Vị Nước Dùng Phố Cũ
Tiếng còi xe inh ỏi và mùi khói xăng ngột ngạt của Hà Nội đón Bếp Nhỏ trở lại sau hàng trăm cây số đường đèo nhão nhoẹt bùn đất, đưa An về thẳng trạm đăng kiểm xe cơ giới.
Không khí ngột ngạt của phố thị cuối chiều quánh đặc lại bởi bụi mịn, muội than và hơi nóng bốc lên hầm hập từ những dải bê tông nứt nẻ. Sau những ngày rách tơi tả giữa màn sương đá tai mèo xám xịt ở Đồng Văn và những cơn lũ ống xối xả quét qua sườn dốc Mù Cang Chải, chiếc xe tải hoán cải trông như một khối sắt gỉ vừa ngoi lên từ lòng vực sâu. Bùn đất vùng cao gặp gió sấy khô khốc đã đóng thành từng tảng cứng quắt, bám chặt lấy hốc bánh, ken dày quanh các lá nhíp và cổ xả. Thanh giằng gia cố tạm bằng mấy sợi dây thép xoắn ở gầm trước rủ thấp xuống, mỗi lần chiếc xe bò qua gờ giảm tốc hay ổ gà lại cọ vào mặt đường ken két, làm tóe ra những vệt tia lửa mỏng manh giữa dòng xe cộ ken đặc.
Khang rướn người đập mạnh lòng bàn tay chai sạn lên nóc cabin cáu bẩn. Mười đầu ngón tay anh dính đầy dầu luyn đen đặc, móng tay nứt nẻ cáu bẩn vì những lần ghì cờ lê siết ốc dọc đường. Anh dụi mắt, khóe mi đỏ ngầu vì thiếu ngủ sau chặng đường dài cầm lái thâu đêm vượt qua những khúc cua tay áo mù sương.
"Mày vào tòa soạn trước đi," Khang nói, giọng khản đặc và khô khốc như có cát chà qua thanh quản. "Tao phải đánh xe qua xưởng gầm của ông anh bên Gia Lâm thay nguyên cặp giảm xóc thủy lực mới, rồi mới dám kéo sang trạm kiểm định. Để cái giàn sắt gãy này mà vào chuyền lăn trục lăn, máy đo chấn động của trạm đăng kiểm nó bẻ đôi cầu trước ra mất. Khéo lại bị niêm phong xe ngay tại chỗ thì toi công."
An gật đầu, các đầu ngón tay vô thức xiết chặt quai chiếc túi vải bạt bạc phếch đeo chéo ngang ngực. Bên trong lớp vải thô ấy là năm thẻ công thức đầu tiên cùng tệp ghi chép hiện trường còn phảng phất mùi khói bếp củi và hơi ẩm của rừng già. Cô đứng bên mép đường nhựa nóng rẫy, nhìn dáng vẻ mệt mỏi nhưng vững chãi của Khang khi anh vào số, nhả côn, lách chiếc xe cồng kềnh qua dòng xe máy đang bóp còi inh ỏi để hướng về phía mố cầu Long Biên. Khói đen từ ống xả xe phụt ra một làn mỏng rồi tan biến vào màn sương mù nhân tạo của thành phố. An quay gót, rẽ vào con ngõ sâu hun hút dẫn tới tòa nhà của Tạp chí Dọc Đường.
***
Văn phòng Tạp chí Dọc Đường nằm trên tầng bốn của một ngôi biệt thự Pháp cổ quét vôi vàng đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ những hàng gạch vỡ màu nâu đỏ ẩm mục. Tách biệt hẳn với sự hỗn loạn của những ngã tư ngoài kia, không gian bên trong tĩnh lặng đến mức nghe rõ cả tiếng quạt trần ba cánh bằng sắt đảo gió lạch cạch trên trần cao và tiếng gõ bàn phím lách cách, nhịp nhàng của các biên tập viên thâm niên. Mùi giấy in mới, mùi mực máy in phun lẫn với hương cà phê phin nguội ngắt bám rễ vào từng góc phòng.
Phạm Quỳnh Lam ngồi sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ sồi ngổn ngang những chồng bản thảo in thử dập ghim thẳng tắp và các tập ảnh chụp phim màu chưa cắt mép.
Lam ngẩng lên khi nghe tiếng bước chân của An chạm trên nền gạch hoa cổ điển. Ánh mắt cô vẫn sắc sảo, lạnh lùng và chuẩn xác đến từng chi tiết như cái ngày hai người còn cùng ngồi làm việc thâu đêm tại căn hộ cũ ở phố Tuệ Tĩnh. Lam mặc chiếc áo sơ mi lụa màu khói cài kín cổ, mái tóc cắt ngắn ngang vai gọn gàng không một sợi vương vãi, toát ra vẻ chuyên nghiệp đầy cẩn trọng và sắt đá của một người nắm quyền gác cổng nội dung cho một ấn phẩm văn hóa uy tín.
"Em trễ hẹn hai ngày," Lam lên tiếng, thanh âm dứt khoát vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch. Tuyệt nhiên không có một câu chào hỏi xã giao, không một lời hỏi thăm về chuyến đi vùng cao gian khổ mà cô biết thừa An và Khang vừa trải qua. Lam dùng đầu bút chì gõ nhẹ lên mặt bàn, kéo chiếc ghế gỗ đối diện ra một khoảng vừa đủ, ra hiệu cho An ngồi xuống. "Nếu đây là một bài cộng tác thông thường thì chị đã đẩy lùi sang số sau mà không cần báo trước. Nhưng ban biên tập vẫn giữ trang đinh cho loạt bài ba mươi hai thẻ. Chậm một nhịp nữa là cả xưởng in phải dừng chuyền."
An kéo ghế ngồi xuống, đặt tệp hồ sơ in đậm nét chữ viết tay xen lẫn những vết mực nhòe và chiếc máy ghi âm kỹ thuật số vỏ nhôm xước xát lên mặt bàn gỗ.
"Đường đèo sạt lở từ Than Uyên sang hồ Ba Bể làm xe hỏng giảm xóc," An giải thích, giọng cô bình tĩnh dù lồng ngực vẫn còn đập dồn dập sau chặng đường dài đi bộ. "Bọn em phải nằm lại lán công nhân mở đường hai đêm. Nhưng năm thẻ đầu tiên em đã hoàn thiện đầy đủ dữ liệu hiện trường, đối chiếu lời kể nhân chứng và kiểm tra chéo các đoạn ghi âm."
Lam không đáp. Cô đón lấy tập bản thảo dán nhãn cẩn thận. Những ngón tay thanh mảnh, thon dài với móng tay cắt tỉa gọn gàng lật giở từng trang giấy rất chậm. Ánh mắt Lam lướt qua từng dòng chữ mô tả bát cơm nắm chấm muối vừng bến sông Hồng, món mèn mén ngô lai thích ứng sinh tồn của người Mông giữa hốc đá tai mèo, gói xôi nếp bán tống bán tháo của Dở trong phiên chợ chiều mù sương, và cuộn băng hun khói cá của Lành bên mép nước hồ Ba Bể. Lam đọc kỹ từng chú thích, từng ghi chú về thời gian nấu và tỷ lệ hạt. Không có một nụ cười, không một cái gật đầu tán thưởng nào lộ ra trên gương mặt trầm ngâm của người biên tập viên kỳ cựu. Lam dừng lại ở trang cuối cùng, nơi để trống mục phụ lục tư liệu pháp lý.
Cô khép tập hồ sơ lại cái tách, ngước lên nhìn thẳng vào mắt An:
"Biên bản đồng thuận có chữ ký và dấu lăn tay của Sùng Mí Pó, Vàng Thị Dở và Hoàng Thị Lành đâu?"
"Em có ghi âm giọng nói của họ xác nhận cho phép khai thác câu chuyện," An đáp, cố giữ cho giọng mình không run rẩy trước cái nhìn soi xét của đàn chị. "Chị Lành thậm chí đã trao cho em cuộn băng cassette ba mươi năm của bà ngoại chị ấy, có đoạn nói rõ về việc lưu giữ kỹ thuật hun khói cá suối."
"Ghi âm là tư liệu hỗ trợ nội dung, không phải văn bản cam kết pháp lý về quyền nhân thân," Lam nói dứt khoát, thanh âm đanh lại như thép nguội. "Quy chuẩn xuất bản của Dọc Đường không cho phép in một bài viết chuyên sâu về tri thức bản địa và nỗi đau gia đình dựa trên sự tin tưởng mơ hồ hay tình cảm cá nhân. Em nghĩ xem: Pó có thể kiện tạp chí vì bài viết vô tình tiết lộ việc anh ấy lén trồng ngô lai trái quy chuẩn giống của trạm khuyến nông địa phương. Dở có thể bị gia đình chồng và họ hàng kỳ thị, thậm chí xua đuổi nếu việc cô ấy đem bán nếp cúng tổ tiên để lấy tiền chữa bệnh cho con bị phơi bày trên mặt báo mà không có sự đồng thuận bằng văn bản của chính cô ấy. Chị cần văn bản cam kết có chữ ký sống của cả ba người. Nếu không có đủ chữ ký và dấu điểm chỉ, chị sẽ không ký duyệt in kỳ đầu tiên này. Bài viết sẽ bị hủy bỏ."
Sự khắt khe lạnh lùng của Lam khiến An nghẹn lời. Một cảm giác bất lực dâng lên nơi cổ họng. Nhưng trước khi An kịp cất tiếng thanh minh về những khó khăn nơi vùng cao hẻo lánh, Lam đã khẽ thở dài. Bờ vai căng cứng của người biên tập chùng xuống đôi chút. Cô với tay kéo một tập hồ sơ dày cộp có dán logo màu xanh đậm quen thuộc của Vị Việt từ ngăn kéo dưới bàn, đẩy mạnh sang mép bàn phía An.
"Còn một chuyện nữa em phải biết," Lam hạ thấp giọng xuống mức vừa đủ hai người nghe, sự sắc sảo công vụ nhường chỗ cho một nét âu lo rất khó nhận thấy nơi đuôi mắt. "Đỗ Thành Vinh không chỉ gửi tối hậu thư đe dọa kiện em vi phạm hợp đồng sở hữu trí tuệ cũ đâu. Sáng nay, đại diện truyền thông cấp cao của Vị Việt đã đích thân đặt một gói tài trợ độc quyền chuyên mục Văn hóa Ẩm thực lên bàn Tổng biên tập. Con số đủ lớn để nuôi sống cả tòa soạn này suốt hai quý tới. Đổi lại, họ muốn mua đứt toàn bộ quyền khai thác chuỗi bài du ký của em để làm nguyên liệu cho chiến dịch thương mại tái định vị thương hiệu của họ. Vinh biết thừa tạp chí đang gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chính sau đợt cắt giảm quảng cáo của các nhãn hàng tiêu dùng hồi quý trước. Chị đang dùng quyền Trưởng ban biên tập để chặn hồ sơ đó lại, viện cớ loạt bài đang trong giai đoạn hoàn thiện độc lập. Nhưng nếu bản thảo của em có bất kỳ sơ hở pháp lý nào về quyền sở hữu tư liệu, chị sẽ không thể giữ được quyền độc lập cho em đâu. Hội đồng biên tập sẽ thông qua hợp đồng của Vị Việt ngay lập tức."
An nhìn chằm chằm vào tập hồ sơ của Vị Việt. Màu xanh đậm bóng bẩy của chiếc logo như một vết mực loang độc hại. Cái bóng quyền lực và đồng tiền của tập đoàn ấy dường như đã đổ dài từ những triền đá trơ trụi ở Đồng Văn, từ mặt nước bảng lảng khói sương ở Ba Bể về tận chiếc bàn gỗ sồi cổ kính này ở trung tâm Hà Nội. Vinh không từ bỏ bất kỳ ngóc ngách nào để bóp nghẹt hành trình của cô.
"Hồ sơ đồng thuận của Pó và Dở em đã nhờ bưu điện huyện chuyển phát nhanh từ hôm kia, chiều nay sẽ phát tới tòa soạn," An nói, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào Lam. "Còn chữ ký của chị Lành, em đã có biên bản tiếp nhận hiện vật minh bạch lập tại chỗ cùng cuộn băng ghi âm. Em sẽ bổ sung đầy đủ trước năm giờ chiều nay."
Lam nhìn cô thật sâu, ánh mắt sắc sảo thoáng mềm đi trong tích tắc nhưng rất nhanh chóng được thu lại sau lớp vỏ bọc lãnh đạm: "Tốt. Chị chờ em trước khi trang báo chuyển sang xưởng in lúc sáu giờ. Đừng để bất kỳ ai nắm được chuôi dao."
***
Bước ra khỏi cổng tòa soạn, An như ngột ngạt giữa cái nắng quái cuối chiều. Tiếng còi xe bóp liên hồi nơi ngã tư thúc bách đôi chân cô. An không bắt xe ôm mà đi bộ, rẽ ngoắt vào mạng lưới ngõ ngách chằng chịt, ẩm ướt của khu phố cổ. Cô cần tìm đến một quán phở truyền đời nằm sâu trong ngõ Bát Đàn theo đúng địa chỉ ghi nguệch ngoạc bằng bút bi xanh trong cuốn sổ tay bạc màu của bà Mùi.
An cần hoàn thiện thẻ số 5 — món phở Hà Nội — một món ăn tưởng chừng đã bị đóng khung, định danh đến mức xơ cứng bởi hàng ngàn trang viết ca tụng chuẩn mực của những cây bút ẩm thực sành sỏi suốt mấy mươi năm qua. Nhưng trong ghi chép của bà ngoại, phở chưa bao giờ là một công thức bất biến.
Quán phở nằm lọt thỏm dưới khoảng sân nhỏ của một ngôi nhà cổ lợp ngói âm dương đã mọc rêu xanh xám. Không biển hiệu đèn led, không bàn ghế inox bóng loáng như những hàng quán mặt phố ngoài kia, gian bếp ở đây đặc quánh một làn khói củi ép lẫn mùi mỡ bò hoi nồng đặc trưng và vị tanh ngai ngái của những khúc xương ống ngâm nước muối lâu ngày. Ba thế hệ của một gia đình đang đứng quanh một nồi nước dùng khổng lồ bằng gang đúc đang sôi lục bục trên bếp than đá, nhưng giữa họ dường như là ba thế giới hoàn toàn cách biệt, không thể tìm thấy một tiếng nói chung.
Ngồi trên chiếc ghế mây con đã gãy vài nan ở góc sân, cụ già ngoài chín mươi tuổi, lưng còng rạp, râu tóc bạc phơ như cước, đôi bàn tay gầy guộc nổi đầy đồi mồi đang run rẩy bưng một bát nước dùng không thịt, không hành hoa. Cụ ghé môi nhấp một ngụm nhỏ, nhìn làn khói mỏng bốc lên rồi lắc đầu quầy quậy, giọng móm mém nhưng đượm vẻ chua xót hoài niệm về một thời tiền chiến xa xăm:
"Phở bây giờ người ta nấu bằng cái miệng tham lam của người giàu, chứ đâu phải phở của kẻ biết ăn, biết thưởng thức. Nước dùng thời chúng tôi thanh tao như nước suối đầu nguồn, trong veo nhìn thấu đáy bát, chỉ ninh xương đuôi bò cẩn thận cho thôi hết chất tủy ngọt nhẹ, nướng gừng cháy vỏ rồi đập dập thả vào, tra chút nước mắm nhĩ ngon nhất mạn Vạn Vân. Húp một thìa thấy ngọt hậu nơi cuống họng, nhẹ tênh cả lồng ngực, ăn xong cái bát chỉ còn lại chút hơi ấm chứ tuyệt nhiên không đọng một váng mỡ nào bám vào môi. Bây giờ chúng nó tọng cả đống mỡ gầu với hoa hồi nồng nặc, béo ngậy nhầy nhụa cả miệng, nuốt làm sao nổi cái thứ nước béo ấy."
Đứng bên chiếc bàn gỗ lim đen bóng vết dầu mỡ, người đàn ông trạc sáu mươi tuổi — con trai cụ — đang thoăn thoắt đưa lưỡi dao bài sắc lẹm thái từng lát thịt bò chín nạm mỏng tang như tờ giấy. Nghe bố phàn nàn, ông bật cười chua chát, đặt con dao xuống thớt gỗ nghiến vang lên một tiếng cộp:
"Bố cứ ngồi đấy mà mơ về cái thời phong lưu trước bốn lăm! Cái thời của con mới là cái thời phở sống hay chết! Mậu dịch quốc doanh những năm bảy mươi, tám mươi lấy đâu ra xương bò với nước mắm nhĩ Vạn Vân mà đòi ngọt hậu thanh đạm? Cả tuần cửa hàng thực phẩm chỉ cấp cho vài cân xương đầu bò thối khẳm, nhớt nhát, chúng con phải thức trắng đêm cạo sạch từng mảng màng mỡ hoi mù, ngâm rửa bằng nước vôi loãng ba bốn bận, rồi gọt cả thúng củ cải trắng với su hào vụn ninh nát nhừ ra để lấy cái vị ngọt giả thay cho xương thịt. Nước mắm khan hiếm thì phải đánh đổi bằng hạt rau mùi rang cháy cho thơm và cả vốc mì chính trắng toát của Liên Xô ném thẳng vào nồi. Bát phở mậu dịch không người lái, chan nước củ cải ăn kèm với khúc bánh mì khô khốc ấy đã nuôi sống cả cái phố này qua mấy mùa bom đạn và đói rét đấy thôi! Không có thứ phở chắp vá ấy thì làm gì còn cái giống phở Bát Đàn này đến ngày hôm nay để bố ngồi chê ỏng chê eo?"
Ở góc bên kia, cạnh chiếc nồi nước dùng inox sáng choang cắm nhiệt kế điện tử đo nhiệt độ chuẩn xác đến từng độ C, người thừa kế trẻ thế hệ thứ ba — con trai ông chủ — chỉ nhún vai, nét mặt lạnh tanh không buồn liếc nhìn hai người đi trước. Cậu ta thoăn thoắt dùng muôi cán dài múc từng gầu nước dùng đặc sánh, sủi tăm mỡ vàng óng ánh như hổ phách đổ ập vào những chiếc bát tô men sứ dày cộp xếp hàng dài trên quầy.
"Hai thế hệ trước cứ ngồi cãi nhau mãi về sự thanh đạm với thiếu thốn," người thanh niên trẻ nói, giọng đều đều mang tính thực dụng sắt đá của dân kinh doanh thời mở cửa. "Bây giờ khách bước vào quán, họ rút ví trả tám mươi ngàn, một trăm ngàn cho một bát phở tái lăn hay gầu giòn. Họ cần tủy bò hầm nhừ đến độ rữa ra, cần nước dùng béo ngậy, ngọt lịm đậm đà để chụp ảnh đăng mạng nhìn cho bắt mắt và ăn một bát là no lửng đến tận trưa. Không ninh tủy bò thật đậm, không nêm nếm gia vị cho thật vừa miệng đám dân công sở nhiều tiền bây giờ thì cái quán này đã phải đóng cửa, dẹp tiệm từ mười năm trước rồi. Phở sống được trên đất Hà Nội này là nhờ khách trả tiền tươi thóc thật, chứ phở đâu có sống bằng hoài niệm quá khứ của các cụ."
Ba giọng nói, ba góc nhìn đập vào nhau chan chát giữa gian sân cổ kính. Sự thanh nhã phong lưu của thời tiền chiến, sự nhọc nhằn thích ứng trong cay đắng bằng củ cải và mì chính thời tem phiếu, và sự thực dụng béo ngậy, dư thừa năng lượng của thời kinh tế thị trường.
An đứng nép bên khung cửa gỗ, ngón tay thoăn thoắt ghi chép từng lời thoại vào cuốn sổ tay. Cô nhận ra chẳng có một công thức nào gọi là nguyên bản duy nhất hay bất biến qua thời gian. Mỗi một thời kỳ lịch sử đi qua đều để lại một dấu vết sinh tồn trần trụi và đau đớn trên đầu lưỡi con người. Phở không phải là một pho tượng đá trong bảo tàng; phở là một cơ thể sống, tự biến đổi mình để người ăn nó không bị bỏ lại phía sau cơn lốc của thời cuộc.
***
Rời ngõ Bát Đàn khi nắng chiều đã nhạt dần thành một dải màu vàng vọc vẹt, An đi thẳng ra quán nước chè chén ven đường đê sông Hồng, nơi bà Hà đã hẹn gặp và ngồi chờ sẵn từ đầu giờ chiều dưới gốc cây bàng khẳng khiu đang trút lá.
Gió từ mặt sông thốc ngược lên mặt đê mang theo hơi bùn tanh nồng và mùi cỏ dại ngai ngái của bãi bồi quen thuộc — cái mùi vị đã nuôi dưỡng tuổi thơ của An nhưng cũng là nơi chôn giấu những rạn nứt không thể hàn gắn của gia đình cô. Gió thổi tung những sợi tóc hoa râm lòa xòa trước trán bà Hà.
Vừa thấy An bước tới gần chiếc bàn gỗ tạp, bà Hà không thèm cất một lời hỏi han về sức khỏe của con gái hay hỏi chiếc xe tải Bếp Nhỏ đã sửa xong chưa. Khuôn mặt bà hằn sâu những nếp nhăn cay nghiệt và mệt mỏi. Bà rút phắt từ trong chiếc túi xách giả da sờn mép ra một xấp hóa đơn đã nhàu nát, ném mạnh xuống mặt bàn gỗ ọp ẹp. Tiếng chén sứ va vào nhau lách cách khô khốc.
"Mày nhìn cho rõ đi!" Giọng bà Hà rít qua kẽ răng, run lên vì giận dữ và kiệt quệ. "Tiền viện phí chạy thận đợt cuối cùng của bà ngoại mày người ta vừa gửi giấy đòi, còn nợ hơn bốn mươi triệu đồng chưa thanh toán. Tiền lãi ngân hàng cho khoản vay thế chấp mảnh đất bãi đê tháng này lại gửi giấy báo phát mại về tận nhà rồi. Mày tha lôi cái xe tải sắt vụn đồng nát ấy đi khắp rừng rú mấy tuần nay để làm cái trò gì? Mày định đóng vai nhà văn hóa cao thượng, thanh cao đến bao giờ trong khi cái nhà này sắp bị người ta kéo đến niêm phong từng cái ghế?"
An cúi đầu, lặng lẽ nhìn những con số in mực đỏ chót trên các tờ biên lai viện phí của bệnh viện Bạch Mai. Món nợ là thật. Sự kiệt quệ về thể xác lẫn tinh thần của mẹ cô là thật. Những đêm thức trắng bên giường bệnh nồng nặc mùi thuốc sát trùng đã vắt kiệt chút kiên nhẫn cuối cùng của người phụ nữ này. Nhưng căn bếp nhỏ của bà ngoại bên mép nước sông Hồng — nơi lưu giữ từng công thức nấu nướng qua hai cuộc chiến tranh — không thể trở thành một món hàng đem bán tháo cho những kẻ đầu cơ bất động sản đang muốn san phẳng nó thành bãi tập kết vật liệu xây dựng.
"Con đã xin mẹ thời hạn ba tháng," An nói, giọng nén lại nỗi đau thắt nơi lồng ngực. "Kỳ báo đầu tiên của con trên Dọc Đường sắp được duyệt in đêm nay. Tiền nhuận bút loạt bài và tiền bản quyền hình ảnh ứng trước sẽ đủ để con thanh toán toàn bộ khoản lãi ngân hàng của tháng này..."
"Nhuận bút ba đồng ba cọc của mày có cứu nổi cái sổ đỏ sắp bị phát mại không?" Bà Hà gắt lên, cắt ngang lời cô một cách tàn nhẫn. Đôi mắt bà quầng thâm, sưng mọng vì những đêm mất ngủ triền miên. Bà cuống cuồng lục lọi trong túi xách để tìm bản hợp đồng đặt cọc mua bán đất mà bà đã nhờ người ta photo sẵn từ trước. "Ký đi! Người ta vừa gọi điện trả giá ba tỷ rưỡi cho mảnh đất hoang ấy. Bán phứt nó đi là mẹ con mình sạch nợ nần, mày có một khoản tiền dư ra để thuê một căn chung cư tử tế mà sống như một con người bình thường, không phải lăn lộn chui rúc gầm xe xó chợ với thằng Khang nữa!"
Trong lúc bà Hà bực bội, run rẩy giật mạnh xấp giấy tờ ra khỏi chiếc túi xách chật chội, một cuốn sổ tay nhỏ bọc da màu nâu sờn rách bất ngờ rơi tuột xuống nền gạch tàu vỡ, bung ra. Giữa những trang giấy ố vàng mủn mép, một tấm ảnh đen trắng khổ nhỏ viền răng cưa đã bị mọt gặm nham nhở trượt ra ngoài.
An cúi xuống, nhặt tấm ảnh lên trước khi bà Hà kịp đưa tay giằng lại.
Đó là một bức ảnh chụp ba người lính cấp dưỡng bên cạnh một chiếc bếp Hoàng Cầm dã chiến phủ đầy lá ngụy trang giữa cánh rừng Trường Sơn mù mịt khói bom. Người đứng ở giữa là bà Mùi thời còn rất trẻ, mái tóc thắt bím hai bên, nụ cười rạng rỡ hiện rõ sau một vệt nhọ nồi quệt ngang gò má. Đứng bên cạnh bà là một người lính quân nhu gầy gò, mặc bộ quân phục bạc phếch không quân hàm, trên nẹp ngực áo bên trái có một dòng chỉ thêu tay màu đỏ đã mờ nhạt: *Bùi Văn Tấn*. Phía sau mặt ảnh đã ố vàng theo năm tháng là nét chữ viết tay nghiêng nghiêng rất quen thuộc của mẹ cô thời trẻ, ghi một dòng nhật ký ngắn ngủi: *Thư gửi từ Quảng Bình năm 1972 — Chú Tấn báo tin mẹ vẫn an toàn.*
Ngay cạnh cuốn sổ rơi dưới đất, lấp ló một phong bì thư quân đội màu cỏ úa cũ kỹ chưa từng bị bóc tem, bên góc trên bên trái còn in rõ dấu bưu điện Đồng Hới nhạt nhòa.
An sững sờ ngẩng đầu lên, nhìn người mẹ đang đứng chết lặng, bất động trước mặt mình:
"Mẹ... Mẹ biết rõ người này? Chú Tấn trong đoàn bếp tập thể của bà ngoại? Tại sao bấy lâu nay mẹ luôn nói với con rằng bà bỏ nhà đi biệt tích theo những người xa lạ? Tại sao mẹ luôn bảo bà không để lại bất kỳ tung tích, giấy tờ hay tin tức nào về đơn vị cũ của bà?"
Bà Hà giật bắn người, gương mặt đang đanh lại vì giận dữ bỗng chốc chuyển sang trắng bệch, tái nhợt như không còn giọt máu. Bà chộp lấy tấm ảnh và chiếc phong bì thư trên tay An, nhét vội vào sâu trong đáy túi xách như một kẻ vừa bị bắt quả tang đang giấu giếm một tội ác tày trời.
"Mày không có quyền tra hỏi tao!" Giọng bà Hà lạc hẳn đi, run rẩy bần bật giữa sự hoảng loạn tột độ và nỗi cay đắng tích tụ qua nhiều thập kỷ. "Bà ấy yêu cái đoàn bếp chết tiệt đó hơn yêu cái gia đình này! Cả đời tao lớn lên trong căn nhà dột nát này, những lá thư hiếm hoi gửi về từ chiến trường chỉ toàn dặn dò tao cách chia muối thế nào cho khỏi mốc, cất gạo cho thương binh ra sao mà chẳng có lấy một dòng hỏi thăm tao ở nhà ăn đói mặc rách, bị bom đạn đe dọa ra sao! Bà ấy để lại danh dự cho thiên hạ, còn để lại nợ nần và sự cô độc cho tao gánh chịu! Mày thì biết cái gì về cảm giác bị chính mẹ ruột bỏ rơi mà dám đứng đây phán xét tao?"
Bà Hà đứng phắt dậy, xách chặt chiếc túi tài liệu vào sát nách, không thèm đoái hoài nhìn lại xấp hóa đơn viện phí vẫn còn nằm chỏng chơ trên bàn gỗ:
"Ba ngày nữa tao sẽ dẫn người mua đất đến tận bến sông đo đạc ranh giới. Mày không chịu ký vào văn bản thỏa thuận, tao cũng sẽ làm thủ tục ủy quyền đơn phương thanh lý phần thừa kế hợp pháp của tao cho bên thứ ba!"
Bóng lưng gầy guộc, còng xuống của bà Hà khuất dần sau con dốc đê lộng gió cát. An ngồi trơ trọi một mình giữa quán nước ven sông vắng ngắt. Dưới chân kè, những con sóng phù sa đục ngầu của sông Hồng vẫn kiên trì vỗ vào bờ bùn đỏ những tiếng ì oạp, nặng nề như tiếng thở dài nghẹn ứ của thời gian.
***
Đúng bốn giờ chiều, An quay trở lại sảnh tầng một của tòa soạn Tạp chí Dọc Đường. Cô chọn một góc bàn khuất trong quán cà phê vắng người dưới chân cầu thang gỗ, mở chiếc máy tính xách tay đã tróc sơn các góc và trải tấm thẻ công thức số 5 ra trước mặt — "Phở bò phố cũ".
Mười đầu ngón tay của An lướt nhanh trên bàn phím. Cô gõ lại một cách tỉ mỉ, chân thực và trọn vẹn cả ba tầng ký ức đang giằng xé nhau trong gian sân ngói âm dương ở ngõ Bát Đàn. An không chọn ca ngợi bát phở thanh trong hoài niệm của cụ già thời tiền chiến như một chuẩn mực độc tôn của sự tao nhã. Cô cũng không gạt bỏ bát phở nấu chắp vá bằng củ cải, su hào và mì chính Liên Xô của người cha trong những năm tháng đói kém cùng cực. Và cô càng không cho mình quyền kết tội bát phở ngập ngụa mỡ tủy, đậm đà gia vị của người con trai đang phục vụ cho những thực khách thời kinh tế thị trường.
An xếp cả ba dị bản ấy nằm cạnh nhau trên cùng một tấm thẻ tư liệu. Dưới mỗi dị bản, cô ghi chú cẩn trọng về hoàn cảnh lịch sử xã hội, sự khan hiếm cùng cực của nguyên liệu đầu vào và những thỏa hiệp đau đớn mà con người buộc phải lựa chọn để giữ lấy một cái tên món ăn qua bao cuộc dâu bể đổi dời. Nấu ăn, xét cho cùng, chưa bao giờ là sự bảo thủ giữ gìn những công thức chết; nấu ăn là một cuộc đấu tranh sinh tồn không ngừng nghỉ để ký ức không bị lãng quên.
Hoàn thành trang viết cuối cùng, An ôm tập hồ sơ bước lên tầng bốn. Cô đặt tệp văn bản cam kết đồng thuận có chữ ký nhận gửi qua đường bưu điện của Sùng Mí Pó bằng mực tím học trò, dấu lăn tay bằng mực đỏ của Vàng Thị Dở trên nền giấy kẻ ngang, cùng biên bản bàn giao cuộn băng minh bạch có chữ ký ngay ngắn của Hoàng Thị Lành lên mặt bàn làm việc của Lam, ngay bên cạnh bản thảo hoàn chỉnh của thẻ số 5.
Lam không nói một lời. Cô đeo kính, lật giở từng trang văn bản, kiểm tra tỉ mỉ từng con dấu bưu chính của bưu điện huyện vùng cao, soi kỹ từng nét mực và dấu vân tay. Đôi mắt sắc lạnh của người gác cổng biên tập khẽ lay động khi nhìn thấy tính xác thực tuyệt đối của bộ hồ sơ pháp lý.
"Đủ điều kiện xuất bản," Lam gập tập hồ sơ lại, tháo kính đặt lên bàn rồi ngước nhìn An. "Kỳ bài mở màn cho loạt phóng sự ba mươi hai thẻ sẽ lên khuôn in đêm nay. Tạp chí giữ nguyên quyền biên tập độc lập và toàn quyền tác giả của em. Vị Việt sẽ không có bất kỳ cơ hội nào để can thiệp hay biến câu chuyện này thành một chiến dịch quảng cáo mị dân."
"Cảm ơn chị đã giữ bài cho em," An khẽ thở phào, cất tiếng.
"Đừng cảm ơn chị," Lam đứng dậy, bước về phía ô cửa sổ kính rộng mở nhìn xuống dòng xe cộ đang nhích từng mét dưới lòng đường ngột ngạt. "Em bảo vệ được trang viết của mình không phải vì chị nể nang tình nghĩa làm việc cũ giữa hai đứa, mà vì chính em đã biết cúi xuống tôn trọng những con người đã trao câu chuyện đời họ cho em. Hãy đi tiếp chặng đường còn lại như thế này. Đừng để đồng tiền của Đỗ Thành Vinh hay bất kỳ thế lực nào bẻ cong ngòi bút và sự thật của em."
***
Trời sập tối rất nhanh khi An bước xuống bãi đỗ xe lộ thiên phía sau dãy nhà kho cũ của tòa soạn. Ánh đèn đường cao áp vàng vọt hắt qua những tán cây xà cừ cổ thụ rậm rạp chỉ đủ soi rõ những vũng nước mưa tù đọng loang lổ vết dầu máy cầu vồng. Không khí ẩm ướt phả lên mùi sắt gỉ và rác mục.
Từ trong góc tối ẩm thấp của dãy nhà kho, một bóng người cao lớn bước nhanh ra chặn ngang lối đi của An. Khang vẫn mặc bộ quần áo bảo hộ lao động bằng vải thô dày cộp lấm lem bùn đất và dầu mỡ đen sì từ xưởng gầm Gia Lâm. Nhưng nét mặt anh không còn vẻ lầm lì, mệt mỏi thường ngày; cơ mặt anh đanh lại, đôi mắt thâm quầng ánh lên một sự căng thẳng và cảnh giác tột độ.
"Khang? Sao mày lại đỗ xe ở góc tối này?" An ngạc nhiên bước chậm lại. "Xe thay bộ giảm xóc xong xuôi chưa? Trạm đăng kiểm có làm khó dễ gì không?"
Khang không trả lời ngay. Anh đứng sừng sững như một bức tường thép trước mặt cô, lồng ngực phập phồng sau lớp áo bảo hộ, hơi thở nặng nhọc phả ra mùi thuốc lá sợi khét lẹt. Tay phải anh đang thọc sâu vào túi áo khoác bò, siết chặt một vật gì đó cộm lên rõ rệt.
Khang đưa mắt đảo quanh một lượt khắp bãi đỗ xe vắng tanh, rồi bất ngờ nắm lấy cổ tay An, kéo giật cô vào góc khuất hẹp giữa vách tường gạch mục và thành chiếc xe tải Bếp Nhỏ — nơi bộ giảm xóc thủy lực mới toanh sơn màu đen tuyền vừa được bắt vít sáng loáng dưới gầm xe.
Khang rút bàn tay phải ra khỏi túi áo, xòe rộng các ngón tay thô ráp trước mặt An.
Dưới ánh sáng vàng vọt, chập chờn của bóng đèn cao áp, nằm gọn trong lòng bàn tay đầy những vết sẹo do kim loại cứa của Khang là một khối kim loại hình hộp chữ nhật màu đen bóng, chỉ nhỏ bằng bao diêm. Ở góc trên của khối kim loại, một chiếc đèn led màu đỏ li ti đang nhấp nháy liên tục theo từng nhịp thở ngắt quãng, lạnh lẽo. Hai sợi dây điện mảnh như sợi cước bị kìm cắt đứt nham nhở còn thò ra từ phần đuôi bọc keo nhựa chống nước chuyên dụng.
Tay kia của Khang siết chặt chiếc chìa khóa xe tải bằng kim loại đến trắng bệch các khớp ngón tay. Anh ép sát An vào vách thùng xe kim loại lạnh ngắt, ghé sát mặt cô, hạ giọng xuống mức trầm đặc, sắc lạnh như một nhát dao cạo cứa qua màn đêm:
"Tao tìm thấy cái cục này gài sâu dưới hộc bình ắc quy khi hạ gầm xe ở bên Gia Lâm. Nó không phải phụ tùng xe, càng không phải đồ của tao hay của mày. Thợ điện bên đấy tháo ra kiểm tra, bên trong có gắn một sim dữ liệu 4G đang kích hoạt, truyền trực tiếp dữ liệu định vị và âm thanh trong cabin về một máy chủ cố định ở ngay trung tâm Hà Nội này. Mày nói cho tao biết đi An... chiếc xe này từ lúc rời bến sông Hồng rốt cuộc đang chở tao với mày đi tìm ký ức, hay đang chở thứ gì khác mà mày giấu tao?"