Trà xanh và công lao bị quên
Hà Tú đặt mạnh tập giấy đã ngả vàng xuống bàn trà, ánh mắt sắc lạnh chứa đựng sự uất ức dồn nén bấy lâu về những cống hiến bị lãng quên.
Tiếng giấy đập xuống mặt gỗ vang lên khô khốc, xé toạc bầu không khí yên ả dưới bóng rặng trúc, át cả tiếng nước sôi tí tách dưới đáy nồi đồng đang đặt trên bếp than. Tống Diệp lập tức bước lên nửa bước, thân hình phốp pháp hơi nghiêng về phía trước, bàn tay thô ráp chai sần đặt hờ lên quai chiếc tạp dề bằng vải thô nhuộm vỏ dà. Ánh mắt nàng dâng lên vẻ phòng thủ nghiêm cẩn của một ca trưởng đã dạn dày sương gió qua bao bận sóng gió nơi nhà bếp hoàng cung. Ở phía sau góc quầy, Vũ Mai rụt cổ lại như một con chim sẻ non gặp gió lạnh, đôi tay gầy gò đang cầm chiếc bút lông khẽ run rẩy; nàng lấm lét liếc nhìn vẻ mặt đanh lại của nữ quan điện Ngọc Chiếu, rồi vội vàng luồn tay xuống dưới vạt áo, cẩn thận giấu chiếc chìa khóa đồng của chiếc tráp quỹ nhỏ vào sâu tận đáy túi trong.
An Trà không lùi lại. Nàng đứng yên ở vị trí của mình sau chiếc bàn gỗ mộc mạc, vạt áo vải thô màu xám tro rủ thẳng thớm. Ánh mắt nàng trầm tĩnh hạ xuống, dừng lại trên tập giấy bản dày cộp vừa bị ném xuống.
Đó là một tập tài liệu đã nhuốm màu thời gian. Mép giấy xơ xác, sờn rách và cong queo, những vệt ố vàng loang lổ như dấu tích của khói bếp cay nồng và hơi ẩm mốc của những góc phòng tối tăm qua bao mùa mưa dầm dề. Thế nhưng, bất chấp sự tàn phá của năm tháng, từng dòng chữ viết bằng thứ mực tàu đen nhánh bên trên vẫn ngay hàng thẳng lối một cách đáng kinh ngạc, sắc sảo và nắn nót đến từng nét sổ, nét móc, thể hiện sự cẩn trọng tột bậc của người cầm bút. Ở trang bìa đầu tiên, năm chữ lớn viết bằng lối chữ chân phương đập thẳng vào mắt nàng: *“Nội đình tập trung đàm phán mua chung vật tư lược án”*.
“Cô cho rằng một mình cô thông minh, một mình cô nghĩ ra được cái gọi là ‘Đồng Công’, gom tiền mua chung để ép giá ngoài chợ?” Giọng Hà Tú hạ thấp xuống, gằn từng tiếng qua kẽ răng, nhưng âm vực lại rung lên bần bật, không giấu nổi sự run rẩy xót xa nơi khóe môi mỏng manh. “Cô có biết tập đề án này được viết khi nào không? Mùa thu năm ngoái. Để có được từng con số rành rọt trên từng trang giấy này, ta đã phải lén thức trắng suốt ba mươi đêm ròng rã, rà soát lại từng cuốn sổ xuất nhập của bảy viện, lặn lội đội mưa gió ra tận bến Liễu dò giá từng bao đường mía, từng sọt than củi, tính toán chi li từng đồng lộ phí xe ngựa để chứng minh một điều rõ ràng: nếu các cung điện cùng gom đơn mua qua một đầu mối tập trung, mỗi tháng ngân sách nội đình có thể tiết kiệm được ít nhất sáu mươi quan tiền!”
Hà Tú vung tay, ngón tay thon dài có móng tay được cắt tỉa gọn gàng chỉ thẳng vào tập giấy, lồng ngực phập phồng sau lớp áo lụa mỏng màu xanh nhạt:
“Kết quả thì sao? Đề án vừa dâng lên Ty Cung Ứng chưa đầy ba ngày đã bị gạt phắt đi không thương tiếc. Cấp trên mắng ta là đồ nữ quan ranh con không biết trời cao đất dày, chưa sạch mũi đã dám đòi phá vỡ điển lệ tổ tông truyền đời. Bọn họ bảo nhà thầu cũ cung ứng trăm năm nay đều có định mức ổn định, không thể vì mấy đồng tiền lẻ mọn mà làm xáo trộn trật tự tôn ti. Nhưng ai mà không biết, bọn họ gạt đi là để giữ thế độc quyền cho Liên hiệu Vạn Phúc, để khoản tiền hoa hồng béo bở chảy đều đặn vào túi riêng của đám quản kho! Ta ngậm đắng nuốt cay, công sức mồ hôi nước mắt đổ hết xuống sông xuống biển, hồ sơ bị ném vào xó tối cho chuột gặm gián cắn. Thế mà hôm nay, cô chỉ là một nữ quan coi kho quèn đang gánh nợ ngập đầu, dựa vào đâu mà nghênh ngang dựng bảng quy chế, thu tiền góp vốn, mở miệng ra là nói vì quyền lợi của kẻ lao động? Cô lấy trộm ý tưởng này từ đâu, hay là có kẻ nào trong Ty Cung Ứng đã tuồn bản thảo tâm huyết của ta cho cô để tranh công trục lợi?”
Đám đông xung quanh nín thở. Mấy người làm công nhật, vài cung nữ quét tước và mấy người lính trạm đang đứng chờ uống trà phía sau rặng trúc đều ngơ ngác nhìn nhau, bước chân bất giác lùi lại nửa bước để tránh bị vạ lây. Không gian chùng hẳn xuống, chỉ còn nghe thấy tiếng lá trúc xào xạc trong làn gió sớm và tiếng than củi nổ lách tách trong lò.
Không hề có chuyện ghen tuông tranh sủng hay xích mích đàn bà tầm thường nơi hậu cung hoa mỹ; trước mắt họ lúc này là sự va chạm nảy lửa giữa hai người làm chuyên môn, là nỗi uất nghẹn chất chứa của một kẻ từng dốc hết tâm can trí lực lập ra một đề án hoàn hảo nhưng bị cỗ máy cơ chế mục ruỗng, tham tàn bóp nghẹt ngay từ trong trứng nước.
An Trà nhìn sâu vào đôi mắt hơi đỏ hoe vì phẫn uất của Hà Tú. Đối diện với cơn thịnh nộ ấy, đáy mắt nàng phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng, không có chút tức giận, cũng chẳng có vẻ chột dạ của kẻ bị bắt quả tang. Ở kiếp trước, khi còn lăn lộn trong những guồng quay khốc liệt của việc quản trị chuỗi cung ứng và vận hành tổ chức, nàng đã chứng kiến không biết bao nhiêu nhân viên ưu tú, bao nhiêu chuyên viên đầy nhiệt huyết phải gục ngã trong cay đắng. Những bản báo cáo dày công nghiên cứu bị cấp trên thẳng tay vứt vào sọt rác chỉ vì chúng vô tình chạm vào “lợi ích nhóm”, để rồi một thời gian sau, một kẻ quyền thế khác lại đem chính ý tưởng ấy đi xào xáo, biến tấu thành thành tích của riêng mình để nhận thưởng nhận chức. Cảm giác bất lực tột cùng, nỗi đau đớn khi thấy đứa con tinh thần của mình bị chà đạp rồi bị cướp đoạt, nàng hiểu rõ hơn bất kỳ ai trên cõi đời này.
Thay vì mở lời thanh minh hay tranh cãi, An Trà từ tốn vươn hai tay ra. Bàn tay nàng thanh mảnh nhưng dứt khoát, cẩn trọng lật mở từng trang giấy bản của Hà Tú như đang chạm vào một di vật quý giá.
Nàng cúi đầu, chăm chú đọc lướt qua từng biểu mẫu. Ánh mắt nàng dừng lại ở bảng phân tích tỷ lệ hao hụt của đường mía theo độ ẩm mùa nồm gió bấc, cách phân loại than gỗ nghiến vùng thượng lưu bến sông Hồng dựa trên tỷ trọng và độ tro, rồi đến sơ đồ ghép chuyến xe bò kéo từ ngoại thành để giảm thiểu chi phí qua các trạm tuần ty. Từng con số, từng phép cộng trừ, từng ước lượng sai số đều chuẩn xác, mạch lạc và thể hiện một tư duy phân tích logistics sắc bén đến kinh ngạc. Đây hoàn toàn không phải là những nét chữ sao chép hời hợt, mà là kết tinh của những đêm thức trắng bên ngọn đèn dầu le lói, của những bước chân dầm mưa dãi nắng nơi bến sông bụi bặm.
“Hà nữ quan,” An Trà ngẩng đầu lên, giọng nói trầm tĩnh, đều đặn vang lên rõ ràng giữa khoảng sân nhỏ. Nàng không dùng ngữ điệu né tránh hay xoa dịu giả tạo, mà nói bằng sự chân thành tuyệt đối của một người đồng nghiệp thấu hiểu: “Trước hết, ta thành thật nhận lỗi với cô. Khi lập Hội Đồng Công và đưa ra phương thức mua chung vật tư, ta chỉ đơn thuần nghĩ đến việc giải quyết bài toán sống còn trước mắt của những người làm công nhật ở khu phục vụ, mà chưa từng tìm hiểu xem trong quá khứ đã có tiền lệ hay đề án nào tương tự của các bậc tiền bối từng bị vùi dập hay chưa. Sự thiếu sót đó, sự vô tâm trong việc không truy cứu cội nguồn nghiệp vụ ấy, hoàn toàn là lỗi của ta.”
Hà Tú hơi sững người. Bờ vai đang căng cứng dưới lớp áo lụa bỗng chùng xuống một nhịp khó nhận ra. Nàng ta dường như đã chuẩn bị sẵn tâm thế cho một cuộc khẩu chiến nảy lửa, sẵn sàng đón nhận những lời chối quanh co hay thái độ trịch thượng của một kẻ nắm quyền quầy trà đang đắt khách. Nhưng lời nhận sai thẳng thắn, không một chút vòng vo của An Trà lại đánh trúng vào khoảng trống hụt hẫng trong lòng nàng, khiến cơn giận dữ đang bốc hừng hực bỗng mất đi điểm tựa.
An Trà khẽ xoay người sang chiếc bàn con kê cạnh quầy pha chế, nhẹ nhàng cầm lấy cuốn sổ điều lệ của Hội Đồng Công vừa được nàng cùng nhóm thợ hoàn thiện đêm qua, mực tàu nơi trang cuối còn thoang thoảng mùi keo da trâu mới. Nàng đặt cuốn sổ mới tinh ấy song song ngay bên cạnh tập bản thảo ố vàng của Hà Tú.
“Cô hãy nhìn xem,” An Trà ôn tồn chỉ vào hai tập tài liệu. “Bản đề án năm ngoái của cô là viết cho Ty Cung Ứng, mong muốn cấp trên dùng quyền lực hành chính của triều đình để thực hiện một cuộc cải cách từ trên xuống dưới. Mục tiêu tối thượng của cô khi ấy là tiết kiệm ngân sách cho quốc khố, chỉnh đốn kỷ cương của chốn nội đình. Nhưng điều lệ Đồng Công của chúng ta hôm nay lại đi theo một con đường hoàn toàn trái ngược: nó đi từ dưới lên. Chúng ta không xin bổng lộc triều đình, không cầu xin các vị quản sự ban ơn rủ lòng thương, mà là những nữ quan thất thế, những cung nữ quét tước, những người thợ nề thợ mộc gom từng đồng tiền lẻ còm cõi lại để tự cứu lấy manh áo bát cơm của chính mình. Tuy nhiên, nếu xét về mặt kỹ thuật nghiệp vụ, về phương pháp thu thập dữ liệu và khảo sát tuyến cung ứng, bản đề án này của cô đã đi trước ta cả một bước dài.”
Nói đoạn, An Trà lật mở trang bìa lót của cuốn sổ điều lệ Đồng Công. Nàng với tay cầm lấy cây bút lông máng trên giá gỗ, chấm đẫm mực tàu đen nhánh. Rồi trước sự chứng kiến sững sờ của Hà Tú, trước ánh mắt kinh ngạc của Tống Diệp và Vũ Mai, An Trà nắn nót viết thêm một dòng phụ lục trang trọng ngay dưới phần tôn chỉ hoạt động:
*“Tham chiếu phương pháp tối ưu hóa cung ứng vật tư bến Liễu từ bản thảo kỹ thuật của Nữ quan Hà Tú – điện Ngọc Chiếu.”*
Từng nét chữ sắc sảo, dứt khoát hiện lên rõ ràng trên mặt giấy trắng ngà. Hà Tú mở to mắt, trân trân nhìn dòng chữ mực đen còn chưa kịp khô ráo. Lồng ngực nàng thắt lại, bàn tay giấu trong tay áo vô thức siết chặt vạt lụa đến mức nhăn nhúm.
“Cô... cô đang làm cái gì vậy?” Giọng Hà Tú khẽ lạc đi, vẻ kiêu kỳ sắt đá ban nãy dường như đã rạn vỡ một mảng lớn.
“Ghi nhận quyền đóng góp chuyên môn của cô,” An Trà ngẩng lên, mỉm cười nhẹ nhõm, ánh mắt trong veo không gợn chút tư lợi hay tính toán thiệt hơn. “Ý tưởng mua chung có thể trùng hợp do hoàn cảnh ngặt nghèo thúc bách, nhưng công sức khảo sát thực địa, từng con số đo đạc hao hụt và các phép tính chi phí này là mồ hôi, là chất xám của riêng cô, không ai có quyền xóa bỏ hay chiếm đoạt. Nếu cô không chê Hội Đồng Công này nhỏ bé nghèo nàn, những người làm ở đây toàn là thân phận thấp kém, chúng ta trân trọng mời cô tham gia với tư cách cố vấn thẩm định định mức. Chúng ta rất cần sự tinh tường của cô về nguồn hàng ngoài bến Liễu, cần con mắt sắc sảo của cô để không bị những phường buôn gian manh dắt mũi.”
Sự căng thẳng tích tụ bấy lâu trong lồng ngực Hà Tú như một quả bóng da căng phồng bị mũi kim nhọn châm trúng, xì hơi tan biến vào thinh không. Sự cao ngạo, lạnh lùng phủ bên ngoài bao tháng ngày qua để tự bảo vệ mình trước những lời gièm pha bỗng chốc sụp đổ hoàn toàn, để lộ ra nỗi xúc động sâu kín của một người làm nghề chân chính, một kẻ cô độc giữa chốn thâm cung cuối cùng cũng tìm thấy người biết trân trọng và thấu hiểu giá trị của những giọt mồ hôi mình đã đổ ra. Nàng khẽ cắn chặt bờ môi dưới, vội vàng quay mặt nhìn sang rặng trúc xanh rì bên cạnh để giấu đi ngấn nước lấp lánh vừa chực dâng lên nơi khóe mắt. Nàng hắng giọng một tiếng, cố lấy lại vẻ nghiêm nghị thường ngày, nhưng giọng điệu đã dịu đi rất nhiều, mang theo chút ngượng ngùng:
“Ai thèm làm cố vấn cho các cô chứ... Nhưng mà, nếu các cô cứ mù quáng kéo nhau ra chợ gom đường như mấy hôm trước, sớm muộn gì cũng sập bẫy của đám con buôn sành sỏi. Các cô có biết giá đường trắng mà điện Ngọc Chiếu từng phải mua qua tay Liên hiệu Vạn Phúc đắt đến mức vô lý thế nào không? Sáu mươi đồng một cân! Trong khi năm ngoái, chính mắt ta ra tận bến Liễu dò hỏi các chủ thuyền, thương buôn xứ Đoài đổ buôn tại bến chỉ có hai mươi tám đồng một cân mà thôi. Vạn Phúc cắn đứt hơn một nửa tiền chênh lệch, đút túi riêng không biết bao nhiêu vạn quan tiền!”
Nghe đến con số “hai mươi tám đồng”, Tống Diệp đang đứng bên cạnh bỗng hít sâu một hơi lạnh, hai mắt tròn xoe. Vũ Mai cũng buột miệng kêu khẽ một tiếng “trời ơi”. Khoảng chênh lệch một trời một vực ấy phơi bày một lỗ hổng lợi nhuận kinh hoàng của mạng lưới cung ứng cũ, thứ mạng lưới bấy lâu nay vẫn bòn rút từng đồng ngân lượng của triều đình và bóp nghẹt túi tiền của những người phục vụ dưới đáy cùng.
An Trà lập tức chớp lấy thời cơ ngàn vàng ấy. Nàng kéo chiếc ghế tre mộc mạc ra, nghiêng mình làm một cử chỉ mời mọc đầy nhã nhặn:
“Hà nữ quan, nếu cô đã nhìn thấu ruột gan của đường dây ấy như vậy, chi bằng ngồi xuống đây uống một bát nước mát, rồi cùng chúng ta tính toán một bài toán mới cho thật rành mạch?”
Sự thù địch tan biến, tảng đá nặng trịch đè nén bầu không khí nặng nề giữa hai bên suốt từ đầu buổi sáng rốt cuộc cũng được gỡ bỏ hoàn toàn. Hà Tú bước tới, ngồi xuống chiếc ghế tre. Dù dáng ngồi của nàng vẫn giữ nguyên phong thái chỉn chu, đoan trang và nghiêm cẩn của một nữ quan thân cận phục vụ nơi cung điện quyền quý bậc nhất, nhưng khi ánh mắt nàng hạ xuống những dụng cụ đong đếm, chiếc cân tiểu ly và các mẫu trà mẫu đường đặt trên bàn của An Trà, tia nhìn sắc lạnh ban nãy đã hoàn toàn biến mất. Giờ đây, đó là ánh mắt sáng ngời của một người thợ lành nghề nhìn thấy những công cụ chuẩn mực của một đồng nghiệp thực thụ.
Lúc này, bóng nắng đầu hạ đã nhích dần qua đỉnh ngọn trúc. Giờ Thìn đã trôi qua, nắng bắt đầu rải những vệt vàng gay gắt xuống nền đất nện của sân sau bếp. Không khí bắt đầu quánh lại, mang theo cái oi nồng ngột ngạt đặc trưng của những ngày chớm hè nơi kinh thành. Hơi nóng hầm hập bốc lên từ mặt đất khiến món trà sữa nấu từ trà sao than hoa hạt dẻo đậm đà thơm béo thường ngày – thứ thức uống từng làm mưa làm gió trong những ngày cuối xuân se lạnh – bắt đầu có vẻ hơi ngấy đối với một số thực khách kén chọn.
“Trà sữa củ nhu của cô hương vị tuy đậm đà, đám phu dịch chân tay hay lính canh đổi ca rất thích vì uống vào chắc bụng, đỡ đói lòng,” Hà Tú cầm chiếc thìa con bằng sành, nếm thử một chút nước trà mộc còn sót lại trong âu sứ trên bàn, hàng lông mày lá liễu khẽ nhíu lại, đưa ra lời nhận xét với sự tinh tế của một người chịu trách nhiệm trông nom ẩm thực cho chủ nhân tôn quý. “Nhưng đối với nữ quyến các điện, nhất là Đoan phi nương nương nhà ta, mùa này thời tiết oi bức bức bối, nhìn thấy thứ gì ngọt đậm và béo ngậy là trong người đã thấy bức bối, khó chịu. Nương nương thích những thức uống có vị thanh khiết, đắng nhẹ nơi đầu lưỡi nhưng hậu vị phải ngọt dịu, uống vào thanh nhiệt, giải được cái hỏa khí trong người.”
An Trà gật đầu đồng tình, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ:
“Ta cũng đang đau đầu vì vấn đề này suốt mấy ngày qua. Nếu chỉ dùng lá trà xanh tươi đun nước thông thường thì hương vị quá đỗi đơn điệu, chát miệng, không tạo được cảm giác no êm và thư thái tinh thần. Nhưng nếu đem pha chung với sữa dê Thanh Khê theo cách thông thường, vị ngái nồng tự nhiên của sữa tươi rất dễ lấn át hương thơm thanh thoát của lá trà non. Ngược lại, chất chát và tanin trong trà xanh khi gặp chất béo trong sữa rất dễ làm sữa bị kết tủa, tạo thành những gợn lợn cợn lơ lửng nếu người nấu không biết cách khống chế nhiệt độ thật chuẩn xác.”
“Sao cô không thử dùng trà non vùng cao sấy lạnh?” Hà Tú buột miệng gợi ý, đôi mắt phượng bỗng sáng bừng lên như bắt gặp một ý tưởng lớn. “Trong kho dự phòng của điện Ngọc Chiếu hiện đang lưu giữ một lô trà đồi mộc thượng hạng chuyển từ mạn ngược về từ cuối vụ xuân. Búp trà non chỉ hái vào lúc tờ mờ sương sớm, khi giọt sương chưa tan, sau đó được sao nhẹ trên chảo gang đượm lửa rồi ủ lạnh để giữ nguyên sắc xanh biếc như ngọc. Loại trà này khi hãm, vị đắng rất dịu dàng, thơm mùi cỏ cây sương sớm chứ tuyệt đối không chát khé cổ họng như trà mạn đồng bằng.”
“Ý kiến tuyệt vời!” An Trà reo khẽ, trong mắt nàng bùng lên ngọn lửa hào hứng của một người say mê nghiên cứu công thức. Nàng lập tức xắn tay áo vải thô lên quá khuỷu tay, quay sang phân công dứt khoát: “Vũ Mai, mau mang chiếc cân tiểu ly bằng đồng thau ra đây! Tống tỷ, chụm thêm vài thanh than hoa gỗ nghiến vào bếp lò nhỏ, giữ ngọn lửa liu riu thôi, chúng ta thử nghiệm mẻ trà xanh pha sữa nhẹ ngay bây giờ!”
Dưới bóng râm rực rỡ nhưng mát mẻ của mái hiên sau bếp, một cuộc thử nghiệm ẩm thực mang đầy tính chuẩn mực và khoa học lập tức diễn ra. Khoảng cách địa vị giữa một nữ quan thân tín nơi cung điện sủng ái và những người coi kho, thợ bếp bị ruồng bỏ dường như đã hoàn toàn tan biến. Giờ phút này, dưới mái hiên chỉ còn lại hai người thợ đang chăm chú, tỉ mỉ cân đo đong đếm từng phân lượng vật liệu.
An Trà đặt quả cân nhỏ lên đĩa cân tiểu ly, cẩn thận gạt từng nhúm lá trà non vùng cao mà Hà Tú vừa cho người về phòng lấy sang. Đúng năm đồng cân lá trà khô, xanh mướt và xoăn tít như những búp mầm non.
Nàng không hề dùng nước sôi sùng sục vừa bắc ra khỏi bếp để hãm trà như cách người ta vẫn thường pha trà mộc đậm đặc. An Trà biết rất rõ, nhiệt độ nước đạt mức sôi bùng một trăm độ sẽ làm “cháy” búp trà non nhạy cảm, phá vỡ cấu trúc diệp lục khiến nước trà lập tức ngả sang màu vàng đục xỉn và làm nổi bùng lên vị đắng chát gắt gỏng. Nàng kiên nhẫn đứng đợi cho nồi nước giếng trong bằng đồng hạ bớt nhiệt, khói bốc lên nhẹ dần. Cho đến khi nước chỉ còn chừng tám phần mười độ sôi – mặt nước phẳng lặng, chỉ có những tăm nước li ti bốc lên – nàng mới trút toàn bộ số trà non vào chiếc âu sành tráng men trắng muốt, đậy nắp lại.
Thời gian ủ trà được đo đếm không phải bằng sự áng chừng mơ hồ, mà bằng đúng mười giọt nước rơi chầm chậm từ chiếc đồng hồ nước nhỏ bằng đồng mà Vũ Mai chăm chú canh chừng.
Khi nắp âu sành vừa được mở ra, một làn hương thơm ngát lập tức bốc lên ngào ngạt. Đó là mùi hương thanh khiết, tươi mới như ngọn gió sớm vừa quét qua một đồi chè bạt ngàn sau cơn mưa rào mùa hạ. Nước trà rót ra qua một lớp vải lọc mịn màng có một màu xanh ngọc bích sóng sánh, trong vắt và sáng lấp lánh dưới ánh nắng rọi xiên.
Khâu phối trộn sữa kế tiếp đòi hỏi sự khéo léo tuyệt đối. Hà Tú không chịu đứng nhìn, nàng đích thân bước tới, cầm chiếc muôi đồng nhỏ cán dài, cẩn thận vớt bỏ lớp màng mỏng trên bề mặt liễn sữa dê Thanh Khê đã được đun khử trùng kỹ lưỡng từ sáng sớm cùng vài nhánh gừng tươi để khử sạch mùi gây ngái.
“Một phần sữa dê thanh trùng, ba phần nước cốt trà xanh,” An Trà vừa quan sát vừa cầm mẩu than nhỏ ghi chép tỷ lệ lên mặt bàn gỗ. “Thêm nửa thìa nước mía lau cô đặc để dẫn vị ngọt thanh, tuyệt đối không dùng đường đen hay mật mía thô, vì mật mía sẽ làm hỏng hoàn toàn sắc xanh ngọc của nước trà.”
Dưới sự điều phối nhịp nhàng, hai người cùng cầm thìa khuấy đều theo một chiều cố định. Làn sữa trắng ngần mềm mại từ từ hòa quyện vào dòng nước trà xanh biếc. Không hề có hiện tượng kết tủa hay vón cục; dưới nhiệt độ thích hợp, hai chất lỏng dung hòa vào nhau một cách kỳ diệu, chuyển hóa thành một thứ dung dịch màu xanh ngọc bích dịu dàng, mịn màng như một dải lụa non.
An Trà múc thứ nước ấy ra hai chiếc bát sành nhỏ men da lươn thô mộc, đưa một bát bằng cả hai tay về phía Hà Tú:
“Mời Hà nữ quan thẩm định chất lượng.”
Hà Tú đón lấy chiếc bát sành. Bát trà tỏa ra hơi ấm dịu nhẹ, không quá nóng bỏng. Nàng nâng bát lên sát mũi, khẽ nhắm mắt hít một hơi sâu. Mùi hăng ngái đặc trưng của sữa dê đã hoàn toàn biến mất không còn một dấu vết, chỉ còn lại hương thơm mát lành, sâu lắng của lá trà non quyện chặt lấy vị béo bùi thoang thoảng.
Hà Tú khẽ nhấp một ngụm nhỏ.
Chất lỏng mịn màng vừa chạm vào đầu lưỡi, vị đắng thanh mát lập tức lan tỏa, như một dòng suối mát lành đánh thức toàn bộ các giác quan đang uể oải vì cái nóng ban trưa. Nhưng cơn đắng nhẹ ấy chưa kịp đọng lại thì cảm giác béo ngậy dịu dàng, êm ái của sữa dê đã lập tức trượt tới, làm mềm đi tất cả, trôi êm ru qua cuống họng. Sau khi nuốt xuống, nơi vòm họng đọng lại một hậu vị ngọt ngào, sâu lắng và thanh tao đến kỳ lạ. Không hề ngấy mỡ, không hề gắt cổ, cả lồng ngực như vừa được đón nhận một luồng sinh khí mát rượi xua tan đi cái oi bức của buổi trưa hè.
Đôi mắt phượng của Hà Tú mở to, trong đáy mắt lóe lên sự kinh ngạc tột độ mà nàng không thể nào che giấu nổi:
“Món này... thật sự quá đỗi kỳ diệu. Vị đắng thanh của lá trà non kiềm giữ hoàn hảo độ ngậy của sữa dê, mà sự béo bùi của sữa lại làm mềm đi cái sắc nhọn, chát chúa của trà xanh. Nước mía lau dẫn vị ngọt rất khéo, thanh tao mà không gắt. Thức uống này mà đem dâng lên tiệc trà mùa hạ của Đoan phi nương nương cùng các vị nữ quyến, bảo đảm người sẽ vô cùng hài lòng, không chê vào đâu được!”
An Trà thở phào một hơi nhẹ nhõm, nụ cười rạng rỡ nở bừng trên gương mặt thanh tú:
“Hương vị này thành công là nhờ công lớn từ gợi ý về loại trà đồi mộc của cô. Vậy chúng ta thống nhất gọi món này là ‘Bích Lục Thanh Trà Sữa’. Nhưng thưa Hà nữ quan, hương vị đã chuẩn mực, vậy còn quy trình đặt hàng giữa điện Ngọc Chiếu và quầy trà của chúng ta thì sao?”
Nhắc đến công việc và quy chế, vẻ sắc sảo, nguyên tắc lập tức quay trở lại trên gương mặt của Hà Tú. Nàng cẩn thận đặt chiếc bát sành men da lươn xuống mặt bàn, khẽ hắng giọng, chỉnh lại vạt áo cho ngay ngắn:
“Ta thừa nhận, hôm qua ta vì nóng vội phục vụ nương nương mà dùng lệnh miệng để ép các cô giao hàng là sai quy chế nội đình. Nương nương bình nhật dạy bảo thị tỳ rất nghiêm, tuyệt đối không cho phép ỷ thế được sủng ái mà lộng quyền ngoài cung cấm. Ta đồng ý chuẩn hóa toàn bộ đầu mối đặt hàng cho điện Ngọc Chiếu theo đúng nguyên tắc mà cô mong muốn.”
Hà Tú thò tay vào trong tay áo rộng, rút ra một tờ giấy hoa tiên màu hồng phấn có đóng dấu triện đỏ chót của điện Ngọc Chiếu, đặt ngay ngắn lên mặt bàn:
“Đây là phiếu đặt chuẩn ngạch có chữ ký của ta và dấu giáp lai duyệt chi tiêu của quản sự điện. Từ nay về sau, mỗi lần đặt trà, ta sẽ cho người chuyển phiếu sang trước nửa ngày, ghi rõ số lượng bát, giờ giấc giao nhận cụ thể. Khi các cô giao trà tới trạm đổi ca của Cửa Nam, người của ta sẽ trực tiếp nghiệm thu chất lượng tại chỗ và ký vào biên bản giao nhận rõ ràng. Tiền thanh toán sẽ được trích từ ngân sách mua sắm hợp lệ của điện, trả dứt điểm theo từng tuần trăng, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng truyền miệng tùy tiện hay nợ nần dây dưa làm ảnh hưởng đến thanh danh của đôi bên.”
“Thỏa thuận như vậy là quá sòng phẳng và minh bạch!” Tống Diệp đứng bên cạnh nghe xong liền vỗ mạnh hai bàn tay vào nhau tán thưởng, nụ cười giãn ra trên khuôn mặt sạm nắng. “Có giấy trắng mực đen, phiếu ký phân minh, từ nay về sau kẻ nào ở Ty Cung Ứng hay Bếp Đông muốn đặt điều vu khống quầy trà của chúng ta kết bè kết phái mờ ám với các cung điện quyền quý cũng phải ngậm miệng lại!”
Vũ Mai vô cùng nhanh nhẹn, nàng lập tức lôi cuốn sổ theo dõi đơn hàng đặc biệt bìa bọc vải xanh ra, cẩn thận phết hồ dán phiếu đặt của điện Ngọc Chiếu vào ngay trang đầu tiên. Nàng kính cẩn đưa nghiên mực và bút lông cho Hà Tú và An Trà. Dưới ánh mắt chứng kiến của mọi người, hai ngón tay thon thả của hai nữ quan cùng ấn điểm chỉ đỏ chót lên giáp lai mép giấy. Một bản khế ước giao dịch minh bạch, đàng hoàng và hoàn toàn hợp lệ giữa hai bên chính thức được xác lập, đập tan mọi nghi kỵ, hiểu lầm trước đây, mở ra một liên kết nghiệp vụ vững chắc chưa từng có.
Ngay buổi trưa hôm đó, dòng sản phẩm mới “Bích Lục Thanh Trà Sữa” chính thức được đưa vào thực đơn, mở bán thử nghiệm tại Hiên Trà Sau Bếp bên cạnh món trà sữa củ nhu truyền thống.
Hiệu ứng bùng nổ của món mới vượt xa mọi dự liệu lạc quan nhất của An Trà và nhóm thợ.
Giữa tiết trời oi nồng, hầm hập của buổi trưa hè đổ lửa, màu nước xanh ngọc bích mát mắt đựng trong những chiếc bát sành mộc mạc cùng vị đắng thanh, ngọt dịu nhẹ nhàng của bát trà xanh sữa nhẹ như một cơn gió mát lành thổi qua tâm hồn những người lao động đang kiệt sức vì công việc nặng nhọc.
Tiếng đồn lan nhanh như lửa gặp gió khô. Không chỉ có đám cung nữ thêu thùa của Ty Châm Khâu mê mẩn hương vị thanh tao không ngấy béo này, mà ngay cả các viên thư lại của các viện hành chính vốn quen thói kén cá chọn canh, cho đến những người lính tuần tra vừa đổi ca bước ra từ những bức tường thành bỏng rát, cũng tranh nhau rút tiền đồng đổi lấy những chiếc thẻ tre đánh số.
Ba mươi chiếc bát sành xoay vòng không ngơi nghỉ một giây phút nào. Nồi nước sôi khử trùng bằng đồng thau trên bếp than lúc nào cũng bốc khói nghi ngút suốt hai canh giờ liền; bát thu về được tráng sạch mùn trà, nhúng ngập vào nước sôi sùng sục khử khuẩn rồi vớt ra lau khô bằng khăn vải sạch trước khi múc mẻ trà mới phục vụ lượt khách tiếp theo.
Món mới đắt khách đến mức lượng trà non dự trữ vơi đi trông thấy sau mỗi đợt khách tràn vào. Và cứ sau mỗi hồi nước trà được rót ra, chiếc hòm gỗ đựng tiền chung của Hội Đồng Công lại vang lên những tiếng lách cách rộn ràng, lanh lảnh của những đồng tiền đồng rơi xuống đáy tráp. Khuôn mặt của Tống Diệp và Vũ Mai dù nhễ nhại mồ hôi vì đứng bếp liên tục nhưng ánh mắt ai nấy đều lấp lánh niềm vui sướng nghẹn ngào.
Thế nhưng, giữa lúc niềm vui khởi sắc đang rộn rã lan tỏa dưới góc hiên trà rợp bóng trúc xanh, thì ở một góc tối tăm, ẩm thấp khác của hoàng cung, những đôi mắt toan tính đầy thù hằn đã bắt đầu hướng về phía họ.
Tại gian phòng nhận hàng ẩm mốc và nồng nặc mùi mỡ bò thiu của Kho Bếp Đông, Tạ Vinh – viên quản sự chịu trách nhiệm các hợp đồng cung ứng của Liên hiệu Vạn Phúc tại hoàng thành – đang đứng chắp hai tay sau lưng, khuôn mặt vuông vức đầy thịt lộ rõ vẻ u ám khó coi. Hắn mặc chiếc áo gấm viền chỉ bạc nhưng vạt áo đã lấm lem vết dầu mỡ. Trên chiếc bàn làm việc bằng gỗ lim đen bóng trước mặt hắn là tập sổ kiểm kê hàng hóa xuất nhập kho trong mười ngày qua.
Đỗ Kính ngồi lọt thỏm trên chiếc ghế bọc da cừu cũ kỹ đối diện, một chân co lên mép ghế. Tay hắn cầm chiếc tẩu thuốc bằng đồng gõ nhịp cành cạch xuống mặt bàn một cách bực bội, làn khói thuốc rê khét lẹt phả ra mù mịt từ khóe miệng nhăn nhúm:
“Ngươi mở to mắt ra mà nhìn kỹ lại đi! Mười ngày nay, lượng đường mía thô và mật mía thứ phẩm xuất từ kho bếp này ra ngoài phục vụ việc nấu nướng của các đơn vị đã sụt giảm gần một phần ba! Con ranh An Trà và cái hội Đồng Công rách rưới của nó đã lén lút gom tiền, mua đường mía trực tiếp từ các thuyền buôn của xứ Đoài vừa cập bến Liễu. Bọn chúng nấu cái thứ trà xanh sữa nhẹ chết tiệt gì đó, định lượng đường dùng chỉ bằng một nửa so với món cũ mà khách khứa khắp các viện vẫn khen tấm tắc, kéo đến nườm nượp. Chúng nó không thèm mua một hạt đường nào từ nguồn phân bổ độc quyền của Vạn Phúc chúng ta nữa rồi!”
Tạ Vinh không đáp lời ngay. Hắn nặng nề bước tới bàn, cầm cuốn sổ dày cộp lên, lật giở từng trang giấy bản thô nhám. Những ngón tay to bè, thô ráp của hắn miết chặt lên từng dòng mực ghi chép số lượng bao đường mía đang nằm ứ đọng trong kho sâu.
Hắn là một con buôn lão luyện đã lăn lộn hàng chục năm trên thương trường kinh kỳ, từng tính toán chi li từng đồng từng cắc để leo lên vị trí quản lý cung ứng béo bở này. Việc đường mía bị ứ đọng không đơn thuần chỉ là chuyện giảm sút vài chục quan tiền lợi nhuận bán lẻ trước mắt. Điều nguy hiểm chết người nằm ở chỗ, nó đang đe dọa trực tiếp đến toàn bộ cấu trúc gian lận sổ sách mà hắn và Đỗ Kính đã dày công thiết lập suốt bao năm qua.
Bấy lâu nay, bọn chúng dựa vào định mức tiêu thụ đường mía khổng lồ của toàn bộ khu vực nhà bếp để lập hóa đơn khống. Những chuyến xe bò phủ bạt kín mít chở toàn rơm rạ rỗng ruột đi qua cửa thành nhằm hợp thức hóa các khoản tiền chi trả từ ngân khố triều đình. Nếu lượng đường thực tế xuất kho giảm mạnh, số lượng đường tồn đọng trên giấy tờ sẽ lệch hoàn toàn so với lượng hàng thực tế nằm trong kho. Một khi Ty Khảo Sổ tiến hành đợt đối chiếu tồn kho đột xuất giữa năm, cái kim trong bọc sẽ lòi ra, và đầu của cả hai tên sẽ khó mà giữ nổi trên cổ.
“Con nha đầu này to gan thật,” Tạ Vinh cười khẩy một tiếng, nụ cười lạnh lẽo như băng giá nơi đáy giếng sâu. “Dám tự lập chuỗi cung ứng riêng, dám cả gan qua mặt phường buôn Vạn Phúc ta để đi mua hàng tận gốc? Nó tưởng có vài ba con nữ quan hết thời giúp sức, gom được dăm ba quan tiền lẻ là có thể làm đảo lộn cả cái thị trường vật tư kinh thành Vân Kinh này hay sao?”
“Thế rốt cuộc ngươi định xử lý thế nào?” Đỗ Kính sốt ruột nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống sàn gạch, giọng điệu hằn học xen lẫn lo âu. “Hôm trước ta đã mượn tay Phạm quản sự đình chỉ việc cho đổi bình gốm của nó, cứ ngỡ bóp chết được đường sống của nó. Thế mà con tiện tì ấy xoay xở nhanh như chạch, chuyển sang bán uống tại chỗ mà khách vẫn đông nghìn nghịt, nườm nượp không ngớt. Giờ nó lại cấu kết được với cả con nhỏ Hà Tú của điện Ngọc Chiếu, danh chính ngôn thuận bán trà xanh sữa nhẹ cho cả cung phi, uy tín của cái hội Đồng Công rác rưởi ấy ngày càng lớn mạnh! Cứ đà này, cái Bếp Đông của ta sắp thành trò cười cho cả thiên hạ rồi!”
Tạ Vinh ném mạnh cuốn sổ kiểm kê xuống mặt bàn gỗ lim, phát ra một tiếng “chát” chói tai. Ánh mắt hắn híp lại, lóe lên tia nhìn thâm độc và tàn nhẫn của một kẻ quen dùng thủ đoạn bóp nghẹt đối thủ:
“Đường mía mua ngoài bến Liễu có thể khó chặn, vì đường sông Hồng mênh mông, thuyền bè qua lại tấp nập, quan binh khó lòng kiểm soát hết từng chuyến thuyền con xứ Đoài. Nhưng đun trà, nấu nước, luộc bình gốm khử trùng... cái quầy trà chết tiệt đó dựa vào thứ gì cốt lõi nhất để duy trì hoạt động mỗi ngày? Than củi!”
Đỗ Kính nghe vậy liền giật mình, chiếc tẩu thuốc dừng lại giữa không trung.
Tạ Vinh nhếch mép, nụ cười méo mó lộ rõ hàm răng ố vàng:
“Toàn bộ nguồn than hoa gỗ nghiến loại tốt chở từ mạn ngược sông Thao, sông Đà về các bến kinh thành đều do phường buôn Vạn Phúc ta thâu tóm và nắm giữ hơn bảy phần thị phần. Trữ lượng than chất lượng cao đưa vào nội thành đều phải qua tay người của ta phân phối. Để ta xem, khi không có một thanh than củi nào lọt qua được Cửa Tây Dịch để vào tới góc bếp của nó, cái bếp trà của con tiện tì đó sẽ lấy thứ gì để đỏ lửa nấu nước? Không có than, nước sôi đâu ra mà luộc bát, nhiệt lượng đâu ra mà hãm trà? Bán cho ma uống chắc!”
Bóng tối của sự toan tính độc ác và âm mưu triệt hạ bao trùm lấy gian phòng kho ẩm mốc, đặc quánh mùi thù hận.
Thế nhưng, ở phía sau khuôn viên Bếp Đông, nhịp sống và ngọn lửa lao động chân chính vẫn cuộn trào hối hả, tràn đầy nhựa sống.
Nắng chiều đã bắt đầu ngả dài trên nền gạch rêu phong. An Trà đứng lặng trước chiếc bàn tre, ngọn đèn dầu nhỏ vừa được thắp lên le lói xua đi bóng tối đang dần buông xuống dưới mái hiên. Nàng chăm chú nhìn vào cuốn sổ trực ca chi chít những dòng ghi chép mới. Sau sự thành công vang dội của món “Bích Lục Thanh Trà Sữa”, các đơn đặt hàng từ Ty Châm Khâu, Viện Thái Y, Ty Nghi Lễ và các viện cung ứng phụ trợ liên tục được gửi tới tấp về quầy trà thông qua những tờ giấy đặt hàng nhỏ gọn.
Chiếc bảng gỗ phân ca trực của Hội Đồng Công treo trên vách tre lúc này đã chi chít những nét mực đỏ tươi do chính tay An Trà chấm mực phân bổ. Từng khung giờ, từng số lượng bát cần nấu, từng kíp người phụ trách việc đun nước khử trùng, pha chế và rửa bình đều được vạch ra rõ ràng, khoa học đến từng chi tiết nhỏ.
Thế nhưng, ẩn sau niềm hân hoan của những mẻ trà đắt khách là một áp lực tài chính vô hình nhưng nặng ngàn cân. Kỳ hạn thanh toán dứt điểm bảy quan tiền mặt cho thợ gốm Trịnh Mộc ở lò đất nung ngoài thành chỉ còn chưa đầy nửa tháng nữa. Bảy quan tiền – một con số khổng lồ đối với những kẻ làm công nhật – đang đè nặng lên từng suy tính, từng nhịp thở của An Trà. Nàng vô thức siết chặt thân cây bút lông trong tay, đốt ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. Nàng nhìn chằm chằm vào những con số chỉ tiêu ngày một cao ngất ngưởng được ghi trên vách gỗ, nơi từng nét chữ đỏ như đang bốc cháy trong ánh hoàng hôn muộn.
Lượng đơn hàng tăng vọt khiến bảng phân ca của Đồng Công đỏ rực các mục tiêu chén bán ra mỗi buổi.