Bổn Cung Không Cung Đấu, Bổn Cung Bán Trà SữaC.18 / 30
Chương 18

Overthinking không giữ nổi một mái hiên

Ngọn nến leo lét rọi bóng An Trà in dài trên vách đất; trên bàn là chiếc túi gấm đựng số bạc dự phòng của quỹ hội Đồng Công và giấy nợ của Trịnh Mộc đã ố vàng mép gấp.

Gió đêm mùa hạ luồn qua khe liếp cửa sổ chưa kịp cài then, mang theo hơi đất ẩm ướt nồng nặc sau trận bão quét qua kinh thành và tiếng côn trùng rả rích buồn bã nơi góc sân kho bỏ hoang. Ngọn lửa hạt đậu đỏ quạch chao nghiêng từng chặng, hắt những vệt sáng tối nhập nhằng, méo mó lên gương mặt hốc hác, nhợt nhạt của An Trà. Nàng ngồi bất động trên chiếc ghế con bằng gỗ tạp, hai bờ vai gầy so lại dưới lớp áo vải thô màu nâu sẫm đã sờn rách và bạc phếch ở hai bên khuỷu tay. Đôi bàn tay nàng đặt trên đầu gối, các đốt ngón tay ghì chặt vào lớp vải gai thô ráp đến mức trắng bệch, run rẩy trong từng nhịp thở ngắt quãng.

Kỳ hạn ba ngày. Ba ngày ngắn ngủi trôi qua như một cái chớp mắt, và giờ đây thời khắc cuối cùng đang điểm từng hồi khô khốc trong bóng tối. Lời cảnh cáo đanh thép, lạnh lùng của lão thợ gốm Trịnh Mộc trưa nay bên rào trúc Cửa Tây Dịch cứ dội đi dội lại trong màng nhĩ nàng, sắc nhọn như lưỡi dao cạo:

*“Bảy quan tiền mặt, không thiếu một đồng kẽm mục! Đúng giờ Tỵ ngày mai, nếu không thấy bóng dáng số tiền đó, tờ khế ước gốc có điểm chỉ đỏ này sẽ nằm ngay ngắn trên bàn quan xét án của công đường Vân Kinh! Lão già này không phải kẻ thích dồn người vào đường cùng, nhưng chén cơm manh áo của cả lò gốm Nam Thành không thể nuôi báo cô cho sự tắc trách của mấy kẻ các người!”*

Bảy quan tiền mặt.

Đối với các đại thương phường lụa là gấm vóc ở phố Nam, hay những viên quản sự kho béo mầm chuyên ăn bớt xén từng đấu gạo, lạng dầu trong cung, bảy quan tiền có lẽ chỉ bằng một bữa rượu đãi khách ở lầu son gác tía. Nhưng đối với một nữ quan thất thế, bị đẩy xuống tận cùng của guồng quay quyền lực như An Trà, bảy quan tiền mặt lúc này chẳng khác nào một ngọn núi đá sừng sững đè nghiến lên lồng ngực, đủ sức bóp nghẹt mọi hy vọng sống còn.

Hiên Trà Sau Bếp—nơi trú ngụ, chốn nương náu duy nhất nàng dày công gầy dựng—đã bị dán hai dải giấy niêm phong trắng toát chéo ngang khung cửa gỗ lim từ chiều qua. Con dấu son đỏ lòm của Nội Chánh Ty in trên giấy như vết máu chưa khô, mang theo lệnh cấm vận chuyển củi lửa, đình chỉ mọi hoạt động buôn bán để phục vụ đợt tổng thanh tra kho tàng. Bếp lò nguội tanh nguội ngắt, ấm đồng nằm chỏng trơ, nguồn thu từng đồng từng cắc từ những bát trà hạt củ nhu chống say nắng hay từng ấm bích lục thanh trà dành cho lính gác, thị nữ đều bị cắt đứt đột ngột.

Nàng đã dốc cạn chiếc túi vải cá nhân giấu dưới đáy hòm tre. Lần giở từng ngóc ngách, cạy từng đường chỉ viền, nàng chỉ gom được vỏn vẹn hơn bốn mươi đồng tiền kẽm sứt mẻ nằm trơ trọi bên mấy chiếc kim may rỉ sét. Bốn mươi đồng kẽm. Ngay cả một bữa cơm đạm bạc nơi quán chợ còn không đủ mua, nói chi đến món nợ ngút trời.

Một cơn nhức nhối quen thuộc bỗng quất mạnh vào hai bên thái dương An Trà, đau đớn như có hàng trăm mũi kim châm cùng lúc cắm sâu vào màng não. Ký ức tiền kiếp—những mảnh vỡ u tối của một kiếp sống làm công ăn lương nơi đô thị hiện đại đầy ngột ngạt—lại rầm rập ùa về bóp nghẹt khí quản nàng. Những đêm thức trắng bên màn hình máy tính xanh lét chạy chỉ tiêu doanh số; những bảng tính công nợ đỏ rực màu cảnh báo lỗ vốn; và kinh hoàng nhất là hình ảnh cậu sinh viên làm thêm ngơ ngác, kiệt sức rồi ngã gục ngay bên bệ máy pha chế cà phê giữa ca làm việc ban đêm...

Căn bệnh overthinking, thói quen suy diễn luẩn quẩn đến cùng cực và cái ảo tưởng bệnh hoạn rằng bản thân phải có trách nhiệm gánh vác cả thế giới một mình, chưa bao giờ buông tha nàng. Từ thế giới cũ đầy rẫy áp lực cho đến chốn thâm cung tàn nhẫn này, nó vẫn như bóng ma bám riết lấy từng thớ thịt, từng tế bào thần kinh của nàng.

*Nếu ngày mai Trịnh Mộc vác đơn lên công đường kiện cáo...* *Quan viên Vân Kinh sẽ lập tức thụ lý, sai nha sẽ ập đến xích cổ mình lôi đi trước mắt bàn dân thiên hạ. Danh dự của một nữ quan coi như vỡ vụn thành bùn đất.* *Tám tháng nhiệm kỳ còn lại sẽ tan thành mây khói. Mình sẽ bị tống vào lao ngục, bị khép vào tội danh lừa gạt quốc khố, gian lận công sản.* *Và tệ hại hơn cả, nếu mình ngã xuống, Hội Đồng Công sẽ lập tức tan rã. Tống Diệp, Hà Tú, Vũ Mai và những người phụ nữ nghèo khổ kia sẽ mất đi chỗ dựa. Lão quản sự Bếp Đông Đỗ Kính sẽ hả hê giẫm đạp lên tàn dư của họ, biến họ thành những con thiêu thân bị bóc lột đến tận xương tủy.* *Món nợ này ban đầu do thân xác này ký giấy bảo lãnh tiếp quản từ tiền nhiệm. Mình là người đứng đầu, mình là kẻ khởi xướng quầy trà... Mình phải tự dọn sạch cái bãi chiến trường này. Mình không được phép để người khác phải trả giá thay mình!*

Những ý nghĩ đen tối, độc hại ấy quấn chặt lấy tâm trí An Trà như loài dây leo có gai độc, siết chặt đến mức nàng cảm thấy hai tai lùng bùng, tim đập loạn xạ như muốn nhảy vọt ra khỏi lồng ngực. Đôi mắt trũng sâu, thâm quầng vì mất ngủ của nàng dán chặt không rời vào chiếc túi gấm màu xanh chàm viền chỉ đỏ đang nằm im lìm cạnh chiếc tráp gỗ lim trên mặt bàn.

Bên trong chiếc túi gấm ấy là hơn sáu quan tiền mặt—bao gồm bạc vụn và những chuỗi tiền đồng bóng loáng. Đó là toàn bộ số vốn lưu động, quỹ dự phòng hao hụt và tiền cọc nguyên liệu mà tám chị em Đồng Công đã chắt bóp từng đồng tiền công làm thêm, từng bát cháo hoa nhịn ăn sáng suốt mấy tháng trời để tích lũy.

*Chỉ mượn tạm thôi...* Một giọng nói ma quỷ thì thầm bên tai nàng, ngọt ngào và đầy cám dỗ. *Chỉ là mượn tạm một vài ngày để đưa cho Trịnh Mộc, chặn họng lão lại, không để lão làm ầm ĩ lên công đường. Ba ngày nữa, khi đợt thanh tra của Ty Khảo Sổ qua đi, quầy trà được gỡ niêm phong, mình sẽ tăng ca. Mình sẽ thức trắng đêm nấu trà, nhận thêm giặt giũ phơi phóng, nhịn ăn nhịn uống để bù lại từng đồng từng cắc vào túi bạc này. Không ai biết cả. Trời không biết, đất không hay. Mình đâu có tham ô, mình đâu có ăn cắp cho bản thân. Mình chỉ đang linh hoạt xoay xở để cứu vãn tình thế nguy ngập này thôi mà...*

Bàn tay phải của An Trà run lên bần bật. Nàng chầm chậm, run rẩy vươn những ngón tay khô ráp về phía chiếc túi gấm. Khoảng cách giữa đầu ngón tay nàng và lớp vải chàm chỉ chừng một gang tay, nhưng trong tâm thức nàng, nó thăm thẳm và nghẹt thở như một bờ vực không đáy. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán, lăn dài xuống khóe mắt cay xè.

Đầu ngón tay trỏ của nàng vừa chạm vào lớp vải gấm thô ráp, cảm nhận được hơi lạnh buốt giá của những đồng bạc vụn và những chuỗi tiền kim loại cứng ngắc xếp chồng bên trong, thì—

“Rầm!”

Một tiếng động kinh thiên động địa xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Cánh cửa gỗ ván khép hờ bị người từ bên ngoài dùng chân đạp mạnh bung ra, va đập sầm sầm vào vách đất khiến bụi vôi rơi lả tả xuống sàn nhà. Gió đêm ẩm ướt lập tức thốc mạnh vào trong, giật tắt ngấm ngọn nến le lói trên bàn. Gian phòng rơi tõm vào bóng tối đặc quánh trong một chớp mắt, trước khi ánh trăng muộn mờ mịt, nhợt nhạt hắt qua khung cửa mở toang, soi rõ ba bóng người đang đứng sừng sững nơi ngưỡng cửa.

An Trà giật thót mình như bị sét đánh ngang tai, hoảng loạn giật phắt bàn tay lại như thể vừa chạm phải một thanh sắt nung đỏ trong lò rèn. Chiếc túi gấm bị va chạm văng lệch sang một bên mép bàn, phát ra tiếng leng keng khô khốc của kim loại va vào nhau.

Tống Diệp dẫn đầu bước vào, trên vạt áo thô còn vương mùi khói bếp nồng nặc và tro trấu của ca trực dọn dẹp vừa xong. Ngay sát phía sau nàng là Hà Tú với gương mặt đanh thép, lạnh lùng như băng đá nơi đáy giếng sâu, và Vũ Mai đang ôm chặt một bọc vải nhỏ trước ngực, đôi mắt đỏ hoe ngấn nước.

Không ai nói một lời nào. Tiếng bước chân dồn dập nện trên nền đất ẩm. Tống Diệp sải bước tiến thẳng tới bên bàn trà. Đôi bàn tay thô ráp, chai sạn của người phụ nữ ba mươi tư tuổi cả đời lăn lộn với công việc bốc dỡ nặng nhọc vươn ra, chộp lấy chiếc túi gấm màu chàm đựng toàn bộ quỹ hội, rồi giáng mạnh xuống mặt bàn gỗ.

“Cạch!”

Tiếng gỗ và kim loại va đập chát chúa vang lên đanh gọn, phá vỡ hoàn toàn sự im lìm ngột ngạt của gian phòng.

“Nguyễn An Trà!” Giọng Tống Diệp gằn xuống, trầm đục nhưng sắc bén và gắt gao như nhát búa gõ thẳng vào đe sắt. “Muội đang định làm cái trò đốn mạt gì đấy? Có phải muội vừa định thò cái tay của muội vào chiếc túi này không?”

An Trà chết lặng tại chỗ. Toàn thân nàng cứng đờ như hóa đá, cổ họng nghẹn ứ không thốt nên lời, hai vành môi mím chặt lại đến mức bật cả tơ máu trắng bệch. Nàng cúi gằm mặt xuống, cằm gần như chạm vào ngực áo, không đủ dũng khí để đối diện với ánh mắt đang rực cháy ngọn lửa giận dữ và thất vọng tột cùng của người tỉ tỉ kết nghĩa.

“Muội tưởng chị em chúng ta là một lũ mù, lũ điếc, lũ ngu đần hết cả rồi sao?” Tống Diệp chống hai tay lên mặt bàn gỗ, chồm người về phía trước, từng lời từng chữ thốt ra như những nhát roi quất thẳng vào da thịt. “Từ lúc quầy trà bị dán niêm phong tới giờ, muội cứ lầm lũi cúi đầu đi lại như kẻ mất hồn. Trịnh Mộc xông đến rào trúc Cửa Tây đòi nợ, muội cũng giấu giếm tự đi thương lượng một mình, không hé răng nửa lời với ai. Bây giờ đêm hôm khuya khoắt ngồi đây nhìn chằm chằm vào cái túi bạc này, muội định diễn cái trò ‘người hùng cô độc tự gánh mọi đòn đau’ cho ai xem? Cho bọn ta xem để thương hại muội, hay để muội tự cảm động chính mình?”

“Muội... muội không...” An Trà lắp bắp, những ngón tay co quắp lại siết chặt lấy gấu áo thô, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng.

“Không cái gì mà không!” Tống Diệp lớn tiếng cắt ngang, cơn thịnh nộ bấy lâu kìm nén trong lòng người phụ nữ bộc phát dữ dội, làm rung chuyển cả gian nhà vách đất. “Muội nghĩ muội là ai hả An Trà? Muội nghĩ trên đời này chỉ có một mình muội thông minh, một mình muội biết xót thương người khác, còn chị em chúng ta chỉ là lũ ký sinh ăn bám theo sau lưng muội để kiếm mấy đồng tiền lẻ chắc? Ngày lập Hội Đồng Công, ai là người đứng giữa sân phơi thóc tuyên thệ trước vong linh tổ tiên rằng tiền quỹ chung và tiền cá nhân phải tách bạch tuyệt đối như nước sông không bao giờ phạm vào nước giếng? Ai nói dù có chết đói, chết rét cũng không bao giờ được xâm phạm một đồng tiền cọc của người ta, một đồng tiền vốn của hội? Giờ thì sao? Mới gặp một chút sóng gió, quầy trà mới bị niêm phong có một buổi chiều, muội đã run sợ đến mức định tự tay phá vỡ cái lằn ranh sống còn ấy rồi sao?”

Từng câu, từng chữ chất vấn gay gắt của Tống Diệp như những lưỡi dao sắc bén rạch toang lớp vỏ bọc kiên cường, tháo vát và tự chủ mà An Trà luôn cố công gồng gánh bấy lâu nay. Nỗi sợ hãi tột cùng bị tống vào ngục tối, sự tủi thân cay đắng của một kẻ tha hương, cảm giác cô độc không nơi nương tựa và áp lực kinh hoàng đè nặng lên đôi vai suốt mấy tháng ròng bỗng chốc vỡ òa, không thể nào ngăn lại được nữa.

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má hốc hác, rơi lộp bộp xuống mặt bàn gỗ, rồi hai giọt, ba giọt nối tiếp nhau tuôn trào như chuỗi ngọc đứt chỉ. An Trà ôm lấy mặt, hai bả vai gầy guộc run lên bần bật trong cơn nấc nghẹn ngào, trút hết nỗi kinh hoàng đã gặm nhấm tâm can nàng từ kiếp trước cho đến tận kiếp này.

“Muội sợ...” Giọng nàng vỡ vụn qua từng kẽ ngón tay, đẫm nước mắt và hơi thở dồn dập. “Muội sợ Trịnh Mộc kiện lên công đường... Muội sợ bị gông cổ lôi đi, sợ tám tháng nữa không thể mãn hạn để rời khỏi cái chốn thâm cung này... Muội sợ mình lại làm hỏng mọi chuyện như kiếp... như trước đây! Muội sợ liên lụy đến tất cả mọi người! Quán trà bị niêm phong là vì muội chọc giận lão Đỗ Kính, món nợ ba mươi sáu quan này ban đầu cũng là do cái thân thể này ký giấy bảo lãnh ngu ngốc... Muội chỉ nghĩ quẩn... muội chỉ nghĩ rút tạm ra để gỡ mối nợ cá nhân cho xong xuôi trưa mai, rồi khi quán mở lại, muội sẽ làm ngày làm đêm, nhịn ăn nhịn mặc, làm việc gấp ba gấp bốn lần người khác để bù trả lại từng hào... Muội sai rồi... Tống tỉ ơi, muội sai thật rồi!”

An Trà gục hẳn trán xuống mặt bàn lạnh ngắt, hai bàn tay run rẩy bấu chặt vào mép gỗ nứt nẻ. Nàng không còn tìm cách biện minh, không còn cố dựng lên những lý lẽ vòng vo để tự an ủi mình nữa. Nàng biết, cái khoảnh khắc ngón tay nàng chạm vào lớp vải chàm của chiếc túi gấm lúc nãy chính là bờ vực đạo đức nguy hiểm và nhơ bẩn nhất. Nàng đã suýt chút nữa biến mình thành một kẻ tham ô, biển thủ công quỹ, tự tay xé nát niềm tin và nguyên tắc minh bạch mà chính nàng đã dùng cả máu và nước mắt để xây dựng cho Hội Đồng Công. Sự ngạo mạn ngầm của việc muốn tự mình gánh vác, cùng với căn bệnh overthinking hoảng loạn, đã suýt đẩy nàng xuống đáy vực sâu muôn trượng.

Gian phòng nhỏ chìm vào một khoảng lặng nghẹn ngào, thê lương. Chỉ còn lại tiếng nấc khe khẽ, đứt quãng của An Trà và tiếng gió rít qua rặng chuối xơ xác ngoài vườn.

Hà Tú bước lên một bước dài. Gương mặt nàng dưới ánh trăng mờ không chút biến sắc, nhưng đôi mày liễu khẽ nhíu lại. Nàng thò tay vào trong ống tay áo rộng, rút ra chiếc bật lửa đá bùi nhùi, lách cách đánh vài tiếng dứt khoát. Một đóm lửa bùng lên, bén vào bấc nến. Ánh sáng vàng ấm áp một lần nữa bừng tỏa khắp gian phòng, rọi rõ những giọt nước mắt đầm đìa và đôi mắt đỏ hoe, tuyệt vọng trên gương mặt tái mét của An Trà.

Hà Tú nhìn lướt qua chiếc túi gấm nằm chỏng trơ, rồi nhìn thẳng vào An Trà, cất giọng bình thản, rành mạch nhưng từng lời đều mang sức nặng ngàn cân:

“Nguyễn nữ quan, nàng cực kỳ thông minh trong việc sắp xếp công việc, tính toán chi li từng bát trà, chén thuốc, nhưng nàng lại quá ngây thơ đến mức ấu trĩ trong việc nhìn nhận lòng người và chốn quan trường này. Nếu đêm nay nàng lấy số bạc này mang đi trả nợ cho Trịnh Mộc, ngày mai khi Ty Khảo Sổ hay Nội Chánh Ty bất ngờ ập vào niêm phong tráp tiền để kiểm kê sổ sách, nàng sẽ lấy cái gì ra để giải trình cho sự thâm hụt đó? Nàng nghĩ một con cáo già xảo quyệt như Đỗ Kính sẽ bỏ qua cơ hội trời cho ấy sao? Lúc ấy, tội danh của nàng không còn đơn thuần là con nợ dân sự chậm trả tiền, mà là kẻ trộm cắp, tham ô công quỹ bị bắt tận tay day tận trán! Khi cái án ăn cắp tiền công đóng cọc vào đầu nàng, ai cứu được nàng? Ai minh oan được cho cái quầy trà này, hay tất cả chị em chúng ta đều sẽ bị khép vào tội đồng lõa, chịu cảnh đày ải nơi biên viễn?”

Từng lời của Hà Tú như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào tâm can An Trà, khiến nàng rùng mình ớn lạnh. Phải rồi, nếu đêm nay nàng hành động dại dột, nàng không chỉ tự hủy hoại bản thân mà còn kéo theo toàn bộ chị em xuống hố sâu không đáy của ngục tù.

Vũ Mai bước tới gần, bờ mi đẫm lệ. Cô bé đặt nhẹ bàn tay ấm áp lên bờ vai đang run bần bật của An Trà, cất giọng nghẹn ngào:

“Trà tỉ... chính tỉ là người cầm tay chỉ việc, dạy muội từng nét chữ, từng con số trên sổ cái. Tỉ từng nói với muội rằng, chỉ khi từng con số thu chi được ghi chép rõ ràng, minh bạch, thì những người làm công thấp cổ bé họng như chúng ta mới có thể ngẩng cao đầu mà sống giữa chốn thâm cung này. Tỉ bảo chúng ta dựa vào nhau để sống... vậy sao lúc này tỉ lại muốn một mình gánh hết? Chị em chúng muội đâu phải phường vô tình vô nghĩa, đâu phải chỉ biết nhận ơn mà không biết đồng cam cộng khổ?”

Tống Diệp đứng lặng nhìn An Trà một lúc lâu, lồng ngực phập phồng sau cơn giận dữ. Nhìn thấy dáng vẻ suy sụp, thống khổ của cô gái trẻ, ngọn lửa giận trong mắt người phụ nữ dày dạn sương gió dần dần lụi tàn, nhường chỗ cho nỗi xót xa, thương cảm sâu sắc của một người chị cả. Nàng khẽ thở dài một hơi thật dài, kéo chiếc ghế con đối diện ngồi xuống, rồi đưa bàn tay to bè, ấm áp vỗ mạnh lên mu bàn tay lạnh ngắt của An Trà.

“Khóc xong chưa? Nếu đã khóc xong rồi thì lau nước mắt đi, ngồi thẳng cái lưng dậy cho ta!” Tống Diệp nghiêm giọng, nhưng thanh âm đã dịu đi rất nhiều. “Sai thì phải sửa, suýt phạm sai lầm thì phải lập tức dựng rào giậu thật chắc chắn để ngăn chặn triệt để. Tình chị em là tình chị em gắn bó keo sơn, nhưng quy chế, kỷ luật của Hội Đồng Công tuyệt đối không thể xem như trò đùa con trẻ!”

An Trà hít sâu một hơi, lồng ngực đau nhói. Nàng dùng ống tay áo thô lau khô những vệt nước mắt còn giàn giụa trên má, cố gắng kìm nén tiếng nấc, gật đầu lia lịa:

“Tỉ nói đi... muội xin nghe, muội xin chấp nhận mọi sự trừng phạt và phân xử của tỉ và mọi người.”

Tống Diệp gõ ba ngón tay xuống mặt bàn, âm thanh chắc nịch:

“Thứ nhất, kể từ canh ba đêm nay, bãi bỏ hoàn toàn và triệt để quyền tự quyết thu chi của muội đối với quỹ hội Đồng Công! Từ giờ phút này trở đi, muội không được phép một mình chạm vào tráp tiền hay chiếc túi bạc dự phòng này nữa. Bất kể là khoản chi nào, dù chỉ là một đồng kẽm mua muối ăn dưa hay một hào mua củi nhóm bếp, bắt buộc phải có đủ hai chữ ký phê duyệt đối ứng: một là chữ ký của ta, đại diện cho cánh lao động chân tay, và một là chữ ký của Vũ Mai, người giữ sổ sách ghi chép. Thiếu một trong hai chữ ký, tráp tiền này tuyệt đối không ai được phép chạm tới, dù là muội hay bất cứ ai! Muội có tâm phục khẩu phục không?”

“Muội hoàn toàn tâm phục khẩu phục!” An Trà đáp dứt khoát, ánh mắt kiên định nhìn Tống Diệp. Trong lòng nàng lúc này không hề có lấy một mảy may tự ái hay hụt hẫng vì bị tước quyền, trái lại, một cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản vô biên như trút bỏ được tảng đá ngàn cân đang bao trùm lấy tâm can. Cơ chế kiểm soát chéo bằng hai chữ ký này chính là chiếc lồng sắt kiên cố nhất, là tấm khiên bảo vệ nàng và toàn bộ tập thể khỏi những phút giây yếu lòng, quẩn trí hay những cơn hoảng loạn mang tính bản năng.

“Tốt!” Tống Diệp gật đầu, rồi quay sang nhìn Hà Tú và Vũ Mai, giọng nói đanh lại đầy cương quyết: “Thứ hai, món nợ bảy quan tiền mặt của lão Trịnh Mộc là khoản nợ cá nhân của Nguyễn An Trà. Ta nhắc lại một lần nữa: tuyệt đối không được phép tơ hào một xu, một cắc nào từ tiền quỹ chung của Hội Đồng Công để mang đi trả nợ! Đó là nguyên tắc sống còn để giữ gìn sự trong sạch tuyệt đối của hội trước sự dòm ngó, soi mói của Ty Khảo Sổ và Nội Chánh Ty.”

Nói đoạn, Tống Diệp thò tay vào sâu trong lớp áo ngực, lôi ra một chiếc khăn tay cũ kỹ bằng vải thô màu xám, các góc được thắt nút chặt chẽ, cẩn thận. Nàng đặt chiếc khăn lên bàn, chậm rãi gỡ từng nút thắt. Bên trong chiếc khăn hiện ra ba mẩu bạc vụn đã xỉn màu cùng một xâu tiền đồng xỏ bằng dây gai chắc chắn.

“Đây là hai quan tiền bổng lộc mà ta đã chắt bóp, tích cóp suốt hơn một năm qua,” Tống Diệp nhìn đống tiền, ánh mắt ánh lên vẻ trầm ngâm, “ta vốn định dành dụm gửi về quê cho mẹ già lợp lại mái tranh dột nát trước mùa bão lớn. Nhưng mái nhà chưa lợp thì tạm che bạt, còn con người mà ngã xuống thì không còn đường quay lại. Số tiền này ta cho muội vay với tư cách cá nhân, tính theo khế ước vay nợ sòng phẳng giữa hai chúng ta. Khi nào muội làm ăn có tiền thì trả lại cho ta, không thiếu một đồng kẽm.”

Hà Tú khẽ nhếch khóe môi, một nụ cười nhàn nhạt thoáng hiện trên gương mặt thanh tú. Nàng bước tới, rút từ trong ống tay áo ra một thỏi bạc nhỏ hình thuyền lá liễu, nặng chừng hai lượng, đặt dứt khoát xuống mặt bàn gỗ ngay bên cạnh số tiền của Tống Diệp:

“Phần này là tiền thưởng đợt đại yến Trung Thu năm ngoái do Đoan phi nương nương ban thưởng cho cung nhân hầu hạ chu đáo. Quy đổi ra thời giá chợ Nam Thành lúc này được khoảng hai quan tám trăm đồng kẽm. Nguyễn nữ quan, ta nói trước, ta không phải kẻ giàu lòng bác ái, ta không cho không ai cái gì bao giờ. Ta cho nàng mượn, phải viết giấy nhận nợ rành mạch, tính lãi suất theo đúng quy chuẩn định mức của công đường Vân Kinh: ba phân một tháng. Thiếu của ta một ngày, ta cũng sẽ tới tận cửa phòng nàng mà đòi nợ.”

Lời nói của Hà Tú nghe qua thì lạnh lùng, tàn nhẫn và sòng phẳng như một khế ước nơi tiệm cầm đồ, nhưng An Trà hiểu rất rõ: việc tính lãi và lập khế ước theo đúng luật lệ công đường chính là cách bảo vệ an toàn nhất cho cả hai người, biến nó thành một giao dịch dân sự hợp pháp không ai có thể bới móc hay quy chụp là hối lộ, tẩu tán tài sản.

Lúc này, Vũ Mai cũng vội vàng đặt chiếc bọc vải nhỏ mà cô bé ôm khư khư trước ngực nãy giờ xuống bàn. Đôi tay gầy guộc của cô bé run rẩy mở từng nếp gấp:

“Trà tỉ... muội... muội không có nhiều tiền như hai tỉ. Chỗ này là một quan hai trăm đồng, gồm tiền công phụ quầy trà đợt trước và tiền muội thức đêm nhận thêu khăn tay, áo yếm cho các thị nữ phường thêu... Muội chỉ giữ lại hai mươi đồng mua kim chỉ, còn lại một quan tiền này muội cho Trà tỉ mượn hết. Tỉ cầm lấy mà lo việc...”

An Trà sững sờ nhìn đống tiền đồng xỉn màu và những thỏi bạc vụn nằm rải rác trên mặt bàn gỗ nứt nẻ. Sống mũi nàng cay xè, nước mắt một lần nữa ứa ra, nhưng lần này không phải vì sợ hãi hay tuyệt vọng, mà là vì một niềm xúc động vô bờ bến bóp nghẹt lồng ngực.

Đây tuyệt đối không phải là tiền công quỹ. Đây là mồ hôi, là nước mắt, là những đêm thức trắng còng lưng thêu từng đường kim mũi chỉ, là những bữa cơm đạm bạc chỉ có rau dại và muối vừng, là hy vọng sửa sang mái nhà tranh cho mẹ già nơi quê xa của từng người phụ nữ nghèo khổ này. Họ không dùng tiền của tập thể để bao che, dung túng cho sai lầm hay sự bế tắc của nàng, nhưng bằng tình nghĩa chị em ruột thịt, họ sẵn sàng dốc cạn những đồng tiền mồ hôi nước mắt cuối cùng của bản thân để níu tay nàng lại bên bờ vực thẳm.

“Mọi người... muội... muội thực sự không biết phải...” An Trà nghẹn ngào, cổ họng run rẩy không thốt nên lời trọn vẹn.

“Đừng có đứng đó mà sướt mướt như đứa trẻ con nữa!” Tống Diệp lườm nàng một cái sắc lẻm, nhưng nơi khóe mắt đã cong lên một nụ cười ấm áp, bao dung lạ thường. Nàng đẩy nghiên mực và xấp giấy bản về phía An Trà: “Cầm bút lên! Mài mực cho thật đậm vào! Viết ba tờ giấy nhận nợ cá nhân cho ba người bọn ta. Từng điều khoản, số tiền, ngày trả phải ghi cho thật rõ ràng, rồi điểm chỉ đàng hoàng vào đó. Gom toàn bộ chỗ này lại, vừa vặn đủ sáu quan tiền mặt. Cộng thêm mấy chục đồng tiền lẻ của muội và vài hào bạc vụn muội còn giữ, sáng mai vừa vặn đủ bảy quan tiền tươi thóc thật để đập thẳng vào mặt lão thợ gốm họ Trịnh kia!”

Đêm ấy, dưới ánh sáng vàng ấm áp của ngọn nến trong Nhà Công Nữ Quan, tiếng ngòi bút lướt sột soạt trên nền giấy bản thô ráp vang lên đều đặn. Ba tờ khế ước vay mượn cá nhân được lập ra một cách chặt chẽ, rành mạch từng câu chữ. Dưới sự chứng kiến của ngọn đèn dầu và bốn trái tim cùng chung nhịp đập, từng dấu điểm chỉ đỏ chót bằng mực son được ấn sâu xuống góc dưới của mỗi tờ giấy.

Khoản tài chính cá nhân của An Trà và quỹ dự phòng chung của Hội Đồng Công đã được bóc tách dứt khoát, rạch ròi như một nhát dao chém xuống mặt đất, không còn vương lại một chút mập mờ hay nhập nhằng nào nữa.

***

Giờ Tỵ sáng hôm sau.

Nắng sớm mùa hạ rọi xuyên qua những kẽ lá liễu rủ ven bờ rạch, hắt những đốm sáng lung linh xuống bãi đất trống ẩm ướt gần Cửa Tây Dịch. Không khí buổi sớm vẫn còn vương mùi ngai ngái nồng nồng của cỏ dại dập nát sau cơn mưa bão đêm qua.

Lão thợ gốm Trịnh Mộc đứng khoanh tay bên cạnh chiếc xe cút kít bằng gỗ chất đầy những sọt đất nung và đồ sành thô. Gương mặt xương xẩu, đen sạm vì nắng gió của lão hầm hầm vẻ bực bội, bàn chân mang đôi dép cỏ không ngừng giậm lộp cộp xuống nền đất đá dăm.

“Đúng giờ Tỵ rồi đấy!” Trịnh Mộc càu nhàu gắt gỏng khi vừa thoáng thấy bóng bốn người phụ nữ từ phía cổng nách của hành lang nội cung bước ra. “Nguyễn nữ quan, nếu hôm nay cô không mang đủ bảy quan tiền mặt ra đây theo đúng hẹn, thì đừng có trách cái thân già này trở mặt vô tình kéo nhau lên công đường Vân Kinh phân xử!”

An Trà bước lên phía trước một bước dài. Thần sắc nàng tuy có phần nhợt nhạt và đôi mắt vẫn còn trũng sâu sau một đêm dài không ngủ, nhưng ánh mắt nàng lúc này lại sáng ngời, điềm tĩnh và vững vàng đến lạ thường. Đi song hàng ngay bên cạnh nàng là Tống Diệp với dáng đi chắc nịch, Hà Tú với vẻ mặt lạnh lùng sắc sảo, và Vũ Mai ôm tráp sổ sách với tư thế đĩnh đạc, lưng thẳng tắp.

“Trịnh thúc,” An Trà cất giọng rõ ràng, thanh thoát, hai tay nâng chiếc túi vải bố dày dặn trao về phía trước, “đây là năm quan tiền đồng được xâu chuỗi chắc chắn, đủ một nghìn đồng mỗi quan không thiếu một đồng kẽm vụn; cùng với hai mẩu bạc vụn đã được cân đối kỹ lưỡng đúng một lượng hai đồng cân, tính theo thời giá chợ Nam Thành sáng nay vừa vặn tương đương hai quan tiền mặt. Tổng cộng là bảy quan tiền mặt trả nợ đợt hai theo đúng cam kết. Xin thúc đếm và kiểm tra lại cho thật kỹ lưỡng.”

Trịnh Mộc sững sờ. Đôi mắt ti hí của lão trố tròn nhìn chiếc túi vải bố nặng trịch đang trĩu nặng trên đôi tay gầy guộc của An Trà. Lão vốn đinh ninh rằng sau khi quầy trà bị dán niêm phong chiều qua, đám nữ quan thấp cổ bé họng này chắc chắn sẽ rơi vào cảnh đường cùng, sáng nay sẽ phải quỳ lạy, khóc lóc van xin lão khất nợ thêm dăm bữa nửa tháng, hoặc chí ít cũng tìm cách lươn lẹo, dở trò thoái thác. Lão tuyệt đối không thể ngờ rằng nàng lại có thể đem ra đủ từng này tiền tươi thóc thật, đúng giờ, đúng hẹn đến mức không chệch một khắc như vậy.

Lão thợ gốm nuốt nước bọt cái ực, vội vàng ngồi xổm xuống bệ đá ven đường, mở túi vải bố ra. Đôi bàn tay sần sùi thoăn thoắt kiểm tra từng xâu tiền đồng, lật qua lật lại từng đồng kẽm, rồi cầm mẩu bạc vụn đưa lên miệng cắn thử một miếng thật mạnh. Răng cắn lún nhẹ vào thớ bạc mềm. Bạc thật, đủ tuổi, đủ cân; tiền đồng tròn trịa, không bị pha chì, không thiếu một đồng kẽm mục.

“Cô... các cô đào đâu ra ngần này tiền mặt chỉ trong vòng một đêm?” Trịnh Mộc ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt đầy vẻ ngờ vực xen lẫn bàng hoàng, kinh ngạc tột độ. “Chẳng lẽ cô to gan lớn mật, dám rút trộm tiền quỹ chung của cái hội buôn trà gì đó ra để trả nợ?”

“Trịnh thúc chớ có ăn ốc nói mò, nói bừa nói bãi làm tổn hại thanh danh người khác!” Tống Diệp lập tức bước lên chặn ngang, giọng nói sang sảng, dứt khoát như chuông đồng vang dội. “Hội Đồng Công chúng tôi làm ăn có quy củ, có phép tắc của triều đình, công tư luôn luôn phân minh rạch ròi! Tiền quỹ của hội một đồng một cắc cũng không suy suyển, hiện đang được niêm phong nghiêm ngặt chờ Ty Khảo Sổ vào đối soát. Toàn bộ số tiền bảy quan mặt này là do chị em chúng tôi tự nguyện trích tiền lương bổng, tiền tiết kiệm cá nhân chắt chiu cả năm trời để cho An Trà vay nợ đàng hoàng, có giấy trắng mực đen điểm chỉ làm chứng! Chúng tôi tin tưởng nhân cách của nàng, và chúng tôi tôn trọng chữ tín trong việc làm ăn với thúc!”

Hà Tú cũng lạnh lùng cất giọng tiếp lời, ánh mắt sắc như dao cau nhìn thẳng vào lão thợ gốm:

“Trịnh chủ tiệm, chúng tôi giữ trọn chữ tín, thực hiện đúng cam kết thanh toán sòng phẳng từng hào nợ nần cho ông. Bây giờ, xin thúc lập biên nhận đã thu tiền có điểm chỉ đỏ rõ ràng, và ghi rõ trong sổ nợ: số nợ gốc ba mươi ba quan nay chỉ còn lại đúng hai mươi sáu quan!”

Trịnh Mộc đứng sững sờ như phỗng đá giữa bãi đất trống, ngơ ngác nhìn bốn người phụ nữ trước mặt. Ánh mắt lão đảo qua từng gương mặt: một cô gái trẻ từng suýt quỵ ngã vì nợ nần nay đứng hiên ngang, điềm tĩnh lạ thường; một nữ quan quản ca dày dạn sương gió đầy khí phách; một thị nữ cung đình sắc sảo không chút khúm núm; và một cô bé giữ sổ sách rụt rè nhưng ánh mắt kiên định, không hề dao động.

Lão thợ gốm cộc cằn hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng. Lão buôn bán, giao thương ở chợ Nam Thành ngót nghét hơn hai mươi năm trời, đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu phường buôn, phường thợ, thậm chí là anh em ruột thịt trong nhà vì mấy đồng tiền mà lừa lọc, xâu xé, đâm sau lưng nhau đến mức tan cửa nát nhà. Thế nhưng cảnh tượng những người phụ nữ nghèo hèn, thân phận thấp kém chốn cung cấm lại sẵn sàng dốc cạn túi riêng, chia sẻ từng đồng bạc vụn để cứu vớt nhau một cách quang minh chính đại, giữ trọn chữ tín như thế này, quả thực cả đời lão hiếm khi được tận mắt chứng kiến.

“Được! Khá lắm!” Trịnh Mộc gật gù liên hồi, giọng điệu cộc cằn thường ngày bỗng chốc dịu hẳn đi, mang theo sự kính nể chân thành không hề che giấu.

Lão đứng dậy, lấy từ trong tay áo ra nghiên mực nhỏ và tờ giấy biên nhận đã chuẩn bị sẵn từ nhà. Đặt tờ giấy lên bệ đá, lão nắn nót viết từng chữ xác nhận đã thu đủ bảy quan tiền mặt đợt hai từ Nguyễn An Trà, rồi dùng ngón tay cái ấn mạnh vào hộp mực son, điểm một dấu chỉ đỏ chót, rõ ràng xuống góc dưới tờ giấy.

Trao tờ biên nhận còn ướt mực cho An Trà xong xuôi, Trịnh Mộc ngập ngừng một thoáng. Lão đảo mắt nhìn quanh quất bốn phía con đường vắng vẻ ven rạch nước, thấy không có bóng dáng lính tuần hay người qua lại, lão liền cúi người thò tay vào tận đáy chiếc sọt gốm sâu hun hút trên xe cút kít.

Từ bên dưới lớp rơm rạ ẩm ướt, lão lôi ra một tập giấy kẹp bằng nẹp tre mỏng, mép giấy đã ngả màu vàng ố và có đóng một dấu triện hình vuông xỉn màu mực nho.

Lão bước lại gần An Trà thêm hai bước, hạ thấp giọng xuống mức tối đa, thì thầm qua kẽ răng:

“Nguyễn nữ quan, lão Mộc này tính tình tuy thô lỗ, cộc cằn, nhưng là kẻ biết trước biết sau, biết đạo lý ở đời. Mấy cô đã đối xử đàng hoàng, trọn tình trọn nghĩa với lão như thế này, lão già này cũng tuyệt đối không thể trơ mắt đứng nhìn người ngay thẳng phải chịu oan ức nơi công đường.”

Nói rồi, lão đưa tập giấy kẹp tre giúi thẳng vào tay An Trà:

“Cầm lấy cái này! Đây chính là bản sao sổ xuất xưởng đồ gốm của lò ta ngày mười sáu tháng Hai năm ngoái, có dấu triện đối chiếu gốc của phường thợ gốm Nam Thành. Toàn bộ bốn mươi hũ sành muối dưa loại đại và sáu mươi bộ bát đĩa tráng men giao cho Kho Bếp Đông đúng ngày hôm đó đều là hàng thượng phẩm loại một nguyên vẹn, được kiểm tra kỹ càng trước khi chất lên xe, không hề có chuyện bị nứt vỡ mười lăm hũ hay sứt mẻ hai mươi bộ như trong cái biên bản báo hỏng ma giáo mà lão Đỗ Kính đã lập ra để ép cô phải gánh nợ đâu!”

An Trà đón lấy tập giấy kẹp tre, những ngón tay nàng run lên nhè nhẹ khi chạm vào bề mặt giấy ráp thô mộc. Lồng ngực nàng bỗng dâng lên một luồng nhiệt nóng rực như lửa đốt.

Bằng chứng ngoại vi độc lập! Đây chính là mảnh ghép pháp lý quan trọng nhất, là bằng chứng bằng xương bằng thịt nằm ngoài tầm kiểm soát của nội cung mà bấy lâu nay nàng hằng tìm kiếm trong vô vọng! Có được tập sổ xuất xưởng này của phường thợ gốm Nam Thành, mọi lời khai man, mọi con số bị bóp méo trong biên bản báo hỏng của Đỗ Kính tại Bếp Đông sẽ bị bẻ gãy hoàn toàn trước công lý!

“Đa tạ Trịnh thúc... Ơn này của thúc, An Trà này xin ghi tạc trong lòng!” An Trà cúi đầu thật sâu, giọng nói đầy xúc động và chân thành.

“Thôi, khỏi cần cảm ơn suông!” Trịnh Mộc phẩy mạnh tay áo, quay người nắm lấy càng chiếc xe cút kít gỗ. “Liệu mà giữ lấy cái thân. Lão nghe ngóng được phong phanh từ mấy tay sai vặt bên ngoài, sáng sớm nay Bùi đại nhân bên Ty Khảo Sổ đã chính thức ký quyết định mở rộng phạm vi tổng thanh tra sổ sách Bếp Đông sang cả các nhà thầu, phường thợ cung ứng bên ngoài thành rồi đấy. Trận này sóng to gió lớn sắp nổi lên thật rồi, ai ngay ai gian, hồi sau sẽ rõ!”

Dứt lời, lão thợ gốm đẩy chiếc xe cút kít kẽo kẹt lăn bánh trên con đường đất ẩm, bóng dáng còng còng của lão dần dần khuất sau những rặng liễu rủ xanh mướt ven rạch.

An Trà đứng lặng nhìn theo cho đến khi bóng xe khuất hẳn. Nàng nắm chặt tập tài liệu kẹp tre trong lòng bàn tay, cảm nhận được sức nặng vô hình nhưng vững chãi của sự thật. Nàng quay người lại, nhìn sang Tống Diệp, Hà Tú và Vũ Mai.

Bốn người phụ nữ đứng bên nhau dưới ánh nắng ban mai rực rỡ đang xuyên qua tán lá. Không ai nói thêm một lời nào, nhưng trong ánh mắt của mỗi người lúc này đều bừng lên cùng một ngọn lửa kiên định, quật cường: đáy sâu của sự khủng hoảng tâm lý và nỗi sợ hãi đơn độc đã hoàn toàn lùi lại phía sau. Kể từ giây phút này, họ không còn là những cá nhân đơn lẻ run rẩy trước cường quyền, mà đã tôi luyện thành một khối thống nhất, vững chắc như bàn thạch, không một thế lực nào có thể bẻ gãy.

Cùng lúc đó, tại sảnh chính thâm nghiêm và lạnh lẽo của Ty Khảo Sổ, tiếng bước chân vội vã nện đều đặn trên nền gạch hoa đá vang lên rành rọt.

Lục Hoài Cẩn bước vào Ty Khảo Sổ với xấp tài liệu niêm phong trên tay, ánh mắt kiên định khác thường.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn