dùng kích mở rộng lúc ban đầu đang bắt đầu khép dần lại dưới áp lực cơ học khủng khiếp của hệ thống khóa liên động tự động toàn trạm. Thanh chống bằng thép tôi của kích thủy lực bắt đầu phát ra những tiếng kêu răng rắc ghê rợn, thân piston chịu lực bị uốn cong dần dưới sức ép nghìn cân của cánh cửa trượt phân khu chính đang nghiến xuống.
Lâm An không hề do dự, anh trượt dài trên sàn thép, dùng hết bình sinh đẩy mạnh khối ổ cứng vonfram qua khe hở đang co hẹp dần, tống nó trượt sang bề mặt sàn hành lang của mạng lưới kỹ thuật chính bên ngoài. Ngay sau đó, anh nghiêng hẳn bả vai, cắn răng trườn thân người qua mép thép răng cưa sắc lẹm. Một tiếng *xoẹt* chói tai vang lên khi lớp vải bạt bọc sợi aramid chống cắt trên bả vai áo bảo hộ của anh bị mép cửa xé toạc một mảng lớn, ma sát làm nóng rực cả vùng da thịt bên dưới lớp lót.
Bùi Duy lao qua khe hở ngay sát nút phía sau gót chân Lâm An. Và đúng vào khoảnh khắc mũi giày bảo hộ nặng nề của Duy vừa rút trọn vẹn khỏi khe cửa, chốt hãm cơ học của chiếc kích thủy lực hoàn toàn quá tải và nổ tung với một tiếng *đoàng* đanh gọn như tiếng đại bác.
Cánh cửa trượt hợp kim nặng hàng tấn dập thẳng xuống sàn thép với một lực va đập khủng khiếp, chấn động dữ dội làm toàn bộ hệ thống khung dầm của hành lang công cộng bên ngoài rung lắc bần bật.
*ẦM!*
Một luồng khí lạnh buốt mang theo áp suất âm xộc mạnh qua khe hở cuối cùng trước khi các ngàm khóa áp suất nhảy chốt khóa cứng hoàn toàn, cuốn theo những đám bụi xám bạc xoáy tròn trên mặt sàn rồi tan biến vào bóng tối của hành lang.
Lâm An ngã vật ra sàn thép lạnh lẽo của trạm chính, toàn thân run rẩy, lồng ngực anh phập phồng dữ dội dưới lớp áo bảo hộ đã rách toạc một bên vai. Anh vội vã đưa tay giật mạnh chốt xả của bình khí nén đã hoàn toàn cạn kiệt, run rẩy tháo phăng chiếc mũ trùm bảo hộ ra để hít lấy hít để từng ngụm không khí nồng nặc mùi dầu mỡ máy móc và ozone của mạng lưới thông gió công cộng. Dù thứ dưỡng khí ấy mang đậm vị cơ khí khô khốc, nhưng đối với hai lá phổi đang cháy rát của anh lúc này, nó ngọt ngào và quý giá hơn bất cứ thứ gì trên cõi đời.
Bên cạnh anh, Bùi Duy cũng ngồi bệt xuống đất, lưng tựa chặt vào vách tường kim loại, hai tay chống lên đầu gối, những giọt mồ hôi túa ra ướt đẫm trán và bết dính vào thái dương dù không khí xung quanh đang lạnh buốt.
Khối ổ cứng bằng hợp kim vonfram đen đúa nằm yên lìm trên mặt sàn thép giữa hai người họ, lạnh ngắt, trơ lì và sừng sững như một phiến đá bia mộ cổ xưa vừa được đào bới lên từ nấm mồ sâu của lịch sử trạm.
Lâm An run rẩy đưa những ngón tay trần chạm vào bề mặt kim loại xù xì, nham nhở những vết muội than của khối lưu trữ, rồi siết chặt chiếc thẻ nhớ nhôm nhỏ bé nhưng nặng tựa ngàn cân trong lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh. Những dòng nhật ký cảnh báo đỏ rực từ mười bảy năm trước vẫn đang bùng cháy rát bỏng trong tâm trí anh, soi rọi không khoan nhượng vào bộ mặt thật của những kẻ nhân danh sự ổn định và trật tự để cai trị hàng ngàn con người trên trạm không gian này.
Thảm họa kinh hoàng mười bảy năm trước chưa bao giờ là một định mệnh nghiệt ngã do trời định, mà nó chính là kết quả của một chuỗi tội ác có tính toán, khi những con người bằng xương bằng thịt ngồi trong phòng lạnh đã thản nhiên chọn cách phớt lờ những chiếc đèn báo động đỏ đang gào thét trong tuyệt vọng.