Hai Mươi Bước Không Dẫn Tới Nhau
Tiếng đế giày cao su tổng hợp của Lâm An và Bùi Duy nện đều trên sàn hợp kim Hành lang số Không, dội vào các vách ngăn kín khí những âm vang khô đục, đơn điệu. Từng mét vuông không gian tại hành lang này đều nằm dưới tầm quét giao thoa của hai cụm camera đầu hồi hình bán cầu gắn chìm trên trần.
Ánh sáng từ dải đèn huỳnh quang âm tường hắt xuống một sắc trắng nhờ nhợt như vôi sống, phủ lên những tấm ốp hợp kim đã ngả màu xám xỉn sau hàng chục năm liên tục chịu tải áp suất và rung chấn cơ học từ lõi trạm. Bầu không khí ở đây lúc nào cũng đặc quánh mùi dầu bôi trơn công nghiệp cháy khét, hòa lẫn hơi ẩm ngai ngái bốc ra từ các van điều áp của mạng lưới lọc khí tuần hoàn khép kín. Không một luồng gió tự nhiên nào có thể chạm tới tầng này; mọi thứ hít thở vào phổi đều mang vị tanh lợm của bụi kim loại và ion ozone tái chế.
Trước khi tiến thêm bước thứ ba vào vùng ranh giới kiểm soát sơn vạch vàng đen đã mòn vẹt, Bùi Duy đột ngột dừng lại. Cánh tay hộ pháp của Đội trưởng Đội Neo đưa ngang, chặn cứng trước lồng ngực Lâm An theo đúng phản xạ nghề nghiệp của một lính cứu hộ bậc cao. Gương mặt Bùi Duy vuông vức, da dẻ sạm đen và thô ráp vì những chu kỳ làm việc kéo dài dưới bức xạ kỹ thuật rò rỉ từ các khoang máy, ánh mắt sắc như hai lưỡi đục rà soát một lượt khắp bốn bề góc cạnh, từ các rãnh thoát nước kỹ thuật dưới chân cho đến những khớp nối giảm chấn trên xà trần.
"Quy trình thám sát đôi," Bùi Duy gằn giọng, từng từ nhả ra nặng nề, dứt khoát như tiếng búa tạ gõ vào đe. "Chuẩn mực mười hai. Không ngoại lệ, không rút gọn, không thỏa hiệp."
Lâm An không đáp bằng lời, chỉ lặng lẽ gật đầu. Anh kéo khóa găng tay bảo hộ bằng da dày, tuột ra rồi chìa cổ tay trái về phía trước. Dưới luồng sáng lạnh lẽo của bóng đèn huỳnh quang, hai mặt kính sapphire của hai chiếc đồng hồ cơ khí chuyên dụng lộ ra sát cạnh nhau. Đó là những cỗ máy cơ học thuần túy được chế tác riêng cho lực lượng tuần tra ngưỡng, sử dụng dây cót bằng hợp kim titan và hệ thống bánh răng truyền động bằng đồng thau, hoàn toàn cách ly với bất kỳ mạch vi xử lý bán dẫn hay xung điện từ nào của mạng điều hành trạm. Kim giây thanh mảnh sơn màu cam dạ quang của cả hai chiếc đồng hồ đang nhích từng nhịp giòn giã, đanh gọn, không một gợn trễ nải.
"Mười ba giờ bốn mươi mốt phút ba mươi giây," Bùi Duy cất giọng đọc to thông số hiển thị trên mặt số màu xám thép của mình.
"Trùng khớp," Lâm An đáp, ánh mắt ghim chặt vào dao động cơ học không lệch lấy một phần trăm giây giữa hai cỗ máy. "Tần số dao động của lò xo cân bằng bình thường. Không ghi nhận hiện tượng giãn nở quán tính. Hệ quy chiếu thời gian thực được xác lập."
Theo quy chuẩn an toàn cứu hộ và trinh sát không gian được Hội Đồng Trạm ban hành sau vụ mất tích thảm khốc thứ mười hai tại Phân khu Bốn, không một nhân viên nào—dù mang cấp bậc hay đặc quyền gì—được phép bước chân vào các hành lang chuyển tiếp một mình, và trên hết, tuyệt đối không bao giờ được đặt niềm tin vào những chiếc đồng hồ hiển thị kỹ thuật số. Không gian của Vùng Chồng có thể vặn xoắn cấu trúc vật lý, bẻ cong các tuyến cáp quang dẫn truyền tín hiệu và đánh lừa máy tính điều hướng bằng những thông số ảo, nhưng thời gian tuyệt đối vẫn trôi thẳng một chiều theo quán tính vũ trụ; một sợi dây cót kim loại cuộn chặt và một bánh răng cơ khí không thể bị bóp méo bởi những ảo ảnh thị giác hay độ trượt của trường lực cục bộ.
Bùi Duy thọc tay vào túi ngực áo khoác bảo hộ, rút ra một chiếc ống nghiệm thủy tinh thạch anh bọc lưới thép bảo vệ. Bên trong ống nghiệm chứa một lượng nhỏ mẫu bụi chuẩn đối chứng—thứ bột đá màu nâu thẫm được khai thác từ lớp vỏ ngoài nguyên thủy của trạm Vành Khuyên từ ngày đầu lắp ráp. Anh giữ ống nghiệm thẳng đứng, sau đó nghiêng nhẹ một góc ba mươi độ, chăm chú quan sát độ rơi tự nhiên của các hạt vật chất mịn dưới tác động của gia tốc trọng lực nhân tạo. Từng hạt bụi nâu rơi xuống đáy ống một cách hoàn hảo, tơi xốp, không bám dính vào thành thủy tinh, không bị giật cục hay vẩn lên bởi bất kỳ từ trường dị thường nào đang ẩn giấu dưới lớp sàn hợp kim. Bùi Duy khẽ thở phắt ra một hơi ngắn qua kẽ răng, cài lại chốt an toàn trên nắp túi áo.
Cùng lúc đó, Lâm An vặn công tắc nguồn của chiếc máy đo điện trường độc lập đeo bên hông thắt lưng. Thiết bị này nặng trịch, vỏ đúc bằng gang xám với ba chiếc kim đồng hồ kim loại gắn trên mặt số analog phủ dạ quang xanh lục. Ngay khi dòng điện hóa năng từ khối pin khô kích hoạt cuộn cảm ứng, ba chiếc kim lập tức rung bần bật, vạch những cung tròn ngắn ngủi trong không khí trước khi ghìm chặt lại ở mức bốn mươi lăm microvolt trên mét. Đó là ngưỡng điện trường nền thông thường sinh ra từ hệ thống cáp tải ba pha chạy ngầm dưới lườn thép của trạm. Thiết bị này là một ốc đảo biệt lập hoàn toàn, không liên kết với mạng máy chủ trung tâm của Ban Quản Trị, bảo đảm rằng mọi số liệu đo đạc tại đây sẽ không bị bất kỳ thuật toán tự động nào "hiệu chỉnh" để che giấu những biến thiên rủi ro.
"Thiết bị sạch. Điện trường ổn định ở mức nền," Lâm An siết chặt lại dây đeo máy quét ngang hông, điều chỉnh quai giữ cho ôm khít vào hông sườn. "Bắt đầu khám nghiệm hiện trường."
Hai người chầm chậm tiến vào đoạn hành lang nối giữa khu dân cư phía Tây và cổng kiểm dịch của Bệnh xá Mười Hai. Đoạn đường này vốn dĩ vô cùng ngắn ngủi—nếu bước sải chân dài của một người đàn ông trưởng thành, nó chỉ vỏn vẹn hai mươi bước chân, một lối đi thẳng tắp, hai bên là những mảng tường kim loại trơn tuột không có lấy một ngã rẽ, không có hốc tường che khuất tầm nhìn, cũng chẳng có lấy một cánh cửa thoát hiểm phụ nào. Bất kỳ ai đứng ở ngưỡng cửa đầu này đều có thể nhìn thấy rõ từng sợi chỉ sờn hay nếp gấp trên cổ áo của người đang đứng ở ngưỡng cửa đầu bên kia.
Thế nhưng chính tại hai mươi bước chân trần trụi này, ba tuần trước, một kỹ thuật viên cấp dưỡng của trạm đã biến mất không để lại một mảnh móng tay hay một sợi tóc.
Lâm An ngước mắt nhìn lên hai mắt camera giám sát hình bán cầu gắn đối diện nhau ở hai đầu trần hành lang. Lớp vỏ nhựa polymer bảo vệ của chúng đã ngả màu vàng ố vì khói dầu công nghiệp và nhiệt độ phòng, nhưng những thấu kính quang học bên trong vẫn đảo qua đảo lại đều đặn theo chu kỳ quét mười lăm giây mỗi lượt, phát ra những tiếng ro ro cơ học cực nhỏ chỉ có thể nghe thấy khi không gian hoàn toàn tĩnh lặng.
"Hồ sơ lưu trữ tại máy chủ trung tâm hiển thị rất rõ ràng, từng khung hình đều nguyên vẹn," Lâm An vừa bước từng bước thận trọng vừa lên tiếng, gót giày dộng xuống mặt sàn tạo thành những tiếng vang rỗng kỳ lạ, như thể bên dưới lớp hợp kim dày ba phân kia không phải là dầm thép chịu lực mà là một khoảng chân không thăm thẳm. "Nạn nhân bước qua ngưỡng cửa của khu dân cư lúc mười bảy giờ mười hai phút ba mươi tư giây. Cụm camera phía sau ghi nhận toàn bộ hình ảnh lưng anh ta, bóng đổ dài về phía trước, bước đi bình thường, tay xách một thùng kim loại đựng mẫu thực phẩm. Nhưng ở cụm camera đầu đối diện phía bệnh xá, không có bất kỳ khung hình nào ghi nhận anh ta bước ra. Không có cảnh vấp ngã, không có bóng người quay đầu, không có sự can thiệp cơ học nào từ bên ngoài. Người đàn ông đó chỉ đơn giản là tan biến vào khoảng không giữa bước chân thứ mười và bước chân thứ mười hai."
"Bộ nhớ trung tâm chỉ là một cỗ máy ngu ngốc, nó chỉ biết suy đoán vị trí dựa trên sơ đồ trạm cố định vẽ sẵn từ ngày hạ thủy," Bùi Duy nhổ một bãi bọt khô khốc sang mép vách ngăn kim loại, giọng càu nhàu bực bội, bàn tay nắm chặt lấy quai đeo túi đồ nghề cứu hộ. "Máy tính mẹ nghĩ rằng hành lang này là một đường ống thẳng nối điểm A với điểm B trên một mặt phẳng hình học. Nhưng nếu điểm B trong một tích tắc bị trượt khỏi khớp nối không gian thực, nếu cấu trúc trạm bị vặn vẹo như một chiếc khăn mặt ướt bị vắt kiệt, thì hai mươi bước chân này sẽ dẫn thẳng xuống đáy vực thẳm mà camera không bao giờ hiểu được, và cũng chẳng có thuật toán nào ghi nhận nổi sự biến mất ấy."
"Camera không nói dối về mặt hình ảnh quang học thuần túy mà nó thu nhận được qua thấu kính thủy tinh, nó chỉ bị gán sai vị trí tọa độ mà thôi," Lâm An đáp, giọng anh trầm xuống, sự tập trung đẩy lên mức cao nhất.
Anh dừng lại ở bước chân thứ mười một. Mũi giày bảo hộ của anh đặt chính xác lên đường chỉ nối giáp ranh giữa tấm lát sàn số bảy và số tám.
Tại vị trí này, cảm giác về không gian xung quanh bắt đầu xuất hiện một độ vênh vô cùng tinh vi. Tai Lâm An chợt thấy ù đi, một áp lực vô hình nhưng sắc nhọn ép nhẹ lên màng nhĩ, hệt như cảm giác khi buồng điều áp đột ngột tụt xuống nửa phân bar, dù rằng tiếng rít của các van tuần hoàn trên trần nhà vẫn đang thổi luồng khí lạnh đều đặn không đổi. Cảm giác thăng bằng trong ốc tai anh hơi chao đảo nhẹ, một sự bất an bản năng trỗi dậy dọc sống lưng.
Lâm An nâng chiếc máy quét phổ nhiệt cầm tay lên ngang ngực. Anh áp sát đầu dò hồng ngoại đa phổ của máy vào bề mặt bức tường hợp kim bên tay trái, nơi tiếp giáp trực tiếp với dầm chịu lực của phân khu cũ.
Bức tường kim loại trước mặt họ phủ một lớp sơn công nghiệp màu xám tro dày cộm, loại sơn gốc epoxy chống ăn mòn tiêu chuẩn thường dùng trên các trạm vũ trụ để bảo vệ các vách ngăn kín khí khỏi tác động bào mòn của hơi muối và axit rò rỉ từ các buồng ắc quy. Bề mặt lớp sơn thoạt nhìn phẳng lì, thô ráp và đồng nhất một cách tẻ nhạt, giống hệt như hàng ngàn mét vuông tường vách khác rải rác khắp trạm Vành Khuyên. Không có một vết rạn nứt, không có một vết lồi lõm nào có thể nhận biết bằng mắt thường dưới ánh đèn huỳnh quang.
Lâm An xoay núm điều chỉnh dải sóng của máy quét, chuyển chế độ đo từ nhiệt độ bề mặt thông thường sang chế độ phản xạ nhiệt vi sai tầng sâu. Thiết bị bắt đầu phát ra những tiếng tít tít ngắt quãng, màn hình tinh thể lỏng nhỏ xíu chớp giật liên hồi khi các chùm tia quét xuyên thấu qua các lớp vật liệu phủ.
Những mảng màu xám xanh đơn điệu ban đầu trên màn hình dần dần nứt vỡ, nhường chỗ cho những vệt màu đỏ tía và tím thẫm rực rỡ hiện lên từ bên dưới lớp sơn phủ dày cộp, phơi bày một cấu trúc hoàn toàn xa lạ đang lẩn khuất trong lòng kim loại.
"Nhìn này, Bùi Duy," Lâm An trầm giọng gọi, ngón tay anh giữ chặt nút khóa hình ảnh trên thân máy.
Đội trưởng Đội Neo bước tới một bước, nghiêng đầu ghé sát mắt vào màn hình nhỏ của máy quét. Hơi thở nóng hổi của Bùi Duy phả nhẹ lên lớp kính chắn bụi.
Ẩn sâu dưới ba lớp sơn công nghiệp dày cộm là những vệt biến dạng nhiệt có hình thù gai góc, dữ dội, tỏa ra như những nhánh cây khô bị sét đánh gãy, hoặc tựa như những đường nứt nẻ của tia sét vĩnh cửu bị đông cứng lại trong cấu trúc tinh thể kim loại. Các nhánh nhiệt phân nhánh chằng chịt từ một đường viền thẳng đứng hình chữ nhật kéo dài từ mặt sàn lên tận xà trần, vẽ nên một khung hình học rõ ràng đến rợn người.
"Vết cháy nhánh cây," Bùi Duy siết chặt nắm tay, các khớp xương ngón tay kêu răng rắc dưới lớp da dày. "Dấu vết đặc trưng không thể nhầm lẫn của ngưỡng cửa Vùng Chồng khi phải chịu tải xung biến dạng không gian cực lớn. Sự trượt cấu trúc giữa hai vùng thực tại đã nướng chín mạng tinh thể hợp kim từ bên trong. Bọn chúng đã dùng sơn công nghiệp quét đè lên nó."
"Không chỉ đơn giản là quét sơn làm đẹp để che giấu sự xuống cấp," Lâm An miết ngón tay có đeo găng bảo hộ lên bề mặt lớp sơn sần sùi, cảm nhận độ gợn rất khẽ của lớp vật liệu. "Có kẻ đã cố tình dùng bột bả matit công nghiệp trét phẳng các vết lồi lõm do nhiệt biến dạng tạo ra, rồi sơn chồng lên ít nhất ba lớp men epoxy dày để qua mặt các cuộc kiểm tra trực quan thông thường. Nếu một thanh tra an toàn chỉ đi ngang qua đây với một chiếc đèn pin và một bảng ghi chép tiêu chuẩn, bức tường này trông sẽ chẳng khác gì một khối kim loại đúc liền khối chưa từng bị tổn thương hay xâm phạm."
Bùi Duy không nói thêm một lời nào. Anh với tay ra sau đai lưng, rút ra một chiếc xà beng kỹ thuật bằng hợp kim vonfram-cacbua ngắn chừng nửa mét, đầu dẹp, sắc lẹm và đen bóng. Anh không chần chừ, lập tức ghé mũi xà beng vào mép một tấm ốp bảo trì kim loại hình vuông nằm sát góc chân tường, nơi lớp sơn có dấu hiệu hơi gồ lên một đường chỉ mảnh như sợi tóc.
"Khoan đã," Lâm An vội đưa tay giữ lấy cổ tay Bùi Duy, lực giữ dứt khoát ngăn lại động tác cạy phá của người đội trưởng. Ánh mắt Lâm An găm chặt vào những chiếc ốc vít lục giác đang cố định bốn góc của tấm ốp bảo trì vào khung chịu lực bên trong. "Nhìn kỹ các đầu ốc vít đi."
Bùi Duy cúi rạp người xuống, nheo mắt nhìn theo hướng chùm sáng gom của chiếc đèn pin mà Lâm An đang rọi thẳng vào góc chân tường.
Bốn chiếc ốc vít bằng thép tôi cứng dùng để khóa chặt tấm ốp bảo trì kim loại lẽ ra phải bám đầy một lớp bụi chết dày đặc và bị lớp sơn phủ epoxy bịt kín các đường ren ốc sau mười bảy năm bị bỏ quên kể từ ngày thảm họa xảy ra. Nhưng thực tế trước mắt họ lại hoàn toàn trái ngược. Lớp sơn phủ quanh các rãnh lục giác trên đầu ốc đã bị nứt vỡ thành những vảy nhỏ li ti, để lộ ra những mảng kim loại trần trụi. Đáng chú ý hơn cả, trên các góc vát cạnh của đầu ốc vẫn còn nguyên những vết xước mài mòn sáng ánh kim loại tươi mới—chứng tích cơ học không thể chối cãi của việc kim loại vừa bị ma sát mạnh bởi một công cụ chuyên dụng cách đây chưa lâu.
"Vết cờ-lê định lực chuyên dụng," Bùi Duy lẩm bẩm, giọng anh bỗng chốc trầm xuống đầy vẻ kinh ngạc xen lẫn nghi hoặc sâu sắc. Bàn tay đang cầm chiếc xà beng của anh khẽ siết chặt lại. "Loại ốc chịu lực cao áp này không thể tháo mở bằng mỏ-lết thông thường hay kìm chết. Ren ốc được tiện đặc biệt, bắt buộc phải dùng bộ cờ-lê tròng định lực có ngàm khắc rãnh đôi của Đội Neo... và nó vừa được vặn mở cách đây không quá vài ba ngày."
Lâm An không nói gì, nhưng quai hàm anh bạnh ra, ánh mắt anh đanh lại như thép nguội. Bộ cờ-lê định lực chuyên dụng là một công cụ kiểm soát đặc thù, chỉ được cấp phát với số lượng vô cùng hạn chế cho những kỹ thuật viên bảo trì bậc cao chịu trách nhiệm về hệ thống cuộn dẫn không gian của trạm. Ý nghĩ về khoang bảo trì phân khu B, về kịch bản ám sát Mai Chi và những lời khai vô hồn của bản sao Đỗ Minh lại một lần nữa dội về trong tâm trí anh như một hồi chuông báo động dồn dập. Kẻ giật dây không phải là một bóng ma vô hình nào đó; chúng là những kẻ đang nắm giữ công cụ chuẩn mực của trạm, bước đi giữa ban ngày và sử dụng chính các quy trình kỹ thuật để che giấu những tội ác ngầm.
"Cạy nó ra," Lâm An dứt khoát ra lệnh.
Bùi Duy cắm sâu mũi xà beng vào khe nứt dưới mép tấm ốp, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào cánh tay đòn. Cơ bắp trên vai anh cuộn lên dưới lớp áo khoác dày.
Một tiếng *rắc* khô khốc, chói tai vang lên xé toạc bầu không khí tĩnh mặng của hành lang. Lớp sơn epoxy dày giòn rụm nứt toác ra, làm bung bắn những mảng vảy sơn và bụi trắng xóa vào không khí. Tấm ốp bảo trì bằng thép tấm nặng trịch bật ngửa ra ngoài, rơi xuống sàn kim loại với một tiếng *keng* nặng nề, để lộ ra khoảng không gian ngầm u tối và ẩm thấp bị chôn giấu phía sau vách ngăn suốt gần hai thập kỷ.
Lâm An bật nấc công suất lớn nhất của chiếc đèn pin cầm tay, rọi luồng sáng thẳng vào khoảng trống vừa lộ ra.
Hiện ra sau tấm ốp không phải là những búi dây cáp điện chằng chịt hay hệ thống đường ống dẫn dưỡng khí thông thường của trạm, mà là một khung cửa kim loại hoàn chỉnh hình vòm cuốn. Khung cửa này đã bị trám kín hoàn toàn bằng một khối vữa silicat pha hạt kim loại nặng từ mười bảy năm trước—thứ vật liệu trám chuyên dụng có mật độ siêu cao được Hội Đồng Trạm sử dụng để phong tỏa vĩnh viễn các phân khu bị đứt gãy sau thảm họa thí nghiệm gấp không gian đầu tiên.
Thế nhưng, điều khiến toàn bộ lông tơ trên cánh tay Lâm An dựng đứng lên không phải là khối vữa silicat xám xịt kia, mà chính là phần cơ học của khung cửa: hai chiếc bản lề hợp kim chịu tải cực lớn và hệ thống ngàm khóa từ tính chạy dọc theo viền vòm cuốn vẫn còn nguyên vẹn cấu trúc dẫn truyền. Chúng không hề bị cắt đứt bằng mỏ hàn nhiệt hay vô hiệu hóa bằng chốt phá hủy như quy chuẩn an toàn đòi hỏi; trái lại, các bề mặt tiếp xúc bằng đồng berili của khung dẫn vẫn được bôi một lớp mỡ silicon trong suốt, sạch bóng, không dính một hạt bụi, hoàn toàn sẵn sàng cho việc truyền dẫn dòng điện năng lượng cao bất cứ lúc nào.
"Khung dẫn vẫn thông mạch hoàn toàn," Bùi Duy thì thào, những ngón tay thô ráp của anh khẽ run lên khi chạm nhẹ vào bề mặt bản lề lạnh ngắt. "Mười bảy năm trước, báo cáo kỹ thuật do chính Ban Quản Trị phê duyệt và lưu trữ trong văn khố trung tâm ghi rõ rằng toàn bộ các lối đi dẫn sang Khoang Lặng và các phân khu mất liên lạc đã bị đánh sập hoàn toàn cấu trúc dẫn, cắt rời mạch nguồn và đổ bê tông silicat khóa chết vĩnh viễn. Vậy mà cái khung này... nó vẫn là một ngưỡng cửa sống!"
"Một ngưỡng cửa bị bịt miệng bằng bê tông, nhưng quả tim của nó vẫn đập dưới lớp da," Lâm An lạnh lùng nói, thanh âm của anh đều đều nhưng ẩn chứa sự căm phẫn tột cùng.
Anh quỳ một chân xuống sàn hợp kim lạnh toát, hạ thấp chiếc đèn pin chùm tia chiếu hẹp, rọi luồng sáng song song sát rạt với mặt sàn, chiếu thẳng vào khe nứt sâu hoắm nằm giữa mép dưới của khối trám silicat và mặt sàn kim loại.
Ánh sáng tập trung thành một vệt tròn sắc nét như dao cạo, cắt ngang qua bóng tối dày đặc tích tụ dưới gầm khung cửa.
Dưới đáy khe nứt hẹp chưa đầy hai đốt ngón tay, Lâm An nhìn thấy những hạt bụi li ti lấp lánh phản quang dưới ánh đèn. Chúng không phải là bụi xỉ công nghiệp màu xám xỉn, cũng không phải gỉ sét sắt thép hay vảy sơn bong tróc, mà là một lớp bột màu xám bạc mịn màng như phấn hoa, trôi nổi lơ lửng một cách lười biếng trong không khí trước khi bám vào các gờ kim loại.
"Bụi dẫn không gian," Lâm An rút một chiếc que lấy mẫu vô trùng bằng thủy tinh từ túi đồ nghề đeo bên đùi, cẩn thận quẹt một vệt dài dọc theo mép khe nứt, rồi cẩn trọng cho que mẫu vào một ống nghiệm chân không nhỏ bằng ngón tay út. "Tàn dư vật chất để lại khi có sự trượt thể tích và ma sát pha giữa hai vùng không gian chồng lấn. Lớp bụi này còn rất mới, độ phân tán tĩnh điện trên bề mặt các hạt chưa bị triệt tiêu hoàn toàn bởi độ ẩm. Ngưỡng cửa này... nó vừa mới mở ra trong chu kỳ điện đêm gần nhất."
Bùi Duy ghé sát đèn pin của mình lại gần que mẫu của Lâm An để nhìn cho rõ, nhưng ánh mắt dạn dày sương gió của người đội trưởng cứu hộ lập tức bị thu hút bởi một chi tiết cơ học khác nằm ngay trên mặt sàn kim loại phía trước khe nứt.
"An, nhìn xuống đây. Ngay dưới chân cậu."
Dọc theo mặt sàn hợp kim nhôm-magiê, trải dài từ tâm của khe nứt khung cửa bị trám kín và kéo dài khoảng sáu bước chân ra giữa lòng Hành lang số Không, là hai vệt cào xước cơ học song song.
Đó là những vết trầy xước rất sâu, làm tróc hẳn lớp sơn phủ bề mặt, cày xới vào tận thớ kim loại nguyên bản để lộ ra màu bạc sáng lóa bên dưới. Khoảng cách giữa hai vệt cào rộng chừng năm mươi centimet, đáy vết xước có những gờ kim loại nhỏ bị dồn ứ lại thành từng nếp gấp li ti theo hướng ngược lại, chứng tỏ một áp lực đè nén cực lớn tác động theo hướng kéo lê từ bên ngoài hành lang thẳng vào phía trong bức tường trám silicat.
"Dấu kéo lê vật nặng," Bùi Duy quỳ hẳn cả hai đầu gối xuống bên cạnh Lâm An, đặt bàn tay to bản thô ráp của mình ướm lên khoảng cách giữa hai vệt xước. Mặt anh biến sắc, cơ hàm bạnh ra căng thẳng, những nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu lại. "Độ rộng này... lực ma sát này... không phải xe đẩy hàng kỹ thuật. Xe đẩy chở vật tư luôn có bánh bọc cao su chịu tải và tuyệt đối không bao giờ tạo ra vết cào dập mép kim loại sâu đến nửa milimet thế này."
"Kích thước này tương đương với một bao tải hàng cứu hộ bọc vải bạt thô hạng nặng," Lâm An tiếp lời, giọng anh lạnh buốt như băng tan trong đường hầm chân không, "hoặc là... một cơ thể người bị túm hai cổ chân kéo lê đi trên mặt sàn."
Bùi Duy rùng mình một cái rõ rệt. Là một người lính cứu hộ dày dạn kinh nghiệm bậc nhất của Đội Neo, người từng chỉ huy hàng chục chiến dịch kéo thi thể các nạn nhân ra khỏi các khoang giảm áp hay các đường ống dẫn khí bị vỡ nát, anh hiểu quá rõ hình thái cơ học của những vết cào này. Đó là dấu vết để lại khi gót ủng bảo hộ hoặc những chiếc khóa kim loại trên đai quần áo cọ xát với áp lực của một thể xác hoàn toàn bất động, mềm oặt vì hôn mê hoặc đã chết, bị lôi tuột đi trên mặt đất bởi một lực kéo không khoan nhượng.
"Đỗ Minh?" Bùi Duy buột miệng thốt lên, ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt không cảm xúc của Lâm An. "Ý cậu là... Đỗ Minh thật sự đã bị kéo qua cái khe nứt quái quỷ này ba tuần trước?"
"Hoặc là Đỗ Minh, hoặc là một nạn nhân tiếp theo trong danh sách thanh tẩy của chúng," Lâm An đứng thẳng dậy, vỗ nhẹ hai bàn tay phủi sạch lớp bụi kim loại bám trên đầu gối quần bảo hộ. Anh nhìn chằm chằm vào những vệt cào xước sắc lạnh trên sàn, nơi chúng đâm thẳng vào khối vữa silicat kiên cố rồi đột ngột đứt đoạn, biến mất như thể bức tường đá kim loại dày nửa mét kia đã nuốt chửng lấy vật thể đó vào một cõi vô hình nào đó bên kia thực tại. "Dù nạn nhân đó là ai, thì cái lối đi ma quỷ này cũng không thể để nó tồn tại và mở ra thêm một phút nào nữa."
Lâm An đưa tay bấm nút kích hoạt trên chiếc máy liên lạc vô tuyến tầm ngắn gắn trên vai áo, xoay núm điều tần chuyển thẳng sang kênh phát sóng khẩn cấp độc quyền của Tổ Điều Tra Ngưỡng:
"Thông báo toàn trạm. Tôi là Điều tra viên chính Lâm An, mang mã hiệu điều tra T-09. Căn cứ theo thẩm quyền hiện hành, tôi chính thức kích hoạt Điều luật An toàn Không gian số Năm. Tôi phát lệnh niêm phong khẩn cấp toàn diện đối với Hành lang số Không. Toàn bộ đoạn hành lang nối giữa khu dân cư phía Tây và Bệnh xá Mười Hai bị đóng cửa hoàn toàn để phục vụ công tác khám nghiệm hiện trường trọng điểm kể từ thời điểm này."
Bùi Duy đứng bên cạnh thở dài một hơi nặng nề, nhưng hai tay anh đã thoăn thoắt mở các chốt khóa từ trường cơ động gắn trên thắt lưng kỹ thuật để hỗ trợ Lâm An lập rào chắn:
"Quyền hạn của điều tra viên chỉ cho phép cậu niêm phong tối đa sáu giờ đồng hồ nếu không có trát chấp thuận bằng văn bản của Hội Đồng Trạm," Bùi Duy nhắc nhở, giọng anh đượm vẻ lo âu thực tế. "Sáu tiếng nữa trạm sẽ bước vào chu kỳ điện đêm, áp suất khí và tải điện sẽ được phân bổ lại. Nếu đến lúc đó mà cậu không chịu mở đường, hoặc không đưa ra được bằng chứng vật chất xác thực đủ sức thuyết phục cho Hội đồng, bà Nguyễn Quế sẽ đích thân ký lệnh bãi bỏ toàn bộ quyền điều tra của cậu, và lực lượng an ninh trạm sẽ cưỡng chế mở lại cửa này."
"Sáu giờ là quá đủ để chúng ta tìm ra kẻ nào trên cái trạm này đã cầm chiếc cờ-lê định lực vặn những con ốc kia," Lâm An lạnh lùng đáp.
Anh rút từ túi trang bị ra cuộn dây niêm phong từ tính bản rộng mang hai màu vàng đen rực rỡ, giăng ngang qua hai đầu hồi của hành lang, đồng thời ghim các chốt khóa điện từ độc lập vào các rãnh trượt của cánh cửa áp suất ở cả hai phía. Tiếng còi báo động cục bộ gắn trên trần hành lang lập tức hú lên những hồi ngắn chói tai, phát ra ánh sáng cảnh báo màu hổ phách chớp nháy liên tục, nhuộm đỏ không gian xám xịt của hành lang.
Thế nhưng, sự cô lập tĩnh lặng cần thiết cho cuộc khám nghiệm pháp y không gian đã không thể kéo dài được lâu.
Chỉ chưa đầy mười phút sau khi rào chắn từ trường được kích hoạt và tiếng còi báo động vang lên, những tiếng bước chân dồn dập, hỗn loạn và tiếng la hét bắt đầu vọng lại từ cả hai đầu hành lang bị phong tỏa.
Hành lang số Không không chỉ là một lối đi đơn thuần trên bản đồ; nó là huyết mạch duy nhất kết nối hàng trăm cư dân đang chen chúc tại các khu nhà ở chật chội, thiếu thốn phía Tây với Bệnh xá Mười Hai—nơi duy nhất trên toàn phân khu sở hữu hệ thống máy tạo oxy tinh khiết y tế, kho cấp phát khẩu phần dinh dưỡng lỏng tăng cường và các buồng điều trị cách ly độc lập. Việc đột ngột cắt đứt con đường ngắn nhất này vào giữa ngày chẳng khác nào bóp nghẹt nhịp sinh tồn mong manh thường nhật của họ, đẩy họ vào sự hoảng loạn tột cùng.
Qua tấm kính áp suất dày cộm đã mờ đục vì trầy xước ở đầu hồi phía khu dân cư, Lâm An nhìn thấy hàng chục khuôn mặt hốc hác, phờ phạc đang dán chặt vào khung cửa. Đám đông bắt đầu tụ tập mỗi lúc một đông, ban đầu chỉ là sự ngơ ngác, hoang mang, nhưng rất nhanh sau đó, nỗi sợ hãi đã chuyển hóa thành sự phẫn nộ dữ dội bùng lên như một đám cháy gặp oxy.
"Mở cửa ra! Lũ khốn kiếp, tại sao lại chặn đường?" Một người đàn ông trung niên mặc bộ quần áo thợ máy cáu bẩn dầu mỡ đập thình thình hai bàn tay trần vào tấm kính chắn áp suất, gào lên điên cuồng qua khe loa đàm thoại hai chiều. "Con gái tôi đang sốt co giật ở buồng cấp cứu bệnh xá bên kia! Tôi phải mang ống tiêm hạ nhiệt và dung dịch điện giải sang cho nó ngay bây giờ! Các người dựa vào cái quyền gì mà dám phong tỏa lối đi sống còn này?"
"Lại là trò ma quỷ của Tổ Ngưỡng đúng không?" Một người phụ nữ lớn tuổi khác chen lấn lên phía trước, đôi mắt bà đỏ hoe vì thiếu ngủ, gương mặt run lên vì giận dữ và tuyệt vọng. "Mỗi lần lũ người mang máy đo các người xuất hiện ở hành lang này là lại có người mất tích không thấy xác! Giờ các người muốn bỏ đói chúng tôi, muốn cắt đường thở của người nhà chúng tôi luôn hay sao? Mở cửa ra ngay! Chúng tôi không quan tâm đến Vùng Chồng, không quan tâm đến hình nhân hay thí nghiệm gì hết, chúng tôi chỉ cần qua bệnh xá để sống sót!"
Những tiếng la ó, chửi bới, nguyền rủa và tiếng nắm đấm, gậy gộc nện rầm rầm vào cánh cửa kim loại mỗi lúc một dày đặc, dội lại trong không gian hẹp của hành lang như những tiếng sấm gầm đe dọa phá vỡ kết cấu chịu lực.
Ở đầu đối diện phía bệnh xá, tình hình cũng không hề khả quan hơn. Một nhóm thân nhân của những người bệnh đang nằm cách ly cũng bắt đầu kéo đến, trên tay họ lăm lăm những thanh sắt, gậy gộc và dụng cụ bảo trì nhặt vội từ xưởng cơ khí, lớn tiếng yêu cầu lực lượng chức năng phải lập tức dỡ bỏ rào chắn từ tính. Không khí căng thẳng đặc quánh lại như sắp nổ tung, lằn ranh giữa trật tự và một cuộc bạo loạn đẫm máu chỉ còn cách nhau một tia lửa nhỏ.
Bùi Duy tiến lên một bước, đứng chắn nửa người trước mặt Lâm An, bàn tay phải của anh đặt hờ lên báng súng phóng lưới điện từ đeo bên đùi, ánh mắt lộ rõ vẻ căng thẳng tột độ. Anh nhìn qua tấm kính vào dòng người đang phẫn nộ cuồng trào ngoài kia, rồi quay sang nhìn Lâm An bằng ánh mắt trĩu nặng:
"Họ sắp phá tung cánh cửa áp suất rồi đấy, An. Sáu tiếng đồng hồ của cậu đang bắt đầu đếm ngược từng giây một. Cư dân ở cái trạm rách nát này đã cận kề giới hạn chịu đựng rồi, họ không còn đủ kiên nhẫn để lắng nghe những bóng ma của mười bảy năm trước nữa đâu."
Lâm An không hề nao núng trước sự cuồng nộ và những tiếng thét gào của đám đông đang đòi xé xác rào chắn. Anh từ từ quay lưng lại với tiếng đập cửa chát chúa ngoài cánh cửa trượt, ánh mắt bình thản đến lạnh lùng chậm rãi rà soát lại một lần nữa con đường mòn cơ học ghê rợn in hằn trên mặt sàn hợp kim.
Vết kéo lê trên sàn dẫn thẳng vào bức tường đá kim loại, nơi không một ai được phép đi qua suốt mười bảy năm.