Bãi Triều Của Người Ở Lại
Những ruộng cói và rừng vẹt ngập mặn trải dài hun hút dưới chân đê biển Tiền Hải đón chiếc xe tải Bếp Nhỏ phủ đầy một lớp bụi trắng nhờ nhờ của muối kết tinh. Gió từ vịnh Bắc Bộ thốc qua những bãi bồi hoang hoải mang theo vị mặn chát xộc thẳng vào buồng lái, bám thành từng màng sương mờ đục trên kính chắn gió, khiến gạt nước quét qua quét lại chỉ để lại những vệt loang lổ như mắt cá chết. Sau chặng đường dài rời vùng than đá và những vụng biển sâu thẳm của vịnh Bái Tử Long, cảnh vật mở ra trước mắt An chỉ còn là một dải đất bồi phẳng lặng, xám xịt phù sa, mênh mông đến rợn ngợp. Nơi đây, đường ranh giới mong manh giữa biển cả và bờ bãi dường như bị xóa nhòa bởi những triền sú vẹt ken dày, rễ móc ngược lên không trung như muôn ngàn ngón tay khô khốc bấu chặt lấy lớp bùn lầy nhão nhoét.
An ngồi bên ghế phụ, tra lại mảnh giấy ghi địa chỉ đã quăn queo mép và lấm tấm những đốm mốc mờ, rồi khẽ bảo Khang rẽ xe xuống con đường đan hẹp chạy men theo triền đê quai vắng bóng người. Bánh xe nghiến trên mặt bê tông mòn vẹt, để lộ những sợi râu thép rỉ sét ngoằn ngoèo cào vào gầm xe từng tiếng ràn rạt khô khốc. Ngôi nhà cấp bốn của bà Tý nằm chơ vơ ở doi đất trũng nhất xóm bãi, bốn bề bị vây bọc bởi những con mương nước lợ lững lờ trôi và những vạt cỏ chịu mặn còi cọc ngả sang sắc nâu đỏ úa tàn. Căn nhà lợp mái fibro-xi măng cũ kỹ đã ngả màu xám xỉn, loang lổ rêu mốc đen đúa sau hàng chục mùa dông bão. Những mảng vôi tường bên ngoài bong tróc từng mảng lớn, trơ ra hàng gạch non bạc thếch vì hơi muối biển ngấm sâu, rữa mục theo năm tháng. Một cây bưởi dại đứng trơ trọi góc sân trước, cành nhánh khẳng khiu gãy cụt vì gió bão quăng quật, treo lủng lẳng vài ba quả chỉ nhỉnh hơn nắm tay trẻ con, vỏ sần sùi mang màu vàng ủng thê lương.
Nghe tiếng động cơ xe ì ạch rồ ga vượt qua bờ rãnh, bà Tý bước ra đón họ bằng dáng đi tập tễnh, bước thấp bước cao của một đời người vùi chân dưới bùn mặn bãi triều. Lưng bà còng rạp xuống như một thân vẹt già cỗi, hai bàn tay thô ráp với những đốt ngón sưng to biến dạng vì chứng thấp khớp kinh niên, nhưng đôi mắt đùng đục nước lọng kèm nhèm lại sáng lên một tia ấm áp hiếm hoi khi thấy bóng người lạ ghé qua chốn quạnh hiu này. Ngôi nhà cấp bốn bên trong trống hoác, lạnh lẽo, không một bóng đàn ông hay thanh niên; gian giữa rộng thênh thang chỉ kê vỏn vẹn một chiếc chõng tre ọp ẹp đã lên nước bóng lộn và chiếc bàn thờ gỗ tạp bám đầy muội khói đen kịt. Trên bức tường vôi quét đã ố vàng, cạnh tấm bằng Tổ quốc ghi công mang tên người chồng hy sinh ngoài mặt trận Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972, là hai bức ảnh chụp màu đã bạc phếch của hai người con trai bà. Họ đứng nép mình bên những cỗ máy tiện, nhà xưởng cơ khí bóng loáng ở xứ người, nụ cười ngượng nghịu, gượng gạo đông cứng dưới ánh đèn huỳnh quang công nghiệp.
— Nhà chẳng có ai đâu cháu ạ — bà Tý vừa run rẩy rót bát nước vối đặc sánh, ngai ngái mùi lá khô đã ủ qua nhiều lần nước sôi, vừa khẽ chép miệng thở dài, giọng khàn đặc và đùng đục như mang theo hơi gió mặn — Thằng cả đi Đài Loan bảy năm nay, thằng hai sang Hàn Quốc bốc vác ngoài công trường xây dựng cũng ngót nghét sáu mùa gió bấc. Chúng nó gửi tiền về trả hết nợ nần tiền cọc chạy đi biển xong thì cũng mắc kẹt luôn bên ấy, chẳng mấy khi về được. Năm thì mười họa mới gọi được cuộc điện thoại chớp nhoáng dăm ba phút, nghe tiếng máy móc ầm ĩ rồi lại bặt tăm. Cái làng bãi này giờ chỉ còn người già mắt mờ chân chậm với lũ trẻ con chưa đủ tuổi để người ta tuyển đi làm công nhân.
An ngước nhìn quanh gian nhà vắng lặng đến thắt lòng, chỉ có tiếng gió biển lùa qua khe cửa liếp kêu lên từng hồi u u như tiếng thở dài vô tận của đất đai bãi bồi. Trên chiếc bàn con góc bếp, bữa cơm trưa của bà Tý chỉ có lưng bát cơm nguội đậy hờ trong chiếc lồng bàn tre sứt cạp và một đĩa sành nhỏ đựng mấy con tép riu rang muối khô khốc, mặn chát. Khi An ngỏ lời muốn học cách nấu món canh cá rau bãi triều theo dòng ghi chú ngắn ngủi còn sót lại trong cuốn sổ tay thời cấp dưỡng của bà ngoại, đôi mắt đùng đục của bà Tý bỗng chốc hoe đỏ, bờ mi nhăn nheo khẽ giật giật. Bà lẳng lặng đứng dậy, cúi xuống rút đôi ủng cao su đã mòn rách mũi từ dưới gậm chiếc giường đơn ọp ẹp, đưa mắt nhìn ra ngoài vệt nước đang rút dần ngoài bãi:
— Nước ròng đang cạn trơ đáy bờ sú bờ vẹt rồi đấy cháu. Thứ rau dại với con cá bống bèo vùng này không đợi người đâu, muốn có ngọn rau non mọng và con cá béo ngọt thì phải thuận theo con nước bãi triều mà đi.
Hai người phụ nữ xắn quần lên quá gối, xỏ chân vào đôi ủng cao su nặng trịch, lần từng bước chậm rãi xuống doi bùn bãi triều khi triền rừng ngập mặn vừa lộ ra những hốc bùn đen nhánh đang sủi bọt khí li ti. Bùn ven đê Tiền Hải không mịn màng, phù sa màu mỡ như bùn châu thổ sông Hồng mà đặc quánh, dẻo quẹo như keo, lẫn vô số mảnh vụn sắc lẹm của vỏ ốc, vỏ sò và ngập sâu ngang bắp chân. Cứ mỗi bước chân rút lên lại phát ra tiếng "sụt… soạt" nặng nhọc, mùi bùn non tanh nồng hòa lẫn mùi lá vẹt ngâm nước mục nát lâu ngày bốc lên ngột ngạt dưới cái nắng chiều hanh hao rát mặt.
Bà Tý cúi rạp người trên những gờ đất thụt bám quanh những gốc sú vẹt lâu năm, ngón tay xương xẩu thoăn thoắt bấm từng ngọn rau bãi triều đang bò lan thoai thoải trên mặt bùn lầy. Đó là một loài rau chua mọc dại kiên cường nơi mé nước lợ, thân bò mọng nước mang sắc tím nhạt ngả sang hồng, lá tròn dày dặn như vảy ốc, viền quanh mép lá là những đường răng cưa mỏng mảnh mềm mại.
— Thứ rau này trời cho bãi mặn đấy cháu — bà Tý vừa thoăn thoắt bấm từng đọt non vừa đưa một ngọn cho An nhấm thử — Mọc trên đất mặn chát chúa, rễ ngâm trong nước phù sa đặc quánh mà ngắt ra nhấm lại có vị chua thanh, giòn rụm, đượm chút vị mằn mặn tự nhiên của sương gió ngoài biển thốc vào. Người xứ khác không quen ăn thì chê chát chúa, chê ngái đất, nhưng với cái dân quai đê lấn biển giữ từng tấc bùn này, nó là lộc của trời, là vị thuốc giải độc ruột gan sau những ngày đói rã rời rách ruột.
An đưa ngọn rau non mơn mởn vào miệng, cắn nhẹ một cái giòn tan. Vị chua dôn dốt lập tức ứa ra nơi đầu lưỡi, mát rượi và thanh khiết, rồi kéo theo sau đó là một hậu vị ngọt ngót thanh tao cùng chút chát nhẹ rất kín đáo của nhựa cây bãi bồi, hoàn toàn khác biệt với vị chua gắt gỏng của me chua hay vị chua nồng đậm của tai chua miền ngược. Cô cúi thấp người xuống, cẩn thận bắt chước dáng đi của bà Tý, luồn đôi bàn tay qua những mạng rễ vẹt tua tủa đâm xiên xẹo để ngắt lấy từng chùm đọt non mập mạp bám sát mặt bùn. Ở những vũng bùn thụt sâu hoắm, bà Tý chỉ cho An cách nhận diện những cái hang cá bống bèo nhỏ chỉ bằng miệng chén uống trà, xung quanh miệng hang luôn có những hạt bùn tròn xoe li ti do cá thở và đùn lên khi nước rút.
Bà Tý không ngần ngại cắm cả cánh tay trần gầy guộc sâu xuống lớp bùn nhão nhoét lạnh ngắt, lần mò theo những ngóc ngách ngoằn ngoèo của hốc đất thụt ngập nước. Chỉ một loáng sau, ngón tay bà kẹp chặt, rút lên một con cá bống bèo to bằng ngón chân cái, thân cá tròn lẳn, màu xám xịt lẫn với bùn lầy, hai con mắt lồi tròn xoe trố lơ láo, vây lưng dựng ngược phập phồng đớp không khí ẩm ướt.
— Cá bống bèo chỉ sống ở vùng nước lợ mé rừng ngập mặn này thôi cháu ạ — bà Tý thả con cá còn đang quẫy tanh tách trong lòng bàn tay vào chiếc giỏ tre đeo bên hông — Chúng ăn mùn bã của lá vẹt mục, trốn sâu dưới đáy bùn thụt để tránh chim biển rình mò. Thịt nó dẻo quánh, ngọt đậm đà, xương mềm như sụn non, đem nấu với ngọn rau chua bãi triều thì đến người ốm liệt giường mê man cũng phải gượng dậy mà húp cho cạn đáy bát.
Sau gần hai tiếng đồng hồ dầm mình dưới bùn mặn buốt giá, chiếc giỏ tre bên hông bà Tý đã lưng lửng những ngọn rau chua xanh mướt mọng nước và đàn cá bống bèo béo múp, da lốm đốm những vệt hoa văn phù sa nâu nhạt. An bước lên bờ đê, đôi chân mỏi nhừ, bắp chuối căng cứng và bết đặc một lớp bùn non khô quánh lại thành màng xám, nhưng trong lồng ngực cô lại dấy lên một cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản kỳ lạ trước sức sống mãnh liệt của vạt cỏ cây nơi đất mặn.
Trở về khoảng sân đất nện trước cửa bếp, Khang đã đứng chờ sẵn bên chiếc xe tải Bếp Nhỏ. Anh đang cầm chiếc giẻ thô lau chùi từng vệt muối biển bám dầy cộp, kết tinh thành mảng trắng xóa trên các khớp nối kim loại của thùng xe. An đặt giỏ cá bống bèo và rổ rau chua xanh ngắt lên chiếc bàn bếp dã chiến bằng inox, với tay định bật dàn bếp gas đôi để đun nồi nước mưa làm lòng cá. Nhưng vừa vặn núm đánh lửa, một tiếng "xì… xì" rít lên chói tai từ phía sau bệ bếp, kèm theo mùi khí gas nồng nặc bốc lên ngột ngạt trong không gian hẹp. Hệ thống van ngắt an toàn tự động trên thân bình dập xuống đánh "cạch" một tiếng dứt khoát, ngọn lửa hoa sen vừa lóe lên xanh lè đã lập tức lụi tàn rồi tắt ngấm.
Khang giật mình buông chiếc giẻ lau, lao nhanh tới vặn chặt van khóa an toàn của bình gas rồi vội vã tháo chốt, kéo tấm ốp bảo vệ phía sau dàn bếp ra kiểm tra. Anh bật chiếc đèn pin soi kỹ từng đường ống dẫn cao su bọc lưới kim loại bên trong. Lớp lưới thép chống chuột và các đầu cút nối bằng đồng thau đã bị oxy hóa nặng nề, sùi lên từng mảng muối đồng màu xanh lục lam rỉ sét loang lổ. Một đoạn ống dẫn mềm chạy sát mép thùng xe đã bị hơi muối biển mài mòn trơ lõi, nứt toác một vệt dài gần hai đốt ngón tay do rung lắc liên tục trên những cung đường dằn xóc ven biển suốt mấy trăm cây số vừa qua.
— Hơi muối vùng biển mặn này ghê gớm thật — Khang quệt mồ hôi trên trán, khẽ lắc đầu ngao ngán nhìn đoạn ống dẫn mềm bị ăn mòn rách tưa từng sợi cao su — Nồng độ muối trong không khí ở đây quá cao, lại thêm gió bấc thổi rát rạt suốt mấy ngày đêm. Cổ dê kim loại rỉ sét làm hở zoăng cao su chịu nhiệt, may mà van ngắt an toàn của bình kích hoạt kịp thời, nếu cố đánh lửa thêm lần nữa thì nguy cơ bốc cháy cả khoang sau là rất lớn. Chiếc xe này vốn được thiết kế cho địa hình đường phố và vùng đồi núi khô ráo, giờ cắm chốt dài ngày sát mép biển mới thấy đồ cơ khí bị thử thách tàn nhẫn thế nào.
— Có thay tạm ống dẫn cao su dự phòng trên xe được không anh? — An lo lắng hỏi, mắt nhìn rổ cá tươi đang bắt đầu yếu dần, đuôi cá quẫy rời rạc trong chậu nước lợ.
— Ống dự phòng trên xe mang theo là loại tiết diện nhỏ hơn miệng van của bộ chia gas mới này, không thể ép chặt tuyệt đối được, anh dứt khoát không đánh cược với nguy cơ rò rỉ khí gas trong thùng xe — Khang dứt khoát đóng nắp khoang kỹ thuật, thu dọn cờ lê và kìm kẹp — Không sao đâu, hành trình của chúng ta đâu phải lúc nào cũng chỉ trông cậy vào tiện nghi công nghiệp. Anh đã tính trước tình huống này và chuẩn bị sẵn phương án thay thế rồi.
Khang trèo nhanh lên thùng xe, cúi người lôi từ ngăn chứa đồ kim khí ra chiếc bếp than gấp dã chiến bằng thép không gỉ dày dặn. Đây là bộ bếp dã chiến chuyên dụng mà anh đã tự tay đo đạc, cắt gọt và hàn gia công từ những tấm thép phế liệu dày ba ly ở xưởng cơ khí Gia Lâm, có các bản lề linh hoạt để tháo lắp, xếp gọn gàng chỉ mỏng như một chiếc cặp đựng tài liệu. Khang bước ra góc vườn bà Tý, gom một nắm cọng rào cúc tần khô ráo và mấy thanh củi phi lao mục bà Tý xếp ngay ngắn dưới gậm chái bếp, rồi cẩn thận thả vào lòng bếp mấy thỏi than hoa ép công nghiệp không khói. Anh dùng chiếc khò gas mini bóp cò nhóm lửa. Chỉ vài phút mồi bén, ngọn lửa củi cúc tần khô lách tách reo vang, bắt vào than hoa bốc lên rừng rực, tỏa ra luồng hơi ấm đỏ hồng rực rỡ, xua tan đi cái lạnh căm căm của buổi hoàng hôn đang buông dần xuống mé biển.
Bà Tý ngồi ghé bên bậu cửa bếp thấp tè, móm mém cười nhìn chiếc bếp than tự chế bằng thép sáng loáng của Khang:
— Bếp nào thì cũng là giữ lấy ngọn lửa thôi các cháu ạ. Ngày xưa lũ chúng tao đi quai đê lấn biển ngoài bãi hoang, đến hòn đá kê nồi còn chẳng tìm đâu ra giữa biển bùn mênh mông, toàn phải dùng xẻng đào hào đất thụt, khoét hầm kiểu bếp Hoàng Cầm chìm dưới lòng đất mà nấu cơm cho hàng trăm con người giữa những đợt bom dội. Có ngọn lửa nhen lên ấm sực thế kia là có sự sống rồi.
Bà Tý đón lấy con dao bài cùn đã mòn vẹt sống dao từ tay An, thoăn thoắt dùng nắm tro bếp mịn rắc đều lên mình đàn cá bống bèo để tuốt sạch lớp nhớt phù sa trơn tuột. Từng con cá bống bèo xám xịt qua bàn tay thuần thục của bà được mổ bụng gọn gàng bằng một đường rạch dứt khoát, bỏ mang cá đỏ sẫm, giữ lại trọn vẹn bộ lòng tròn xoe béo ngậy vàng ươm, rồi ướp sơ với chút muối hạt thô giã dập và vài củ hành tăm đập dập thơm lừng. Chiếc nồi gang đáy sâu đen bóng của bà Mùi được An cẩn thận nhấc đặt ngay ngắn lên kiềng sắt của bếp than dã chiến. Khi chút mỡ lợn phi cùng hành tăm vừa sôi lăn tăn, dậy lên mùi thơm ngào ngạt nức mũi, bà Tý liền trút trọn chỗ cá bống bèo vào nồi, dùng đũa tre đảo thật nhanh và đều tay. Thịt cá bống vừa chạm mỡ nóng săn lại tức thì, chuyển dần từ màu xám đùng đục sang sắc trắng ngà thơm phức thì bà nghiêng chiếc gáo dừa, chế nước mưa hứng từ chiếc lu sành ngoài hiên vào ngập mặt cá, rồi đậy vung gang lại chờ nước sôi bùng.
Hơi nước bắt đầu bốc lên cuồn cuộn qua khe hở của vung gang, mang theo mùi thơm ngọt thanh khiết, mộc mạc của đạm cá biển lợ hòa trong làn khói than hoa ấm áp. Khi nước canh trong nồi sôi sùng sục, bọt trắng trào dâng, bà Tý bốc từng nắm rau chua bãi triều đã rửa sạch bùn đất thả ngập vào lòng nồi. Những chiếc đọt non xanh biếc mọng nước vừa chạm vào làn nước sôi sục liền ngả ngay sang sắc xanh rêu sẫm dịu dàng, chất nhựa chua thanh mát từ thân lá mọng nước tiết ra làm nước canh từ đục mờ chuyển thành một màu trong veo veo, lấp lánh phảng phất những vệt váng bọt vàng óng ả của mỡ cá bống bèo béo ngậy.
Bà Tý cầm đôi đũa cả bằng gỗ tre già khuấy nhẹ đáy nồi canh cho rau ngập đều, rồi khẽ hướng ánh mắt đăm đắm nhìn ra con đê biển hun hút gió bấc:
— Các cháu sinh ra trong thời bình no đủ, đâu thể hình dung nổi cái đói khủng khiếp của năm Ất Dậu 1945 nó tàn khốc đến mức nào. Làng bãi này khi ấy người chết đói nằm rũ ra từng đống dọc triền đê quai. Người ta cạo hết cả vỏ cây bàng, bới từng gốc cói khô nhai sống đến rách toạc cả họng mà bụng vẫn lép kẹp, rồi chết còng queo bên vệ cỏ không manh chiếu bó thân. Rồi đến những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ trước, máy bay Mỹ gầm rú suốt ngày đêm ném bom phong tỏa các cửa biển, thanh niên trai tráng khỏe mạnh theo lệnh tổng động viên lên đường vào Nam chiến đấu hết sạch. Làng chỉ còn lại cánh đàn bà, con gái chúng tao với mấy cụ già lưng còng tóc bạc ở lại gánh đất quai đê lấn biển, giữ từng tấc phù sa cho hậu phương.
Giọng bà Tý chùng hẳn xuống, nghẹn ngào như có hạt cát biển thô ráp cọ xát vào cổ họng:
— Đắp ròng rã mấy tháng trời xong một đoạn đê chắn sóng thì bão biển cấp mười ập vào, sóng thần cuốn phăng đi sạch trơn không còn một dấu vết đất bồi. Nước mắt hòa nước biển mặn chát, rồi lại gạt nước mắt cắn răng cào bùn đắp lại từ đầu. Gạo tiếp tế từ miền xuôi chở ra bị bom từ trường đánh chìm ngoài các bến phà, ngô khoai mang theo trong lán trại ẩm mốc mọc mầm xanh lè. Hàng trăm con người lăn lộn ngoài cồn bãi này sống sót qua được những tháng ngày đói quay đói quắt là hoàn toàn nhờ vào những vạt rau chua mọc dại ngoài bãi sú bãi vẹt kia cháu ạ. Sáng ra lội bùn hái mớ rau luộc chấm nước mắm cặn mặn đói lòng, chiều về lại húp bát canh rau chua nấu suông với vài ba con cá bống bèo, con còng gió mò được dưới đáy bùn thụt. Ngọn rau chua dại chát mặn mòi của đất trời ấy đã cưu mang, cứu sống cả cái làng bãi này qua những năm tháng tận cùng kiệt quệ. Chồng tao trước ngày khoác ba lô lên đường nhập ngũ vào chiến trường miền Nam, bữa cơm chia tay tiễn ông ấy đi cũng chỉ có độc một bát canh cá bống bèo nấu rau chua mặn chát này thôi. Ông ấy húp cạn đến giọt nước cuối cùng đọng dưới đáy bát sành, bảo tao rằng đi chuyến này dẫu có bom rơi đạn lạc chết bờ chết bụi, trong ruột gan vẫn mang theo vẹn nguyên cái vị chua mặn mòi của đất quê hương…
Bà Tý đột ngột ngừng lời, đôi vai gầy rung nhẹ theo từng nhịp thở ngắt quãng. Bà đứng dậy, bước những bước tập tễnh nặng nề đi vào gian buồng tối om phía sau bức liếp. Khi trở ra ngoài sân sáng, trên hai bàn tay run rẩy của bà là một chiếc muôi nhôm đã cũ kỹ, một bên mép muôi đã mòn vẹt hẳn do va chạm vào đáy nồi qua hàng ngàn bữa nấu. Trên phần cán muôi nhôm dẹt, một dãy số hiệu quân đội dập chìm mờ nhạt nhưng vẫn còn đọc rõ: *D2-H72*.
— Chiếc muôi này là của một cô bộ đội cấp dưỡng quân nhu ghé qua đơn vị thanh niên xung phong quai đê Tiền Hải hồi mùa đông buốt giá năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai tặng lại cho tao — bà Tý đưa những ngón tay sần sùi vuốt ve bề mặt nhôm xước xát ngang dọc — Cô ấy bảo lính cấp dưỡng tụi tao đi đến chiến trường nào cũng mang theo cái muôi này bên hông để chia từng thìa cơm, thìa canh công bằng cho bộ đội trước giờ xuất kích. Nay tao đã già rồi, mắt mờ chân chậm run rẩy, chẳng còn sức mà nấu nướng gì được mấy nữa, tao muốn tặng lại chiếc muôi này cho cháu làm kỷ niệm đi đường. Nhìn cháu cúi mình nếm từng ngọn rau dại ngoài bãi bùn, tao lại nhớ cô lính cấp dưỡng năm xưa quá chừng…
An đón lấy chiếc muôi nhôm lạnh buốt từ đôi bàn tay run rẩy của bà Tý. Ngón tay cô khẽ miết qua vết dập số hiệu quân nhu đã nhẵn thó theo thời gian. Ngay ở góc chân cán muôi, nơi tiếp giáp với lòng nhôm sâu thẳm, có hình khắc hai chiếc lá đan chéo viền quanh chữ Hậu uốn lượn sắc sảo — chính là ký hiệu thân thuộc, khắc sâu vào tâm khảm mà cô từng bắt gặp trên chiếc khuôn gỗ ép bánh phu thê cổ ở làng Đình Bảng và trên nắp chiếc hộp gỗ mun bí ẩn của bà ngoại Mùi để lại. Một cảm giác chấn động âm thầm dâng tràn nơi lồng ngực An, khiến sống mũi cô cay xè. Những người phụ nữ bình dị, thầm lặng và kiên cường của một thời bom rơi đạn lạc dường như đã từng hội ngộ tại mảnh đất cồn bãi này, chuyền tay nhau ngọn lửa, nắm chặt tay nhau vượt qua những mùa đông đói rét để san sẻ từng ngọn rau dại, từng ngụm nước ngọt chắt chiu từ lu sành.
Bữa cơm chiều muộn được dọn ra ngay trên chiếc chõng tre trước sân nhà khi bóng tối bắt đầu phủ chụp xuống vùng ven biển. Bát canh cá bống bèo nấu rau chua bãi triều múc ra tỏa khói nghi ngút, nghiêng mình soi bóng ngọn đèn bão đung đưa trước gió lạnh. Vị ngọt đậm đà, béo ngậy mềm rục của thịt cá bống quyện chặt vào vị chua thanh khiết giòn sần sật của từng ngọn rau chua, để lại một hậu vị nồng ấm, ngọt mát lan tỏa sâu nơi cuống họng. Khang ăn liền một mạch hai bát cơm lớn đầy ắp, luôn miệng tấm tắc khen ngợi thứ hương vị hoang dã, mộc mạc và chân thật của bùn mặn, thứ vị giác thanh tao mà không một nhà hàng sang trọng hay kỹ nghệ gia vị nhân tạo nào có thể sao chép được.
Ăn xong bữa cơm đạm bạc, màn đêm đã sụp xuống đen đặc như mực tàu. Gió biển từ ngoài vịnh Tiền Hải bắt đầu rít lên từng hồi dữ dội, cuốn theo cát mặn và bụi muối đập ràn rạt vào những liếp cửa gỗ kêu lùng bùng. Mái bếp lợp fibro-xi măng của bà Tý sau trận dông lốc biển quét qua tuần trước đã bị nứt toác nhiều mảng lớn, gió luồn qua những khe hở hoác làm đống rơm khô dồn góc bếp bay tung tóe khắp nền đất, từng vệt nước mưa đọng rỉ xuống tường gạch non thành những vệt dài đen ngòm ẩm ướt.
Theo nguyên tắc bất di bất dịch của toàn bộ hành trình Bếp Nhỏ — không bao giờ nhận không câu chuyện, kinh nghiệm dân gian và sự cưu mang hiếu khách của người dân bản địa — Khang lập tức xách hòm đồ nghề cơ khí nặng trịch ra giữa sân.
— Mái bếp này nếu không chằng chống và gia cố lại ngay đêm nay, chỉ cần một cơn gió xoáy bất chợt từ biển thốc vào là giật tung toàn bộ tấm lợp — Khang ngẩng đầu soi đèn pin lên mái nhà, nói dứt khoát với An — Em giữ chặt chân thang tre bên dưới, anh trèo lên dọi lại từng tấm fibro.
An gật đầu kiên quyết, không một chút chần chừ. Cô dùng trọn trọng lượng cơ thể ghì chặt lấy hai chân chiếc thang tre già đã mòn bóng nước, trong khi Khang mang theo búa đinh, kìm chết, đinh vít chuyên dụng và mấy cuộn nẹp cao su dày trèo thoăn thoắt lên mái bếp. Gió biển trên cao quất từng luồng buốt giá làm tấm áo khoác bạt của Khang căng phồng lên như một cánh buồm no gió. Dưới ánh sáng le lói của chiếc đèn pin đội đầu quét qua quét lại trong bóng đêm mịt mùng, hai người phối hợp với nhau nhịp nhàng, thuần thục: An ở dưới sân liên tục chuyền từng xô vữa xi măng pha cát mịn trộn nhanh và những mảnh fibro-xi măng còn lành lặn nhặt từ góc vườn lên, còn Khang thì cẩn thận trát kín từng khe nứt toác, dùng đinh vít có lót đệm cao su siết chặt lại các góc tấm lợp mục rỗng vào hệ xà gồ gỗ đã ngả màu đen kịt. Phải mất hơn một tiếng đồng hồ vật lộn căng thẳng giữa những luồng gió biển quất rát mặt trên cao, toàn bộ phần mái bếp dột nát của bà Tý mới được nẹp chặt, chằng néo bằng dây thép kiên cố, kín khít không còn một kẽ hở nào cho gió lạnh lùa qua.
Khi Khang bước chân xuống thang tre, cả anh và An đều lấm lem bụi xi măng xám xịt và bồ hóng bếp bám đầy mặt mũi, nhưng ánh mắt của bà Tý nhìn căn bếp nhỏ đã kín gió lại rưng rưng niềm xúc động nghẹn ngào không thốt nên lời. Gian bếp tối tăm, xiêu vẹo của người mẹ già cô đơn bỗng chốc trở nên ấm cúng, vững chãi lạ thường trước sự gầm gào hung dữ của biển khơi ngoài kia.
Đêm muộn, An ngồi bên chiếc bàn gấp trong lòng thùng xe Bếp Nhỏ dưới ánh đèn LED màu vàng ấm áp. Cô mở nắp chiếc hộp gỗ xà cừ cổ kính, rút tấm thẻ công thức số 9 bằng giấy bồi thô ráp đã cắt sẵn mép. Cô đặt chiếc muôi nhôm quân nhu mang số hiệu *D2-H72* của bà Tý ngay ngắn bên cạnh bàn phím và hộp mực, chấm ngòi bút máy mực đen nắn nót viết từng dòng chữ cẩn trọng:
*"Thẻ số 9: Canh cá bống bèo nấu rau bãi triều Tiền Hải — Vị chua cứu đói từ bãi mặn và lòng kiên trinh của người giữ đất.* *Ghi chép tại vùng bãi bồi ngập mặn Thái Bình, ngày…* *Nguyên liệu sinh tồn: Đọt non rau chua mọc dại bờ sú vẹt, cá bống bèo đào từ hốc bùn bãi triều, muối thô bến bãi và nước mưa ngọt từ lu sành.* *Bài học trao đổi: Đất mặn không bao giờ phụ bạc những con người biết cúi mình kiên nhẫn bấu víu vào từng ngọn rau dại hoang sơ. Kính cẩn ghi nhận công lao thầm lặng của những người đàn bà quai đê giữ đất, những người cả đời lặng lẽ ngồi bên bậu cửa bếp ngóng về phía chân trời biển mặn, chắt chiu nuôi nấng những đứa con khôn lớn bằng hạt muối chát chúa rồi lại tiễn chúng cất bước đi tìm những miền đất ngọt ngào hơn…"*
Vừa nắn nót cất tấm thẻ công thức vào ngăn gỗ xà cừ, chiếc điện thoại đặt trên mặt bàn của An bỗng rung lên từng hồi bần bật, kéo theo ánh sáng xanh le lói hắt lên vách xe. Một tin nhắn văn bản ngắn từ số máy của mẹ cô — bà Nguyễn Thu Hà — hiện rõ mồn một trên màn hình:
*"Có người lạ của công ty truyền thông Vị Việt vừa tìm đến tận nhà bến sông Hồng gạ mua lại giấy tờ ủy quyền phần đất căn bếp của mẹ với giá gấp rưỡi định giá ngân hàng. Họ bảo con đang nợ họ một khoản tiền rất lớn vì vi phạm hợp đồng độc quyền và chiếc xe tải con đang lái sắp bị người ta phát lệnh siết nợ. Con liệu mà thu xếp cho ổn thỏa, đừng để thiên hạ kéo đến bêu riếu khắp bến bãi, mẹ già này không chịu nổi thêm bất kỳ điều tiếng nhục nhã nào nữa đâu."*
An siết chặt bàn tay lại, các đốt ngón tay trắng bệch ra vì tức giận và ức nghẹn. Dưới ánh đèn LED vàng hiu hắt, ánh mắt cô đanh lại, hướng nhìn ra khoảng đêm đen mịt mùng đang bao trùm lấy mặt đê ngoài ô cửa kính. Bàn tay toan tính đầy thủ đoạn của Vị Việt đã vươn dài đến tận bến sông quê nhà, rắp tâm bóp nghẹt không gian ký ức và cội nguồn ẩm thực mà cô đang gắng gượng bảo bọc từng ngày.
Nhìn thấy vẻ căng thẳng tột cùng trên gương mặt An, Khang bước tới, khẽ đặt bàn tay to bản, ấm áp và thô ráp của mình lên vai cô. Anh không nói một lời đao to búa lớn nào, nhưng cái siết vai chắc nịch, bền bỉ của anh đã thay cho mọi lời cam kết đồng hành sắt đá nhất trên con đường chông gai phía trước.
Sáng hôm sau, khi ánh bình minh màu xám chì vừa hé rạng mờ ảo nơi đường chân trời biển Đông, sương muối phủ một lớp bụi mờ bảng lảng lên những cánh đồng cói bạt ngàn ngậm nước. Chiếc xe tải Bếp Nhỏ nổ máy gầm lên những tiếng trầm đục quen thuộc, bánh xe chầm chậm lăn qua rãnh đất phù sa, chuẩn bị quay đầu rời khỏi doi đất bãi triều để tiếp tục hành trình hướng về dải đất miền Trung đầy nắng gió.
Bà Tý đứng bên vại dưa muối ngoài hiên, một tay vịn vào chiếc cọc tre chắn gió, đưa đôi mắt đùng đục nhìn theo bóng chiếc xe đang xa dần trên con đê lộng gió, khẽ thì thào bằng giọng khàn đặc:
— Đất mặn nuôi người khôn lớn, rồi người khôn lớn lại đi tìm đất ngọt mà ở...